Nhà Có Ông Nội Lắm ChiêuCh.4 / 30
Chapter 4

Bài văn tả người không được chép mạng

Ánh sáng xanh lét từ màn hình chiếc điện thoại thông minh hắt ngược lên khuôn mặt phờ phạc của Nam, soi rõ đôi con ngươi đờ đẫn sau cặp kính cận cùng hai quầng thâm đã trũng sâu vì thiếu ngủ. Trước mặt cậu, trên mặt bàn học bằng gỗ công nghiệp ép dán đề-can giả vân sồi, cuốn vở bài tập Ngữ văn lớp tám vẫn nằm chỏng chơ, phẳng lặng đến tàn nhẫn. Suốt một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua, trang giấy ô ly mới chỉ nhọc nhằn thu nạp đúng hai dòng mở bài vụng về, sao chép nguyên xi từ một trang web giải bài tập trực tuyến mà cậu vừa vội vã nhấn f5 lúc nãy.

Gần chín giờ tối, căn phòng khách của căn hộ 12B08 thuộc khu chung cư An Phúc chìm trong một sự tĩnh mịch ngột ngạt. Khối không khí kín bưng chỉ được khuấy động bởi tiếng ro ro đều đặn, khô khốc phát ra từ chiếc máy lạnh phả thẳng luồng gió buốt xuống lưng ghế sô-pha, chen lẫn nhịp lách cách gõ phím dồn dập, giòn giã của cô Út Lan đang cắm cúi chạy kịp hạn chót báo cáo tài chính trong buồng ngủ phía góc hành lang. Nam ngả hẳn lưng ra sau, há miệng ngáp một cái thật dài đến sái cả quai hàm, hai mắt cay xè ứa cả nước. Ngón tay cái của cậu vẫn vô thức miết lấy mặt kính cường lực nứt dăm một góc, mắt lướt qua một lượt những dòng chữ hiển thị trên thanh tìm kiếm của diễn đàn học trò:

*“Bác lao công trường em có mái tóc bạc phơ như ông bụt trong truyện cổ tích, vầng trán cao rộng toát lên vẻ thông thái phi phàm, nụ cười hiền từ nhân hậu tựa bà tiên vừa bước ra từ chốn bồng lai...”*

Cậu học sinh lớp tám chép miệng một cái đánh “chách”, ngón trỏ khẽ gõ gõ cán bút bi Thiên Long vào thành cằm, rồi tặc lưỡi cúi rạp người xuống mặt bàn, hí hoáy ghì ngòi mực chép tiếp:

*“Mỗi sớm mai tinh sương, khi vạn vật còn chìm trong giấc ngủ say nồng, bác đã khoác lên mình bộ quần áo bảo hộ vàng cam rực rỡ như ánh bình minh, tay cầm chổi tre quét sạch từng chiếc lá úa...”*

“Bác lao công trường con mà tóc tai bạc phơ như ông bụt, trán cao thông thái lại còn áo xống rực rỡ lộng lẫy tựa bà tiên giáng trần kiểu đó, thì chắc ban ngày bác vừa quét rác vừa bay lơ lửng trên đọt cây dầu ngoài cổng trường quá, hả cu Nam?”

Một giọng nói trầm ấm, khàn đục mang theo âm sắc rặt đặc sệt của miệt vườn Bến Tre bất thình lình vang lên ngay sát vành tai, như từ thinh không rớt xuống.

Nam giật nảy mình đánh thót một cái, tim muốn nhảy vọt ra khỏi lồng ngực. Theo một phản xạ bản năng thuần thục của lứa tuổi học trò chuyên lén lút dùng điện thoại trong giờ học, cậu quýnh quáng úp sấp màn hình điện thoại đánh “bộp” xuống mặt bàn gỗ, hai bả vai co rúm lại rụt cổ như con ốc vặn mình, mặt cắt không còn một giọt máu.

Ông Tư chẳng biết đã rời khỏi chiếc ghế đẩu ngoài ban công rồi bước nhẹ vào sau lưng cậu tự lúc nào. Trên người ông là chiếc áo bà ba dệt bằng vải ú màu xám tro rộng rãi đã ngả sắc phai qua bao mùa mưa nắng, một tay cầm cốc nước lọc vơi một nửa, cặp kính lão viền đồi mồi tụt thấp xuống tận sống mũi gầy gầy. Đôi mắt già nua hơi đục nhưng sâu hoắm và lấp lánh nét hóm hỉnh nheo lại, nhìn chòng chọc không chớp vào hai dòng chữ mực tím vừa mới ráo mặt.

“Dạ… nội! Con… con đâu có chơi game đâu, con đang lên mạng tham khảo ý tưởng xíu xiu đặng làm cho kịp nộp ngày mai thôi chứ bộ…” Nam lí nhí phân bua, hai vành tai đỏ ửng bừng bừng vì ngượng ngùng và sợ hãi. Đôi mắt cậu len lén đảo qua đảo lại, canh chừng gắt gao về phía khung cửa bếp khép hờ, nơi mẹ Hạnh đang lụi hụi dọn dẹp đống nồi niêu xoong chảo. Chỉ cần một tiếng động bất thường lọt vào tai mẹ, một bài thuyết giáo kéo dài nửa tiếng đồng hồ về tinh thần tự giác, tính trung thực trong học tập cùng nguy cơ tịch thu máy một tháng tròn trĩnh chắc chắn sẽ ập xuống đầu cậu ngay tắp lự.

Nhưng trái ngược hoàn toàn với nỗi sợ thắt ruột của đứa cháu nội, cựu giáo viên dạy văn có hơn bốn mươi năm gõ đầu trẻ ở huyện Mỏ Cày chẳng hề cao giọng mắng mỏ, cũng chẳng buồn đưa tay tịch thu tang vật. Ông Tư từ tốn đặt ly thủy tinh đựng nước lọc xuống cạnh mép bàn, với những ngón tay gầy guộc đầy đồi mồi khép nhẹ cuốn vở ô ly lại. Cầm lấy chiếc ghế nhựa thấp bên cạnh, ông kéo nhẹ ra rồi ngồi xuống, chống hai tay lên đầu gối, ngước nhìn cậu cháu trai bằng một nụ cười đượm vẻ bao dung.

“Văn chương từ hồi xửa hồi xưa tới giờ là tấm gương soi bóng cuộc đời thiệt thòi ngoài kia, chớ đâu phải cái bồ sọt rác rưởi để con nhét vô toàn ba thứ ngôn từ ước lệ sáo rỗng, hoa hòe hoa sói hả cháu? Bác lao công người ta ngày ngày dầm mưa dãi nắng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại chảy dài thành vệt đen trên trán, cái lưng còng xuống vì cõng nặng, manh áo vải sờn vai bạc phếch vì bụi đường bám chặt giặt hổng ra màu. Người ta cực nhọc như vậy, con kiếm đâu ra cho họ chòm râu tóc bồng bềnh với nụ cười bà tiên mà gán ép vô? Viết dối lòng riết một hồi rồi cái tâm con nó lười nhác, con mắt con nó đui mù, hổng còn thấy được cái đẹp thật thà, cái đẹp lam lũ của cuộc sống chung quanh mình nữa đâu con.”

Nam gãi đầu bứt tai, mặt mày méo xệch như muốn khóc, hai vai sụp xuống buồn bã:

“Nhưng mà sáng mai là tới tiết Ngữ văn đầu giờ rồi nội ơi. Tiết này cô kiểm tra tập vở cả lớp, em nào thiếu bài là bị ghi tên vô sổ đầu bài liền. Con ngồi cắn nát cả cái đuôi cán bút suốt từ lúc ăn cơm xong tới giờ mà trong đầu cứ rỗng tuếch rỗng toác, chẳng nặn ra được chữ nào ra hồn. Trên mạng gõ chữ ‘tả người lao động’ hay ‘tả bác lao công’ là nó tuôn ra cả ngàn bài mẫu giống y chang nhau từ năm này qua tháng nọ. Con không mượn tạm mấy câu mở bài với thân bài của người ta thì con biết lấy gì mà nộp cho cô giáo bây giờ?”

Ông Tư khẽ thở dài một tiếng êm như gió thoảng, đưa mắt nhìn lên chiếc đồng hồ tròn treo tường đang nhích dần sang chín giờ mười lăm phút. Ông quay đầu ngó qua ô cửa kính ban công hé mở, nơi mấy khay xốp trồng rau thơm và cải mầm con con mà hai ông cháu vừa cì cạch kê lót bằng gạch thẻ chiều qua đang đón từng ngọn gió đêm mát rượi thổi thốc từ mé sông Sài Gòn vào. Ông đứng dậy, vươn vai nghe một tiếng “rắc” giòn nơi khớp lưng, đoạn vỗ nhẹ một cái thật chắc nịch lên bả vai đứa cháu nội nay đã trổ giò cao gần chạm tai mình:

“Muốn viết đặng một bài văn cho ra hồn người thì cái bụng dạ con phải chứa đầy chữ, mà muốn có chữ thì con mắt với cái lỗ tai phải chịu cực làm việc trước đã. Ngồi miết trong bốn bức tường ngó vô cái màn hình sáng rỡ này thì chữ nghĩa chỉ là bóng ma thôi. Đứng dậy mau, thay cái quần đùi bằng cái quần dài vô, đi bộ với nội một chuyến ra chợ dân sinh Bình An cách đây mấy con phố. Vừa đi cho nó giãn gân giãn cốt sau một ngày ngồi ì một chỗ, nội bao cho một cốc chè Thái sầu riêng đặc biệt nhiều thạch, chịu hôn cu cậu?”

Nghe nhắc tới món chè Thái ngập tràn sầu riêng béo ngậy thơm lừng, hai con mắt đang lờ đờ của Nam bỗng sáng rực lên hệt như vừa bắt được luồng sóng wifi cực mạnh. Mọi âu lo về bài tập về nhà phút chốc bay biến lên mây. Cậu lẹ làng dẹp phắt cuốn vở đang viết dở sang góc bàn, gập mạnh nắp bút bi lại rồi lủi nhanh vào phòng thay chiếc quần tây đi học, vội vàng xỏ chân vào đôi dép quai hậu:

“Chốt đơn liền nha nội! Đi lẹ lẹ kẻo quán người ta chuẩn bị dọn hàng cất bàn ghế thì tiếc đứt ruột!”

***

Hai ông cháu sóng bước bên nhau rời khỏi sảnh chung cư An Phúc, băng qua chiếc cầu vượt bộ hành bắc ngang con đường nhựa thênh thang nườm nượp ánh đèn pha ô tô, rồi rẽ ngoắt vào một con ngõ sâu dẫn lối vào khu chợ dân sinh Bình An.

Chợ đêm Bình An lúc này vẫn tấp nập, ngập tràn hơi thở cuồn cuộn của nhịp sống lao động phố thị bình dân. Khác hẳn với không gian im lìm, kín cổng cao tường, thoang thoảng mùi nước xịt phòng nhân tạo bên trong những khối nhà bê tông của khu chung cư hiện đại, khu chợ dân sinh đón hai ông cháu bằng một bản đại hòa tấu âm thanh hỗn tạp, trần trụi và sống động khôn cùng: tiếng dao chặt xương nện chan chát xuống mặt thớt gỗ nghiến dày cộp, tiếng chậu nhôm va vào nhau loảng xoảng, mùi tanh nồng ngai ngái quen thuộc của mớ cá đồng quẫy nước sùng sục trong khay nhựa có gắn ống thở oxy, quyện lẫn với hương sả cây dập nát, ớt hiểm cay xè và mùi ngai ngái tươi non của những bó hành hoa, ngò rí rải khắp các sạp tre trải bạt nhựa.

Vừa bước chân qua vòm cổng chợ lồng lộng gió, Nam đã theo thói quen đưa tay vào túi quần, toan rút chiếc điện thoại thông minh ra để mở ứng dụng bản đồ tra đường ngắn nhất tới quán chè. Nhưng ngón tay cậu vừa chạm vào mép ốp lưng nhựa thì một bàn tay khô ráp, gầy guộc đã chìa ra, khẽ đè nhẹ lên cổ tay cậu chặn lại. Ông Tư nghiêng đầu nhìn đứa cháu nội, ánh mắt ông sau cặp kính lão nghiêm nghị nhưng lại lấp lánh sự tinh quái sắc sảo của một ông giáo làng từng trải.

“Nội giao nhiệm vụ trước khi đi ăn chè đây: Từ cái giây phút này cho tới lúc cái muỗng múc miếng chè đầu tiên bỏ vô miệng, cấm tuyệt đối hổng được rờ tay vô cái màn hình điện thoại. Con phải mở to hai con mắt của mình ra mà ngó cho thiệt kỹ, dỏng cái lỗ tai lên mà lắng nghe cho thiệt rành rọt từng tiếng động. Để ý coi: bà bán rau ngồi đằng góc đằng kia có cái gì đặc biệt? Rồi tiếng gõ lách cách lách cách của bác thợ sửa khóa già đầu con hẻm nghe nó ra làm sao? Lát nữa ngồi vô bàn ăn chè xong, trả lời trúng ý nội thì nội móc tiền túi ra trả, bằng không thì trừ thẳng vô tiền tiêu vặt tuần này nghen con!”

Nam nuốt nước bọt cái “ực”, cổ họng nghẹn lại, ngơ ngác đảo mắt nhìn theo hướng ngón tay trỏ khẳng khiu của ông nội vừa chỉ. Trước mặt cậu, dưới ánh sáng vàng vọt, rung rinh của một chiếc bóng đèn dây tóc công suất nhỏ treo lơ lửng bằng sợi dây dù cột tạm vào thanh sắt mái tôn, một người phụ nữ trung niên trạc tuổi mẹ Hạnh đang thoăn thoắt nhặt từng bó rau muống nước.

Không còn bất cứ tấm màng lọc màu ảo diệu nào của các ứng dụng chụp ảnh, cũng không có những tính từ mĩ miều được tô vẽ sẵn trên các trang văn mẫu, Nam buộc phải dán mắt nhìn thật gần, nhìn thật sâu vào người phụ nữ xa lạ ấy.

Cậu chăm chú quan sát đôi bàn tay của bà bán rau. Đôi bàn tay ấy ngâm trong nước lạnh suốt từ tờ mờ sáng tới đêm muộn, nên lớp da nơi đầu các ngón tay đã nhăn nheo, teo lại trắng bệch như tàu lá chuối héo. Mu bàn tay gầy gò nổi rõ từng đường gân xanh xao chằng chịt, các kẽ móng tay cáu bẩn một màu đen xỉn của bùn đất phù sa bám chặt lâu ngày không thể cọ sạch. Thế nhưng, đôi bàn tay gân guốc ấy lại chuyển động với một tốc độ mau lẹ và nhịp nhàng đến kinh ngạc: túm lấy một nắm rau muống, vẩy mạnh hai cái cho ráo nước rào rào, vặt phăng mấy nhánh lá sâu vàng úa ở gốc, rồi rút một sợi lạt tre mỏng dính từ cạp rổ, xoắn một vòng điệu nghệ quanh thân bó rau, thắt nút đánh “tách” một cái rồi xếp ngay ngắn vào rổ nhựa chỉ vỏn vẹn trong vòng chưa đầy ba giây đồng hồ.

Đang lúc ấy, một cô gái trẻ mặc váy công sở tạt xe máy vào mép sạp, cúi xuống chọn lựa một nải chuối tiêu cùng ít nhánh ngò rí, rồi rút chiếc điện thoại mạ vàng ra hỏi với giọng vội vã:

“Chị Hai ơi, em quên mang theo tiền mặt rồi, ở đây chị có nhận chuyển khoản không?”

Người đàn bà bán rau vẫn không hề ngẩng đầu lên, hai bàn tay vẫn thoăn thoắt bẻ đôi từng gốc cần tây giòn rụm, miệng xởi lởi đáp lời bằng một giọng sang sảng, ấm áp:

“Có chớ sao hổng có em gái! Em cứ quét cái mã QR chị in màu ép nhựa dán cứng ngắc ngay góc cái thùng xốp trắng đằng kia kìa. Chừng nào cái điện thoại của chị nó kêu ‘ting ting’ một tiếng là chị biết tiền vô túi liền hà, khỏi cần đưa biên lai chi cho mất công!”

Ông Tư đứng nép bên cạnh sạp rau, khẽ huých nhẹ cùi chỏ vào mạn sườn Nam, ghé sát tai cậu thì thầm với vẻ đầy đắc ý:

“Thấy chưa con trai? Dân lao động buôn gánh bán bưng xứ mình bây giờ tiến bộ dữ dằn hôn, quét mã chuyển khoản nhoay nhoáy chẳng thua gì mấy đứa học sinh tụi bay đâu nghen. Đó chính là cái nét hiện đại, cái hơi thở của thời đại mới lồng ghép tự nhiên ngay trong cái nhọc nhằn, lam lũ của đời thường đó. Mấy bài văn mẫu trên mạng của con có chép được cái chi tiết cái mã QR dán trên thùng xốp đó hổng?”

Nam tròn xoe mắt, lặng lẽ lắc đầu, trong lòng dấy lên một cảm giác ngạc nhiên xen lẫn thích thú lạ kỳ.

Hai ông cháu lại thong thả rảo bước đi thêm một đoạn chừng vài chục mét, tiến về phía đầu một con hẻm cụt tăm tối hơn. Ở nơi đó, Nam lập tức nhận ra một chuỗi âm thanh quen thuộc mà bấy lâu nay cậu vẫn thường xuyên đi ngang qua nhưng chẳng bao giờ mảy may để tâm tới: tiếng búa gõ kim loại vang lên *lách cách, lách cách, cắc cắc* đều đặn, nhịp nhàng và dứt khoát như tiếng gõ mõ cầm canh.

Đó là góc làm việc khiêm tốn chưa đầy hai mét vuông của một bác thợ sửa khóa già. Bác ngồi lom khom trên chiếc ghế đẩu gỗ đã gãy mất một nan giằng ngang, cặp kính lão trễ tràng xuống tận chóp mũi to bè, mái tóc dày sợi đã lốm đốm hoa râm chứ tuyệt nhiên chẳng hề “bạc phơ như Bụt” hay râu dài chấm ngực như trong trang văn mẫu của Nam. Trên tấm phản gỗ mộc kê sát bức tường loang lổ rêu xanh, hàng chục chiếc chìa khóa đủ mọi kích cỡ, hình dáng nằm ngổn ngang cạnh đống giũa sắt, kìm bấm và mỏ lết.

Từng nhát búa nhỏ nhắn có gắn đầu kim loại gõ nhịp nhàng, chuẩn xác từng li lên chiếc phôi chìa bằng đồng thau màu vàng óng. Những vụn mạt kim loại li ti theo từng nhát búa bắn tung tóe ra xung quanh, bắt ánh sáng từ ngọn đèn dầu leo lét đặt ở góc bàn, lấp lánh chao lượn trong không trung tựa như một vạt bụi sao rơi xuống từ đêm đen. Bác thợ khóa cầm cây giũa mỏng, miết dứt khoát lên thân chìa phát ra những tiếng *ken két, ken két* đanh giòn. Cuối cùng, bác đưa chiếc chìa mới cắt tra vào một ổ khóa treo gỉ sét, khẽ lách cổ tay một cái.

Một tiếng *tách* thật giòn tan, ngọt xớt vang lên trong đêm tĩnh lặng. Càng khóa bật mở ra nhẹ bẫng. Bác thợ khóa ngước khuôn mặt đượm màu nắng gió lên, đưa mu bàn tay áo lem nhem vết dầu nhớt quệt vội giọt mồ hôi đang đọng trên cằm, rồi nở một nụ cười rạng rỡ để lộ hàm răng ngả màu vì khói thuốc lào. Những nếp nhăn nơi khóe mắt bác xô lại chằng chịt, tỏa ra một vẻ ấm áp, chất phác và bình dị khôn cùng.

“Đó, con thấy tiếng búa của người ta nghe có đã tai hôn?” Ông Tư vỗ vai Nam, giọng trầm xuống đầy xúc cảm.

Rời con ngõ nhỏ, hai ông cháu tấp vào quán cóc lợp mái tôn ven đường, gọi hai ly chè Thái đầy ắp thạch dừa, hạt lựu đỏ au quyện lẫn với những múi mít vàng ươm và từng mảng sầu riêng thơm lừng béo ngậy. Nam xúc một thìa chè lớn, cắn miếng thạch giòn sần sật trong miệng, nhưng ánh mắt cậu lúc này vẫn không rời khỏi dòng người lao động đang hối hả ngược xuôi qua lại trước miệng ngõ.

“Sao nè cu cậu, nãy giờ ngó nghiêng đã đời rồi, thấy bác thợ khóa với cô bán rau ngoài đời thiệt có giống ông bụt bà tiên trên trang mạng của con hôn?” Ông Tư nhấp một ngụm trà đá mát lạnh, nheo mắt cười hỏi.

Nam gãi gãi sau gáy, ngượng ngùng cúi đầu cười trừ:

“Dạ… khác xa một trời một vực luôn nội ơi. Người ta cực nhọc, lấm lem bùn đất với dầu mỡ, manh áo sờn hết trơn nhưng mà… nhìn gần thấy sống động và thật hơn nhiều lắm. Cái tiếng búa gõ chìa khóa ban nãy nghe vui tai ghê, nó nhịp nhàng, dứt khoát hệt như người ta đang chơi một loại nhạc cụ vậy đó nội.”

Cậu học trò ngập ngừng một thoáng, hai mắt lấp lánh niềm vui sướng hồn nhiên của tuổi mới lớn, hào hứng nói tiếp:

“Hồi chiều này thằng Quân bạn thân ngồi cùng bàn với con còn nhắn tin than thở bảo mấy cái game cày cuốc dạo này chán òm, hổng có gì mới mẻ hết. Sáng mai vô lớp thế nào con cũng phải kể cho nó nghe chuyện đêm nay được ông nội dắt đi ‘săn tư liệu thực tế’ ngoài chợ đêm, bảo đảm nghe xong nó phải lác mắt thán phục cho coi! Nội biết hông, mấy câu chuyện đời thiệt của nội nghe còn cuốn hút, ly kỳ hơn cả mấy cái cốt truyện game nhập vai ảo trên mạng nữa đó!”

Ông Tư ngửa cổ ra sau bật cười khà khà, đưa bàn tay ấm áp xoa mạnh lên mái tóc bù xù của cậu cháu trai:

“Mỗi một con người lao động lam lũ ngoài kia là cả một pho sách sống động đó con à. Văn chương chân chính hổng bao giờ nằm ở những chữ nghĩa bóng bẩy, sáo rỗng mà con đi vay mượn, cóp nhặt của thiên hạ trên mạng internet đâu. Nó nằm ngay ở chỗ cái trái tim con có biết rung động, có biết thương xót cho từng giọt mồ hôi mặn chát của người ta hay không. Khi con nhìn thấy đôi bàn tay nứt nẻ, trắng bợt vì ngâm nước lạnh của cô bán rau mà biết trắc ẩn xót xa, khi con lắng tai nghe từng tiếng búa gõ mưu sinh nhọc nhằn của bác thợ khóa già mà biết quý trọng công sức lao động, thì tự khắc ba cái câu chữ trong bụng con nó sẽ tự nhiên trào ra đầu ngọn bút mượt mà như dòng nước chảy. Lúc đó, con đâu cần phải đi ăn cắp chữ, mượn hồn của bất kỳ ai nữa!”

***

Mười giờ ba mươi phút đêm, căn hộ 12B08 chìm hẳn vào không gian tĩnh lặng của giấc ngủ. Đèn trần phòng khách đã tắt ngúm từ lâu, chỉ còn lại luồng ánh sáng vàng dịu dàng, ấm áp tỏa ra từ chiếc đèn bàn học nhỏ rọi thẳng xuống trang giấy trắng tinh khôi.

Nam ngồi ngay ngắn, thẳng lưng trên chiếc ghế tựa. Chiếc điện thoại thông minh lúc này đã được cậu chủ động tắt chuông, úp sấp màn hình và đặt ngay ngắn ở tận góc xa nhất trên giá sách, bên cạnh những cuốn từ điển dày cộp.

Bàn tay cậu cầm chắc cây bút bi Thiên Long, những ngón tay không còn run rẩy, ngập ngừng hay do dự như hồi đầu buổi tối nữa. Từng dòng chữ ngay ngắn, thẳng thớm và nắn nót dần dần hiện ra trên từng đường kẻ ô ly.

Cậu không còn cố công tưởng tượng ra một bác lao công trường học vô hình với mái tóc bạc phơ như Bụt hay áo xống rực rỡ như tiên nữ nữa. Cậu chọn viết về bác thợ sửa khóa già nơi đầu con ngõ chợ Bình An mà chính mắt mình vừa nhìn thấy. Ngòi bút của cậu tỉ mẩn tả lại manh áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân đã bạc màu sương gió, sờn rách cả hai bên cùi chỏ; cậu tả đôi bàn tay gầy guộc đầy những vết chai sần thô ráp, mười đầu ngón tay dính những vệt dầu mỡ đen nhánh chùi hoài không sạch; cậu tả lại từng vạt vụn mạt đồng thau vàng óng bay lượn lấp lánh như bụi sao rơi dưới ánh đèn dầu leo lét theo từng nhịp búa gõ *lách cách* dứt khoát; và cậu viết về nụ cười rạng rỡ, hàm răng ám khói cùng những nếp nhăn ấm áp xô lại trên gương mặt bác thợ già khi chiếc chìa khóa mới tinh mở tung được chiếc ổ khóa gỉ sét.

Lời văn của một cậu học trò lớp tám đôi chỗ vẫn còn vụng về, vài chỗ dùng từ ngữ còn gồ ghề, chưa thực sự chau chuốt mượt mà như văn mẫu in trong sách giáo khoa, nhưng từng câu chữ đều tươi rói hơi thở nồng nàn của đời sống thực, ấm áp tình người và rung rinh những cảm xúc chân thành nhất vừa được đánh thức.

Ba ngày sau, Nam tung tăng xách chiếc cặp sách đi học về nhà, nụ cười toe toét ngoác tận mang tai làm sáng bừng cả gian phòng khách. Cậu hãnh diện xòe cuốn vở bài tập Ngữ văn ra trước mặt cả nhà: điểm tám tròn trĩnh đỏ chói ngời ngời ở góc trên cùng của trang giấy, kèm theo dòng lời phê nắn nót bằng mực đỏ của cô giáo bộ môn:

*“Bài viết rất sống động, giàu sức quan sát thực tế và thể hiện một góc nhìn chân thực, giàu tình cảm trắc ẩn đối với người lao động. Cô khen ngợi sự tiến bộ vượt bậc của Nam!”*

Cả căn hộ nhỏ rộn ràng những lời chúc mừng ríu rít. Ba Minh buông tờ báo đang đọc dở, bước lại xoa đầu cậu con trai khen ngợi hết lời; còn mẹ Hạnh dù ngoài mặt vẫn cố giữ vẻ nghiêm nghị của một người mẹ nghiêm khắc, nhưng trong bữa cơm chiều hôm ấy, bà đã lặng lẽ gắp miếng sườn non ram mặn to nhất, ngon nhất bỏ vào chén cơm đầy của cậu.

Đến đêm khuya, khi chiếc đồng hồ tròn điểm mười một giờ rưỡi, cả căn hộ chung cư đã hoàn toàn say giấc. Chỉ còn lại tiếng gió đêm luồn qua khe cửa ban công khẽ lay động mấy ngọn rau mầm non nớt.

Ông Tư mới lục đục chống tay trở mình thức dậy. Khớp lưng của ông hơi nhức mỏi âm ỉ vì căn bệnh thoái hóa cột sống kinh niên của tuổi già, nhưng từng bước chân dẫm trên sàn gỗ lại vô cùng nhẹ nhõm, thanh thản. Ông chậm rãi bước tới bên bàn học của Nam, nơi bản nháp đầu tiên chi chít những vết gạch xóa, viết đè bằng mực đỏ và mực xanh được đứa cháu nội kẹp hờ trong cuốn sách giáo khoa Ngữ văn.

Người cựu giáo viên già mỉm cười lặng lẽ, đôi mắt rưng rưng xúc động. Ông nâng niu cầm lấy tờ giấy nháp nhăn nhúm ấy bằng cả hai tay, cẩn thận gấp lại làm tư rồi dùng lòng bàn tay vuốt thật phẳng phiu từng nếp gấp mép giấy. Ông tiến bước về phía góc phòng khách, khẽ khàng cúi người kéo khóa chiếc vali vải sờn góc – hành trang mộc mạc duy nhất mà ông mang theo từ quê nhà Bến Tre lên thành phố dạo nọ.

Dưới đáy vali, nằm ngay ngắn bên cạnh mớ hạt giống rau mùi thơm phức bọc trong giấy báo và chiếc áo len đan tay đã cũ mòn, là một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc da màu nâu sẫm đã sờn rách các góc theo năm tháng. Ông Tư ngồi bệt xuống sàn, lật giở từng trang giấy ố vàng đã lưu giữ những mốc trưởng thành, những nét chữ đầu đời của từng đứa con, đứa cháu suốt hơn bốn mươi năm cuộc đời dạy học và làm cha của ông. Với vẻ trân trọng vô bờ, ông cẩn thận kẹp tờ giấy nháp bài văn tả bác thợ khóa của Nam vào trang giấy mới nhất, rồi khẽ khàng vuốt phẳng lại một lần nữa. Khóe mắt kèm nhèm của người già rưng rưng một niềm hạnh phúc bình dị, thiêng liêng khôn tả xiết.

Vừa lúc ông cẩn thận đóng nắp cuốn sổ da lại, đặt sâu vào đáy vali và toan vịn tay vào thành sô-pha để đứng dậy, thì cánh cửa phòng ngủ nhỏ phía sau lưng chợt hé mở đánh “kẹt” một tiếng thật khẽ.

Bé Mít – đứa cháu gái út mới học lớp một với mái tóc buộc hai sừng chỏng chơ – trong bộ đồ ngủ in hình chú gấu bông đang ngủ gật ngủ dở, hai mắt nhắm nghiền lạch bạch chạy ùa ra. Trên hai bàn tay nhỏ xíu của con bé là chiếc điện thoại thông minh đang phát ra luồng ánh sáng rực rỡ, chói lòa trong bóng đêm tĩnh mịch của căn phòng khách.

Con bé đưa một bàn tay nhỏ lên dụi dụi mắt, rồi nhảy tót lên chiếc đệm sô-pha ngồi sát sạt bên cạnh ông nội. Khuôn mặt bầu bĩnh của nó hớn hở, vội vàng chìa sát màn hình điện thoại rực rỡ ánh xanh vào tận sát chóp mũi ông, đoạn cất chất giọng non nớt, the thé thì thào đầy vẻ bí mật:

“Nội ơi nội! Mẹ Hạnh vừa mới cài vô máy cho con cái ứng dụng đi chợ online này xịn xò lắm nè nội! Mua cái đồ gì trên đời này cũng có hết trơn á, từ mớ rau muống tới hộp bánh kẹo luôn! Lại còn bấm tay vô mấy cái hình hộp quà nhấp nháy nhiều màu này là người ta tặng đồ miễn phí đem tới tận cửa nhà mình nữa đó nội ơi! Sáng mai thức dậy, nội với con cùng bấm mua thử nghen nội!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories