Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.9 / 36
Chapter 9

Đào Vào Lớp Đá

Tiếng búa tạ nện chát chúa vào lớp vỏ đá xám của cánh đồng Thạch Nê làm bụi đá bay mù mịt, rát bỏng cả da mặt những người thợ đang oằn mình dưới nắng chang chang.

Gió thung lũng giữa trưa không mang theo một chút hơi ẩm nào, chỉ cuốn từng luồng nhiệt hầm hập pha lẫn mùi chua khét của xỉ khoáng từ triền núi Thanh Lộ tạt xối xả xuống lòng chảo. Thạch Nê vốn dĩ là bãi đất hoang rộng lớn nhất Hạ Khê, nhưng lớp mặt của nó suốt mấy mươi năm qua chẳng khác nào một chiếc mai rùa khổng lồ bằng đá vôi ngậm độc. Từng đợt trọc tức và nước thải luyện kim từ các lò quặng thượng nguồn của tiên môn ngấm dần theo mạch rỉ, kết tụ với vôi sống tạo thành một tầng váng cứng dày từ hai đến ba tấc. Thứ váng đá ấy trơ lỳ, bóng nhẫy như da trăn mốc, gõ vào kêu chan chát, giam chặt mọi mầm sống bên dưới. Muốn chạm tới lớp bùn đáy còn sót lại để gieo hạt, thau chua rửa mặn hay dẫn nhánh rễ non của Tức Căn lan tới, người ta không có con đường nào khác ngoài việc dùng xà beng, choòng thép và búa tạ đập vỡ từng tấc đá mặt bằng chính xương máu và gân cốt trần trụi.

“Nện mạnh tay lên! Nhát búa phải dứt khoát, bổ trúng vào các đường nứt chân chim!”

Trịnh Bách đứng dạng chân trên bờ mương cạn, chiếc áo cộc rách vai ướt sũng mồ hôi dính bết vào lồng ngực vạm vỡ chằng chịt gân guốc. Ông ta vừa quệt ngang cánh tay cáu ghét lau giọt mồ hôi đang cay xè nơi khóe mắt, vừa liên tục huơ chiếc cán xẻng thúc giục đám đinh tráng:

“Ráng lên các chú! Mới vỡ được có ba phần mười diện tích thửa nửa mẫu này thôi. Hôm qua cô An đã đọc rõ ràng từng điều trước miếu rồi đấy: tổ nào phá xong định mức nửa mẫu trước giờ dậu sẽ được trích thêm nửa bát bột ngô vào khẩu phần mỗi ngày! Nửa bát bột ngô đấy các chú ạ, đem về quấy loãng, nấu độn với sắn khô của cô Nguyệt đưa sang là đủ cho một đứa nhỏ trong nhà húp đẫy bụng bữa tối. Đừng có đứng ườn lưng ra đó nữa, chậm một nhát búa là tối nay con cái phải chan nước lã mà nuốt đấy!”

Dưới lòng ruộng thử nghiệm, gần chục người đàn ông thở hồng hộc như trâu kéo cày qua bùn lầy. Tiếng kim loại va đập vào đá vang lên côm cốp, chát chúa, tóe ra những tia lửa đỏ quạch kèm theo mùi tanh nồng của kim loại rỉ sét và mùi đá cháy. Ai nấy đều thèm khát nửa bát bột ngô ấy. Dù đêm qua phường thuốc của Đào Nguyệt từ Bến Tro đã kẹp theo xe tải đem tới sắn dây khô và củ mài cứu đói đủ cho dân xóm giếng cầm cự chừng hai mươi ngày, nhưng cái đói dai dẳng bám riết suốt bao tháng ròng đã ăn sâu vào tủy xương họ. Miếng ăn cứu trợ chỉ giúp người ta không gục xuống ngay mép đường, còn cái dạ dày lúc nào cũng quặn thắt như bị cào xé. Có thêm một chút chất bột ngọt lành của ngô xay là thêm một phần sinh khí, thêm một tia hy vọng cho những mái ấm xiêu vẹo đang thoi thóp khói bếp ở xóm giếng.

Những bắp tay cuồn cuộn vung lên, những tấm lưng gầy guộc cháy nắng cong gập xuống theo từng nhịp thở dốc. Bụi đá vôi mịn như phấn xám cuộn lên theo từng bước chân trần giẫm đạp, bám vào lông mày, sợi tóc, đọng thành từng mảng mốc thếch nơi kẽ tai và khóe miệng. Cứ mỗi lần một tảng đá vôi bị bẩy tung lên, một luồng khí nồng ẩm, ngai ngái mùi phế khoáng ứ đọng lại xộc ra, khiến người ta ho sặc sụa nhưng rồi lại vội vã vung búa tiếp vì sợ chậm trễ công điểm.

Cách đó không xa, bên dưới một mái lều dựng tạm bằng mấy cọc tre khẳng khiu và vài tấm bao tải rách căng chéo để che bớt cái nắng thiêu đốt, Mộc An ngồi trên một phiến đá phẳng. Nàng đặt cuốn sổ bìa da mộc trên đầu gối, chiếc áo nhuộm chàm đã bạc phếch nơi vai áo dính đầy bụi trắng. Nàng chăm chú chấm ngọn bút lông thỏ vào chiếc đĩa sành mài dở mực đen, cẩn thận gạch từng nét chữ ghi lại số thước đá đã được bẩy lên của từng người, từng tổ thợ.

“Bác Bách, bác đừng hối thúc mọi người quá sức thế,” Mộc An ngẩng đầu lên, quệt vệt bụi đá bám ngang gò má gầy guộc, cất giọng nhắc nhở: “Định mức ghi trong sổ quy ước là tính theo độ sâu an toàn, bóc lớp đá mặt dày hai tấc rồi dùng cào sắt xới tơi lớp bùn đáy. Phá ẩu, đá vỡ vụn găm vào bùn thì sau này rễ Tức Căn không bám nổi đâu. Với lại trời nắng gắt thế này, thúc thợ đập dồn dập rất dễ kiệt sức. Người kiệt sức ngã ra đấy thì lấy ai mà dọn tiếp?”

“Tôi biết chứ, cô An!” Trịnh Bách ngoái lại, giọng phân trần nhưng chân vẫn không ngừng bước dọc mép hố, đôi mắt đục ngầu vì bụi đá nheo lại nhìn khắp lòng ruộng: “Nhưng cái bụng đói nó không chờ được. Hai mươi ngày lương khô của cô Nguyệt trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ ấy. Không chớp lấy từng buổi nắng để dọn sạch nửa mẫu này cho anh Tầm đánh rễ con sang cấy, thì đến lúc cạn củ mài, chúng ta lấy gì bỏ vào mồm? Mấy anh em bảo nhau ráng thêm một đường búa thì cả nhà bớt được một tiếng thở dài, cô tính xem có đúng không?”

Mộc An nhìn ánh mắt rực lửa nhưng đầy tuyệt vọng của Trịnh Bách, lại nhìn xuống những con số chi li trong sổ, khẽ thở dài một tiếng. Nàng hiểu tấm lòng của người cựu phu mỏ này, nhưng cái cảm giác bất an từ những trang ghi chép trước cứ lởn vởn trong đầu nàng. Đất Thạch Nê không giống đất ruộng thông thường; từng tấc đá ở đây đều giấu kín những tai ương mà người phàm không lường hết được.

Ở góc ruộng phía bắc, nơi mặt đất trũng hẳn xuống tạo thành một hố sâu ngăn cách với bờ đá tai mèo dựng đứng, tiếng choòng sắt gõ lách cách đều đặn và gấp gáp hơn hẳn những nơi khác.

Lê Cẩn đang đứng dưới đáy một cái hố khoét sâu hoắm. Chiếc xà beng bằng thép tôi dài bốn thước trong tay anh cắm phập vào một kẽ nứt nằm giữa hai tảng đá vôi xám xịt. Toàn thân Cẩn trần trùng trục, nước da ngăm đen bóng nhẫy mồ hôi, lớp bụi đá mịn bám vào da thịt tạo thành những vệt xám ngoét loang lổ như lớp vảy của một loài bò sát.

Cẩn thở dốc, từng nhịp thở của anh kéo theo tiếng rít khè khè nghẹn ứ nơi cuống họng, sâu hút trong lồng ngực. Lồng ngực anh buốt nhói như có ai rải dăm bào thủy tinh vào bên trong phế nang mỗi khi anh ráng sức hít vào. Cẩn biết rất rõ đó là di chứng của những năm tháng chui rúc dưới những lòng giếng ngậm trọc tức của phường đãi khoáng, và cái lần ho ra đờm đen lẫn máu cách đây mấy hôm dưới đáy Giếng Cạn vẫn chưa hề thuyên giảm. Cơn ho ấy rát buốt, lục phủ ngũ tạng như bị xáo trộn, nhưng sáng nay khi thức dậy, nhìn mẹ già run rẩy bẻ nửa củ mài hấp chia cho hai đứa cháu nhỏ, anh lại giấu vội chiếc khăn tay dính máu vào đáy hòm rồi vác xà beng ra đồng.

Nhìn quanh bãi đá, thấy ai cũng dốc tàn lực để kiếm từng công điểm, Cẩn không cho phép mình dừng lại. Anh là thợ đào giếng giỏi nhất vùng, là người hiểu từng đường đi của mạch ngầm dưới tầng đá Thạch Nê này hơn bất cứ ai. Anh không muốn người ta nghĩ mình dựa vào tình bạn nối khố với Mộc Tầm để được nhận khẩu phần sắn khô mà không phải đổ mồ hôi tương xứng. Một thợ đào giếng có lòng tự trọng của riêng mình, và cái tự trọng ấy lúc này được đo bằng từng tấc đá bị bẩy tung.

“Keng!”

Mũi choòng sắt thúc mạnh vào một thớ đá mủn có sắc vàng nghệ xỉn. Một mảng vôi xám bong ra, để lộ một khe hở chỉ vừa lọt ngón tay trỏ. Cẩn chớp mắt, đưa mu bàn tay quệt ngang trán để ngăn dòng mồ hôi đang chực chảy vào mắt, rồi ghé sát mặt vào nhìn.

Từ sâu trong khe nứt ấy, một luồng khí lạnh ẩm phả nhẹ ra mu bàn tay anh. Không phải thứ khô khốc nứt nẻ của đất chết trên mặt bờ, mà là cảm giác ẩm ướt râm mát của nước rỉ ngầm. Kẽ nứt này nằm sâu hơn bốn thước so với mặt ruộng thử nghiệm, xuyên qua lớp đá vôi cứng nhất để chạm tới một khoang rỗng bên dưới.

“Nước... Có mạch rỉ!” Cẩn lẩm bẩm trong miệng, mắt anh sáng rực lên giữa khuôn mặt lem luốc bùn đất.

Nếu tìm được mạch nước rỉ ngầm dẫn về từ chân núi, công trường Thạch Nê sẽ không còn phải gánh từng thùng nước chắt lọc từ Giếng Cạn sang để tưới đất nữa. Tốc độ làm mềm đất sẽ nhanh gấp bội, và thửa ruộng nửa mẫu này sẽ kịp đón rễ Tức Căn sớm hơn cả hạn định. Lúc ấy, không chỉ có nửa bát bột ngô, mà toàn bộ tổ thợ của anh sẽ được ghi nhận công đầu trong sổ quy ước của Hội. Anh sẽ chứng minh cho Tầm thấy, cho cả xóm giếng thấy rằng đôi bàn tay phu giếng của anh vẫn còn giá trị lớn lao biết bao.

“Tầm ơi! Bác Bách ơi!” Cẩn ngẩng đầu lên khỏi miệng hố, gào lớn bằng thứ giọng khản đặc: “Dưới này có kẽ ẩm! Nước ngầm dẫn qua tầng đá vôi sâu bốn thước! Có mạch rỉ rồi!”

Mộc Tầm đang ngồi kiểm tra độ xốp của một rổ đất mùn ở đầu bờ ruộng, nghe tiếng Cẩn gọi liền giật mình buông nắm đất xuống. Anh đứng phắt dậy, đôi lông mày nhíu chặt lại, vội vã rảo bước về phía hố đào. Trong đầu Tầm lập tức lóe lên lời cảnh báo mà chính Cẩn đã từng nói khi hai người ở dưới đáy Giếng Cạn: tầng Thạch Nê phía bắc ăn thông với các vỉa ngầm tích tụ trọc tức khổng lồ bị nén chặt qua nhiều năm tháng xả thải của tông môn. Địa tầng ở đây không đồng nhất; nơi nào có nước ngấm tụ lại, nơi đó trọc tức cũng thường nén chặt theo dạng túi khí hoặc dung dịch ngậm độc.

“Cẩn! Đừng động vào vỉa đá!” Tầm hét to khi còn cách miệng hố hơn chục bước chân, bước chân anh sải dài gấp gáp trên lớp đá lởm chởm: “Đứng yên đó, chờ tao xuống xem thớ đá thế nào đã! Nếu có mạch nước ngầm thì trọc tức cũng thường đọng ngay bên trên!”

Nhưng cơn phấn khích và nỗi nôn nóng muốn chứng minh bản thân đã hoàn toàn lấn át sự cẩn trọng thường ngày của người thợ đào giếng. Lê Cẩn đứng dưới đáy hố chật hẹp, nhìn vệt ẩm đang rỉ ra từng giọt li ti trên phiến đá chắn ngang trước mặt, hai tai anh như ù đi vì tiếng tim đập dồn dập trong lồng ngực. Anh thấy những giọt nước ấy quý hơn vàng ròng.

“Không sao đâu! Phiến đá này chỉ dày chừng nửa gang tay thôi, tao bẩy bung nó ra là nước chảy thông dòng ngay!” Cẩn đáp với lên, giọng khàn đặc nhưng đầy vẻ quả quyết.

Không đợi Tầm chạy tới mép hố, Cẩn đã xoay ngang chiếc choòng sắt nặng trịch, dùng hết sức bình sinh găm mũi thép nhọn hoắt vào đúng điểm giao nhau của kẽ nứt ẩm. Anh tì bờ vai trần thô ráp vào thân choòng, gồng cứng cơ bắp toàn thân, lấy gót chân trần bấm chặt vào nền đá làm điểm tựa rồi nảy mạnh một cái.

“Rắc!”

Một âm thanh giòn rụm, khô khốc vang lên từ sâu trong lòng vỉa đá, nhưng đó tuyệt nhiên không phải tiếng đá vỡ thông thường. Đó là tiếng nứt toác của một lớp vỏ bọc chịu áp lực cực hạn bị xé toạc đột ngột.

Phiến đá chắn ngang không vỡ thành từng mảng nhỏ rơi xuống mà toác toang hoác ra một miệng lỗ lớn bằng chiếc bát ăn cơm. Ngay khoảnh khắc thớ đá tách rời, không hề có dòng nước trong lành nào trào ra như Cẩn hằng mong đợi.

Thay vào đó, một tiếng “phì” rợn người xé toạc không gian dưới đáy hố, tựa như tiếng thở phì phò của một con ác thú bị giam cầm ngàn năm dưới lòng đất sâu vừa tìm thấy lối thoát.

Một luồng khí đậm đặc có màu xám chì u ám, sền sệt như khói lò luyện quặng nhưng quánh đặc hơn gấp bội, bùng phát dữ dội từ miệng lỗ vừa nứt. Luồng trọc tức bị nén chặt qua hàng chục năm dưới tầng áp lực đá vôi sâu bốn thước phun thẳng lên thành một cột khói mắt thường cũng nhìn thấy rõ, xộc thẳng vào mặt Lê Cẩn với tốc độ kinh hoàng. Áp lực của nó mạnh đến mức thổi bay cả mảng bụi đá vụn dưới chân anh, rít lên từng tràng chói tai.

Mùi kim loại rỉ sét nồng nặc hòa lẫn với mùi chua thối của lưu huỳnh và phế khoáng bốc lên cay xè, quét qua đáy hố trong chớp mắt. Thứ mùi ấy đặc quánh tới mức khiến không khí chung quanh như đông cứng lại thành một khối chì vô hình.

Lê Cẩn thậm chí còn chưa kịp nhận thức được điều gì vừa xảy ra. Khi luồng khí xám chì chạm vào mặt, mắt anh lập tức nhắm nghiền lại vì cơn bỏng rát dữ dội, nước mắt cùng dỉ mắt ứa ra giàn giụa. Cảm giác bỏng rát ấy không giống lửa thiêu, mà giống như bị hắt cả gáo giấm đặc pha mùn sắt vào hốc mắt. Anh há miệng định kêu cứu, nhưng thay vì không khí, thứ tràn vào khí quản anh là một ngụm trọc tức đặc quánh, lạnh buốt thấu xương nhưng lại thiêu đốt màng nhầy cổ họng như than hồng đang cháy đỏ.

“Khặc... ặc...”

Tiếng kêu cứu nghẹn lại trong cổ họng thành một chuỗi âm thanh rách nát, biến dạng. Lê Cẩn buông rơi chiếc choòng sắt xuống đất đánh “keng” một tiếng nặng nề, dội ngược vào vách đá. Hai bàn tay run rẩy, gầy guộc của anh đưa lên cào cấu điên cuồng lấy cổ họng và lồng ngực mình, móng tay cắm sâu vào da thịt bật cả máu. Cơ hoành co thắt dữ dội, từng thớ cơ giật nảy lên bần bật khiến toàn bộ phế quản của anh nghẽn đặc, không thể hít vào hay thở ra dù chỉ một tấc hơi nhỏ nhoi.

Khuôn mặt Cẩn tím tái lại trong vòng vài nhịp thở ngắn ngủi. Máu dồn lên mặt làm các mạch máu nơi thái dương phồng to như những con giun đất. Đôi chân lực điền run rẩy, mất hết sức lực, quỵ xuống trên nền đá lởm chởm. Toàn thân anh co giật từng cơn liên hồi, hai mắt trợn ngược trắng dã, miệng há hốc đớp bọt khí vô hình, rồi ngã vật ra đáy hố chật hẹp, nơi luồng trọc tức màu xám chì vẫn đang tiếp tục cuồn cuộn trào ra, dâng ngập chiếc hố như một cái chum nước độc không đáy.

“Cẩn! Thằng Cẩn!”

Mộc Tầm vừa lao tới mép hố, đập vào mắt anh là cảnh tượng người bạn nối khố đang nằm co quắp dưới đáy, giữa làn khói xám chì đang bốc lên ngùn ngụt như một nồi vạc dầu sôi sục. Mùi trọc tức bốc lên từ miệng hố làm kinh mạch trong xoang mũi Tầm nhói buốt, mộc linh khí yếu ớt tầng ba Dẫn Khí trong đan điền cơ thể anh lập tức rung lên hồi chuông báo động dữ dội. Linh lực bản năng trong người anh co cụm lại, run rẩy trước thứ khí tức dơ bẩn, hủy diệt này.

“Trọc tức nén dưới vỉa ngầm! Mau lùi lại!” Mộc Tầm thét lớn, thanh âm xé toạc không gian tĩnh lặng của buổi trưa.

Trên bờ, mấy người thợ đập đá gần đó vừa chạy ùa tới định nhìn xuống hố xem có chuyện gì thì luồng khí độc tạt qua mép đất khiến họ ho sặc sụa. Thứ khí ấy chạm vào da thịt làm người ta ngứa ngáy, rát bỏng như bị cọ xát lá han rừng. Một người thợ luống tuổi mặt mày tái mét, ngã dúi dụi ra sau, hai tay ôm chặt lấy ngực nôn thốc nôn tháo ra bãi đá, từng búng dãi nhớt lẫn dịch mật vàng ứa ra:

“Độc... Độc khí dưới lò ma! Chạy mau! Vỡ túi trọc rồi!”

Sự hoảng loạn bùng lên như một mồi lửa bén rơm khô. Đám đinh tráng vốn dĩ đã mang sẵn nỗi sợ hãi những tai họa vô hình dưới lòng đất từ bao đời nay—những cái chết bất đắc kỳ hồ của phu mỏ, những thi thể tím đen được kéo lên từ lòng giếng sâu—nay tận mắt thấy cột khói xám và cảnh Cẩn ngã gục liền vứt búa tạ, cuốc chim, vừa la hét vừa tháo lui tán loạn về phía bờ ruộng. Trịnh Bách đứng sững sờ giữa mép bờ, chiếc xẻng trên tay rơi bộp xuống đất bùn, mắt nhìn trừng trừng xuống đáy hố, hai hàm răng va vào nhau lập cập, lắp bắp:

“Nó... nó bị khí độc đánh trúng rồi... Dưới đó sâu bốn thước, không có gió thông... không ai sống nổi đâu... Chết rồi, thằng Cẩn chết chắc rồi...”

“Đứng yên đó! Đừng chạy bừa bãi!”

Tiếng thét sắc lẹm của Mộc An vang lên xé toạc sự hỗn loạn đang lan tràn. Nàng buông rơi cuốn sổ da xuống phiến đá, túm lấy vò sành ngâm lá trà xanh dùng để uống dở trên bàn lều, chạy vọt tới ném thẳng cho anh trai:

“Anh Tầm! Nước đây! Cẩn thận!”

Mộc Tầm không chần chừ nửa khắc. Từng giây trôi qua dưới đáy hố lúc này đều được tính bằng mạng sống của bạn mình. Anh giật phắt chiếc khăn vải thô đang quấn trên cổ, dốc trọn cả vò nước trà xanh vào cho ướt sũng rồi quấn chặt quanh mũi và miệng ba vòng liên tiếp, chỉ chừa lại đôi mắt đỏ ngầu căm phẫn. Anh hiểu rất rõ: trọc tức đậm đặc này nếu hít thẳng vào phổi quá mười hơi thở, phế nang sẽ đông kết thành sẹo vôi hóa vĩnh viễn, tính mạng của Cẩn coi như chấm dứt ngay tại đáy hố này, không thần dược nào cứu vãn nổi.

Nhặt lấy sợi dây thừng gai to bằng ngón chân cái dùng để kéo đá vụn vứt bừa bãi bên mép bờ, Tầm buộc chặt một đầu dây quanh thắt lưng mình bằng nút thắt thợ rừng, ném đầu dây còn lại cho Trịnh Bách:

“Bác Bách! Giữ chặt đầu dây! An, gọi người giữ phụ! Tôi xuống kéo nó lên, khi tôi giật dây ba cái thì dốc sức kéo cả hai lên ngay!”

“Tầm! Nguy hiểm lắm con ơi! Dưới đó là trọc độc thuần đấy! Nhảy xuống là bỏ mạng cả hai!” Trịnh Bách run rẩy kêu lên, bàn tay to bè chụp lấy dây nhưng chân vẫn chần chừ.

“Giữ dây!”

Tầm gầm lên một tiếng dứt khoát như sấm nổ ngang tai rồi không màng nguy hiểm, hai tay bám vào gờ đá vôi sắc nhọn, nhảy thẳng xuống đáy hố đào sâu hơn bốn thước.

Vừa chạm chân xuống đáy, một luồng áp lực nặng trĩu tựa như ngàn cân sắt vụn lập tức đè nghiến lấy lồng ngực Tầm. Lớp khăn ướt quanh mũi miệng anh nóng rực lên chỉ sau một hơi thở ngắn ngủi; trọc tức ngấm qua sợi vải bốc mùi lưu huỳnh khét lẹt xộc thẳng vào xoang mũi, cay buốt tận chân tóc. Da thịt ở cánh tay trần và cổ Tầm rát bỏng như bị tạt nước sôi, các lỗ chân lông co thắt lại trong đau đớn cùng cực.

Dưới chân anh, Lê Cẩn đã ngừng giãy giụa, toàn thân mềm nhũn như một tàu lá chuối héo, môi thâm sì chuyển sang màu tím đen, bọt mép màu xám đục rỉ ra khóe miệng, hòa với lớp bụi đá thành một thứ bùn nhơ nhớp. Miệng lỗ thủng trên phiến đá vôi vẫn đang phì phì phun ra từng đợt khí xám lạnh toát, cuộn xoáy quanh hai chân Tầm.

Tầm cắn chặt răng đến bật máu tươi nơi khóe môi, nén cơn đau thắt nghẹt thở nơi lồng ngực. Anh vận chuyển chút mộc linh khí ít ỏi tầng ba Dẫn Khí trong cơ thể, điều động nó chạy dọc theo kinh mạch để bao bọc lấy tim mạch và cuống họng, nhưng tuyệt đối không dám phóng thích linh khí ra ngoài không khí dù chỉ một mảy may—anh vẫn nhớ như in bài học đắt giá mà mình từng chứng kiến: linh khí thuần dương của tu sĩ nếu chạm vào trọc tức nén đậm đặc sẽ kích hoạt phản ứng nổ nhiệt kinh hoàng, thiêu rụi toàn bộ đáy hố trong chớp mắt.

Tầm quỳ sụp xuống nền đá nhọn hoắt, luồn sợi dây thừng gai qua nách và vòng qua ngực Lê Cẩn, thắt nút thòng lọng đôi cực kỳ chắc chắn theo đúng cách thợ rừng trói gỗ súc. Hai tay anh run bần bật vì thiếu dưỡng khí nghiêm trọng, mắt mờ đi sau làn sương xám chì đặc quánh, đầu óc quay cuồng như có tiếng chuông đồng gõ liên hồi bên tai.

“Cẩn! Ráng lên bạn, đừng có nhắm mắt! Mẹ mày còn đang đợi ở nhà!”

Tầm gầm gừ trong cổ họng qua lớp khăn ướt nồng nặc mùi hôi khét, dùng cả hai tay nhấc bổng nửa thân trên nặng trịch của Cẩn lên, tì chặt vào lưng mình rồi dùng hết tàn lực giật mạnh sợi dây thừng ba cái:

“KÉO! KÉO LÊN!”

Trên miệng hố, Trịnh Bách như bừng tỉnh khỏi cơn mê muội hèn nhát. Bản năng lực điền và nỗi hổ thẹn vì sự hoảng loạn ban nãy trỗi dậy dữ dội trong huyết quản, ông ta gầm lên một tiếng vang động cả cánh đồng, hai bàn tay hộ pháp chai sần nắm chặt sợi dây thừng gai, gồng cứng cơ lưng kéo giật lùi về phía sau:

“Kéo! Mấy thằng bay quay lại kéo mau! Thằng Cẩn còn sống! Đứng nhìn đồng đội chết à? Kéo!”

Hai người thợ đập đá vừa chạy thụt mạng ban nãy nghe tiếng thét đầy phẫn nộ cũng hổ thẹn quay đầu lại, không ai bảo ai, cùng lao vào chộp lấy đoạn dây phía sau Trịnh Bách. Mộc An cũng cắn chặt môi đến bật máu, hai tay trần bám chặt vào dây thừng thô ráp, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể nhỏ nhắn kéo ngửa về phía sau.

Sợi dây thừng gai căng như dây đàn, kêu răng rắc rợn người dưới sức nặng của hai thân người lớn. Dưới đáy hố, Tầm dùng bờ vai vạm vỡ đội trọn phần lưng của Cẩn, hai chân trần đạp mạnh vào các gờ đá tai mèo sắc nhọn để đẩy bạn lên từng tấc một. Từng tấc đá trôi qua cọ xát trầy xước cả da thịt, máu tươi ứa ra từ đầu gối và bàn chân Tầm hòa lẫn với bụi đá xám xịt, để lại những vệt đỏ thẫm trên vách đá vôi.

“Lên rồi! Nắm lấy tay nó!”

Trịnh Bách nhoài hẳn nửa người trên xuống mép hố, bàn tay to bè thô ráp tóm chặt lấy cổ tay tím tái của Lê Cẩn, cùng đám thợ đồng thanh hô một tiếng “Hây!”, hợp lực giật mạnh một cái, kéo bổng thân hình mềm oặt của anh lên mặt đất.

Ngay khi Cẩn vừa được nhấc khỏi đáy hố, Tầm bên dưới cũng kiệt sức hoàn toàn, hai mắt tối sầm lại vì ngạt khí độc. Nhưng nhờ đoạn dây thừng còn sót lại quấn ngang hông, anh cắn răng bám chặt lấy một mỏm đá nhô ra, dùng chút tàn lực cuối cùng đạp chân trèo ngược lên miệng hố. Vừa chạm được hai tay vào cỏ bờ ruộng, Tầm ngã vật ra bờ đất, giật phăng chiếc khăn ướt đã chuyển sang màu xám đen nhớp nháp ra khỏi mặt, rồi nằm nghiêng người ho khan dữ dội từng tràng dài tưởng như muốn nôn cả ruột gan ra ngoài.

“Cẩn! Cẩn ơi, tỉnh lại đi!”

Mộc An buông dây thừng, lao tới quỳ sụp bên Lê Cẩn. Người thợ đào giếng nằm bất động trên nền đá lởm chởm, lồng ngực hầu như không còn phập phồng, hơi thở đứt quãng chỉ còn là những tiếng rít khe khẽ vô vọng trong cổ họng bị co thắt nghẽn đặc. Khuôn mặt anh tái nhợt, lạnh ngắt như người đã chết từ lâu.

“Tránh ra! Để chỗ thoáng khí!”

Một giọng nói trong trẻo nhưng đầy uy lực vang lên cắt ngang tiếng nấc nghẹn của Mộc An. Đào Nguyệt khoác chiếc hòm thuốc bằng gỗ đào chạy xộc tới từ phía con đường mòn dẫn vào Thạch Nê. Y phục màu thanh thiên của cô lấm lem bụi đường, trán lấm tấm mồ hôi, mái tóc vấn vội vài sợi rủ xuống bờ vai gầy. Đi cùng cô là hai dược đồ của phường thuốc Bến Tro, tay xách theo ấm đồng đang bốc hơi nghi ngút và những bọc lá thuốc khô bọc giấy dầu cẩn thận.

Không một động tác thừa, Đào Nguyệt quỳ một chân xuống bên cạnh thân hình đang co giật nhẹ của Lê Cẩn. Ngón tay thon thả nhưng cứng cáp của cô đặt chuẩn xác lên động mạch cổ của anh, cảm nhận từng nhịp đập yếu ớt. Sắc mặt cô lập tức trở nên nghiêm nghị tột độ:

“Mạch đập loạn sạ, phế khí bế tắc hoàn toàn, trọc độc đã xông thẳng vào kinh phế!”

Cô mở phắt nắp hòm thuốc, rút ra một bao kim bằng da hoẵng màu nâu sẫm. Trong nháy mắt, năm cây ngân kim dài ba tấc sáng loáng xuất hiện kẹp giữa các kẽ ngón tay cô, mũi kim ánh lên hàn quang sắc lạnh.

“Bác Bách, đè chặt hai vai anh ấy xuống, tuyệt đối không được để anh ấy giãy giụa làm lệch huyệt đạo!” Đào Nguyệt ra lệnh dứt khoát, giọng không chút run rẩy.

Trịnh Bách vội vã quỳ xuống, dùng cả hai bàn tay hộ pháp đè nghiến lấy hai vai Cẩn.

Bàn tay Đào Nguyệt hạ xuống nhanh như chim cắt vồ mồi. Ngân kim thứ nhất cắm thẳng vào huyệt Chiên Trung giữa ngực, ngập sâu hơn một tấc. Một luồng sương trắng nhạt mờ ảo từ đầu ngón tay cô truyền qua thân kim, kích thích huyệt đạo mở ra đường thở bị phong kín. Tiếp đó, bốn cây kim còn lại liên tiếp hạ xuống các huyệt Định Suyễn hai bên cổ, Phế Du sau lưng và Liệt Khuyết nơi cổ tay.

Mỗi mũi kim hạ xuống, cơ thể Cẩn lại giật nảy lên một cái như bị điện giật. Đến mũi kim thứ năm, từ sâu trong cuống họng anh phát ra một tiếng ọc nghẹn ngào, lồng ngực phập phồng dữ dội hơn.

“Dược thang Thanh Phế, mau lên!” Đào Nguyệt quát sang người dược đồ bên cạnh mà không ngẩng đầu.

Chiếc bát sành thô đựng thứ nước thuốc màu xanh đen, bốc khói nghi ngút mùi đắng chát nồng nặc của bách bộ, hoàng cầm và cát cánh cô đặc được đưa tới ngay mép đất. Đào Nguyệt một tay bóp mạnh hai bên quai hàm của Cẩn ép miệng anh mở rộng ra, tay kia đón lấy bát thuốc, chuẩn xác đổ từng dòng nước thuốc ấm nóng vào cuống họng đang co giật của anh. Đồng thời, bàn tay cô dùng chưởng lực vỗ mạnh ba cái vào lưng anh theo tiết tấu đặc biệt, từng chưởng dứt khoát làm rung chuyển cả lồng ngực người bệnh.

“Khụ... Ọe!”

Lê Cẩn đột ngột cong người dậy như một con tôm bị ném vào chảo than hồng. Một búng đờm đặc quánh màu đen kịt pha lẫn những tia máu đỏ tươi và mủ xám bị tống mạnh ra khỏi miệng, bắn tung tóe lên mặt đá vôi trước mắt mọi người. Thứ đờm đen đó vừa chạm vào không khí liền bốc lên một làn khói mỏng khét lẹt, làm sủi bọt lớp bụi đá bên dưới y hệt như giọt nước sôi rơi vào chảo mỡ.

Sau búng đờm đen tanh tưởi ấy, lồng ngực Cẩn xẹp xuống rồi phập phồng hít vào một ngụm dưỡng khí sâu hoắm, run rẩy. Tiếng thở rít khè khè nghẹt thở dần dịu đi, sắc mặt từ màu tím tái chuyển sang màu trắng bệch yếu ớt của người vừa bước một chân qua cửa tử. Đôi mắt anh hé mở lờ đờ, nhìn những gương mặt đang vây quanh mình như nhìn vào một giấc mơ xa xôi, bờ môi nứt nẻ mấp máy không ra tiếng.

Đào Nguyệt thở phào một hơi nhẹ nhõm, nhưng nét mặt cô không hề giãn ra chút nào. Cô cúi sát xuống, áp tai vào lồng ngực Cẩn lắng nghe nhịp thở nặng nhọc của anh trong vài giây, rồi những ngón tay cô siết chặt lại quanh mép bao kim da, các khớp ngón tay trắng bệch vì giận dữ.

Đôi mắt Đào Nguyệt ngước lên, nhìn thẳng vào Mộc Tầm đang lảo đảo đứng dậy bên cạnh bờ đất, ánh mắt chứa đầy sự nghiêm khắc và phẫn nộ bị kiềm nén bấy lâu:

“Các người điên rồi sao? Ai cho phép anh ấy xuống hố sâu nạy đá khi trong người đang mang bệnh nặng như thế này?”

Mộc Tầm khựng lại, ngực anh vẫn còn đau nhức âm ỉ vì ngạt khói, giọng khàn đặc: “Ý cô là sao, Đào cô nương? Cẩn... nó bị trúng trọc tức bùng phát từ kẽ nứt vỉa ngầm...”

“Trọc tức bùng phát chỉ là mồi lửa thôi!” Đào Nguyệt cắt ngang lời Tầm, giọng cô đanh lại, từng lời từng chữ nện thẳng vào tâm can những người có mặt như từng nhát búa tạ: “Phế nang của anh ấy đã bị tổn thương từ rất lâu trước tai nạn này rồi! Tiếng rít trong phổi khô khốc như củi mục, những ổ xơ hóa bám chặt quanh phế quản... Đây là dấu hiệu điển hình của bệnh phổi tro giai đoạn hai! Anh ấy đã ho ra máu và đờm đen từ nhiều ngày trước, đúng không?”

Cả bãi đất Thạch Nê bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió khô khốc rít qua bờ rào cạn. Trịnh Bách mở to hai mắt, sững sờ nhìn người thợ đào giếng nằm dưới đất, rồi nhìn sang chiếc xẻng cùn của mình. Mộc An giật mình đưa tay che miệng, đôi mắt nàng ngân ngấn nước. Trong khi đó, Lê Cẩn yếu ớt quay mặt đi về phía bờ đất, né tránh ánh nhìn của Tầm, hai khóe mắt rỉ ra hai giọt lệ lăn dài qua lớp bụi đá bám trên má.

Mộc Tầm bàng hoàng đứng chết trân. Trong đầu anh hiện về rõ mồn một hình ảnh dưới đáy Giếng Cạn mấy hôm trước: chiếc khăn tay Cẩn vội vã giấu vào túi áo sau cơn ho rũ rượi, những lời bông đùa xua tay bảo rằng chỉ là bụi đá kích ứng cổ họng. Anh cứ ngỡ bạn mình chỉ mệt mỏi nhất thời, không ngờ người bạn nối khố đã âm thầm gánh chịu căn bệnh quái ác ấy suốt bao lâu nay mà không hé răng nửa lời. Cẩn giấu giếm tất cả chỉ vì sợ bị gạt ra khỏi đội lao động, sợ mất đi khẩu phần sắn khô nuôi sống mẹ già và đàn cháu nhỏ, sợ trở thành một kẻ vô dụng ăn bám giữa lúc xóm giếng đang ngàn cân treo sợi tóc.

Nỗi xót xa và ân hận dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng Tầm. Anh đã quá mải mê với những bản đồ địa tầng, với tiến độ phục hồi đất và những nhánh mầm Tức Căn, mà quên mất rằng những con người bằng xương bằng thịt đang oằn lưng dưới ánh nắng này đều mang trong mình những vết thương rỉ máu của thời cuộc.

“Nếu không có thang Thanh Phế cấp tốc giải nghẽn cuống họng, phế quản của anh ấy đã vỡ toác ra vì co thắt rồi,” Đào Nguyệt lạnh lùng rút từng cây ngân kim ra khỏi người Cẩn, cẩn thận lau sạch vết máu xám đen trên thân kim bằng vải tẩm rượu gừng: “Tôi cấm anh ấy chạm vào bất kỳ chiếc xà beng hay bước xuống bất kỳ hố sâu nào nữa. Nếu các người muốn anh ấy sống thêm được vài năm để nhìn mặt con cháu, thì từ nay đừng bao giờ để anh ấy bước chân vào những nơi ngậm trọc độc như thế này! Một lần nữa thôi, dù là thần tiên giáng thế cũng không cứu nổi lá phổi nát bấy của anh ấy đâu!”

Lời cảnh báo đanh thép của Đào Nguyệt như một gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào toàn bộ công trường Thạch Nê. Mấy chục con người đứng quanh đó đều cúi gầm mặt xuống. Nửa bát bột ngô bỗng chốc trở nên đắng ngắt trong tâm tưởng họ.

Nhưng thảm họa của buổi trưa hôm ấy chưa dừng lại ở đó.

Từ dưới miệng hố đào sâu bốn thước nơi Lê Cẩn vừa nạy vỡ phiến đá, tiếng “xì xì” rợn tóc gáy vẫn không hề ngừng lại. Áp lực trọc tức tích tụ dưới tầng đá vôi Thạch Nê qua bao năm tháng bị phá vỡ một kẽ hở, đang điên cuồng tuôn trào ra như một mạch suối độc ngầm không thể kiểm soát.

Khói xám chì không bốc thẳng lên trời để tan biến vào hư không, mà vì quá nặng nên là là bay sát mặt đất, bị ngọn gió trưa cuốn đi, tràn qua mép hố rồi quét thẳng về phía bờ ruộng phía đông—nơi có những luống đất vừa mới được dọn đá xong.

Cách miệng hố khoảng mười bước chân, một vạt cỏ dại non xanh biếc vừa mới đâm chồi sau trận mưa rào mấy hôm trước—minh chứng hiếm hoi cho thấy lớp đất Thạch Nê đang dần mềm ra sau bao nỗ lực thau rửa—bị luồng khói xám chì quét qua.

Trước mắt hàng chục con người đang chết lặng vì kinh hãi, những ngọn cỏ non tươi mơn mởn lập tức héo rũ lại trong nháy mắt. Sắc xanh non tràn đầy nhựa sống biến mất, thay vào đó là một màu tro xám xỉn mục ruỗng lan nhanh từ ngọn xuống gốc. Từng cọng cỏ quắt queo lại, khô giòn như bị ngọn lửa vô hình thiêu đốt từ bên trong tế bào, rồi gãy gục xuống nền đất đá, tan thành từng vụn bụi xám vô hồn chỉ sau vài hơi thở ngắn ngủi.

Mùi lưu huỳnh và kim loại cháy khét lẹt đặc quánh cả một góc ruộng, át đi cả mùi rơm rạ và bùn đất quen thuộc.

“Trời ơi... Đất chết... Đất lại trào độc ra rồi!”

Tiếng một người thợ già thất thanh vang lên, run rẩy và lạc giọng, đánh vỡ bầu không khí ngưng trệ tang thương.

Công trường Thạch Nê rơi vào hoảng loạn tột độ. Những người thợ vừa mới nửa khắc trước còn hăng hái vung búa vì nửa bát bột ngô cho con, nay mặt mày xám ngoét không còn một giọt máu như người chết trôi. Họ lùi lũi dạt ra xa bờ ruộng, túm tụm lại với nhau thành từng nhóm nhỏ, ánh mắt nhìn cái hố sâu bốn thước bằng nỗi khiếp đảm tột cùng. Ai nấy đều run rẩy nhìn đôi bàn tay chai sần của chính mình, sợ rằng chỉ một nhát búa sai lầm tiếp theo của họ cũng sẽ chọc thủng một túi độc khác bị chôn vùi dưới chân, biến cả cánh đồng này thành một mồ chôn tập thể ngạt thở.

Trịnh Bách đứng chết trân bên bờ ruộng, nhìn vạt cỏ dại vừa biến thành tro tàn mà hai bả vai lực lưỡng sụp hẳn xuống. Người đàn ông lực điền từng tin rằng chỉ cần sức mạnh cơ bắp, sự liều mạng và lòng kiên trì của phu mỏ là có thể khai hoang cứu đói cho xóm làng, giờ đây nhận ra sự bất lực cay đắng trước những hiểm họa vô hình bị phong kín dưới lòng đất sâu. Cơ bắp không thể đánh nhau với khí độc; sự liều lĩnh chỉ đổi lại những cái chết uổng mạng.

“Bác Bách! Mọi người!”

Mộc Tầm bước lên gờ đá cao bên mép mương, tiếng anh khàn đặc vì khói độc nhưng vang rền qua khoảng không ngột ngạt của cánh đồng:

“Tất cả dừng tay lại! Lập tức buông búa và xà beng xuống!”

Mộc An nhanh chóng chạy tới bên anh trai, trên tay ôm chặt cuốn sổ bìa da mộc áp vào ngực. Đôi mắt nàng kiên định quét qua từng gương mặt đang hoang mang, sợ hãi của những người chủ hộ:

“Theo quy ước điều hai của Hội giữ đất: an toàn tính mạng của thành viên được đặt lên trên mọi tiến độ khai hoang! Thay mặt Ban điều hành, tôi tuyên bố: Hội đình chỉ toàn bộ hoạt động phá đá tại thửa ruộng thử nghiệm Thạch Nê ngay từ giờ khắc này!”

Không một ai lên tiếng phản đối. Không một tiếng càu nhàu về nửa bát bột ngô bị mất. Tiếng búa tạ hoàn toàn câm bặt trên khắp cánh đồng rộng lớn. Chỉ còn lại tiếng gió rít khô khốc thổi qua bãi đá xám xịt và tiếng “xì xì” ma quái vẫn đang rỉ ra đều đặn từ chiếc hố độc sâu bốn thước, như một lời đe dọa lạnh lùng của lòng đất đối với những kẻ dám mạo phạm khi chưa đủ hiểu biết.

Đám đinh tráng lặng lẽ khiêng chiếc cáng tre đưa Lê Cẩn về xóm giếng. Từng bước chân trần lê thê trên con đường đất bụi bặm, trĩu nặng sự u ám và hoang mang về một ngày mai mịt mờ.

***

Hoàng hôn buông xuống lòng chảo Hạ Khê trong một màu đỏ quạch ảm đạm như máu khô. Mặt trời từ từ lặn sau những đỉnh núi đá vôi tai mèo nhọn hoắt của Thanh Lộ Tông, hắt lên nền trời những dải mây màu xám chì u uất, để lại bóng tối lành lạnh trùm lên từng mái nhà tranh xiêu vẹo của xóm giếng.

Mộc Tầm ngồi bệt trước bậc thềm hiên nhà, lưng tựa vào vách đất nứt nẻ đã bong tróc từng mảng rơm trộn bùn. Gió chiều thổi qua khe vách rít lên từng hồi thê lương.

Bên trong buồng, Lê Cẩn đã thiếp đi sau khi được Đào Nguyệt châm cứu lần thứ hai và cho uống thêm một thang an phế sắc đặc. Tiếng thở của anh đã đều đặn trở lại, không còn những tiếng rít nghẹn ngào rợn người ban trưa, dù thi thoảng vẫn có những cơn co thắt nhẹ nơi lồng ngực làm tấm chăn mỏng khẽ rung lên. Mẹ của Tầm cũng đã yên giấc ở gian trong sau bát thuốc sắc từ thảo dược an thần mà Mộc An mang về từ phường thuốc Bến Tro. Trong gian bếp nhỏ, tiếng Mộc An cời than nhóm lửa nấu chút cháo loãng vang lên khe khẽ, ngập tràn vẻ mệt mỏi nhưng cố nén tiếng thở dài.

Trước mặt Tầm, một chiếc chậu sành sứt mẻ chứa đầy nước lạnh đặt chênh vênh trên nền đất nện.

Tầm cúi đầu nhìn đôi bàn tay của mình đang ngâm lơ lửng trên mặt nước. Lớp da lòng bàn tay anh rộp lên từng bọng nước to tướng, nhiều chỗ đã vỡ toác ra rát buốt vì ma sát dữ dội với dây thừng gai và đá nhọn lúc kéo bạn trưa nay. Bụi đá vôi màu xám chì bám chặt vào từng kẽ móng tay, ngấm sâu vào những vết trầy xước rỉ máu đỏ tươi, rửa thế nào cũng không trôi hết thứ mùi tanh nồng của trọc tức. Nước trong chậu sành đã đổi sang màu xám đục lờ lờ, đáy chậu lắng lại một lớp cặn khoáng mịn như bột độc.

Tầm khẽ thở dài, một hơi thở trĩu nặng sự bất lực, cay đắng và tự trách.

Anh nhớ lại ánh mắt tuyệt vọng, trắng dã của Lê Cẩn dưới đáy hố sâu bốn thước, nhớ lại đôi bàn tay run rẩy cào cấu cổ họng trong vô vọng của người bạn cùng mình lớn lên từ thuở chăn trâu cắt cỏ. Anh nhớ lại hình ảnh vạt cỏ dại xanh non mơn mởn bị luồng khói xám chì quét qua, lập tức quắt queo, mục ruỗng rồi cháy rụi thành tro tàn chỉ trong vài cái chớp mắt. Và anh nhớ lại từng lời mắng mỏ gay gắt, rực lửa nhưng chuẩn xác đến tàn nhẫn của Đào Nguyệt bên bờ ruộng.

Bấy lâu nay, kể từ ngày lập ra Hội giữ đất, anh cứ ngỡ rằng chỉ cần mầm Tức Căn sống sót qua mùa hạn, chỉ cần dân làng đồng lòng góp sức, chỉ cần mọi người không tham lam nhận lương cứu đói ngậm bả của Vạn Thạch Hành thì mảnh đất này sớm muộn gì cũng sẽ có ngày hồi sinh. Anh đã nghĩ thiện chí, sự hy sinh và lòng dũng cảm của những người phu mỏ nghèo khổ như Lê Cẩn, như Trịnh Bách là đủ để phá vỡ lớp vỏ đá chết chóc của Thạch Nê. Anh tin vào sức người, tin vào ý chí vượt khó của những kẻ cùng đường.

Nhưng lòng đất sâu thẳm không vận hành bằng thiện chí của con người.

Trọc tức tích tụ hàng chục năm dưới lòng chảo Hạ Khê không tự biến mất chỉ vì người ta muốn cứu đói cho con cái mình. Thiên đạo vô tình, và quy luật của địa tầng cũng tàn nhẫn như thế. Dưới lớp mai rùa đá vôi kia là vô số túi độc bị nén chặt qua bao thăng trầm của phế khoáng tiên môn, và mỗi nhát búa giáng xuống một cách mù quáng, liều lĩnh chỉ đẩy những người thợ nghèo khổ tới gần hơn cái chết ngạt thở trong đau đớn. Thiện chí mà thiếu hiểu biết, thiếu che chắn, thiếu quy trình an toàn nghiêm ngặt thì chẳng khác nào đem sinh mạng của bạn bè, của xóm làng ra đánh cược một canh bạc sinh tử với quỷ dữ.

Nếu trưa nay không có Đào Nguyệt kịp thời mang theo ngân kim và dược thang Thanh Phế, Cẩn đã là một cái xác không hồn. Nếu luồng trọc tức ấy không chỉ phun ra một cột khói mà bùng nổ nhiệt khí như ở Giếng Cạn, bao nhiêu người trên bờ ruộng sẽ phải bỏ mạng cùng Cẩn?

Tầm siết chặt hai bàn tay phồng rộp lại, mặc cho những vết nứt toác ứa thêm máu tươi làm nước trong chậu sành loang ra những vệt đỏ thẫm. Cơn đau thể xác nhức nhối ấy nhắc nhở anh về một bài học xương máu mà anh sẽ không bao giờ được phép lãng quên trong suốt cuộc đời này.

Tầm ngồi trước hiên nhìn đôi bàn tay phồng rộp dính đầy bụi đá xám, nhận ra thiện chí không thể thay thế cho quy trình che chắn độc.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories