Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.10 / 36
Chapter 10

Quyền Được Dừng Tay

Mùi thuốc bắc ngai ngái bốc lên từ chiếc ấm đất sứt vòi đặt trên bếp trấu đỏ lửa, quấn quýt lấy vị tanh nồng của bãi đờm xám và tiếng thở rít nặng nhọc của Lê Cẩn trong căn lều dã chiến. Gian lều dựng tạm bằng mấy tấm cót ép thủng lỗ chỗ và vài thân tre đực cắm xiêu vẹo bên bờ taluy xóm Giếng Cạn dường như quá chật chội trước cơn ngột ngạt đang bóp nghẹt lồng ngực từng người có mặt.

Ngọn đèn dầu hạt cải đặt chông chênh trên chiếc chõng tre ọp ẹp phập phù theo từng đợt gió thốc qua kẽ nứa. Ánh lửa đỏ quạch hắt những vệt bóng dài ngoằng, vặn vẹo lên vách cót mục, làm gương mặt của những người điều hành Hội giữ đất Hạ Khê thêm phần hốc hác. Bên ngoài, màn đêm trùm kín lòng chảo; gió từ sườn núi Thanh Lộ cuồn cuộn đổ xuống mang theo cái lạnh khô khốc đầu đông lẫn mùi gắt cay nồng của quặng xỉ bị phơi nắng ban ngày. Đội thợ phá đá Thạch Nê đã rã ngũ về xóm từ lúc chạng vạng sau cú sập vỉa ngầm ở hố bốn thước, nhưng nỗi kinh hoàng về luồng trọc khí xịt ra từ kẽ đá vẫn như một lớp váng xám xịt đóng cứng trong tâm trí họ.

Lê Cẩn ngồi bẹp ở góc chõng, chiếc áo vải bạt rách toạc một bên vai đẫm mồ hôi lạnh, dính bết vào da thịt khô đét. Sắc mặt anh tái xám như màu chì ngâm nước, quầng mắt trũng sâu hoắm, và hai cánh mũi phập phồng một cách tuyệt vọng theo từng nhịp hít thở ngắn ngủn. Cứ vài ba khắc, một cơn ho dữ dội lại kéo đến, giằng xé cơ thể anh như muốn bẻ gãy từng chiếc xương sườn. Bàn tay phải của Cẩn run rẩy bấu chặt lấy dát tre, những khớp ngón tay trắng bệch, đường gân xanh ngoằn ngoèo nổi cộm lên mu bàn tay như những sợi rễ cây khô cằn trên đất hạn.

"Tôi... tôi chỉ hít phải một ngụm khí quẩn dưới đáy thôi mà," Cẩn khó nhọc gằn từng tiếng qua kẽ răng, giọng khàn đặc, ráp như đá cuội cọ vào đáy máng đãi quặng. "Đêm nay... đêm nay uống cặn thuốc của cô Nguyệt là êm ngay. Mai tôi lại ra Thạch Nê. Bác Bách già rồi, mắt kèm nhem không nhìn rõ thớ nứt, lũ thanh niên xóm Giếng thì nhát tay búa... Nếu bỏ dở cái hố số ba, nước mạch ngầm rỉ lên ngâm vỡ vách chống thì coi như ba ngày xúc đá, nạy vỉa của cả chục con người... đổ xuống sông xuống bể hết..."

"Anh câm miệng lại cho tôi."

Tiếng Đào Nguyệt vang lên, lạnh buốt và dứt khoát như một nhát dao chém đứt sợi thừng mục. Nàng đặt mạnh chiếc ống tre đựng ngân kim châm cứu xuống mặt chõng tre, tạo nên một tiếng *cạch* khô khốc, dứt khoát đến mức ngọn bấc đèn hạt cải chao đảo một thoáng.

Vạt áo vải thô màu chàm của Đào Nguyệt vẫn còn loang lổ vệt ố xám đậm—dấu vết của bãi đờm lẫn tro quặng mà Cẩn nôn thốc nôn tháo ra ban trưa khi được Mộc Tầm cõng từ đáy hố Thạch Nê lên. Nàng không buồn nhìn ánh mắt van lơn, tội nghiệp của Cẩn, mà xoay phắt người lại, hướng thẳng về phía Mộc Tầm và Phạm Nghi đang ngồi đối diện. Đôi mắt nàng dưới ánh đèn le lói sáng quắc lên ngọn lửa giận dữ lẫn sự nghiêm khắc đến tàn nhẫn của một thầy thuốc:

"Tôi ra lệnh cấm: Lê Cẩn tuyệt đối không được bước chân xuống bất kỳ hố đào sâu nào, không được chạm tay vào cán cuốc, cán xẻng nặng trong ít nhất một tháng tới. Nếu Hội giữ đất các người để anh ta bén mảng ra bãi đá Thạch Nê thêm một lần nào nữa, thì lần sau có chuyện, xin đừng chạy đến phường thuốc Bến Tro làm gì cho mỏi cẳng. Lúc đó, chỉ việc sắm sẵn chiếu rách mà bó xác đem chôn!"

Phạm Nghi ngồi ở đầu phản, hai bàn tay thô ráp đầy sẹo bồn chồn mân mê chuỗi hạt gỗ muồng nhẵn bóng. Gương mặt khắc khổ của ông lão trông coi nông vụ nhăn nhúm lại, khóe miệng giật giật ngập ngừng:

"Cô Nguyệt này... biết là cô có lòng xót người, nhưng... thằng Cẩn nó là tay thợ đào giếng giỏi nhất cái lòng chảo này. Không có con mắt dòm thớ đá của nó, đám trai tráng dưới Thạch Nê đập đá như người mù lần đường trong đêm, làm sao biết hướng nào có mạch thoát nước, hướng nào có túi hơi độc mà né? Vả lại... nhà nó còn mẹ già nằm liệt với đứa em dại, cả ba miệng ăn trông cả vào nửa bát bột ngô công nhật..."

"Bác Nghi!" Đào Nguyệt gắt lên, giọng nàng đanh lại, từng chữ như đóng đinh vào vách cót. "Bác muốn nó kiếm thêm ba bát bột ngô để rồi ba ngày nữa nằm cứng đờ ra đấy cho mẹ nó mua một cỗ ván mỏng chôn con à?"

Nàng không đợi Phạm Nghi phân bua, sải bước tới cạnh chõng tre, một tay túm lấy vạt tay áo của Cẩn giật mạnh lên, để lộ cánh tay gầy guộc chằng chịt những vết cào xước của đá dăm. Nàng chỉ ngón tay thon thả nhưng cứng như thép vào những đường gân xanh xám chạy dọc từ cổ tay ngược lên nách anh, nơi da thịt đã mỏng dính như giấy bổi:

"Nhìn cho kỹ đi! Đừng có đem cái thói u mê mà biện hộ cho sự vô trách nhiệm! Phế nang của nó đã giòn vụn như lá khô từ lâu rồi. Cái cú sặc trọc khí trưa nay chỉ là đóm lửa ném vào đống rơm khô thôi!"

Nói rồi, không một chút chần chừ, hai đầu ngón tay nàng ấn mạnh vào huyệt Trung Phủ ngay dưới xương quai xanh bên ngực trái của Cẩn.

"Ư... hộc!"

Cẩn lập tức oằn người lại như một con tôm bị ném vào chảo than hồng. Miệng anh há hốc ra, hai mắt trợn ngược, từng ngụm khí nghẹn ứ ở cổ họng không sao tống ra được, mặt mũi tím tái lại như màu gan lợn. Đào Nguyệt lập tức rút một cây ngân kim dài ba tấc trên nắp ống tre, ngón tay búng nhẹ, thân kim rung lên vo ve rồi găm chuẩn xác vào huyệt Đản Trung giữa ngực anh, sâu ngập nửa lóng tay.

Cẩn rùng mình một cái, ngực hạ xuống, một tiếng thở dài thườn thượt lẫn mùi hôi tanh thoát ra từ kẽ răng, anh đổ gục trán xuống đầu gối, toàn thân run rẩy như tàu chuối trước gió bão.

Đào Nguyệt rút kim, dùng mảnh vải sạch tẩm rượu gừng lau vệt máu đen rỉ ra từ chân kim, giọng rành rọt công khai trước cả gian lều:

"Vết tích tro quặng và bụi xỉ tích tụ trong cuống họng anh ta không phải chuyện ngày một ngày hai. Nó đã đóng váng ở đó ít nhất hai năm ròng rã! Đây là chứng bệnh 'phổi tro' giai đoạn hai rõ mười mươi, thứ chứng bệnh mà đám phu mỏ thượng nguồn của Thanh Lộ Tông mắc phải rồi nằm chờ chết rũ xương ngoài bãi tha ma. Anh ta biết mình ho ra máu, biết ngực đau như dao cứa mỗi khi trời trở gió, nhưng anh ta giấu! Anh ta cắn răng giấu các người để cố xúc thêm vài xẻng đá kiếm bữa cháo!"

Ánh mắt nàng quét qua gương mặt bàng hoàng của Phạm Nghi rồi dừng lại ở Mộc Tầm:

"Ban trưa, nếu không nhờ Mộc Tầm liều mạng nhảy xuống kéo anh ta lên kịp thời, nếu tôi không dùng năm mũi ngân kim phong bế kinh phế để giữ lại một hơi tàn, thì áp lực của túi trọc khí bị vỉa Thạch Nê nén lại đã xé toang cuống họng anh ta rồi. Một tháng! Đó là thời gian tối thiểu để màng phế quản bớt loét, để lớp sẹo non trong lồng ngực không bị bục ra khi gắng sức. Trong một tháng này, chỉ cần anh ta hít thêm một vốc bụi đá hay gồng mình bê một tảng xỉ nặng hai mươi cân, mạch máu phổi sẽ vỡ toang. Ai cho anh ta xuống hố, kẻ đó chính là kẻ cầm dao giết người!"

Sự im lặng bao trùm lấy căn lều, nặng nề và đặc quánh như chì nấu chảy. Chỉ còn lại tiếng gió núi rít qua khe nứa và tiếng thở dốc ngắt quãng, nhục nhã của Lê Cẩn. Người thợ đào đất giỏi nhất Hạ Khê gục đầu vào hai bàn tay thô nhám, những giọt nước mắt đục ngầu vì bụi đất lăn dài qua kẽ ngón tay, rớt xuống mặt chõng tre xám xịt. Anh không khóc vì đau đớn thể xác, mà khóc vì nỗi bất lực trần trụi của một kẻ nhận ra tấm thân tàn của mình sắp biến thành gánh nặng cho mẹ già, cho xóm giềng, và cho cả cái Hội giữ đất mà anh từng thề sẽ đổ mồ hôi đến giọt cuối cùng để gầy dựng.

Mộc Tầm bước chậm rãi lại gần chõng tre. Bàn tay anh—bàn tay cũng đầy những vết trầy xước rỉ máu do cào cấu vào vách đá sắc lẻm trưa nay, còn vương mùi nhựa hoàng liên đắng ngắt—đặt nhẹ nhưng vững chãi lên bờ vai đang run bần bật của người bạn nối khố.

"Nghe lời Đào Nguyệt đi, Cẩn," Tầm trầm giọng, từng tiếng thốt ra như đúc từ đồng đen. "Mạng của anh quý hơn từng tấc mương, từng thước đất ở Thạch Nê. Chiều nay, lúc mò mẫm dưới đáy hố mò thấy tay anh đã lạnh ngắt, tôi đã nghĩ mình mất anh rồi. Đất chưa cứu được mà người giữ đất đã chết rũ, thì cái Hội này lập ra để làm gì? Chuyện búa xẻng nặng nhọc, dứt khoát anh không được đụng vào nữa."

"Nhưng... nhưng Tầm ơi," Cẩn nấc lên, giọng méo mó. "Mẹ tôi... hai miệng ăn ở nhà..."

"Để đó tôi lo, Hội lo," Tầm cắt lời, siết chặt vai bạn. "Chỉ cần tôi còn một củ khoái mài cắn đôi, nhà anh sẽ có một nửa."

Lúc này, từ chiếc bàn gỗ con kê sát vách nứa đối diện, một tiếng sột soạt khẽ khàng vang lên phá tan bầu không khí bi thương. Mộc An nãy giờ vẫn ngồi im lặng trong bóng tối của góc lều, khẽ kéo chiếc ghế đẩu con lại gần bàn. Nàng mở toang cuốn sổ bìa da mộc thô ráp, đưa tay chỉnh lại bấc đèn cho ngọn lửa đứng bóng, rồi nhúng ngòi bút lông thỏ vào nghiên mực đã mài đặc.

Ánh mắt Mộc An bình thản, trong trẻo nhưng chứa đựng sự sắc sảo lạ thường khi nhìn qua vẻ mặt lúng túng của bác Phạm Nghi, rồi dừng lại ở dáng đứng nghiêm nghị của anh trai mình.

"Đào Nguyệt nói không sai một chữ nào. Nhưng nếu chỉ dùng lời cấm đoán và lòng thương hại để giải quyết chuyện này, thì ngày mai anh Cẩn ngồi nhà nhịn đói, ngày kia sẽ có một người thợ khác vì ba bát bột ngô mà giấu bệnh, lại lén lút bò xuống hố sâu rồi chết gục dưới đáy Thạch Nê," Mộc An cất tiếng, thanh âm trong trẻo vang lên rành rọt giữa gian lều ẩm mốc.

Nàng lật sang một trang giấy bổi mới tinh, miết ngón tay dọc theo nếp gấp thẳng tắp:

"Hội giữ đất Hạ Khê được lập ra là để người nghèo chúng ta giữ lấy mạng sống cùng mảnh đất này, chứ không phải một cỗ máy vắt kiệt sức tàn của phu phen để thay thế cho các lò quặng của Thanh Lộ Tông. Nếu người lao động bị thương tật mà bị cắt bỏ khẩu phần, họ sẽ coi việc giấu bệnh là cách sinh tồn duy nhất. Đó không phải là giữ đất, đó là giết người hợp pháp."

Nàng ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Phạm Nghi:

"Tôi đề nghị sửa đổi và bổ sung ngay đêm nay hai điều khoản mang tính nguyên tắc sống còn vào quy chế hoạt động của Hội. Bác Nghi, bác là trưởng lão giám sát, anh Tầm phụ trách kỹ thuật, xin hãy lắng nghe và chuẩn thuận."

Ngòi bút lông thỏ trong tay Mộc An chấm sâu vào mực, bắt đầu vạch những nét chữ chân phương, dứt khoát lên mặt giấy bổi dày, miệng nàng đọc chậm rãi từng từ:

"Điều thứ nhất: Quy định về 'Quyền được dừng tay'. Bất kỳ thợ đinh, thợ nạy đá hay người lao động nào của Hội, khi đang làm việc dưới hố sâu, trong đường hào hay trên các luống đất phục hồi, nếu ngửi thấy mùi lưu huỳnh nồng gắt, ngửi thấy vị tanh nồng của trọc khí bốc lên, hoặc phát hiện vỉa đá đổi sang màu xám đen, đất rỉ nước chua... đều có toàn quyền buông búa, hạ xẻng dừng tay ngay lập tức và hô hoán toàn đội rút lui lên bờ."

Nàng dừng bút, nhấn mạnh từng âm tiết:

"Người chủ động dừng tay và cảnh báo nguy hiểm sẽ tuyệt đối không bị trừ công điểm, không bị bất kỳ ai khiển trách hay cắt xén khẩu phần ăn của ngày hôm đó. Quyền được dừng tay để bảo toàn tính mạng là quyền bất khả xâm phạm của người cầm xẻng."

Phạm Nghi cau mày, chép miệng một cái vẻ đắn đo:

"Con bé An này... ý thì tốt đấy. Nhưng đất này người thì đói, tính thì gian. Lỡ có đứa lười biếng, mới cuốc được ba nhát thấy mỏi lưng, lại vờ vịt kêu ngửi thấy mùi tanh rồi vứt xẻng ngồi chơi xơi nước, thì lấy đâu ra tiến độ thông mương dẫn nước?"

"Thà chịu mười lần báo động giả còn hơn để một mạng người bị chôn sống dưới đáy hố!" Mộc An lập tức đáp trả, ánh mắt không hề né tránh sự nghi ngại của người già. "Sau khi có người hô dừng tay, người phụ trách kỹ thuật như anh Tầm hoặc tổ trưởng thợ đào sẽ xuống hiện trường thẩm tra bằng giấy quỳ hoặc quan sát địa tầng. Kẻ nào cố tình giả vờ để trốn việc ba lần sẽ bị tổ thợ khai trừ khỏi Hội, tước quyền nhận đất phục hồi sau này. Nhưng quyền nghi ngờ nguy hiểm và quyền dừng tay phải thuộc về người trực tiếp đối mặt với cái chết!"

Phạm Nghi im lặng một thoáng, nhìn vẻ kiên định trên gương mặt cô gái trẻ, cuối cùng gật gù: "Được... nghe có lý. Cứ ghi vào."

Mộc An chuyển ngòi bút xuống dòng dưới, nét chữ càng thêm vững chãi:

"Điều thứ hai: Quy định về bảo hộ thương tật và nhiệm vụ an toàn. Những người bị ngộ độc trọc khí, bị thương tích trong khi thi hành nhiệm vụ của Hội như anh Lê Cẩn, trong suốt thời gian điều trị và dưỡng bệnh theo chỉ định của thầy thuốc, vẫn được nhận đủ một trăm phần trăm khẩu phần lương thực cơ bản chia theo đầu người mỗi ngày từ kho dự trữ chung."

Đào Nguyệt nghe đến đây thì khẽ nhướng mày, ánh mắt thoáng lộ vẻ thán phục nhìn Mộc An.

Mộc An tiếp tục nói:

"Đổi lại, người dưỡng bệnh không phải ngồi chơi ăn bám để mang mặc cảm. Anh Cẩn là người tinh tường thớ đá và mạch khí ngầm nhất. Trong một tháng tới, anh không được cầm cuốc xẻng nặng, nhưng anh sẽ nhận nhiệm vụ làm 'Người quan sát an toàn'. Mỗi sáng, anh chỉ việc đi dọc các miệng hố trên bờ, dùng kinh nghiệm của mình để dòm màu đất, nghe tiếng rỉ của nước ngầm, chỉ dẫn cho lớp thợ trẻ vị trí nào đá xốp dễ sập, vị trí nào có vỉa khí để họ cắm ống tre thông hơi trước khi bổ nhát cuốc đầu tiên. Một người thợ kinh nghiệm đứng trên bờ cảnh báo còn giá trị hơn mười thợ đinh hì hục đập đá dưới đáy hố!"

Lê Cẩn ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt trũng sâu đẫm lệ của anh nhìn trừng trừng vào Mộc An, lồng ngực gầy guộc phập phồng run rẩy. Anh không ngờ mình không những không bị vứt bỏ như một món đồ hỏng, mà kinh nghiệm bao năm chui rúc dưới lòng đất của mình lại được trân trọng đặt vào một vị trí quang minh chính đại đến thế.

"Tôi... tôi làm được..." Cẩn run giọng, hai bàn tay siết chặt lại. "Chỉ cần đứng trên bờ dòm đất, ngửi gió... tôi cam đoan không một đứa trẻ nào ở Thạch Nê bị đá đè hay sặc khí độc như tôi trưa nay!"

"Bác Nghi, bác thấy thế nào?" Mộc An ngẩng lên nhìn ông lão.

Phạm Nghi thở dài một hơi thật sâu, bao nhiêu nét nhăn nheo co rúm trên trán dường như giãn cả ra. Ông đưa bàn tay gầy guộc vỗ mạnh lên đầu gối:

"Hay! Rất hay! Con bé này tính toán chu toàn hơn cả cánh già chúng tao. Đất cần giữ, mà cái tình cái nghĩa giữa người nghèo với nhau lại càng phải giữ cho bền. Đưa đây, tao điểm chỉ đầu tiên!"

Mộc An mỉm cười, đẩy nghiên mực đỏ sang. Phạm Nghi ấn ngón tay cái thô ráp dính mực son đỏ thắm lên trang giấy, để lại một dấu vân tay tròn trịa dưới dòng chữ quy chế mới. Tiếp đó, Mộc Tầm và Mộc An lần lượt ký tên và điểm chỉ. Bản quy chế đầu tiên về an toàn lao động của Hội giữ đất Hạ Khê đã ra đời như thế, giản dị trên trang giấy bổi thô sơ, nhưng vững chãi như một lời thề sắt đá giữa những phận người cùng khổ.

Căn lều dường như sáng sủa hơn đôi chút sau khi ba dấu tay đỏ rực được đóng xuống. Tuy nhiên, sự ấm áp ngắn ngủi ấy nhanh chóng bị xua tan khi Mộc Tầm đứng thẳng dậy, bước ra mép lều nhìn về phía bóng đêm mịt mùng bao phủ gò đồi phía tây bắc.

Gương mặt anh đanh lại, ánh mắt chùng xuống dưới gánh nặng của một mối hiểm họa còn lớn hơn gấp bội.

"Chuyện người làm dưới Thạch Nê đã có hướng giải quyết," Tầm trầm giọng nói, quay lưng lại với ngọn đèn. "Nhưng còn một thứ nguy hiểm hơn túi khí dưới hố đá đang chực chờ bùng nổ ngay trong lòng đất nhà chúng ta."

Đào Nguyệt thu dọn hòm kim châm, ngẩng lên: "Anh nói đến mầm Tức Căn dưới Giếng Cạn?"

"Phải," Mộc Tầm gật đầu, bước lại gần chiếc bàn gỗ, kéo tấm bản đồ phác thảo địa tầng lòng chảo Hạ Khê mà anh tự tay vẽ bằng than củi ra giữa bàn. "Nó lớn nhanh ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Nhánh rễ cái đâm xuyên qua vách đá Thạch Nê để ăn sâu vào khu vườn nhà tôi nay đã to bằng bắp tay người lớn. Nó hút độc từ mạch nước ngầm mãnh liệt đến mức... chiều nay, trước khi chạy ra cứu Cẩn, tôi xuống kiểm tra đáy giếng thì thấy nốt rễ bão hòa đầu tiên đã căng tròn như quả trứng ngỗng."

Anh dùng ngón tay khoanh một vòng tròn đen đậm trên bản đồ:

"Lớp vỏ xơ bên ngoài của nốt rễ mỏng dính, căng mọng đến mức nhìn thấy rõ dịch trọc khí quánh đặc như hắc ín đang cuộn xoáy bên trong. Nó đã rỉ ra vài giọt dịch đen, nhỏ xuống đá vôi làm đá sôi xèo xèo và bốc khói cay sè. Cây Tức Căn đang bắt đầu tự đào thải chất độc tích tụ để bảo toàn sinh cơ của thân chính. Nếu chúng ta muốn bứng đất ở Thạch Nê để cấy nhánh rễ con, chúng ta buộc phải cắt tỉa nốt rễ bão hòa ấy ra khỏi rễ cái trong vòng hai ngày tới. Nếu không cắt, nốt rễ sẽ tự vỡ toang dưới đáy giếng; cây mẹ sẽ bị trúng độc ngược mà chết rũ, và bao nhiêu trọc tức tích tụ bấy lâu sẽ bùng phát trở lại."

"Nhưng cắt ra rồi thì giấu đi đâu?" Phạm Nghi hoang mang chớp mắt. "Một bọc trọc tức cô đặc như thế... chôn xuống góc vườn hay ném xuống rãnh thoát nước thì có khác gì rải thuốc độc vào miệng giếng của cả làng?"

"Tuyệt đối không được ném bừa bãi!" Đào Nguyệt nghiêm giọng cảnh báo, ngón tay nàng gõ nhẹ lên mặt bàn. "Dịch nốt rễ của Tức Căn không phải là tro xỉ thô thông thường. Nó là tinh chất trọc tức và độc quặng đã bị rễ cây lên men, cô đặc lại thành một thứ dịch thể có tính ăn mòn cực mạnh. Lần trước tôi lấy một giọt rỉ ra từ rễ đem thử với máu thỏ rừng, chỉ trong nửa khắc, máu lập tức đông cứng lại thành cục đen sì như than vụn. Nếu thứ dịch đó thấm vào mạch nước ngầm, không chỉ người uống phải bỏ mạng, mà toàn bộ đất đai quanh vùng lòng chảo này sẽ vĩnh viễn biến thành bãi đất chết không một cọng cỏ nào mọc nổi!"

"Đốt đi có được không?" Cẩn yếu ớt cất tiếng hỏi từ góc chõng tre.

"Càng không thể," Tầm lắc đầu dứt khoát. "Lửa sẽ đốt cháy lớp màng hữu cơ bên ngoài, giải phóng toàn bộ độc khí thành dạng khói tro bay vào không trung. Gió núi Thanh Lộ đêm nào cũng thổi ào ào xuống lòng chảo, khói độc tạt vào các xóm thì người già, trẻ nhỏ chết ngạt trước tiên. Bà giáo Bùi Sương trước khi rời đi đã dặn dò tôi rất kỹ: giải pháp duy nhất là phải phong bế nốt rễ trong đất sét mịn chịu lửa, nhốt kín trong các bình gốm tráng men kép cực dày nung ở nhiệt độ cao, rồi cất giữ tại một tầng địa chất cách ly hoàn toàn với mọi mạch nước ngầm tự nhiên."

Mộc An nhìn sâu vào bản đồ địa tầng, ngón tay nàng lướt từ khu lòng chảo trũng thấp ngược lên dải đất gò nhô cao ở rìa phía tây bắc:

"Cả vùng Hạ Khê này, chỉ có một nơi duy nhất có tầng đất sét ngậm sắt sâu hàng trượng, nền móng khô ráo và nằm tách biệt hẳn khỏi lưu vực thoát nước của các xóm giếng."

Phạm Nghi đưa mắt nhìn theo hướng ngón tay của Mộc An, đồng tử ông lão khẽ co rút lại, lẩm bẩm bằng một giọng đầy e ngại:

"Lò Đất Kín... gò đất sét của thợ gốm Tạ Hạnh."

***

Gió đêm càng về khuya càng lạnh buốt. Mảnh trăng thượng tuần nhợt nhạt bị những dải mây xám xịt từ đỉnh núi Thanh Lộ tràn xuống che khuất gần hết, chỉ để lọt qua một thứ ánh sáng mờ đục, nhờ nhờ như mắt cá ươn.

Mộc Tầm tay xách chiếc đèn bão bọc khung sắt gỉ, bước thoăn thoắt trên con đường mòn lởm chởm đá cuội dẫn lên gò đất cao phía tây bắc. Mộc An theo sát ngay sau lưng anh, hai tay ôm chặt bọc vải bạt bên trong đựng cuốn sổ da và nghiên mực. Tiếng sỏi đá lạo xạo dưới đế giày cỏ thô ráp vang lên đều đặn giữa màn đêm tĩnh mịch.

Càng lên cao, thảm thực vật cằn cỗi của lòng chảo càng biến mất, nhường chỗ cho tầng đất sét đỏ sẫm ngậm đầy quặng sắt, nứt nẻ thành những đường rãnh sâu hoắm như mai rùa. Đây là vùng gò cằn cỗi đến mức ngay cả giống cỏ may hay gai xương cá cũng không cắm rễ nổi, nhưng lại là mỏ đất sét dẻo quánh, mịn màng và chịu nhiệt tuyệt hảo mà tổ tiên phường gốm Hạ Khê từng khai thác suốt hàng trăm năm.

Lò Đất Kín hiện ra trên đỉnh gò như một con cự thú khổng lồ nằm phủ phục trong bóng tối. Đó là một dãy lò vòm cuốn xây bằng gạch xỉ dày cộp, dài hơn chục trượng men theo triền dốc. Những ống khói bằng đất nung vươn lên nền trời đêm như những ngón tay khô khẳng, trơ trọi. Xung quanh lò, ngổn ngang hàng trăm chồng chum vại, chậu sành nứt vỡ nằm la liệt giữa các hố khai thác đất sét bỏ hoang.

Từ ngày các mỏ quặng thượng nguồn bị Thanh Lộ Tông thâu tóm và các tuyến đường vận chuyển than đá bị phong tỏa để thu thuế tài nguyên, ngọn lửa ngàn độ của Lò Đất Kín đã tắt ngấm gần hai năm ròng. Cả khu gò đồi chìm trong sự hoang phế, thê lương, chỉ còn mùi đất ẩm và tro lò nguội ngắt bốc lên ngai ngái.

Khi hai anh em bước đến gần hàng rào râm bụt xơ xác bao quanh gian nhà vách đất cạnh lò, một tiếng chó sủa khàn đục đột ngột vang lên, xé toạc màn đêm.

"Cút ngay! Ai lảng vảng ngoài đó?"

Một giọng đàn bà khô khốc, đanh gọn cất lên từ sau cánh cửa liếp. Tiếp đó là tiếng lách cách của then cài bằng sắt bị giật mạnh, cánh cửa bật mở.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu treo trước hiên, một người đàn bà trạc bốn mươi tuổi bước ra. Tạ Hạnh có vóc người gầy guộc nhưng gân guốc, hai bả vai vuông vức và đôi cánh tay cuồn cuộn những thớ cơ săn chắc của người cả đời quai búa đập đất, nhào đất và cời than nung. Tóc bà búi chặt sau gáy bằng một chiếc trâm tre cùn, để lộ gương mặt góc cạnh với đôi gò má cao và những nếp nhăn sâu hoắm quanh khóe miệng. Trên tay bà, chiếc gậy cời than bằng sắt rèn dài hơn ba thước chĩa thẳng về phía trước, đầu gậy sáng loáng ánh thép lạnh lùng.

Đôi mắt sắc sảo của Tạ Hạnh nheo lại, quét từ ngọn đèn bão trên tay Tầm xuống chiếc bọc vải trong tay Mộc An, không giấu giếm vẻ cảnh giác tột độ:

"Ai? Đêm hôm mò lên cái gò ma này làm gì?"

"Chị Hạnh, là tôi, Mộc Tầm ở xóm Giếng Cạn đây," Tầm vội vàng dừng bước ở ngoài hàng rào, giơ ngọn đèn lên ngang ngực để soi rõ mặt mình, khẽ cúi đầu chào. "Có cả em gái tôi, Mộc An đi cùng. Đêm khuya thanh vắng đường đột lên quấy rầy chị, thật vạn phần đắc tội. Nhưng Hội giữ đất chúng tôi có một việc hệ trọng liên quan đến sự sống còn của xóm dưới, buộc phải đến thưa chuyện cùng chị."

Tạ Hạnh không hề hạ cây gậy cời than xuống. Khóe môi bà khẽ nhếch lên thành một nụ cười giễu cợt đầy cay đắng:

"Hội giữ đất? Mấy hôm nay tiếng búa tạ đục đá dưới Thạch Nê rền vang tận lên đỉnh đồi này, cả cái đất Hạ Khê ai mà chẳng biết các người đang ôm mộng tưởng đào đất cứu làng. Chiều nay tôi đứng trên miệng lò còn thấy người ta khiêng một cái cáng đẫm máu chạy về xóm. Máu dưới hố chưa ráo, nửa đêm nửa hôm lại kéo lên gò đất sét của tôi làm gì? Lò này tắt lửa hai năm rồi, không có cháo thí, cũng chẳng có vò lành để cho các người đập vỡ làm mương đâu!"

"Chị Hạnh, chúng tôi không đến xin bố thí, càng không đến để làm phiền không công," Mộc An bước lên nửa bước, đứng sóng đôi cùng anh trai, giọng nàng điềm tĩnh, rành rọt và giữ đúng lễ tiết. "Chúng tôi mang gạo, mang công điểm và một bản hợp đồng sòng phẳng lên đây để bàn chuyện thuê lò và đặt làm một lô đồ gốm đặc chủng."

Nghe thấy hai chữ "hợp đồng sòng phẳng", cây gậy cời than trên tay Tạ Hạnh khẽ khựng lại một thoáng. Ánh mắt bà dừng lại trên gương mặt cương nghị của Mộc An, dò xét một hồi lâu, rồi bà hừ nhẹ một tiếng qua kẽ mũi, xoay người đẩy rộng cánh cửa liếp:

"Vào đi. Đêm nay gió núi độc lắm, đừng đứng đấy mà hứng lạnh rồi mai lại đổ vạ cho đất này có ma."

Gian nhà ngoài của Tạ Hạnh trống trải và lạnh lẽo. Ngoài chiếc bàn gỗ thô ráp kê giữa nhà và mấy chiếc đẩu con đóng bằng gỗ thông xẻ vụn, khắp nơi chỉ toàn những chồng khuôn đúc thạch cao ố vàng và những bao đất sét mịn đã khô cứng lại như đá. Trong góc buồng tối le lói một đốm sáng nhỏ, thi thoảng vọng ra tiếng thở khò khè của một đứa trẻ đang ngủ say.

Tạ Hạnh thắp sáng ngọn đèn đĩa đặt trên bàn, rót ra hai bát nước vối nguội ngắt rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế đối diện, hai bàn tay chai sần đan vào nhau:

"Nói ngắn gọn thôi. Mua cái gì? Thuê cái gì? Đất sét mịn của tôi đắt hơn thóc đấy."

Mộc Tầm ngồi thẳng lưng, nhìn thẳng vào đôi mắt sắc sảo của người thợ gốm:

"Tôi muốn đặt chị nung cho Hội ba mươi chiếc bình gốm đặc chủng. Yêu cầu kỹ thuật cực kỳ ngặt nghèo: bình cao đúng hai gang tay, bụng phình rộng, đáy bằng phẳng vững chãi. Toàn bộ thân bình phải dùng loại đất sét đỏ ngậm sắt lọc kỹ qua ba lần nước, nhào thật dẻo, thành bình phải dày đúng một tấc, nung già lửa đến mức gõ vào kêu leng keng như chuông đồng. Quan trọng nhất: cả mặt trong lẫn mặt ngoài bình đều phải tráng một lớp men khoáng dày, nung chảy đều không một vết rạn chân chim. Miệng bình phải có gờ bậc thang hai tầng để khi đậy nắp có thể trát bùn sét tôi vôi niêm phong tuyệt đối."

Tạ Hạnh nhướng mày, ánh mắt nghề nghiệp lập tức lóe lên vẻ kinh ngạc xen lẫn nghi ngờ:

"Thành dày một tấc? Men khoáng kép cả trong lẫn ngoài? Nắp gờ khóa hai tầng? Cậu Tầm, cậu làm nghề đào đất chứ có phải luyện đan sư đâu mà đòi thứ đồ đó? Kiểu bình dày cộp chịu lửa chịu kiềm đó xưa nay chỉ có các lò luyện đan của Thanh Lộ Tông trên núi đặt làm để chứa bã quặng axít hoặc cặn bã độc dược sau khi luyện đan thất bại. Dưới ruộng các người cấy lúa trồng khoai, cần thứ bình quái gở chết chóc ấy để làm gì?"

Tầm hít một hơi sâu, không hề giấu giếm:

"Để đựng các nốt rễ độc bão hòa của giống cây Tức Căn mà chúng tôi đang nuôi dưỡng dưới Giếng Cạn."

Anh nhìn thẳng vào nét mặt đang biến sắc của Tạ Hạnh, nói tiếp:

"Những nốt rễ đó hút toàn bộ trọc tức và tro xỉ độc hại từ mạch ngầm tích tụ lại. Chúng tôi sắp phải cắt bỏ chúng để cứu cây mẹ. Mỗi nốt rễ là một bọc độc chất cô đặc có thể giết chết cả một vạt đất nếu bị rò rỉ. Chúng tôi phải nhốt chúng vào bình gốm men kép của chị, niêm phong kín kẽ. Và..." Tầm ngập ngừng nửa khắc, rồi dằn từng tiếng: "Chúng tôi muốn thuê lại toàn bộ lòng Lò Đất Kín này làm kho lưu giữ lâu dài cho những chiếc bình độc ấy."

*Rầm!*

Tạ Hạnh đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ, đứng phắt dậy. Gương mặt bà đỏ bừng lên vì phẫn nộ, đôi mắt rực lửa nhìn trừng trừng vào hai anh em họ Mộc:

"Cậu nói cái gì? Cậu muốn biến cái lò gốm của tổ tiên ba đời nhà tôi thành bãi chứa phế thải độc hại cho cả cái xóm Giếng các người à?"

"Chị Hạnh, xin chị bớt giận, hãy nghe chúng tôi giải thích..." Mộc Tầm vội vã giơ tay can gián.

"Giải thích cái nỗi gì!" Giọng Tạ Hạnh the thé, run lên vì tức giận. "Cái gò đất sét này là mồ hôi nước mắt của ông cha tôi! Hai năm nay lò tắt lửa, mẹ con tôi cắn răng ăn cháo ngô trừ bữa, nhặt từng cọng rau má ven đồi sống qua ngày, chứ chưa bao giờ mở cửa cho bất kỳ thứ dơ bẩn nào bước vào đây! Các người tự đi mà gánh lấy chất độc của các người, đừng có mang lên đây vấy bẩn lên đầu mẹ con tôi!"

"Chị Hạnh!" Mộc An đột ngột cất tiếng, giọng nàng không hề cao nhưng đanh thép lạ thường, chặn đứng cơn thịnh nộ của người đàn bà góa. "Chị nghĩ chúng tôi chọn Lò Đất Kín là vì muốn đẩy tai họa cho chị sao? Không phải! Chúng tôi chọn nơi này vì địa tầng của nó là bức tường thành an toàn duy nhất của cả vùng đất này. Tầng đất sét ở đây dày cả trượng, không ngấm nước, nằm cao hơn mọi mạch ngầm. Nếu chị từ chối, chúng tôi buộc phải chôn bừa nốt rễ ở chân đồi, và chỉ cần một trận mưa rào, chất độc ngấm xuống thì con chị, xóm chị, cả cái lòng chảo này sẽ cùng chết chìm trong độc quặng!"

"Đủ rồi! Đừng có đứng đấy mà giảng giải đạo lý với tôi!"

Tạ Hạnh nghiến răng ken két. Bà chộp lấy ngọn đèn đĩa trên bàn, tay kia vung gậy cời than chỉ thẳng về phía cánh cửa thông ra lòng lò phía sau nhà:

"Muốn nói chuyện địa tầng an toàn à? Muốn nói chuyện kho chứa kiên cố à? Đi theo tôi! Đi mà mở mắt ra nhìn xem cái lò tổ nghiệp của tôi nó 'an toàn' đến mức nào!"

Bà không đợi hai người trả lời, giận dữ đẩy tung cánh cửa gỗ nặng nề, sải bước vào bóng tối hun hút của lòng lò.

Mộc Tầm và Mộc An vội vã bám theo sau.

Lòng lò gốm Lò Đất Kín rộng thênh thang, u tối và lạnh lẽo tựa như một hầm mộ cổ khổng lồ. Mái vòm cuốn bằng gạch xỉ cao hơn đầu người, phủ đầy một lớp bồ hóng đen kịt đã khô giòn qua năm tháng. Mùi gạch nung lâu ngày lẫn mùi đất ẩm bốc lên ngai ngái, ngột ngạt. Tạ Hạnh cầm ngọn đèn rọi loang loáng trên những mảng tường gạch, dẫn hai anh em đi sâu vào tận góc trong cùng của nền lò—nơi lòng đất trũng xuống và được gia cố bằng những tảng đá hộc lớn.

Bà dừng lại, cúi rạp người xuống, dí sát ngọn đèn đĩa xuống mặt sàn đất nện:

"Nhìn đi! Giương mắt to ra mà nhìn!"

Dưới ánh lửa vàng vọt bập bùng, tim Mộc Tầm thót lại một cái.

Một vết nứt sâu hoắm, đen ngòm, rộng bằng hai ngón tay người lớn, xé toạc lớp nền đất nện đã qua tôi luyện kiên cố. Vết nứt chạy ngoằn ngoèo từ chân móng tường vòm cuốn, cắt ngang qua sàn lò dài hơn một trượng, rồi đâm thẳng xuống lòng đất sâu không đáy. Miệng vết nứt lởm chởm những mảng vữa mục nát và đất xốp vụn.

Tạ Hạnh ngẩng đầu lên, khóe mắt giật giật, ánh nhìn sắc nhọn như hai mũi dùi đục xoáy thẳng vào mặt Tầm:

"Thấy chưa? Đây là vết nứt móng từ trận sụt lún mùa đông năm ngoái, khi Thanh Lộ Tông nổ mìn phá vỉa quặng ngầm ở sườn bắc! Nền đất sét của tôi dày, đúng! Vị trí gò đất cao, cách ly tốt, đúng! Nhưng dưới đáy cái vết nứt hoang hoác này là gì? Là tầng sỏi cát dẫn thẳng xuống túi nước ngầm của xóm Thạch Nê!"

Bà đứng phắt dậy, ngực phập phồng dữ dội, chiếc gậy sắt nện mạnh xuống nền đất nện phát ra tiếng *chanh chách* chói tai:

"Các người mang ba mươi cái bình chứa chất độc quỷ quái đó lên đây xếp. Rồi một đêm nào đó, một cái bình bị rạn, dịch độc rỉ ra sàn lò, chảy tọt xuống cái kẽ nứt này! Nó sẽ ngấm thẳng vào mạch nước ngầm chỉ sau một cơn mưa rào mùa hạ! Lúc đó ai chịu trách nhiệm? Cả làng các người sẽ kéo lên đây, chỉ tay vào mặt mẹ con tôi mà nguyền rủa rằng con mụ góa Tạ Hạnh vì mấy đồng bạc rách mà đầu độc cả vùng này!"

Bà bước giật lùi lại một bước, giọng nghẹn lại trong một nỗi uất ức cay đắng đã dồn nén bao năm tháng:

"Các người đừng có đem mấy lời cứu đời, cứu đất cao đẹp ra mà bịp tôi. Ngày xưa... chồng tôi cũng vì nghe mấy lời đường mật 'giúp việc nghĩa cho tông môn', nhận chở thuê mấy cỗ xe phế phẩm luyện đan cho đám tu sĩ Thanh Lộ Tông mà mắc chứng bệnh ho ra máu đen! Lúc ông ấy quằn quại trên giường, đờm tắc nghẽn ở cổ họng không thở nổi, có vị đại nhân nào ghé mắt nhìn không? Có kẻ nào nhớ đến một thằng phu quét dọn hậu cần không? Không một ai cả! Họ ném cho mẹ con tôi nửa bao ngô mốc rồi xua đuổi như đuổi hủi!"

Tạ Hạnh siết chặt cây gậy sắt, những khớp ngón tay trắng bệch:

"Tôi là đàn bà góa. Tôi chỉ có một đứa con thơ và cái lò gốm rách nát này để nương tựa. Tôi không làm từ thiện bằng mạng sống của con tôi! Tôi không gánh tai họa thay cho thiên hạ để người khác mang tiếng thơm cứu nhân độ thế!"

Lời nói của người đàn bà như những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực Mộc Tầm. Anh đứng chết lặng giữa lòng lò tối tăm, nhìn vết nứt sâu hoang hoác dưới chân, rồi nhìn đôi mắt rực lửa hận thù và cay đắng của Tạ Hạnh. Một cảm giác nghẹn ứ dâng lên nơi cuống họng.

Tầm nhận ra một sự thật trần trụi và tàn nhẫn: trong mọi công cuộc cải tạo đất đai, người ta thường chỉ ca ngợi những kẻ cầm cuốc xẻng ngoài tiền tuyến, ca ngợi những mầm xanh đâm chồi, nhưng lại lờ đi cái giá hậu cần khủng khiếp phía sau. Những chất độc lấy ra từ đất không tự nhiên biến mất; chúng phải được chuyển đi đâu đó, và thông thường, cái bãi rác chứa đựng sự chết chóc ấy luôn bị đẩy sang vai những kẻ yếu thế nhất, cô độc nhất trong xã hội.

Giữa lúc không khí ngột ngạt tưởng chừng có thể bóp nghẹt mọi hy vọng, một bóng hình mảnh dẻ bước lên.

Mộc An không hề lùi bước trước ánh mắt giận dữ của Tạ Hạnh. Nàng bước thẳng tới bên chiếc bục gạch nung kê sát chân lò, bình thản mở bọc vải bạt, đặt cuốn sổ bìa da mộc ngay ngắn lên mặt gạch. Nàng ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Tạ Hạnh bằng một ánh nhìn hoàn toàn tỉnh táo, tôn trọng và bình đẳng:

"Chị Hạnh, chị nói hoàn toàn đúng. Và những nỗi uất ức của chị, gia đình chúng tôi thấu hiểu sâu sắc hơn ai hết. Cha mẹ tôi cũng từng bỏ mạng vì làm phu dịch cho Thanh Lộ Tông, chết không có nổi một mảnh chiếu lành. Chúng tôi hiểu cái giá của những lời hứa suông."

Mộc An hít một hơi sâu, giọng nàng vang lên rành rọt, chặt chẽ từng câu chữ:

"Hội giữ đất Hạ Khê không phải là tông môn, càng không phải phường buôn chữ lừa bịp. Chúng tôi không lên đây để xin chị rủ lòng thương hại, và chúng tôi tuyệt đối không bao giờ bắt mẹ con chị phải gánh tai họa thay cho người khác. Chị là một thợ gốm lành nghề, chị làm việc bằng tay nghề và sự an toàn của chính mình. Vậy bây giờ, xin chị hãy bỏ qua những lời đạo đức sáo rỗng. Hãy nói cho chúng tôi biết với tư cách một người thợ: chị cần những điều kiện kỹ thuật và vật chất cụ thể nào để biến nơi này thành một kho chứa đạt chuẩn an toàn tuyệt đối mà chị có thể hoàn toàn yên tâm?"

Tạ Hạnh thoáng sững sờ. Cơn thịnh nộ đang bốc hừng hực trong lòng bà bỗng chốc như va phải một bức tường đá kiên cố nhưng mát lạnh. Bà nhìn sững vào cô gái trẻ trước mặt. Đôi mắt trong veo của Mộc An không có sự trốn tránh tội lỗi, không có vẻ nịnh bợ van xin của những kẻ yếu thế, mà chỉ có sự minh bạch, sòng phẳng và một ý chí kiên định lạ thường.

Sự im lặng kéo dài vài khắc. Tiếng gió núi rít qua mái vòm lò nghe như tiếng thở dài của đá núi.

Tạ Hạnh từ từ hạ thấp đầu gậy sắt xuống đất, lồng ngực bà dần bình ổn trở lại. Ánh mắt bà từ vẻ phòng thủ gay gắt chuyển sang sự tính toán sắc sảo, lạnh lùng của một người thợ đã trải qua bao dập vùi sương gió:

"Được. Đã muốn nói chuyện sòng phẳng như phường thợ thì nghe cho rõ. Muốn tôi mở cửa Lò Đất Kín, Hội các người phải đáp ứng đủ ba điều kiện. Thiếu một nửa điều, đừng hòng vác một mẩu rễ độc nào qua cổng rào nhà này."

Bà giơ ngón tay gầy guộc thứ nhất lên:

"Điều thứ nhất: Tiền công và vật liệu. Đất sét mịn, than củi đốt lò và men khoáng tráng bình đều phải quy đổi ra lương thực hoặc tiền đồng trả sòng phẳng cho tôi theo từng mẻ nung. Tôi nung một mẻ ba mươi bình men kép, tiêu tốn hết hai xe than củi già và ba ngày đêm canh lửa. Hội phải trả đủ cho tôi năm đấu bột ngô sạch và một trăm tiền đồng công thợ. Không nợ nần, không khất lần, không ép giá cứu trợ! Mỗi bình hỏng do nứt đất tôi tự bù, nhưng bình nào nung xong đạt chuẩn kiểm tra là phải thanh toán ngay tại cửa lò!"

Mộc An không chớp mắt, ngòi bút lông thỏ lập tức chấm mực lướt thoăn thoắt trên trang giấy bổi: "Điều thứ nhất hợp lý và chính đáng. Tôi ghi nhận: thanh toán vật tư và công thợ sòng phẳng theo từng mẻ lò, nghiệm thu bình đạt chuẩn trả tiền tươi thóc thật."

Tạ Hạnh giơ tiếp ngón tay thứ hai, chỉ thẳng xuống vết nứt sâu hoang hoác dưới sàn lò:

"Điều thứ hai: Nền móng kho chứa. Tôi không bao giờ cho phép đặt bình độc lên một mặt sàn nứt nẻ như thế này. Trước khi đưa bất kỳ chiếc bình nào vào, Hội phải điều ít nhất ba thợ nề giỏi nhất xóm mang vôi sống, xỉ than nghiền mịn và đất sét dẻo lên đây. Các người phải tự tay đục sạch rêu mốc quanh miệng nứt, đầm vôi tôi và xỉ than trám kín toàn bộ vết nứt này từ sâu dưới đáy lên đến mặt sàn!"

Bà gõ mạnh gậy sắt xuống nền:

"Chưa hết! Sau khi trám nứt, các người phải lát thêm một lớp gạch nung chịu lửa dày hai tấc phủ kín toàn bộ mặt sàn kho này, và xây một gờ chắn xung quanh chân tường cao nửa thước bằng vữa vôi quặng. Cái gờ chắn đó là để phòng ngừa: nếu rủi ro có một chiếc bình bị vỡ, toàn bộ chất dịch rỉ ra sẽ bị giữ lại trong lòng máng gạch, tuyệt đối không thể tràn ra ngoài hay ngấm xuống lòng đất! Toàn bộ chi phí vật liệu gạch vôi và ngày công thợ nề do Hội gánh hết. Đích thân tôi sẽ cầm búa đi gõ từng viên gạch để nghiệm thu; viên nào bộp, viên nào hở mạch vữa, đập đi lát lại từ đầu!"

Mộc Tầm bước lên một bước, giọng trầm tĩnh nhưng chắc như đinh đóng cột:

"Tôi xin nhận toàn bộ việc này. Sáng mai, tôi và bác Trịnh Bách cùng hai thợ nề cứng tay nhất xóm Giếng sẽ gánh vôi và gạch lên đây. Chúng tôi sẽ đầm móng ba lớp, lát sàn gạch chịu lửa theo đúng quy cách của lò luyện đan. Chị cầm búa giám sát, khi nào chị gật đầu, chúng tôi mới coi là hoàn thành."

Tạ Hạnh liếc nhìn Tầm một thoáng, rồi giơ ngón tay thứ ba lên. Gương mặt bà lúc này đanh lại, ánh mắt nghiêm khắc đến tột cùng:

"Điều thứ ba, cũng là điều quan trọng nhất: Trách nhiệm con người. Tôi chỉ là thợ nung gốm và cho thuê mặt bằng kho, tôi không phải kẻ trông coi chất độc cho các người. Khi vận chuyển các bình độc lên gò, phải có người đại diện có thẩm quyền cao nhất về kỹ thuật của Hội đích thân kiểm tra độ kín của từng bình, tự tay dán giấy niêm phong và đóng dấu xi đỏ."

Bà nhìn xoáy vào mắt Mộc Tầm:

"Mỗi một chiếc bình đặt vào kho này đều phải có số hiệu riêng, ghi rõ ngày giờ nhập kho, và quan trọng nhất: phải có chữ ký và dấu vân tay của người chịu trách nhiệm trực tiếp vào cuốn sổ lưu kho của tôi! Nếu một ngày nào đó bình bị nứt, mùi độc bốc ra, người ký tên đó phải có mặt trong vòng một khắc để xử lý, và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước xóm làng, tuyệt đối không được đổ vấy lên đầu mẹ con tôi! Người dám làm thì phải dám chịu, các người có dám ký không?"

Lòng lò gốm im phăng phắc. Tiếng gió rít qua kẽ gạch như ngừng lại. Ba điều kiện của Tạ Hạnh đưa ra chặt chẽ, khắt khe và không chừa một khe hở cho sự cẩu thả hay trốn tránh trách nhiệm.

Mộc An không hề ngẩng đầu lên, ngòi bút của nàng vẫn lướt đi thoăn thoắt, ghi chép lại rành mạch từng câu chữ của ba điều kiện vào hai trang giấy bổi giống hệt nhau. Viết xong dòng cuối cùng, nàng ngước nhìn anh trai mình:

"Anh Tầm, anh là người phụ trách kỹ thuật sinh trưởng và xử lý nốt rễ của Hội giữ đất. Anh có dám đứng tên chịu trách nhiệm duy nhất, ký nhận và đóng dấu vào từng chiếc bình độc đưa vào kho này không?"

Mộc Tầm không do dự dù chỉ một chớp mắt. Anh bước tới trước chiếc bục gạch nung, nhìn thẳng vào Tạ Hạnh:

"Tôi dám. Đó là bổn phận của tôi. Cây hút độc để đất được sống, tôi là người gieo mầm thì tôi phải là người gánh lấy cặn bã độc hại đến cùng. Tôi không thể chỉ nhận hoa lợi từ đất sạch mà trốn tránh trách nhiệm với chất độc do cây thải ra. Tôi sẽ tự tay niêm phong từng chiếc bình, tự tay ký tên vào sổ lưu kho của chị."

Tạ Hạnh nhìn người thanh niên trẻ tuổi trước mặt. Đôi bàn tay của anh đầy những vết chai sần và sẹo đá cứa, chiếc áo vải bạt rách vai vẫn còn vương mùi bùn độc, nhưng đôi mắt anh sáng quắc một ngọn lửa của sự can trường và lòng trung thực tuyệt đối. Người đàn bà góa từng trải qua bao lọc lừa, cay đắng bỗng thấy khóe mắt mình cay xè. Đã bao nhiêu năm rồi, kể từ ngày chồng bà nhắm mắt xuôi tay, bà mới lại nhìn thấy một người đàn ông dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm nặng nề nhất về mình mà không một lời thoái thác?

Mộc Tầm cầm lấy chiếc bút lông thỏ từ tay em gái, chấm mực đậm, ký tên mình bằng những nét chữ gãy gọn, dứt khoát vào cuối cả hai bản biên bản. Tiếp đó, anh ấn mạnh ngón tay cái dính mực son đỏ thắm lên cạnh chữ ký. Mộc An cũng ký tên và điểm chỉ với tư cách người giám sát và giữ sổ của Hội.

Nàng trân trọng đẩy bản biên bản thứ hai cùng nghiên mực son về phía Tạ Hạnh:

"Chị Hạnh, biên bản hợp tác hậu cần kho bãi đã lập xong thành hai bản có giá trị như nhau. Mời chị ký và điểm chỉ."

Tạ Hạnh nhìn vết mực son đỏ tươi đang từ từ ngấm vào thớ giấy bổi dày dặn. Bà lặng lẽ đặt cây gậy cời than dựa vào vách lò, đưa ngón trỏ gầy guộc nhúng vào nghiên mực đỏ, rồi dứt khoát ấn một dấu vân tay tròn trịa, rõ nét xuống bên cạnh chữ ký của Mộc Tầm.

"Sáng mai, bảo bác Bách mang vôi sống và xẻng lên sớm," Tạ Hạnh lau ngón tay dính mực vào vạt tạp dề thô, giọng bà đã bớt đi vẻ cay nghiệt, chỉ còn lại sự nghiêm cẩn của một người thợ lành nghề. "Đầm móng và lát gạch mất đúng ba ngày. Trong ba ngày đó, tôi sẽ lọc đất nung thử mười chiếc bình đầu tiên. Nhớ mang bột ngô sạch lên, đừng có mang thứ ngô mốc như đám tông môn dối trá đấy."

"Chị cứ yên tâm," Mộc Tầm khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt phong trần. Anh cảm thấy tảng đá vô hình đè nặng lồng ngực mình suốt bao ngày qua dường như vừa được nhấc bỏ một nửa. "Chúng tôi sẽ làm đúng từng ly từng tý như cam kết."

***

Khi hai anh em Mộc Tầm rời khỏi gò Lò Đất Kín, trời đã chuyển dần về rạng sáng.

Màn đêm xám xịt đang từ từ tan biến dưới chân trời phía đông. Những dải mây đen quánh rút dần về phía rặng núi Thanh Lộ sừng sững, nhường chỗ cho một vệt rạng đông màu lòng đỏ trứng gà le lói hắt lên nền trời. Lòng chảo Hạ Khê dần hiện ra dưới màn sương mù xám nhạt đang bốc lên từ những rãnh đất cằn cỗi và những hố đá Thạch Nê nham nhở.

Gió núi đã ngớt hẳn. Cơn gió sớm mang theo hơi lạnh thanh khiết thổi qua làm dịu đi những vết phồng rộp và trầy xước trên bàn tay Mộc Tầm. Bước chân của hai anh em dẫm trên con đường đất mòn gồ ghề dường như nhẹ nhõm hơn nhiều.

Bản biên bản hợp tác hậu cần nằm gọn gàng trong cuốn sổ da trên tay Mộc An không chỉ là một tờ giấy cam kết đơn thuần. Nó đánh dấu một bước ngoặt sống còn: Hội giữ đất Hạ Khê từ nay đã thoát khỏi tính chất của một nhóm người hành động theo cảm tính và lòng nhiệt tình mù quáng. Họ đã có quy trình an toàn lao động để bảo vệ tính mạng con người, có quyền dừng tay trước hiểm nguy, và quan trọng nhất, họ đã thiết lập được một hệ thống kho bãi khép kín, an toàn để xử lý chất thải độc hại.

Vừa bước chân về đến đầu ngõ xóm Giếng Cạn, Tầm đã nhận ra bóng dáng quen thuộc của Đào Nguyệt đang đứng lặng lẽ bên bờ giếng. Nàng vẫn khoác chiếc áo choàng thô màu chàm, trên tay cầm chiếc giỏ thuốc nhỏ đan bằng tre, ánh mắt đăm chiêu nhìn chăm chú xuống lòng giếng sâu hun hút.

"Đào Nguyệt? Sao cô chưa về lều nghỉ ngơi?" Tầm bước vội lại gần, khẽ hỏi.

Đào Nguyệt giật mình quay lại. Nhìn thấy nét mặt nhẹ nhõm cùng phong thái vững chãi của hai anh em, đôi mày thanh tú của nàng khẽ giãn ra, một nụ cười mệt mỏi nhưng ấm áp thoáng hiện trên môi:

"Xong việc trên gò Lò Đất Kín rồi à?"

"Xong rồi," Mộc An giơ cuốn sổ bìa da lên, trong mắt ánh lên niềm vui sướng không giấu giếm. "Chị Hạnh đã nhận lời. Nền móng sẽ được trám vôi và lát gạch chịu lửa trong ba ngày tới, bình men kép sẽ được nung mẻ đầu tiên. Chúng ta đã có một kho chứa an toàn tuyệt đối cho nốt rễ độc."

"Tốt lắm," Đào Nguyệt gật đầu, nhưng nụ cười trên môi nàng nhanh chóng thu lại. Nàng bước lùi lại nửa bước, hạ thấp giọng, chỉ tay xuống lòng giếng: "Nhưng Tầm này, anh phải xuống đáy giếng xem thứ này ngay đi. Nửa khắc trước, tôi ra giếng định múc một gáo nước rỉ để kiểm tra lại độ kiềm và độc tính của rễ, thì phát hiện dưới đáy có một biến động vô cùng kỳ lạ."

Trái tim Mộc Tầm bỗng thắt lại. Một nỗi lo âu vô thức dâng lên trong lồng ngực:

"Có chuyện gì? Nốt rễ độc bị vỡ à? Hay trọc khí từ Thạch Nê tràn sang?"

"Không phải trọc khí," Đào Nguyệt lắc đầu, giọng nàng khẽ run lên trong một sự xúc động kỳ lạ, vừa ngỡ ngàng vừa khó tin. "Là sinh cơ. Tự anh xuống mà nhìn tận mắt."

Mộc Tầm không chần chừ dù chỉ một giây. Anh lập tức cởi bỏ chiếc áo khoác bạt vướng víu, quấn chặt sợi dây thừng gai quanh hông, kiểm tra lại mối buộc chắc chắn quanh miệng cọc gỗ bên bờ giếng, rồi nhanh nhẹn đu người tụt xuống lòng giếng sâu bốn trượng.

Càng tụt xuống sâu, không khí ngột ngạt bên trên càng nhường chỗ cho sự ẩm ướt và mát lạnh kỳ lạ. Mùi chua gắt của quặng xỉ phế thải từng ám ảnh cái giếng cạn này suốt bao năm qua nay đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một mùi đất mùn tơi xốp, ngai ngái nhưng thanh khiết vô ngần, tựa như mùi của một cánh rừng nguyên sinh sau cơn mưa rào đầu hạ.

Đáy giếng mờ ảo trong thứ ánh sáng lam dịu nhẹ phát ra từ hàng ngàn sợi rễ tơ của Tức Căn đang bám chặt vào vách đá vôi.

Hai chân Tầm chạm nhẹ vào lớp bùn êm ái dưới đáy. Anh ngồi thụp xuống, cẩn thận gạt bỏ những phiến đá vôi mỏng ngụy trang bên trên.

Trước mắt anh, đoạn rễ cái to nhất—nhánh rễ sẫm màu nâu xám, gân guốc đâm xuyên qua vỉa đá Thạch Nê để bò sang khu vườn nhà họ Mộc—đang nằm im lìm trong lòng đất ẩm. Ở một bên thân rễ, nốt rễ độc bão hòa to như quả trứng ngỗng vẫn căng mọng, đen xịt và rỉ ra những giọt dịch quánh đặc ăn mòn lớp đá vụn xung quanh.

Nhưng ngay sát cạnh cuống nốt độc chết chóc ấy, nơi tiếp giáp giữa thân rễ cái già cỗi và vỉa đá ngậm nước ngầm, một sự biến đổi kỳ diệu đang diễn ra.

Lớp vỏ xơ già nua, sần sùi bỗng nứt toác ra một kẽ nhỏ dài chừng nửa đốt ngón tay.

Và từ kẽ nứt ấy, một mầm chồi non tí hon, tròn trịa, phát ra thứ ánh sáng xanh ngọc bích thuần khiết, rực rỡ và ấm áp lạ thường đang kiêu hãnh đội lớp bùn đen nhô lên. Nó không hề mang màu xám tro của quặng xỉ, không rỉ ra bất kỳ giọt dịch độc cay nồng nào. Ngược lại, nó mềm mại, căng tràn nhựa sống, tỏa ra những làn sóng sinh cơ nhẹ nhàng làm rung rinh cả những sợi rễ tơ xung quanh, tựa như một giọt ngọc bích của đất trời vô tình rơi xuống và kết tinh giữa lòng đất chết.

Một mắt sinh.

Dưới đáy Giếng Cạn, một mắt sinh màu xanh ngọc bất ngờ nhú lên trên đoạn rễ cái to nhất của Tức Căn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories