Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.33 / 36
Chapter 33

Người Mạnh Phải Chọn

Ánh kiếm quang xanh biếc của năm thanh phi kiếm cắm phập xuống mỏm đá trước cửa cống số 3, tỏa ra uy áp Trúc Cơ bức người chặn đứng bước chân đoàn nha dịch đang áp sát chân vách núi.

Khói quặng đen kịt còn vương vất bốc lên từ kẽ nứt của vòm đá hoa cương, sặc sụa mùi diêm tiêu và axit lưu huỳnh rát buốt sống mũi. Gió sớm thốc ngược từ lòng thung lũng Khe Táng Thủy, cuốn theo những giọt nước rỉ sét chua loét bắn vào vạt áo tơi thô ráp của toán thợ đào giếng và nha lại huyện Bình Xuyên. Sau một đêm cuồng phong gầm rú cùng dòng bùn độc bị bẻ hướng vào ruộng số 4, mặt đất quanh chân cống vẫn còn nhão nhoét lớp váng xỉ sền sền, đen bóng như mỡ trăn. Những bọt khí xám đục vỡ lách tách trên mặt bùn, phả ra hơi nóng âm ỉ của tro lò chưa nguội hẳn, hòa cùng hơi lạnh thấu xương của sương sớm nơi hẻm núi sâu, tạo nên một thứ chướng khí lởn vởn quanh mắt cá chân người.

Tống Khuê đứng sừng sững trên gờ đá nhô ra sát mép cống vòm, tà đạo bào màu lam thêu chỉ xích hỏa phần phật bay trong gió lạnh. Cổ tay áo thụng cuộn tròn một luồng chân nguyên vô hình, ép không khí xung quanh rung lên từng hồi ong ong như tiếng đàn sắt bị kéo căng quá mức. Đôi mắt chim ưng sắc lẹm của vị chấp sự quét qua hàng nha dịch đang cầm khiên gỗ lùi lại nửa bước, rồi dừng lại trên đám dân đinh mình mẩy bê bết bùn đất do Mộc Tầm và Trịnh Bách dẫn đầu. Phía sau lưng gã, cửa vòm cống số 3 như một chiếc mồm quái thú bằng đá đen ngòm, rêu phong bám đầy trên những khối đá tảng ghép mộng, từng giọt nước đen sánh vẫn tí tách nhỏ xuống máng xối phụ bên dưới, bốc khói ngùn ngụt mỗi khi chạm vào rãnh nước suối trong.

— Lũ sâu bọ to gan! — Tống Khuê quát lớn, thanh âm mang theo linh lực chấn động khiến đám lau sậy ven bờ vách dập nát tơi bời, vách đá dựng đứng hai bên dội lại tiếng gầm gừ đay nghiến — Khe Táng Thủy từ ngàn năm nay đã nằm trong phạm vi cấm địa của Khế ước Khai thác Địa Mạch cấp cho Thanh Lộ Tông! Cửa cống điều tiết thượng nguồn là trọng địa sơn môn, quan nha huyện nhỏ hạ đẳng các ngươi lấy tư cách gì dám đem theo nha trượng, đục đá phá van? Bất kể là dân đinh bạo loạn hay sai nha huyện vụ, nếu dám bước qua lằn kiếm này thêm nửa bước, bản chấp sự lập tức lấy tội danh xâm phạm cấm vực tông môn, chém đầu thị chúng tại chỗ! Toàn bộ lui hết lại cho ta!

Tiếng quát kèm theo uy áp như đá tảng ngàn cân đè nặng xuống lòng khe hẹp. Đám nha dịch huyện Bình Xuyên run rẩy, mấy lưỡi đao cầm trên tay run lên bần bật dưới áp lực tinh thuần của một tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ. Mấy tay lính trẻ mới vào nha môn mặt mày tái mét, ngực nghẹn ứ không thở nổi, đầu gối chùng xuống như muốn sụp lạy trước uy thế của tiên gia thượng tông. Sát khí tỏa ra từ năm thanh phi kiếm cắm sâu nửa thước vào đá tảng không phải là trò dọa dẫm suông; thân kiếm bằng thanh đồng luyện ngọc khẽ rung bần bật, mặt đá quanh chuôi kiếm đã bắt đầu rạn nứt thành những mạng nhện nhỏ, hơi lạnh buốt giá phả ra khiến hơi thở người ta đọng lại thành khói trắng ngay đầu môi.

Mấy người thợ đá đứng sau lưng Trịnh Bách vô thức siết chặt những chiếc choè sắt và xà beng, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh dù sương gió vùng cao đang táp rát cả mặt. Họ là những người quen đục núi xẻ hầm, quen đối mặt với sập hầm lở đá, nhưng đứng trước uy năng của tu sĩ có thể phóng kiếm đoạt mạng người trong chớp mắt, nỗi kinh hoàng bẩm sinh đối với sức mạnh siêu phàm vẫn khiến bắp chân họ run rẩy.

Nhưng trong sự im ắng ngột ngạt ấy, một tiếng bước chân dẫm mạnh lên lớp sỏi ướt vang lên giòn giã, dứt khoát và khô khốc.

Kỷ Vân không hề lùi bước. Chàng địa sư trẻ của Ty Địa sư phủ Bình Xuyên mặc chiếc áo quan bào xanh lục đã sờn rách hai bên tay áo, ngực áo còn lấm tấm bùn quặng sau nhiều canh giờ theo dõi áp lực lũ. Dưới vạt áo, đôi ủng da thô đã bết chặt một lớp đất đỏ pha xỉ quặng nặng trịch, nhưng từng sải chân của chàng vẫn vững vàng như cọc tiêu cắm xuống lòng đất. Trong tay chàng không có đao kiếm hay hộ thân phù lục sáng lóa, mà là một chuỗi dây gai buộc chặt sáu chiếc bình gốm tráng men màu xám tro. Mỗi chiếc bình đều có nút bấc bọc da dê, dán niêm phong giấy dầu màu đỏ sẫm in dấu triện chìm của ty trắc đạc.

Chàng bước thẳng tới trước mũi thanh phi kiếm ở vị trí trung tâm, cách lằn ranh sát khí chỉ ba bước chân. Một luồng kiếm khí sắc lẻm sượt qua gấu áo chàng, cắt đứt một mẩu vải nhỏ bay lơ lửng, nhưng ánh mắt Kỷ Vân không hề chớp lấy một lần. Chàng dằn mạnh xấp giấy trắc đạc dày cộp cùng ống tre cắm mốc chuẩn bằng đồng thau xuống phiến đá phẳng trước mặt.

— Tống chấp sự chớ vội đem uy áp Trúc Cơ ra dọa dẫm công sai triều đình! — Kỷ Vân ngẩng cao đầu, giọng sang sảng vang vọng qua vách đá dựng đứng, át cả tiếng gió rít qua khe nứt — Ta là Kỷ Vân, phụng mệnh Ty Địa sư và Huyện nha Bình Xuyên thực hiện trắc đạc hiện trường tai ương lũ quét. Trên tay ta đây là chuỗi mẫu nước và trầm tích lấy theo quy chuẩn lúc canh ba đêm qua, canh năm rạng sáng và ngay tại cửa cống số 3 này cách đây một khắc!

Kỷ Vân giơ cao chiếc bình thứ nhất, lớp men gốm rỉ ra những vệt ố màu vàng gỉ đồng do chất lỏng ngấm qua thớ đất:

— Mẫu nước này chứa nồng độ trọc tức sun-fua và xỉ quặng hỏa linh đậm đặc gấp hai mươi lần ngưỡng an toàn cho phép theo Phủ quy Địa Mạch! Nó không phải là nước lũ tự nhiên do mưa bão cuốn trôi đất cát từ trên đỉnh núi, mà chính là dịch súc lò của Hỏa Linh Phong bị tích trữ trong hồ lắng suốt nhiều tháng rồi cố tình xả tống ra ngoài khi van cống số 3 bị kẹt rỉ sét! Lớp trầm tích này mang màu đỏ hung của bột đá chu sa và mùi tanh nồng của quặng lưu huỳnh non, chỉ xuất hiện ở tầng thứ tư của lò luyện đan và hồ ngâm khoáng của quý tông!

Chàng không dừng lại, động tác dứt khoát mở tung cuộn bản đồ trắc đạc địa hình lòng chảo Hạ Khê vừa vẽ xong mực còn chưa kịp khô ráo, đè một viên đá cuội lên góc giấy để gió không thổi bay:

— Hãy nhìn cho kỹ! Vệt bùn đen thoát ra từ miệng cống này không chỉ tràn vào cánh đồng Thạch Nê. Do dòng lũ bùn có tỷ trọng nặng hơn nước thường gấp ba lần, nó đã xé toạc chân đê chắn tự nhiên, men theo rãnh thoát lũ phía tây nam cuộn thẳng về phía hạ du. Điểm cuối của vệt trọc tức này hiện chỉ còn cách trục lộ đường quan huyết mạch nối liền huyện Bình Xuyên với phủ thành đúng nửa dặm!

Lời nói của Kỷ Vân như một nhát búa nện thẳng vào bầu không khí căng thẳng. Tiếng xì xào bắt đầu rộ lên từ phía sau. Đám nha dịch nhìn nhau, sự sợ hãi ban nãy dần nhường chỗ cho vẻ mặt căng thẳng tột độ. Đường quan lộ không chỉ là con đường đi lại của thương buôn, mà là tuyến huyết mạch vận chuyển quân lương, công văn hỏa tốc và thuế má nộp về trung ương. Móng đường được đắp bằng đá hộc và vôi nung theo quy chế nghiêm ngặt của Công bộ; nếu bị dòng nước chứa axit khoáng và xỉ quặng ăn mòn làm sụt lún nền đường, giao thông đứt đoạn, tội danh ấy sẽ đổ ập xuống đầu bất cứ kẻ nào gây ra. Bất kỳ sự cố nào làm tê liệt con đường ấy đều vượt xa tầm mức của một vụ tranh chấp đất đai thôn dã.

Tống Khuê biến sắc, mi tâm giật mạnh một cái, nhưng gã vẫn giữ nét mặt lạnh tanh, cười khẩy một tiếng đầy khinh miệt:

— Nói hươu nói vượn! Địa sư ranh con như ngươi thì biết gì về phép vận hành thủy đạo tiên gia? Mưa to gió lớn làm nước bùn tràn bờ là thiên tai khó lường, triều đình nào định tội được sơn môn? Ngươi dám vu khống Thanh Lộ Tông cố ý xả dịch độc, có tin bản chấp sự phế bỏ tu vi Luyện Khí còm cõi của ngươi ngay tại đây không? Bằng chứng của ngươi chỉ là mấy hũ đất thối nước đục, muốn gán tội cho thượng tông, ngươi còn non nớt lắm!

— Ngươi không cần phế tu vi của người đo đạc, bởi vì người định tội các ngươi không phải là Ty Địa sư!

Một giọng nói trầm tĩnh, lạnh lùng và dứt khoát cất lên từ phía sau hàng khiên gỗ.

Thư lại Lưu Tố bước lên, tà áo chàm nghiêm cẩn không dính một hạt bụi quặng, hai tay nâng một chiếc tráp công văn bằng gỗ tử đàn thếp vàng của quan nha. Bà không mang vẻ run sợ của một văn lại thông thường trước mặt tu sĩ bậc cao, ánh mắt sắc bén như lưỡi dao trổ quét qua năm thanh phi kiếm đang cắm trên đất. Từng nếp nhăn nơi khóe mắt bà hằn sâu sự từng trải của một người đã nắm giữ sổ sách điền bạ, luật lệnh qua ba đời quan huyện.

Bà bật chốt đồng của nắp tráp gỗ, lấy ra một cuộn lụa vàng mang ấn triện đỏ thắm của huyện nha Bình Xuyên, cất giọng đanh thép đọc to từng chữ, giọng đọc vang rền, ngắt nhịp rành rọt như chuông đồng gõ vào ban sớm:

— Phụng lệnh khẩn của Huyện quan Ngô Trực, Tri huyện Bình Xuyên! Chiếu theo điều mười lăm Luật Khâm định Điền trạch và sắc lệnh Tuần sát Thủy lộ năm Cảnh Hưng thứ hai mươi: Mọi công trình dẫn thủy, hồ đập và cống ngầm của các tông môn khai thác địa mạch nếu để xảy ra rò rỉ, vỡ đê gây ngập úng hoặc bồi lấp đường quan lộ của triều đình, hay làm ô nhiễm độc chất lan sang mạch nước ngầm liên huyện, nha môn sở tại có toàn quyền phong tỏa hiện trường, đình chỉ lập tức mọi quyền khai thác và khẩn cấp kích hoạt hồ sơ bẩm báo lên Thượng viện phủ thành cùng Binh bộ ti!

Lưu Tố ngừng lại một nhịp, đôi mắt ngước lên nhìn thẳng vào Tống Khuê đang siết chặt nắm tay trên gờ đá, từng lời bà thốt ra như đinh đóng vào cột:

— Thưa Tống chấp sự, hồ sơ tố cáo sai phạm xả trọc dịch và gian lận lưu lượng nước của Thanh Lộ Tông trong suốt ba năm qua hiện đã được nha môn sao lục thành ba bản chính thức. Nếu trưa nay vệt bùn kia chạm đến móng đường quan, hoặc nếu có bất kỳ hành vi dùng vũ lực cản trở công vụ tại cửa cống số 3 này, trát hỏa tốc báo cáo đại họa ô nhiễm liên huyện sẽ rời trạm dịch Bình Xuyên bay thẳng về phủ đường ngay tức khắc. Khi đó, không phải là một viên Tri huyện nhỏ bé như Ngô đại nhân đến nói chuyện với ngài, mà sẽ là đoàn Khâm sai và Chấp pháp ti của phủ thành xuống niêm phong toàn bộ chân núi Hỏa Linh Phong để mở cuộc điều tra toàn diện!

— Ngươi...! — Tống Khuê gằn giọng, lồng ngực phập phồng giận dữ. Hai ngón tay gã co lại thành kiếm quyết, chân nguyên dao động quanh năm thanh phi kiếm phát ra tiếng rít xé gió chói tai, sát cơ bùng lên ngùn ngụt khiến mặt đất dưới chân rung chuyển nhẹ. Một tu sĩ Trúc Cơ chưa từng phải chịu sự đe dọa từ một mụ thư lại phàm trần không có nửa điểm linh lực.

Nhưng đúng lúc luồng uy áp sắp sửa bùng nổ thành một trận huyết quang thì từ giữa hàng ngũ nha dịch, một bóng người mặc áo bào gấm thêu hoa văn chim hạc xanh từ tốn rẽ đám đông bước ra.

Huyện quan Ngô Trực đích thân xuất hiện.

Không còn dáng vẻ thận trọng giữ khoảng cách như những ngày ngồi trên công đường xử kiện trộm cắp vặt, Ngô Trực lúc này đội ngay ngắn chiếc mũ cánh chuồn, chân mang ủng da nhuộm màu bùn đất đỏ quạch, vạt áo bào đã được buộc gọn ghẽ bên hông bằng dải lụa thô. Khuôn mặt vuông vức của vị quan phụ mẫu phủ một tầng sương lạnh nghiêm nghị, đôi mắt không hề né tránh luồng kiếm khí đang lượn lờ trước mặt. Ông chắp hai tay sau lưng, bước thẳng tới đứng cạnh Kỷ Vân và Lưu Tố, đối diện trực tiếp với luồng kiếm áp của Tống Khuê mà không hề chớp mắt.

Gió thổi tung tà áo quan lục phẩm của ông, làm lộ ra chiếc đai lưng sừng nai mộc mạc. Sự uy nghiêm toát ra từ cốt cách của một vị quan thanh liêm, nắm giữ quyền hành danh chính ngôn thuận của triều đình, lúc này lại tạo thành một bức tường vô hình ngăn cách luồng sát khí Trúc Cơ.

— Tống chấp sự, bản quan đã đứng nghe ngài quát tháo suốt nửa canh giờ qua rồi — Ngô Trực cất giọng bình thản, nhưng từng lời nói ra đều mang theo uy nghiêm của luật pháp triều đình — Bản quan biết ngài ỷ thế tu vi Trúc Cơ, coi mấy tên nha dịch cùng chức quan thất phẩm của ta chẳng ra gì. Nhưng ngài nên nhìn lại xem trên tay ta đang cầm thứ gì.

Ngô Trực giơ tay lên khẽ khoát một cái. Phía sau ông, hai nha dịch lực lưỡng lập tức khiêng lên một chiếc rương sắt nhỏ dán niêm phong chữ son chéo góc, đặt uỳnh xuống phiến đá ướt.

— Toàn bộ bản sao chép tay sổ điều tiết hồ chứa Khe Táng Thủy trong ba năm qua, cuống chứng từ xuất kho bột lưu huỳnh và mỡ khoáng tẩy lò của Hỏa Linh Phong, cùng với kết quả kiểm định hiện trạng then sắt hoen rỉ của cửa cống số 3 này... tất cả đã được ta cùng Ty Địa sư lập biên bản niêm phong ngay tại bờ đập cách đây nửa canh giờ. Hiện trạng chiếc cống bị bỏ bê ba năm không tu sửa, để bùn xỉ quặng đè nặng dọa vỡ đập phụ, hoàn toàn do lỗi tắc trách của Chấp sự phòng các người!

Ngô Trực tiến thêm một bước, chiếc bóng của ông đổ dài lên phiến đá, bao trùm lấy chân thanh phi kiếm ở giữa:

— Ngài muốn rút kiếm giết người diệt khẩu sao? Cứ việc! Nhưng chỉ cần một mũi kiếm của Thanh Lộ Tông nhuốm máu quan sai triều đình hay dân đinh đang cứu nạn hôm nay, bản quan cam đoan với ngài, bản tấu chương luận tội bội phản khế ước, cố ý phá hoại an ninh đường quan và mưu sát mệnh quan triều đình sẽ được gửi thẳng tới Đô Sát Viện! Án phạt nhẹ nhất cho sơn môn các ngài sẽ là bãi bỏ vĩnh viễn Khế ước Khai thác Địa Mạch ngàn năm, tịch thu toàn bộ nguồn chu cấp lương thảo, thảo dược và khoáng thạch từ khắp mười hai huyện lân cận. Đến lúc đó, Tống chấp sự ngài gánh nổi tội làm sụp đổ đại nghiệp trăm năm của Thanh Lộ Tông hay không?

Từng câu, từng chữ của Ngô Trực như những gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào cơn giận đang bốc hỏa của Tống Khuê.

Gương mặt vị chấp sự Trúc Cơ căng cứng lại như mặt trống. Những đường gân xanh giật giật dữ dội trên thái dương gã. Bàn tay đang vận chân nguyên lơ lửng giữa không trung bỗng khựng lại, ngón tay run nhẹ một cái khó nhận ra.

Tống Khuê không phải kẻ ngu muội chỉ biết chém giết. Gã là người đứng đầu Ngoại vụ đường, gã thừa hiểu tình thế nguy khốn như trứng treo đầu đẳng hiện tại của môn phái. Linh mạch Thanh Lộ đã cạn kiệt từ ba năm trước, nguồn linh khí tinh thuần cung cấp cho sơn môn sụt giảm hơn phân nửa. Hồ điều tiết Khe Táng Thủy trơ đáy vào mùa khô, còn đại trận hộ sơn Hỏa Linh Phong đã rạn nứt nhiều mắt trận nghiêm trọng, phải gượng gạo giảm ba phần tư công suất hoạt động để cầm cự qua ngày.

Sơn môn lúc này đang như một cành cây cổ thụ khô mục rỗng ruột từ bên trong, lớp vỏ ngoài bóng bẩy chỉ chực chờ một cơn gió mạnh là gãy đổ tan tành. Nếu lúc này phủ thành phái đoàn thanh tra của Binh bộ và Chấp pháp ti xuống, phát hiện ra đại trận suy kiệt, địa mạch cạn kiệt và những vụ xả lén trọc dịch hủy hoại môi trường nhằm tiết kiệm chi phí lọc xỉ, toàn bộ các khế ước cung ứng linh thạch cùng đặc quyền bảo hộ của triều đình sẽ tan thành mây khói. Tông môn sẽ lập tức trở thành miếng mồi ngon béo bở cho các thế lực thù địch và tà tu phương bắc đang rình rập ngoài dãy núi mười mấy năm qua.

Ánh mắt Tống Khuê đảo qua bờ khe, lướt qua từng gương mặt nha dịch đang đanh lại, rồi bất chợt khựng lại ở một bóng người đứng nép mình sau lưng toán thợ đá của Trịnh Bách.

Đó là Lâm Diệp.

Chàng đệ tử ngoại môn của dược viên Thanh Lộ Tông đang đứng đó, trên người khoác chiếc áo cộc màu nâu nhuộm củ nâu của dân làng, vạt áo còn vấy bùn đất lòng khe, nhưng tay vẫn còn cầm chiếc compa đo góc bằng đồng thau và cuộn sơ đồ van ngầm hồ chứa vẽ bằng mật cá trắm đen trên giấy bản chống nước. Nhìn thấy Lâm Diệp đứng cạnh bà giáo Bùi Sương và Mộc Tầm, ánh mắt kiên định không hề có nửa điểm né tránh hay hối lỗi, Tống Khuê hiểu rằng mọi bí mật kỹ thuật, mọi đường đi nước bước của hệ thống thủy công Khe Táng Thủy đã hoàn toàn bị phơi bày ra ánh sáng. Bản vẽ cấu trúc then cắm ngầm và nhật ký xả nước súc lò mà môn phái giấu kín trong mật thất bấy lâu nay đã nằm gọn trong tay quan phủ. Không còn bất kỳ sự ngụy biện nào có thể che đậy được lỗi lầm cố ý bưng bít của Chấp sự phòng nữa.

Một luồng gió ẩm lạnh từ lòng thung lũng thổi thốc lên khe núi, mang theo tiếng thở dài chua chát, bất lực nén chặt trong lồng ngực vị tu sĩ Trúc Cơ.

Tống Khuê hít sâu một hơi, luồng chân nguyên sắc nhọn bao quanh cơ thể gã từ từ chùng xuống, ánh sáng xanh biếc trên thân năm thanh phi kiếm dần dần ảm đạm đi. Gã phất mạnh ống tay áo rộng, giọng nói đanh lại trong cổ họng:

— *Thu!*

*Keng! Keng! Keng! Keng! Keng!*

Năm tiếng kim loại va chạm vang lên giòn giã. Năm thanh phi kiếm đồng loạt bật khỏi mặt đá hoa cương, vẽ nên những vệt sáng hình cánh cung trên không trung rồi ngoan ngoãn chui tọt vào bao kiếm đeo chéo sau lưng gã. Uy áp bức người nghẹt thở vừa biến mất, đám nha dịch và dân đinh đồng loạt thở hắt ra một hơi dài, cảm giác lồng ngực nhẹ bẫng như vừa trút bỏ được tảng đá ngàn cân đè nặng nãy giờ. Vài người lính trẻ loạng choạng phải chống gậy gỗ xuống đất mới đứng vững.

Tống Khuê chầm chậm bước từ trên gờ đá cao xuống lòng khe nhão nhoét bùn lầy. Dù vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng kiêu hãnh của một tu sĩ thượng môn, nhưng ánh mắt gã đã mất đi vẻ hung hãn áp đảo ban nãy, chỉ còn lại sự phòng thủ cay đắng.

— Ngô đại nhân không cần phải đem triều đình ra ép người quá đáng — Tống Khuê lạnh lùng nói, giọng gượng gạo như từng thanh tre cọ vào nhau — Bản chấp sự thân là người quản lý nguồn nước của sơn môn, cũng chỉ vì muốn bảo vệ kho tàng quặng và an nguy của hộ sơn đại trận trước cơn mưa lũ bất thường. Mưa bão lớn làm nước dâng vượt mức kiểm soát, việc cống xả bị nghẽn là điều không ai lường trước được. Đã là việc chung giữa quan phủ và sơn môn nhằm bảo vệ tính mạng lê dân, Thanh Lộ Tông chúng ta tự có đạo lý phân minh, không thèm đôi co với bọn hạ nhân quê mùa.

Mộc Tầm bước lên nửa bước, đứng ngang hàng với Ngô Trực và Kỷ Vân. Anh nhìn thẳng vào Tống Khuê, giọng nói điềm tĩnh, mộc mạc nhưng rắn rỏi lạ thường:

— Thưa Tống chấp sự, người dân Hạ Khê chúng tôi không cần ngài đôi co. Đêm qua, cả làng đã liều chết đắp đập, chấp nhận hy sinh toàn bộ bốn sào lúa ngậm đòng của ruộng số 4 để làm túi đệm hứng bùn độc thay cho cả thung lũng, giữ cho mạng rễ non và ba thửa ruộng lúa còn lại không bị hủy hoại. Giờ đây lũ bùn đã bị chặn đứng, việc cấp bách nhất không phải là cãi cự xem ai sai ai đúng, mà là xử lý dứt điểm cái cống hỏng này để hiểm họa không tái diễn! Dân chúng không thể sống mãi dưới một cái cống chực vỡ bất cứ lúc nào!

Tống Khuê liếc nhìn Mộc Tầm. Đôi mắt vị chấp sự nheo lại khi nhận ra vẻ bình thản lạ lùng của người thanh niên chỉ có tu vi Dẫn Khí tầng ba này. Suốt từ đêm thử nghiệm trận bàn thu khí thất bại cho đến tận sáng nay, kẻ trồng vườn này chưa từng tỏ ra run sợ trước linh áp của gã. Ánh mắt Tống Khuê kín đáo lướt qua ba thửa ruộng lúa non xanh ngắt phía xa xa dưới lòng chảo—nơi vừa trải qua một trận đại hồng thủy bùn quặng mà vẫn đứng sừng sững như một phép màu.

Hàng ngàn chiếc lá lúa vươn lên đón nắng sớm, xanh ngắt một màu sinh cơ mãnh liệt giữa vùng bùn đen quánh. Trong đáy mắt vị tu sĩ lóe lên một tia dao động sâu sắc: phương pháp dưỡng đất, khử độc kỳ lạ của mạng rễ Tức Căn mà tên tiểu tử này nắm giữ... có lẽ chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất cho mấy chục mẫu dược viên đang chết dần chết mòn trên đỉnh núi kia. Môn phái đã thử nghiệm vô số đan dược, phù chú nhưng chỉ làm đất thêm chai cứng, còn đám cỏ dại dưới tay người thanh niên này lại có thể thuần hóa được cả trọc khí hỏa linh hung hãn nhất.

— Ngươi muốn thế nào? — Tống Khuê trầm giọng hỏi, ánh mắt thu lại sự khinh nhờn.

Lưu Tố lập tức bước tới, trải một tờ giấy bản dày có lót ván gỗ lên mặt một tảng đá bằng phẳng. Trên giấy đã viết sẵn những dòng chữ chân phương ngay ngắn bằng mực son đỏ tươi, nét chữ vuông vức sắc sảo:

— Đây là Biên bản Liên tịch Giám sát và Điều tiết Thủy lợi Khe Táng Thủy giữa Huyện nha Bình Xuyên, Thanh Lộ Tông và đại diện cư dân Hội giữ đất Hạ Khê. Có ba điều khoản cốt lõi bắt buộc chấp sự phòng phải thực thi ngay tại chỗ dưới sự chứng kiến của các bên!

Lưu Tố chỉ ngọn bút lông vào từng điều khoản, giọng đọc dõng dạc:

— Điều thứ nhất: Lập tức hạ chốt khóa vĩnh viễn, niêm phong bằng chì và trát vữa kín toàn bộ van xả đáy số 3 hỏng hóc này. Tuyệt đối cấm Thanh Lộ Tông tiếp tục sử dụng tuyến cống này để xả cặn xỉ quặng hay dịch tẩy lò xuống hạ du!

— Điều thứ hai: Trong vòng hai canh giờ tới, sơn môn phải điều động đệ tử mở thông toàn bộ ba cửa van xả tràn phía bắc qua triền đá Lãnh Hỏa ra sông mẹ để chia sẻ triệt để áp lực nước lũ trong hồ chứa, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đập phụ và đường quan lộ.

— Điều thứ ba: Thi hành nghiêm ngặt Phụ lục Giáp-Tý của Khế ước Địa Mạch, Thanh Lộ Tông cam kết duy trì xả lưu lượng nước ngọt thanh sạch tối thiểu ba phân liên tục mỗi ngày đêm qua nhánh mương nam cho cánh đồng Hạ Khê, không được viện bất kỳ lý do bảo trì đại trận nào để tự tiện cắt nước!

Tống Khuê siết chặt hai quai hàm, cơ mặt giật liên hồi khi nhìn ba điều khoản đanh thép trên mặt giấy. Từng điều khoản như từng sợi xích sắt trói chặt quyền năng độc đoán của Chấp sự phòng suốt nhiều năm qua. Mở cửa xả phía bắc đồng nghĩa với việc sơn môn phải tốn kém nhân lực di dời kho quặng hỏa thạch ven triền đá, nước lũ tràn qua đó sẽ cuốn trôi không ít khoáng sản chưa kịp tinh chế; hạ chốt cống số 3 buộc họ phải đào các bể lắng tốn kém gấp mười lần trên núi cao; còn cam kết cấp nước ngọt tối thiểu khiến họ không thể dùng nguồn nước làm công cụ bóp nghẹt dân làng mỗi khi muốn ép giá thu mua thảo dược được nữa.

Nhưng nhìn thấy nét mặt lạnh như băng của Ngô Trực, tráp công văn bằng gỗ tử đàn đang mở sẵn, và ánh mắt kiên định của hàng chục con người đang đứng ken đặc bờ khe—từ những người thợ đá gân guốc đến đám nha dịch tay lăm lăm xích sắt—Tống Khuê hiểu gã không còn đường lui. Bất kỳ sự chần chừ nào lúc này cũng sẽ đẩy sự việc vượt khỏi tầm kiểm soát của môn phái. Tin tức truyền về Thượng viện phủ thành sẽ là dấu chấm hết cho chiếc ghế chấp sự của gã.

Gã thò tay vào trong ngực áo, rút ra một chiếc ấn tín bằng đồng đúc hình ngọn lửa ba nhánh—con dấu chấp sự Ngoại vụ đường của Thanh Lộ Tông, biểu tượng cho quyền năng cai quản thủy hỏa ngoại sơn.

— Đưa mực lại đây! — Tống Khuê gằn giọng qua kẽ răng, bàn tay cầm ấn hơi run rẩy.

Lưu Tố đưa hộp mực chu sa tới. Tống Khuê ấn mạnh mặt ấn vào hộp mực đỏ sẫm, rồi dằn mạnh con dấu xuống góc dưới của bản biên bản liên tịch.

*Cộp!*

Tiếng dấu ấn nện xuống mặt ván gỗ vang lên dứt khoát. Vết son đỏ tươi hình ngọn lửa ba nhánh in sâu vào thớ giấy bản, nằm ngay ngắn bên cạnh triện đồng vuông vức của Huyện nha Bình Xuyên và dấu điểm chỉ mực đen của Mộc Tầm đại diện cho Hội giữ đất Hạ Khê. Ba dấu ấn, ba thế lực, lần đầu tiên cùng nằm chung trên một văn bản pháp lý ràng buộc.

— Chú Hai Mộc, mang xích sắt và vữa tôi lại đây! — Ngô Trực lập tức quay sang hạ lệnh, không để lãng phí một khoảnh khắc nào.

Toán thợ mộc và thợ đá làng Hạ Khê nhanh chóng khiêng những sợi xích sắt to bản cùng hai thùng vữa đất sét trộn xỉ quặng tiến tới. Dưới sự giám sát gắt gao của Kỷ Vân và hai nha dịch, chiếc then sắt rỉ sét nặng nề của cửa cống số 3 bị bốn người đàn ông dùng đòn bẩy bẩy sập xuống hết nấc. Một tiếng *rầm* khô khốc vang lên từ sâu trong lòng vòm đá. Những vòng xích sắt dày cộp quấn chặt lấy tay quay điều khiển, siết chặt từng mắt xích rồi khóa cứng bằng một ổ khóa đồng lớn của huyện nha. Chì nóng chảy được rót thẳng vào lỗ khóa để niêm phong vĩnh viễn.

Từng xẻng vữa đất sét dẻo quánh trộn vôi sống được trát kín quanh các kẽ hở của miệng cống, dập tắt hoàn toàn những dòng nước rỉ đen ngòm cuối cùng. Khói vôi bốc lên nghi ngút, át đi mùi lưu huỳnh nồng nặc.

Cùng lúc đó, trên sườn núi phía bắc, tiếng nước réo ầm ầm như sấm rền bắt đầu vọng lại qua các hẻm đá. Ba cánh cửa xả tràn bằng đá phiến qua triền Lãnh Hỏa đã được các đệ tử Thanh Lộ Tông kéo lên theo lệnh khẩn truyền bằng bùa phi kiếm. Dòng nước lũ đục ngầu cuồn cuộn đổ dồn về hướng sông mẹ, chia cắt một nửa áp lực nước lũ trong hồ chứa, giải tỏa hoàn toàn nguy cơ vỡ đập phụ từng treo lơ lửng trên đầu lòng chảo Hạ Khê suốt đêm qua.

Tống Khuê nhìn miệng cống đã bị niêm phong kín mít bằng lớp vữa dày và xích sắt, sắc mặt gã xám xịt như tro tàn lò luyện. Gã quay sang nhìn Ngô Trực, buông một lời lạnh lẽo thấu xương:

— Việc cống xả và cấp nước coi như đã giải quyết xong theo ý quan huyện. Nhưng đừng vội mừng rỡ quá sớm. Bản chấp sự ký vào biên bản này là vì đại cục an nguy của đường quan triều đình, chứ không đồng nghĩa với việc Thanh Lộ Tông từ bỏ quyền tài phán đối với dị tượng linh mạch tại lòng chảo này!

Gã quay phắt người, chỉ ngón tay khẳng khiu về phía Mộc Tầm:

— Mảnh đất Thạch Nê kia mọc ra thứ rễ cây hút trọc tức, cải tạo thổ nhưỡng, tạo ra luồng sinh khí biến dị. Khế ước Khai thác Địa Mạch của sơn môn bao trùm mọi dị biến địa tầng trong phạm vi mười dặm quanh chân núi. Nha môn các người có thể che chở cho chúng một vụ mùa cứu nạn tạm thời, nhưng phiên phân xử chính thức về quyền đất và quyền mạch tại công đường sắp tới, chúng ta sẽ đối chất sòng phẳng trước mặt Khâm sai phủ thành! Đến lúc đó, hãy xem mảnh đất ấy rốt cuộc thuộc về ai!

Nói xong, Tống Khuê không thèm ngoái đầu lại, phất mạnh tà áo lam nhảy vút lên mỏm đá cao. Thân hình gã lướt đi thoăn thoắt trên những mỏm đá tai mèo dốc đứng, hóa thành một vệt sáng mờ ảo biến mất sau rặng thông già mịt mù sương sớm trên đỉnh núi Hỏa Linh Phong. Hai tên đệ tử theo hầu cũng vội vã thu dọn pháp khí bám gót theo sau, bóng dáng nhếch nhác khác hẳn vẻ ngạo nghễ lúc mới xuất hiện.

Không khí trên bờ Khe Táng Thủy dần tĩnh lặng trở lại. Tiếng sấm nước từ cửa xả phía bắc vọng lại chỉ còn là âm thanh trầm đục ở đằng xa. Giờ đây, nổi bật lên giữa không gian yên ắng là tiếng dòng nước ngọt trong veo từ ngách xả phụ róc rách chảy xuôi theo con mương đá mới khơi. Dòng nước mát lành, không gợn một chút bọt xỉ hay váng dầu, len lỏi qua từng bờ cỏ xanh, mang theo hơi thở tươi mới tưới tắm cho thung lũng vừa thoát khỏi cơn đại nạn.

Ngô Trực thở phào một hơi dài, đưa tay đỡ lấy tráp công văn từ tay Lưu Tố. Ông cẩn thận kiểm tra lại mép giấy của bản biên bản liên tịch vừa ký, rồi quay sang nhìn Mộc Tầm và Kỷ Vân, ánh mắt vừa nhẹ nhõm nhưng cũng chất chứa muôn vàn ưu tư sâu kín:

— Tống Khuê nói không sai đâu. Mối nguy vỡ đập và thảm họa ô nhiễm trước mắt đã tạm thời được chặn đứng, nhưng cuộc chiến thực sự để giữ lấy mảnh đất này cho người dân các ngươi giờ mới chỉ bắt đầu. Tên chấp sự đó chắc chắn sẽ liên kết với Vạn Thạch Hành của Đỗ Kính, mang toàn bộ các bản khế ước cũ và trát đòi nợ lên công đường ép ta phải đưa ra phán quyết cuối cùng. Khi quyền lợi của sơn môn bị đụng chạm, chúng sẽ không từ một thủ đoạn nào, từ luật pháp đến áp lực từ phủ thành.

Mộc Tầm cúi đầu thi lễ, giọng nói mộc mạc nhưng kiên định như đá tảng lòng sông:

— Đa tạ đại nhân đã vì dân đinh mà đứng mũi chịu sào trước uy áp tu sĩ. Dân làng chúng tôi hiểu rõ điều đó. Đất đai là mạng sống của người cày cấy, không phải thứ để con buôn đổi chác hay tu sĩ đem ra làm bãi thải quặng. Dù có phải lên công đường đối chất ngàn lần, chúng tôi cũng sẽ dùng từng hạt thóc, từng luống rau sạch và từng thớ đất sống lại bằng mồ hôi nước mắt để chứng minh quyền sinh tồn chính đáng của mình.

Ngô Trực khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ tán thưởng sâu sắc. Ông vỗ nhẹ lên vai người thanh niên làm vườn, cảm nhận được lớp cơ bắp rắn rỏi và ý chí kiên cường ẩn sau vóc dáng bình dị ấy, rồi quay người bước nhanh về phía cỗ kiệu quan đang chờ sẵn bên vệ đường. Đoàn nha dịch chỉnh tề đội ngũ, cờ hiệu của huyện nha Bình Xuyên bay phần phật trong gió sớm, rầm rộ kéo về phía cổng huyện lỵ, để lại sau lưng bờ cống số 3 đã im lìm dưới lớp niêm phong vững chắc.

***

Ba ngày sau.

Bầu trời phía trên huyện lỵ Bình Xuyên trong vắt không một gợn mây sau những ngày mưa bão dai dẳng. Ánh nắng ban mai rọi thẳng xuống khoảng sân gạch rộng thênh thang trước cửa Huyện nha, xua tan đi lớp sương mù ẩm ướt tích tụ suốt nửa tháng qua. Từ tờ mờ sáng, khi tiếng mõ cầm canh của lính tuần tra vừa dứt, các ngả đường đổ về nha môn đã chật ních bóng người.

Hàng trăm người dân từ sáu xóm Hạ Khê, nhóm thợ đá Thạch Nê mình trần rám nắng, những dược hộ lam lũ vùng Bến Tro mang theo mùi thuốc bắc ngai ngái, và cả các hộ di cư của Liên hộ Đường Nam đã tụ tập đông nghẹt trước thềm đá. Họ mặc những bộ áo quần tươm tất nhất dù chắp vá chằng chịt, đứng sát bên nhau thành từng khối vững chãi. Trên gương mặt khắc khổ của những người quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời không còn vẻ cam chịu, sợ sệt như những lần bị đòi nợ trước đây; thay vào đó là sự căng thẳng tột độ xen lẫn niềm hy vọng le lói bùng lên sau chiến thắng ở bờ cống Khe Táng Thủy.

Tiếng xì xào bàn tán vang lên râm ran khắp sân gạch:

— Nghe nói hôm nay Vạn Thạch Hành mang cả tráp nợ của mười năm trước ra đối chất đấy...

— Mười năm hay trăm năm thì đất cũng là do tay dân Hạ Khê vỡ hoang! Đêm lũ vừa rồi nếu không có ruộng số 4 hứng bùn, con đường này làm sao còn nguyên vẹn cho chúng đi kiệu đến đây?

— Nhìn kìa, người của Thanh Lộ Tông đã vào trong rồi! Kiệu của Đỗ lão gia cũng vừa tới cửa hông!

Phía bên trái gian chính đường, không khí lạnh lẽo và trang nghiêm bao trùm. Đỗ Kính ngồi trên chiếc ghế gỗ trắc bóng loáng, vận bộ áo lụa màu xanh thẫm viền chỉ bạc, ngón tay cái đeo chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch to bản. Gã khẽ phe phẩy chiếc quạt ngà chạm trổ tinh xảo, khóe môi nhếch lên một nụ cười nửa miệng đầy vẻ tự tin. Bên cạnh gã, tên quản gia cùng ba gã kế toán viên đang cẩn thận bày biện từng chồng sổ sách dày cộp đóng gáy da bò—toàn bộ là giấy nợ, trích lục thế chấp đất đai, văn tự bán mình và các bản phụ ước thu hồi điền sản của Vạn Thạch Hành tích lũy suốt hai mươi năm qua.

Ngồi uy nghi ngay hàng ghế danh dự phía trên Đỗ Kính là Chấp sự Tống Khuê cùng hai đệ tử chấp pháp áo lam của Thanh Lộ Tông. Tống Khuê hôm nay khoác chiếc đại bào xanh thêu hình núi lửa ngút khói, mái tóc búi gọn bằng chiếc trâm bạch ngọc hình kiếm. Gã ngồi bất động như một pho tượng đá, nét mặt lạnh lùng kiêu hãnh không thèm liếc nhìn đám đông dân chúng bên ngoài thềm. Hai đệ tử đứng sau lưng gã tay luôn đặt hờ lên chuôi thanh trường kiếm hộ thân nạm bạc, tỏa ra từng luồng linh áp nhàn nhạt đủ để khiến những kẻ yếu bóng vía không dám nhìn thẳng. Phía trước mặt Tống Khuê là một chiếc tráp khảm ốc xà cừ đựng Khế ước Khai thác Địa Mạch ngàn năm có đóng ấn triện của Khâm sai tiền triều—lá bùa hộ mệnh tối thượng mà Thanh Lộ Tông luôn dùng để thao túng vùng đất này.

Đối diện với họ, ở phía bên phải công đường, không khí lại mang một sắc thái hoàn toàn khác biệt.

Anh em Mộc Tầm và Mộc An đứng ở vị trí đầu tiên, bên cạnh là Phạm Nghi với vẻ mặt rắn rỏi của một cựu binh am tường quy chế, Trịnh Bách với đôi bàn tay chai sần thô ráp của người thợ đá cả đời đo đạc núi non, cô thợ gốm Đào Nguyệt trong chiếc áo nâu giản dị, và bà giáo Bùi Sương tóc bạc phơ nhưng đôi mắt sáng ngời uyên bác.

Họ không có những chiếc tráp khảm ngọc hay lụa là gấm vóc, nhưng trước mặt họ là những thứ vật chứng sống động nhất của đất đai: cuốn sổ bìa da mộc của Hội giữ đất Hạ Khê ghi chép chi tiết từng ngày công khai hoang, phục hóa; những khay gỗ đựng các mẫu đất xốp ẩm, đen nhánh phù sa và thoang thoảng mùi hương cỏ mục thơm lành—thành quả của mạng rễ Tức Căn sau nhiều tháng lọc sạch chất độc; những ống tre đựng mẫu nước ngầm trong vắt lấy từ các giếng khơi vừa được đào lại; và một tập trích lục điền bạ ủy quyền có dấu điểm chỉ bằng máu và mực đen của hàng trăm hộ dân ly tán khắp vùng thung lũng.

Mộc Tầm đứng thẳng lưng, bàn tay khẽ chạm vào cuốn sổ da mộc. Anh cảm nhận được từng mạch đập của đất đai đang dồn về gian phòng này qua bước chân của những người dân đang đứng ken đặc ngoài sân. Mộc An đứng cạnh anh, hai tay ôm chặt chiếc hộp gỗ đựng mẫu rễ Tức Căn đang bện chặt vào các hạt khoáng xỉ đã bị phân rã hoàn toàn thành mùn đất màu mỡ.

Bên ngoài cổng lớn, hàng ngàn cặp mắt của dân chúng trong vùng đổ dồn vào gian chính đường thâm nghiêm. Không một tiếng cười đùa, không một lời xao động thừa thãi. Cả khoảng sân rộng lớn dường như nín thở, chỉ còn nghe tiếng gió luồn qua những tán cây bàng cổ thụ và tiếng sột soạt của những lá cờ hiệu treo trước hiên nha môn.

Hai hàng nha dịch mặc áo nẹp đỏ đen, tay cầm gậy đầu sơn đỏ đứng thẳng tắp dọc theo hai bên bậc thềm đá, khuôn mặt nghiêm cẩn như tạc tượng.

Từ sau tấm bình phong vẽ hình sóng nước và mặt trời đỏ rực, Huyện quan Ngô Trực bước ra trong bộ triều phục chỉnh tề, mũ cánh chuồn ngay ngắn, bước từng bước khoan thai tiến về phía chiếc bàn công đường phủ vải điều đỏ thắm. Theo sau ông là Thư lại Lưu Tố và Địa sư Kỷ Vân, hai người mang theo chồng công văn dán niêm phong và các bản đồ địa chính đã được kiểm tra nghiêm ngặt suốt ba ngày đêm qua.

Ngô Trực ngồi xuống ghế công đường, ánh mắt nghiêm nghị quét qua hai bên tả hữu, dừng lại thật lâu trên gương mặt của Đỗ Kính, Tống Khuê và Mộc Tầm.

Bầu không khí căng thẳng cô đặc lại đến mức dường như một giọt nước rơi xuống cũng có thể vỡ tan.

*Tùng! Tùng! Tùng! Tùng!*

Tiếng trống công đường tại Huyện nha Bình Xuyên bất ngờ vang lên gióng giả, từng hồi trống trầm hùng dội thẳng vào lồng ngực người nghe, rung chuyển cả những mái ngói rêu phong của huyện lỵ cổ kính, chính thức mở màn cho phiên phân xử quyền đất và khế mạch được chờ đợi từ lâu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories