Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.32 / 36
Chapter 32

Giữ Đất Bằng Nhiều Đôi Tay

Làn khói xám đen nồng nặc và quánh đặc từ lòng thửa ruộng số bốn cuồn cuộn bốc lên giữa màn mưa rừng xối xả. Dưới luồng sáng mờ đục rạch ngang bầu trời đêm, hàng chục bóng người khoác áo tơi tướp rách đang dầm chân trong bùn thụt, hối hả chuyền tay nhau từng sọt đất sét nện dọc theo con mương dẫn nước. Mùi lưu huỳnh nồng gắt quyện chặt với hơi cặn quặng xộc thẳng vào cuống họng, đắng nghét, khô khốc và rát bỏng như tro than vừa cời. Cơn mưa đầu mùa quất ràn rạt vào mặt, vào vai, làm rách toang những tấm áo tơi lá gối, nhưng làn nước buốt giá ấy tuyệt nhiên không thể dập tắt nổi thứ nhiệt lượng độc hại đang âm ỉ sủi tăm từ hàng vạn khối bùn quặng sền sệt bị giam hãm dưới lòng chảo đất thịt.

Trên dải bờ be ngăn cách giữa thửa số bốn và thửa số ba, tiếng còi trúc vang lên từng hồi sắc lạnh. Tiếng còi rạch đôi tiếng gió hú và tiếng nước gầm réo từ triền núi đổ về, róc rách dội vào từng thớ đá.

Lê Cẩn đứng chôn chân trên một doi đất nhô cao, chiếc khăn tẩm đẫm nước bồ hòn quấn kín nửa khuôn mặt gầy guộc, chỉ để lộ đôi mắt đỏ ngầu tơ máu vì hơi xỉ than và khói quặng xông thẳng vào mi. Lồng ngực anh nhói buốt từng cơn dữ dội; căn bệnh phổi tro giai đoạn hai như một chiếc búa tạ bọc giẻ rách vô hình, cứ cách vài nhịp thở lại nện thùm thụp vào cuống phổi rạn nứt. Máu trong ngực như sôi lên, vị sắt tanh nồng chực trào lên vòm họng theo từng cơn ho bị dằn xuống. Thế nhưng, bàn tay anh đang nắm chặt chiếc còi trúc vẫn siết cứng đến mức các khớp xương trắng bệch ra dưới ánh đèn le lói. Anh không cầm xẻng, không chạm vào một tấc bùn đất nào—đó là lời thề độc mà Đào Nguyệt đã bắt anh phải cam đoan bằng danh dự của một người thợ đào giếng ba đời trước khi bước chân ra bờ mương. Thay vào chiếc cuốc sắt, trên tay anh là một chiếc đồng hồ cát bằng gỗ lim gọt đẽo thô sơ và một bó thẻ tre vót nhọn sơn vôi trắng cắm bên hông.

— Kíp ba, buông xẻng! Lùi về sau năm mươi bước ngay lập tức! — Cẩn giật phăng mép khăn tẩm nước bồ hòn khỏi miệng, hét lớn qua lớp màn mưa dày đặc.

Giọng anh khàn đặc, vỡ vụn vì hơi khét nhưng rành rọt từng tiếng, từng nhịp, không cho phép bất kỳ sự chần chừ nào chen vào:

— Kíp bốn, tiến lên thế chỗ! Đã đủ mười lăm phút rồi! Không một ai được phép ráng thêm một nhát cuốc nào nữa! Trịnh Bát, lôi thằng cháu anh lên bờ mau, đừng để nó ngâm chân dưới rãnh xả!

Một gã thợ trẻ tuổi thuộc kíp ba—thằng Sanh, cháu gọi Trịnh Bát bằng chú ruột—vẫn còn đang tiếc nhát xẻng đất sét vừa nện xuống mép sạt. Bùn nhão láng bóng đang chực tràn qua bờ be mong manh, gã toan cắm thêm chiếc cọc dẻ gai chẻ đôi để ghìm tấm phên nứa. Nhưng chưa kịp vung búa thì một bàn tay thô ráp, chai sần như vỏ cây rừng của Trịnh Bát đã chồm tới, túm chặt lấy cổ áo tơi kéo giật ngược gã về phía sau gò đất. Mặt thằng Sanh xám ngoét như màu tro bếp nguội, hai cánh mũi bết dính những vệt quặng đen kịt, đôi mắt dại đi, lờ đờ vì làn khí trọc u ám vừa bốc lên từ khe nứt dưới đáy bùn. Gã lảo đảo thở dốc, hai đầu gối khuỵu xuống mặt cỏ ướt. Chỉ cần chậm trễ chừng năm nhịp thở nữa thôi, buồng phổi non nớt của gã sẽ ngậm no thứ độc khí chết người tích tụ từ các hầm lò xả trộm trên đỉnh núi.

— Giữ đúng cự ly ba trượng! Chuyền bao đất theo hàng ngang, cấm tuyệt đối không được chụm lại một chỗ! — Tiếng còi trúc của Lê Cẩn lại rúc lên một hồi dài dằng dặc, dứt khoát như lệnh rút quân nơi chiến trường.

Đội thợ gồm gần ba mươi tráng đinh của thôn Hạ Khê vận hành nhịp nhàng như một cỗ máy bằng gỗ gụ giữa tâm bão. Từng kíp sáu người đào đất, vác bao sét, nện phên nứa cài then chốt, mồ hôi vã ra hòa cùng nước mưa buốt giá. Hết đúng mười lăm phút cát chảy cạn bình, họ lập tức buông tay, rút lui về phía sau rặng xoan cách bờ ruộng hơn năm mươi bước chân. Ở đó, họ được lệnh kéo dải khăn che mặt xuống, ngồi tựa lưng vào rễ cây để hít thở dưỡng khí trong lành và đón lấy từng gáo nước sắc lá cam thảo ấm nồng từ tay người nhà chuyền tới. Nhờ sự chuẩn xác đến lạnh lùng, gần như tàn nhẫn của Lê Cẩn trong việc đảo kíp và canh giờ cát, không một người thợ nào bị ngạt độc ngã gục tại trận.

Bờ bao đất sét quây quanh lòng chảo thửa ruộng số bốn dần dần thành hình trong đêm đen. Bờ đê cao quá đầu gối, chân đê dày năm thước, được gia cố bằng hàng trăm cọc dẻ gai và phên nứa đan mắt cáo. Bức tường thành bằng đất bùn ấy đứng sừng sững, vững chãi ghìm giữ lớp bùn đen độc hại đang chực chờ đội nước tràn qua mép đê để nuốt chửng ba thửa lúa non xanh mơn mởn đang ngậm đòng ở ngay sát bên cạnh.

***

Cách bờ ruộng số bốn hơn nửa dặm đường rừng về phía thượng nguồn vách đá Khe Táng Thủy, giữa vùng thác lũ đang gầm rống man dại và bóng tối dày đặc của hẻm núi, một bóng người gầy guộc khoác áo tơi màu chàm tơi tả đang nép mình sau một hốc đá vôi rêu phong phủ kín.

Đó là Lâm Diệp. Y thở dốc từng cơn nặng nhọc, hai ống tay áo ướt sũng bết chặt vào cẳng tay lạnh ngắt như đồng hun. Mưa rừng xối xả đập vào vách đá dựng đứng, hắt những bọt nước buốt nhói vào gương mặt hốc hác của y. Trên trán Lâm Diệp, một vết rách sâu do đá nhọn quẹt phải lúc băng rừng đang rỉ máu, dòng máu đỏ thẫm hòa cùng nước mưa chảy dài xuống đuôi lông mày rồi nhỏ tong tỏng xuống cằm. Thế nhưng, đôi mắt trũng sâu của người đệ tử ngoại môn ấy lại sáng quắc một cách kỳ lạ. Ánh mắt y dán chặt vào bờ vách đá nứt toác phía dưới cống xả đáy số ba của hồ chứa quặng Thượng Đẳng Viên.

Lệnh cấm túc nghiêm ngặt rời khỏi Chấp sự phòng do chính tay Tống Khuê ban bố đã bị y đạp đổ tan tành ngay khoảnh khắc tiếng nổ ầm ì đầu tiên rúng động chân núi lúc nửa đêm. Y biết nếu bị bắt, tội danh bất tuân lệnh chấp sự sẽ đủ để tước bỏ đạo bào, thậm chí bị phế bỏ tu vi đày vào hầm mỏ đá. Nhưng trong bọc vải dầu giấu chặt trước lồng ngực gầy guộc của y lúc này không phải là đan dược hộ thân hay những lá bùa bình an đắt giá, mà là tấm sơ đồ van ngầm ba tuyến thoát lũ của toàn bộ hệ thống hồ chứa quặng Thượng Đẳng Viên. Tấm bản đồ ấy do chính tay y thức trắng bao đêm lén sao chép lại, từng nét mực tàu đen nhánh được pha với mật cá trắm đen để chống nước, ghi rõ từng mạch ngầm, từng khớp then gỗ lim bị vùi lấp dưới chân núi đá.

— Bên này! Mau mang choòng sắt và búa tạ lại đây! Nhanh lên, đừng bước vào vũng nước xoáy! — Lâm Diệp ngoắc tay, cất tiếng thì thầm nhưng giọng điệu sắc lẹm, rạch qua tiếng gầm của dòng thác lũ.

Toán thợ năm người do Chú Hai Mộc dẫn đầu vừa bí mật bò trườn qua lòng khe suối cạn lởm chởm đá tai mèo. Quần áo họ rách bươm, khắp người bê bết bùn đất và lá mục. Chú Hai Mộc trườn tới sát hốc đá, mặt cắt không còn một giọt máu khi nhìn thấy những vết nứt toác ngoằn ngoèo như mai rùa đang lan nhanh với tốc độ chóng mặt trên thân bờ kè đá phụ phía trên đầu:

— Thầy Lâm ơi, trên vách núi đá vôi đang rạn dữ dội quá! Mạch đá rỗng bên trong đang rên lên từng hồi đấy! Nó mà sập xuống một cái thì cả cái thung lũng này lẫn mấy mạng già bọn tôi đều bị chôn sống trong bùn quặng mất thôi!

— Nhìn kỹ vào tấm sơ đồ này! Đừng hoảng loạn! — Lâm Diệp mở bung mảnh vải dầu dày che chắn trước ánh đèn bão leo lét mà Chú Hai Mộc vừa rút ra từ dưới nách áo tơi. Đầu ngón tay trỏ run rẩy vì lạnh nhưng dứt khoát gõ mạnh vào một điểm giao cắt hình chữ Y nằm sâu dưới chân vách đá nứt nẻ. — Chân kè phụ này vốn dĩ không đắp trên nền đá hoa cương đặc, mà nó tựa vào một đới đứt gãy đá vôi rỗng ruột dẫn thẳng sang thung lũng hoang phía cực bắc! Cửa van phụ số hai bị bọn cai thầu vùi lấp dưới lớp sỏi bồi từ năm năm trước để bớt xén tiền nạo vét định kỳ. Nếu các người đào thông một rãnh xả phụ rộng bốn thước, sâu chừng năm tấc đâm chéo vào lòng khe đá vôi hoang kia, toàn bộ áp lực bùn tràn dồn xuống lòng chảo Thạch Nê sẽ bị bẻ gãy ít nhất một phần ba!

— Nhưng... nhưng chỗ đó là đất cấm của sơn môn... Đụng vào mạch đá cấm phòng hộ, trên huyện sức trát xuống thì cả họ nhà tôi mất đầu!

— Sơn môn nào ở cái nơi chết tiệt này nữa? — Lâm Diệp gắt lên, gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên thái dương. Y giật lấy chiếc choòng sắt nặng trịch trong tay người thợ đứng bên cạnh, đích thân quỳ sụp xuống bùn, nện một nhát cật lực xuống vỉa đá ngậm vôi mục nát dưới chân kè. Những tia lửa nhỏ lóe lên rồi tắt ngấm trong màn nước. — Đập vỡ bờ kè chính thì mạng của mấy trăm người dưới kia hay cái chức đệ tử ngoại môn rách rưới này của ta còn giữ được sao? Đào chếch một góc bốn mươi lăm độ về phía tây nam! Tránh xa mạch đá xanh cứng chắc, chỉ nhắm vào mạch xỉ phấn xốp mủn mà nện! Nhanh lên, nước trên mặt hồ chứa đang dâng ngập quá đỉnh tháp điều tiết rồi!

Toán thợ đá như bừng tỉnh khỏi cơn mê muội. Bản năng sinh tồn và uy lực dứt khoát của người học trò sơn môn đã thổi bùng lên sự liều lĩnh trong huyết quản họ. Chú Hai Mộc nghiến răng nhổ một bãi nước bọt lẫn đất cát sang bên cạnh, vung chiếc búa tạ mười sáu cân lên cao rồi giáng mạnh xuống đầu chiếc choòng sắt.

*Keng! Ục!*

Từng tảng đá vôi phong hóa ngậm đầy nước xốp như bánh xốp vỡ vụn ra dưới những nhát búa liên hồi, dồn dập. Đất đá bắn tung tóe, hòa vào dòng nước mưa chảy xối xả. Bàn tay Lâm Diệp tước máu khi y liên tục dùng tay trần bới những mảnh đá vụn sắc nhọn ném sang một bên để mở đường cho mũi choòng khoét sâu vào lòng núi. Năm người thợ thay nhau quai búa, hơi thở phì phò như bễ rèn trong đêm bão.

Chỉ sau gần nửa canh giờ cật lực đục đẽo, một tiếng “ục” trầm đục, nghẹn ngào như tiếng thở dài từ sâu trong lòng đất vọng lên. Khe nứt tự nhiên trong lòng khối đá vôi rỗng bỗng chốc toác rộng ra như một miệng vực đói khát.

Dòng nước lũ đen ngòm, sền sệt những quặng và bùn xỉ đang gầm thét dữ dội trên mặt kè phụ lập tức bị hẫng chân. Nước cuộn xoáy tròn thành một cái phễu khổng lồ rồi chuyển hướng đột ngột; một phần ba khối lượng bùn nhão gầm réo lao thẳng vào khe đá vôi hoang phế vừa được khơi thông, trút ầm ầm sang thung lũng đá chết không bóng người phía sau lưng dãy núi. Mặt nước lũ dâng ngập ngụa tại cửa cống số ba lập tức hạ xuống gần ba tấc, để lộ ra những mảng rêu đen bám chặt trên thân đập. Thân bờ kè phụ ngừng rên rỉ, thoát khỏi nguy cơ bị nứt toác và nổ tung trong gang tấc.

Lâm Diệp buông rơi chiếc choòng sắt, quỳ sụp cả hai đầu gối xuống vũng bùn lầy lội. Y ngửa mặt lên trời đón lấy những giọt mưa lạnh buốt, lồng ngực phập phồng dữ dội. Hai bàn tay y rách bươm, máu tươi hòa cùng bùn đen chảy ròng ròng qua kẽ ngón tay run rẩy bần bật. Y nhìn dòng lũ đã bị phân nhánh chảy cuồn cuộn vào hẻm đá hoang, rồi cúi đầu nhìn tấm sơ đồ ướt sũng trong bọc vải dầu. Y hiểu rất rõ điều gì đang chờ đợi mình phía trước: dấu vết đục phá cơ học rành rành này, cùng tấm sơ đồ ngầm trên tay y, sẽ trở thành bằng chứng thép không thể chối cãi giáng xuống đầu bọn quản lý vô trách nhiệm của sơn môn, nhưng đồng thời cũng là bản án đẩy y vào vòng xoáy thanh trừng tàn khốc.

***

Dưới chân thung lũng Thạch Nê, tại mép đầm ngập của thửa ruộng số bốn, áp lực dòng chảy từ thượng nguồn vừa giảm bớt thì một mối nguy hiểm chết người khác lập tức bùng nổ ngay dưới mặt nước.

Lớp trọc tức cô đặc và độc hại bị bờ bao của Lê Cẩn giữ chặt lại trong lòng ruộng bắt đầu phản ứng dữ dội với màng sinh học tự nhiên của mạng rễ Tức Căn đang bám rễ ở vùng đệm. Dọc theo con mương dẫn nước bùn, những nốt sần xám tro vốn dĩ nằm im lìm trên các nhánh rễ phụ nay phình to ra với tốc độ chóng mặt. Chúng căng mọng lên, to như những quả trứng chim le le, chuyển dần từ màu tro xám sang một sắc tím thẫm bóng nhẫy, phát ra những tiếng kêu sôi lục bục ma quái dưới tầng nước đen ngòm. Khói mỏng mang mùi tanh nồng của quặng lưu huỳnh bắt đầu xì ra từ các kẽ rễ. Nếu không bóc tách và giải tỏa kịp thời lượng độc tố khổng lồ đang tích tụ này, từng nốt rễ no độc sẽ lần lượt phát nổ như những bọc lôi hỏa dưới đáy bùn, giải phóng toàn bộ dòng trọc tức biến tính cực độc thiêu rụi hoàn toàn mạng rễ non vừa kết nối về Giếng Cạn.

— Bánh xe số một vào vị trí ngay! Đổ thêm vôi tôi xuống đáy chum! Nhanh cái tay lên, đừng để nó sôi tràn ra ngoài!

Tiếng quát lanh lảnh, đanh thép của Tạ Hạnh vang lên át cả tiếng sấm rền từ đằng xa. Người phụ nữ góa bụa của xưởng gốm Lò Đất Kín lúc này trùm kín mít đầu bằng một manh bao tải gai thô ráp, chiếc tạp dề bằng da thuộc dày cộp buộc ngang hông bê bết những bùn non và vôi trắng xóa. Phía sau lưng bà, bảy chiếc xe cải tiến cọt kẹt nghiến bánh trên con đường bờ đất trơn như đổ mỡ. Mỗi chiếc xe chở theo ba chiếc chum gốm nung men kép thành dày hơn một tấc—thứ đồ gốm chịu nhiệt đặc biệt do chính tay bà nung thử nghiệm ròng rã suốt hai tháng qua. Trong lòng mỗi chiếc chum đã được quét sẵn một lớp lót vôi tôi hòa với bột tro trấu dày cộp, tỏa ra làn hơi kiềm nồng nặc để sẵn sàng trung hòa nhiệt lượng hung hãn của trọc tức.

Hai người thợ làm vườn lành nghề nhất của thôn, tay cầm những con dao tre cật vót mỏng ngâm đẫm nước bồ hòn, quỳ mọp cả người xuống bùn lầy buốt giá. Họ luồn hai cánh tay trần xuống dưới lớp bùn nhão nhờn nhợt quanh mép bờ ruộng số bốn. Bằng những động tác chuẩn xác, tỉ mỉ từng li từng tí như những người thợ chạm ngọc khảm xà cừ, họ khéo léo lách lưỡi dao tre sắc ngọt, cắt vát từng nốt rễ đã căng mọng tím ngắt rời khỏi thân rễ chính mà không để mũi dao chạm phạm vào sợi rễ cái màu lam ngọc đang run rẩy bên dưới.

— Nốt thứ nhất! Độc tính cực nặng, màng xơ đã bắt đầu rạn nứt! — Một người thợ thét lên qua lớp khăn che mặt, hai tay dùng chiếc kẹp tre kẹp chặt lấy khối xơ tròn sần sùi đang bốc khói khét lẹt đưa lên khỏi mặt nước bùn.

Tạ Hạnh không hề chớp mắt, đôi bàn tay thô ráp rắn rỏi của bà không run rẩy lấy một phần mười tấc. Chiếc kẹp sắt dài trong tay bà vồ lấy nốt rễ tím ngắt ngay giữa không trung, đặt chuẩn xác từng milimét vào đáy chiếc chum nung phủ lớp vôi tôi. Vừa chạm đáy chum, khối độc chất sền sệt lập tức xèo lên một tiếng dữ dội như mỡ sôi rớt vào than hồng. Khói xám đặc quánh bốc nghi ngút trong lòng chum, nhưng lớp vôi kiềm đặc quánh đã nhanh chóng ôm trọn lấy nó, ghìm giữ nhiệt lượng đang sôi sục, ngăn không cho màng xơ bọc độc bị bục vỡ tan tành.

— Đậy nắp gờ hai tầng ngay! Trám vữa sét trộn bột sắt quanh mép nắp! — Tạ Hạnh hô lớn, đích thân cầm chiếc bay sắt quết từng mảng vữa dẻo quánh bít kín toàn bộ khe hở quanh miệng chum, sau đó dập chiếc nắp gốm nặng trịch xuống bằng một cú nện dứt khoát.

Từng chiếc chum nung no nê những nốt rễ độc được niêm phong cấp tốc ngay tại mép ruộng ngập nước. Đám tráng đinh lập tức hò hét, dùng đòn khiêng vần những chiếc chum nặng trịch lên thùng xe cải tiến, hối hả đẩy bánh xe trượt đi trên mặt bùn, đưa thẳng ngược về phía xưởng gốm Lò Đất Kín. Ở đó, ba căn hầm ngầm cách ly độc lập đã được chuẩn bị sẵn sàng theo đúng quy chế khóa kép nghiêm ngặt, sâu dưới lòng đất sỏi để giam giữ độc chất.

Không một giọt dịch độc màu tím nào rỉ ra ngoài bùn đất. Không một chiếc chum men kép nào bị nứt vỡ dưới áp suất sôi trào của trọc tức. Tạ Hạnh đưa mu bàn tay quệt vội giọt mồ hôi nóng hổi hòa lẫn nước mưa buốt lạnh đang chảy tràn trên trán, ánh mắt bà sắc như dao cạo, nhìn chằm chằm vào từng vệt khói độc cuối cùng bị dập tắt hoàn toàn dưới lớp nắp niêm phong kín đặc.

***

Cách bờ ruộng số bốn chưa đầy ba mươi bước chân, trên một doi đất cao ráo rậm rạp dưới tán của một cây dẻ già trăm tuổi, một túp lều bạt dã chiến bằng vải dầu đã được dựng lên kiên cố từ nửa đêm.

Gió bão từng đợt rít qua tàn cây dẻ, làm những chiếc cọc tre níu dây thừng quanh lều rung lên bần bật, kêu ken két. Nhưng bên trong lều, hai ngọn đèn dầu hạt cải vẫn cháy sáng ổn định, đứng vững trong những chiếc lồng kính chắn gió dày dặn. Mùi thảo dược ấm nồng, cay dịu của ngải cứu khô, rễ bách bộ và lá kinh giới bốc lên ngùn ngụt từ hai chiếc nồi đất lớn đặt trên bếp than trấu đỏ rực, xua tan hoàn toàn cái mùi tanh tưởi, lợm giọng của trọc tức và bùn ôi ngoài đồng ruộng.

— Đưa người này vào trong góc khô ráo! Cắt bỏ lớp áo tơi bết bùn ngay lập tức! — Giọng Đào Nguyệt vang lên, điềm tĩnh, rành rọt và vững vàng như một điểm tựa giữa tâm bão.

Bà giáo Bùi Sương đứng túc trực bên cạnh chiếc chậu đồng lớn, hai bàn tay thoăn thoắt nhúng những dải khăn vải màn sạch tinh vào chậu nước cốt cam thảo đặc quánh đã nguội bớt, vắt ráo nước rồi chuyền sang cho cô. Trên tấm dát tre trải giữa lòng lều, năm người dân đinh thuộc các kíp đào đắp đầu tiên đang nằm thở dốc. Mặt họ xám ngoét như da người chết, đôi môi tím tái vì lạnh và trúng độc khí, hai mắt nhắm nghiền sưng húp híp, và những cơn ho sặc sụa kéo dài từng chặp không dứt làm rung bần bật cả lồng ngực gầy guộc. Đó là hậu quả của việc hít phải luồng khí trọc đậm đặc bốc lên trong những phút đầu tiên khi con mương bị rạn nứt.

Đào Nguyệt quỳ gối xuống bên cạnh người thợ trẻ tên Sanh, ngón tay thon thả của cô nhẹ nhàng nhưng vô cùng dứt khoát vạch mi mắt của anh ta ra kiểm tra. Kết mạc mắt đỏ rực như máu ứ, những hạt bụi khoáng xích thiết li ti màu nâu đen vẫn còn bám dính nơi khóe mi và viền mí mắt:

— May mắn là chưa bị thủng giác mạc. Chỉ mới bị bỏng rát lớp niêm mạc bên ngoài do hơi axit và tro quặng xông vào. Đưa ống tre và nước cam thảo lại đây cho tôi!

Cô dùng một chiếc ống tre nhỏ đã được vót nhẵn bóng mép ngoài, hút từng ngụm nước cốt cam thảo ấm pha muối hạt tinh khiết, nghiêng nhẹ đầu người bệnh rồi từ từ nhỏ từng giọt nước thảo dược êm dịu vào khóe mắt anh ta. Bụi khoáng đen li ti theo dòng nước thuốc cuốn trôi dần ra ngoài, làm dịu đi cảm giác xót buốt bỏng rát như có hàng ngàn mũi kim châm vào con ngươi. Thằng Sanh rên rỉ lên một tiếng nhẹ nhõm trong cổ họng, đôi mi mắt co giật dần dần thả lỏng ra.

Ở góc lều đối diện, bà Bùi Sương dùng một chiếc phễu bằng đất nung úp ngược trên miệng nồi thảo dược đang bốc khói nghi ngút, luồn chiếc ống trúc nhỏ uốn cong dẫn làn hơi nóng ấm của ngải cứu và rễ bách bộ đưa sát vào lỗ mũi của hai người thợ khác đang thở khò khè:

— Hít sâu vào bằng mũi, rồi từ từ thở hắt ra bằng miệng! Cấm không được nuốt đờm ngược vào trong bụng! Ho mạnh ra chiếc chậu tro dưới chân giường ấy!

Làn hơi thuốc ngải cứu ấm nóng len lỏi vào cuống họng, làm giãn các phế nang đang co thắt dữ dội vì trọc tức ngưng trệ. Từng cục đờm đen sẫm, lẫn lộn tro khoáng xỉ than bị người bệnh ho khạc bắn ra ngoài đáy chậu tro trấu khô. Đào Nguyệt đứng dậy, bước nhanh tới từng chiếc dát tre, thoăn thoắt kiểm tra viền móng tay của cả năm người bệnh. Sắc xanh xám rỉ đồng chỉ mới chớm xuất hiện mờ nhạt ở rìa khóe móng; khi cô dùng ngón tay ấn mạnh vào đầu ngón tay họ rồi buông ra, sắc máu hồng hào đã nhanh chóng hồi lại sau hai nhịp thở bình thường.

— Cả năm ca này đều chỉ dừng lại ở thể nhẹ, độc khí mới bám vào phế nang ngoài, chưa kịp ngấm sâu vào huyết mạch và tạng phủ. Không có ai nguy hiểm đến tính mạng cả. — Đào Nguyệt ngẩng đầu lên, nói với Bùi Sương bằng một nụ cười kín đáo nhưng nhẹ nhõm. Ánh mắt cô kiên định phi thường, không hề vương một chút hoảng loạn hay bối rối nào của một người thầy thuốc phải đối mặt với thảm họa. — Cho mỗi người uống thêm một bát nước sắc hoàng cầm đặc để thanh nhiệt giải độc, rồi cho người chuyển họ về điếm canh khô ráo nghỉ ngơi. Chuẩn bị kíp người sau vào đây, sắc sẵn mười bát nước cốt cam thảo nữa trên bếp lò!

Bên ngoài lều dã chiến, tiếng mưa rừng vẫn lộp bộp gõ dồn dập trên mái bạt vải dầu, nhưng sự trật tự, chuẩn xác và bình tĩnh đến kỳ lạ của hai người phụ nữ thầy thuốc như một chiếc mỏ neo vô hình bằng thép, giữ cho toàn bộ tâm can và tinh thần của người dân cả vùng đất không bị cuốn phăng vào cơn hoảng loạn cuồng loạn của đêm bão.

***

Cùng lúc đó, tại trung tâm sâu kín nhất của xóm làng—nơi đáy sâu hun hút của Giếng Cạn—cuộc chiến sinh tử lại diễn ra trong một không gian hoàn toàn tĩnh lặng, ngột ngạt và cô độc đến rợn người.

Mộc Tầm đang ngập mình trong lớp bùn loãng lạnh ngắt tới tận ngang thắt lưng. Dưới đáy giếng sâu hơn năm trượng, không khí đặc quánh hơi ẩm mát lạnh của lòng đất sâu, nhưng ngay dưới đôi bàn chân trần của anh, từng đợt rung động ngầm truyền qua thớ đá vôi từ phía đồng xa vẫn dội lên từng nhịp buốt nhói, âm ỉ như tiếng tim đập của một con quái vật đang thức giấc.

Trước mặt anh, thân cây mẹ Tức Căn sừng sững cắm sâu những xúc tu rễ vào vỉa đá đáy giếng. Hai chiếc lá ngọc bích sẫm màu bóng loáng như ngọc bích cổ thụ đang khẽ run rẩy từng chặp. Những nhánh rễ cái to bằng ngón chân cái tỏa ra bốn phía xung quanh đáy giếng đang gồng mình lên hết mức dưới áp lực độc tố khổng lồ truyền về từ mạng lưới rễ đệm ngoài đồng Thạch Nê. Trên bề mặt nhẵn bóng của các nhánh rễ cái, những vệt sáng lam nhạt nhấp nháy một cách bất an; có lúc chúng bừng sáng lên dữ dội chói mắt, lúc sau lại lịm dần đi như ngọn đèn dầu sắp cạn bấc trước cơn gió lốc. Nhiệt độ của lớp bùn quanh gốc rễ mẹ đang ấm dần lên từng khắc do lượng độc tố từ xa dồn ứ tụ lại chưa kịp tiêu tán.

Mộc Tầm quỳ gối sâu hơn trong bùn nhão, hai bàn tay trần cẩn thận vốc từng tảng mùn ướt được ủ kỹ lưỡng từ lá bồ hòn mục và tro rơm rạ ẩm, nhẹ nhàng đắp từng lớp mỏng quanh bọng rễ cái của cây mẹ. Anh không dùng cuốc, không dùng xẻng sắt, sợ rằng bất kỳ một chấn động cơ học thô bạo nào dù là nhỏ nhất cũng có thể làm tổn thương đến lớp màng sinh học mỏng manh đang căng mình chịu đựng của rễ. Từng lớp bùn mát lạnh được bàn tay anh vuốt ve phẳng phiu, bao bọc che chở lấy phần vỏ rễ đang nóng ran lên vì độc khí.

Phía trên đỉnh đầu, anh đã cẩn thận chằng néo ba tầng phên nứa đan dày mắt, che kín miệng giếng để ngăn không cho bất kỳ một giọt nước mưa chứa bụi axit nào từ trên cao nhỏ thẳng xuống phiến lá non nớt của cây.

Đột nhiên, một luồng xung lực cực mạnh từ lòng đất dội thốc tới. Nhánh rễ cái lớn nhất nối thẳng về hướng cánh đồng Thạch Nê co giật bạo liệt như một con rắn trúng tên. Một nốt rễ nhỏ nằm ngay nơi kẽ rạn nứt cũ phát ra tiếng rít the thé, chói tai, bốc lên một làn khói mỏng khét lẹt mùi lưu huỳnh nồng nặc. Sự sống của toàn bộ cây mẹ chao đảo dữ dội trên bờ vực sụp đổ. Nỗi sợ hãi tột cùng bùng cháy lên trong lồng ngực Mộc Tầm. Bản năng tu luyện của một tu sĩ Dẫn Khí tầng ba gào thét dữ dội trong tâm trí anh: *Rót mộc linh khí vào! Mau dùng linh lực đan điền trấn áp luồng trọc khí này! Dùng linh khí thuần khiết để che chở cho rễ mẹ!*

Bàn tay anh run lên bần bật, luồng khí tức thanh khiết, ấm áp tích tụ nơi đan điền đã chực tràn ra các kinh mạch ở đầu mười ngón tay, chực phóng thích vào thân cây.

Nhưng ngay đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, vết sẹo hoại tử cũ trên ngón tay trỏ của anh nhói buốt lên như bị than hồng dí vào da thịt. Lời răn dạy nghiêm khắc, lạnh lùng của bà Bùi Sương, bài học đắt giá bằng máu và nước mắt về cái chết cháy rũ của mầm cây con thứ hai trong chậu đất tháng trước, và ánh mắt nghiêm nghị của toàn bộ thành viên Hội giữ đất hiện lên rõ mồn một trước mắt anh như một bức tường ngăn cách.

Tức Căn tuyệt đối không phải là thứ linh dược nuôi bằng ngọc thạch hay đan điền của tu sĩ. Nó sinh ra từ bùn lầy, sống bằng sự cân bằng khắc nghiệt của đất mẹ, bằng nhịp thở tự nhiên của bùn đất và nước thối, và nó tuyệt đối cự tuyệt thứ linh khí thuần dương áp đặt đầy kiêu ngạo của con người. Cưỡng ép nó nuốt trọc tức bằng cách bơm linh lực của tu sĩ vào cuống rễ chỉ biến nó thành một khối lửa thiêu rụi toàn bộ sự sống thành tàn tro trong tích tắc.

— Không... tuyệt đối không được làm bậy... — Mộc Tầm nghiến chặt hai hàm răng vào nhau đến mức ứa máu tươi nơi khóe môi, dùng toàn bộ ý chí sắt đá cưỡng ép thu hồi toàn bộ luồng linh khí đang chực bộc phát trở về sâu trong đan điền tĩnh lặng.

Anh buông lỏng hoàn toàn nội lực, dập tắt mọi gợn sóng linh tức trong cơ thể, chỉ dùng duy nhất hơi ấm tự nhiên của da thịt con người và sự kiên nhẫn thuần túy của một người làm vườn chất phác. Anh áp trọn hai lòng bàn tay trần đẫm bùn của mình vào thớ rễ đang run rẩy bần bật, nhẹ nhàng mơn trớn từng thớ vỏ xơ cứng ráp, dùng lớp bùn mùn mát lạnh xoa dịu đi nhiệt lượng bỏng rát đang thiêu đốt bên trong nó. Anh thì thầm những lời cầu nguyện không thành tiếng vào thớ đất bùn sâu, hòa nhịp thở dồn dập của lồng ngực mình vào nhịp co bóp chậm rãi, nhọc nhằn của rễ cây.

Như cảm nhận được sự nhẫn nại, khiêm nhường và tôn trọng tuyệt đối ấy của con người, nhánh rễ cái từ từ ngừng co giật. Vệt sáng lam nhạt chập chờn dịu lại, chuyển dần sang một sắc xanh biếc êm ả, sâu thẳm như màu ngọc cẩm thạch ngâm dưới đáy giếng cổ. Các nốt sần nhỏ se miệng lại, bám chặt vào vỉa đá vôi ngậm ẩm, tiếp tục âm thầm, bền bỉ lọc bỏ từng phân tử độc tố quặng đang truyền về mà không hề phát nổ thêm một lần nào nữa.

Mộc Tầm ngửa đầu tựa lưng vào vách đá ướt lạnh của đáy giếng, thở hắt ra một hơi dài kiệt sức. Cả người anh mềm nhũn ra trong lớp bùn lầy, nhưng trên khóe môi lem luốc bùn đất lại nở một nụ cười thanh thản lạ kỳ giữa bóng tối lờ mờ của đáy sâu.

***

Trời bắt đầu rạng sáng dần từ phía chân trời xa.

Dưới mái hiên tre của điếm canh Thạch Nê, gió bão cuồng nộ suốt đêm đã ngớt hẳn, chỉ còn lại những hạt mưa phùn li ti giăng giăng mờ ảo như một dải lụa bạc mỏng phủ khắp cánh đồng bùn lầy.

Mộc An ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát vách nứa của điếm canh. Suốt một đêm dài dằng dặc, cô không hề chợp mắt dù chỉ một tích tắc. Trước mặt cô, cuốn sổ bìa da mộc của Hội giữ đất Hạ Khê mở rộng phẳng phiu, từng trang giấy bản dày dặn được che chắn cẩn thận dưới một tấm da dê khô để tránh hơi ẩm rỉ vào. Ngọn đèn dầu lạc đã cạn kiệt đến bấc, ánh lửa vàng vọt soi rõ từng dòng chữ mực tàu đen nhánh, sắc nét, ngay ngắn và vuông vức được ghi chép liên tục theo từng canh giờ:

*“Canh ba: Kíp một đến kíp năm đắp bờ bao thửa số bốn, tiêu hao tổng cộng bốn trăm sáu mươi bao đất sét nện, sáu mươi tấm phên nứa cài then, mười tám cọc gỗ lim giữ chân đê.* *Canh tư: Năm dân đinh nhiễm độc hơi quặng nhẹ tại mép mương dẫn nhánh tây, đã sơ cứu kịp thời bằng ba thăng nước cam thảo, hai liều xông ngải cứu bách bộ; mạch đập ổn định, hồi phục tốt, không có thương vong về người.* *Gần sáng: Kè mương nhánh đông bị xói lở mười hai trượng do bùn tràn cục bộ; thu gom và niêm phong an toàn tuyệt đối hai mươi tư nốt rễ bão hòa vào mười hai chum gốm men kép, chuyển nhập kho hầm Lò Đất Kín có chữ ký biên nhận của Tạ Hạnh.”*

Từng con số khô khốc, từng mét bờ kè đất, từng bao sét và từng bát thuốc cứu mạng người đều được ngòi bút của Mộc An ghi lại bằng một sự chuẩn xác lạnh lùng, tỉ mỉ nhưng chan chứa sự chở che bền bỉ. Đó không đơn thuần chỉ là những dòng kê khai tổn thất mùa màng hay nhật ký lao dịch, mà chính là bản minh chứng bằng máu, mồ hôi và phẩm giá cho quyền sinh tồn bất khả xâm phạm của cả một cộng đồng dân nghèo trước hiểm họa bị hủy diệt.

Bên ngoài hiên điếm canh, dòng lũ đen ngòm từ Khe Táng Thủy đã hoàn toàn ngừng dâng. Nước lũ trên đồng rút dần qua các rãnh xả phụ mà Lâm Diệp và toán thợ đã khai thông, để lại một lớp phù sa quánh đặc bám đầy cỏ cây.

Thửa ruộng số bốn lúc này đã biến thành một vũng bùn xám ngắt, phẳng lì, im lìm và lạnh lẽo như một nấm mồ khổng lồ nuốt trọn toàn bộ sinh khí. Toàn bộ những gióng lúa non đang kỳ ngậm sữa của gia đình Trịnh Bách đã vĩnh viễn nằm sâu dưới ba thước bùn quặng cô đặc. Thửa ruộng ấy đã chết rũ, hy sinh trọn vẹn sự sống của mình để làm tròn sứ mệnh của một chiếc túi đệm cứu nạn, gánh chịu toàn bộ đòn giáng hủy diệt thay cho cả vùng đồng bằng.

Thế nhưng, ngay sát bên bờ bao ngăn cách vững chãi, một cảnh tượng kỳ diệu và xúc động bừng sáng dưới ánh bình minh xám nhạt vừa rạng rỡ xuyên qua màn sương sớm.

Ba thửa ruộng lúa non còn lại—thửa số một, thửa số hai và thửa số ba—vẫn sừng sững đứng vững vàng giữa đất trời bao la. Dù một số đọt lá lúa non ở những hàng rìa tiếp giáp sát bờ bao bị táp vàng, cháy sém khô khốc do làn hơi độc bốc lên trong đêm, nhưng thân cây lúa vẫn vươn thẳng tắp, xanh biếc mơn mởn, đón lấy từng giọt sương mai trong lành. Rễ cái của chúng, nhờ sự chở che kiên cường của mạng lưới Tức Căn ngầm dưới lòng đất và lượng nước ngọt mát lành được phân tán nhịp nhàng qua con mương phụ, đã bám sâu, cắm chặt vào tầng phù sa màu mỡ tơi xốp bên dưới. Mùi đất mới ngọt ngào, phảng phất hương thơm thanh khiết của sự sống quật cường, bắt đầu lan tỏa ngào ngạt khắp cánh đồng sau một đêm đại nạn kinh hoàng.

Phạm Nghi, Trịnh Bách cùng hàng chục người dân làng đứng lặng trên bờ đê cao. Họ nhìn ngắm ba thửa lúa non xanh rờn đang rung rinh trong gió sớm mà hai hàng nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi má đen sạm bết dính bùn đất. Họ đã giữ được mảnh đất này, giữ được vụ mùa sinh tử này, không phải bằng phép thuật nhiệm màu của các bậc tiên nhân trên núi cao, cũng không phải bằng sự bố thí rẻ rúng của phường thương buôn xảo quyệt, mà bằng chính hàng chục đôi bàn tay chai sạn, nứt nẻ đã xiết chặt lấy nhau bước qua một đêm sinh tử.

Thế nhưng, sự bình yên mong manh vừa hé lộ giữa đất trời chưa được bao lâu thì từ phía chân trời mù mịt của Khe Táng Thủy bỗng vang lên những tiếng rít chói tai xé toạc màn sương sớm tĩnh mịch.

*Vút! Vút! Vút!*

Ba đạo kiếm quang rực sáng ánh lửa đỏ bốc cao vút lên không trung, mang theo luồng uy áp sắc lạnh nặng nề bổ nhào từ đỉnh núi xuống như chim ưng vồ mồi. Tiếng chân áo đạo bào phần phật hòa cùng tiếng kim loại va chạm leng keng vang dội khắp thung lũng đá.

Tống Khuê, trong bộ đạo bào màu lam viền xích hỏa lộng lẫy của một Chấp sự Trúc Cơ, cùng đội hộ pháp kiếm quang rực sáng đáp thẳng xuống trước cửa cống ngầm Khe Táng Thủy, phong tỏa hoàn toàn đường tiếp cận của đoàn nha dịch đang hối hả chạy tới từ phía trạm dịch Bình Xuyên.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories