Phong Tỏa Không Cần Rút Kiếm
Lớp bùn non dưới đáy mương dẫn nước từ cửa núi nứt toác thành từng mảng xám ngoét chỉ sau nửa ngày van xả thượng nguồn bị hạ chốt sắt.
Gió nóng từ phía thung lũng quẩn quanh bờ đất khô khốc, cuốn theo mùi chua nồng của phèn quặng chưa kịp rửa trôi. Mộc Tầm quỳ một chân bên mép mương, bàn tay cắm sâu vào lớp bùn vừa se cứng lại. Lớp bùn mặt đã ráo hoảnh, nứt nẻ thành những hình đa giác sắc lẹm như mảnh sành vỡ, nhưng bên dưới ba lóng tay vẫn còn sót lại chút ẩm ướt lầy nhầy mang sắc đen bầm của quặng rỉ. Đáy mương nơi tiếp giáp với cống đá dẫn vào bốn thửa ruộng Thạch Nê chỉ còn sót lại vài vũng nước tù màu váng đồng thau, sủi những bóng bọt li ti rồi vỡ tan dưới nắng gắt đầu giờ ngọ.
Mỗi bóng bọt vỡ ra đều giải phóng một làn hơi mỏng khét lẹt, thứ mùi của rỉ sắt ngâm lâu năm trong hầm tối kết hợp với bột lưu huỳnh chưa tan. Mộc Tầm rút bàn tay lên, đưa ngón trỏ lên mũi ngửi thử. Vị chua chát xộc thẳng vào cuống họng khiến cơ hoành của anh khẽ thắt lại. Nước đã rút nhanh hơn dự tính. Khi áp lực dòng chảy từ trên dốc tụt xuống con số không, các mao dẫn ngầm trong đất không còn sức đẩy để tống trọc khí ra ngoài, mà ngược lại, đang bắt đầu hút ngược khí nóng từ vỉa đá sâu lên bề mặt.
Phía đầu dốc, bản thông tri bằng giấy bổi viền vàng dán chết trên trụ đá phân thủy vẫn còn ươn ướt vết hồ dán vội. Nắng trưa rọi thẳng vào mặt giấy làm lớp bột sắn khô cong, mép giấy quăn lên như cánh ve sầu. Mực nho đậm nét chữ cứng nhắc, sắc cạnh của Chấp sự phòng Thanh Lộ Tông:
*“Phụng lệnh điều tiết thủy mạch thượng lưu. Do kết cấu chân tháp trận hộ sơn tại Hỏa Linh Phong xuất hiện vết rạn áp lực trong kỳ hạn vận chuyển linh khí mùa hạ, xét thấy mực nước hồ trữ Khe Táng Thủy suy giảm đe dọa trực tiếp an nguy toàn sơn môn, nay tạm thời đình chỉ lưu lượng tràn tự do tại tất cả các cửa cống thứ cấp phía nam. Toàn bộ nguồn nước mặt từ cao trình năm trăm thước trở lên phải thu hồi về hào bảo hộ chân trận. Mọi khế ước cung ứng dân sự tạm hoãn hiệu lực thi hành theo điều lệ khẩn cấp của bản tông.”*
Dưới chân văn tự là dấu triện tròn khắc ba nhánh phù văn ngọn lửa của Tống Khuê, nét chu sa đỏ thẫm như một vết máu đông đè nghiến lên mặt đá hoa cương xám xịt. Một lý do không thể bắt bẻ trên mặt giấy tờ: tông môn không hề thừa nhận việc họ cố tình cắt nước để triệt hạ sinh kế của dân làng; họ chỉ đơn giản là đang “bảo vệ trận hộ sơn” theo quyền hạn tối thượng được quy định từ thời lập phái. Tống Khuê thậm chí không thèm cử lấy một đệ tử ngoại môn hay sai nha chấp pháp xuống giải thích lấy nửa lời. Ông ta chỉ cần sai một tên tạp dịch buông lỏng xích tời, hạ chiếc then sắt nặng ba trăm cân xuống miệng cống giữa đêm khuya thanh vắng, thế là đủ để biến bốn thửa ruộng vừa gieo cấy thành một chiếc chảo rang đá vụn khổng lồ dưới lòng thung lũng.
Mộc An đứng cạnh mép rào tre, vạt áo chàm buộc túm bên hông đã đẫm mồ hôi lưng. Tay nàng cầm cuốn sổ bìa da mộc siết chặt vào mép sườn, những khớp ngón tay thon nhỏ trắng bệch ra vì dùng lực. Nàng không nhìn vào dòng chữ son đỏ chót kia nữa, đôi mắt đen láy đảo nhanh qua từng điều khoản ghi chép bằng mực mờ bên lề cuốn sổ:
— Họ không xé bỏ Phụ lục Giáp-Tý. Họ tính toán từng bước một. Họ chỉ lấy một điều khoản tình trạng khẩn cấp trong Tiên môn Điều lệ ra để đè bẹp văn bản dân sự. Quan huyện Ngô Trực có muốn can thiệp, có muốn đứng về phía dân làng thì cũng vướng phải giới hạn quyền tài phán. Muốn bác bỏ lệnh đóng cống này, Huyện nha phải gửi công văn trần trình lên Phủ đường xin thành lập một đoàn giải trình kỹ thuật trận pháp, đợi người của Tiên ty về đo đạc áp lực mạch linh thạch. Mà một chuyến công văn đi về qua hai ngọn đèo, qua ba cửa ải giấy tờ, ít nhất phải mất nửa tháng ròng.
— Nửa tháng thì mạ non ở Thạch Nê đã hóa thành tro trấu ba lần rồi, — Mộc Tầm rút bàn tay đầy bùn quặng khô ra khỏi kẽ đất, khẽ chà hai lòng bàn tay vào nhau. Lớp da khô cọ vào nhau nghe lạo xạo như hai hòn đá mài. Anh đứng thẳng dậy, nhìn bao quát xuống lòng chảo: bốn thửa ruộng vừa mới hôm qua còn dập dờn sắc xanh mạ non ngậm nước, phản chiếu nền trời biếc, nay đã bắt đầu bốc lên một làn sương mỏng lờ nhờ màu khói rơm.
Đó không phải là hơi ẩm bốc hơi thông thường. Đó là trọc khí bốc hỏa. Thiếu đi một trượng nước mặt ép bên trên, áp suất cân bằng bị phá vỡ, lòng đất Thạch Nê giống như một cái lò nung bị dỡ mất nắp vung.
Đúng lúc đó, một tiếng la hét thất thanh từ triền dốc phía nam vọng lại, xé toạc bầu không khí oi bức ngột ngạt của buổi trưa đứng gió.
Tiếng kim loại va đập chan chát vào đá tảng hòa lẫn tiếng bánh xe gỗ rít gãy ken két. Từ lối mòn dẫn ra Bến Tro, hai thanh niên trong tổ vận chuyển của Hội giữ đất đang hớt hải đẩy chiếc xe cút kít gỗ hai bánh lao thục mạng về phía cổng làng. Bánh xe nghiến trên sỏi lách cách đầy hỗn loạn, một bên then chốt trục xe đã gãy gập từ bao giờ, chỉ được buộc tạm bằng vài tao dây thừng gai tưa đóm đóm, khiến cỗ xe cứ chao đảo chực lật nghiêng sau mỗi bước chạy.
Trịnh Bách, người vừa từ lán thợ đá chạy ra với chiếc búa tạ giắt bên hông, sải bước dài vượt qua vạt mương khô, giơ cánh tay hộ pháp đón lấy càng xe đang chúi nhủi:
— Dừng lại! Sao thế này? Vôi tôi với trấu khô chở từ lò Bến Tro về đâu rồi? Sao xe lại trống trơn thế này?
Người thợ thồ hàng trẻ tuổi buông tay càng, ngã quỵ xuống lớp đất bụi, lồng ngực phập phồng dữ dội như bễ lò rèn. Áo chàm của cậu rách bươm từ bả vai xuống sườn, bên vai trái hằn rõ một vệt bầm tím bầm tím tụ máu dài bằng nửa gang tay, rõ mồn một vết tích của một cú gậy gỗ nghiến giáng thẳng từ trên lưng ngựa. Cậu vừa thở vừa nấc nghẹn, nước mắt lấm lem tro bụi quết ngang mặt:
— Bác Bách... anh Tầm! Bị chặn hết rồi... không còn đường nào qua được nữa! Trạm thu phí Đường Nam... lão Đỗ Kính cho dựng thêm ba tầng rào cọc nghiến bọc sắt! Gia đinh của Vạn Thạch Hành dàn hàng ngang cùng với tuần phu mang gậy sắt, cấm tiệt mọi chuyến xe thồ than củi, vôi bột với chum vò từ chợ vào Hạ Khê!
Trịnh Bách gầm lên, quai hàm bạnh ra dữ tợn, gân xanh nổi cuồn cuộn trên cổ:
— Chặn đường quan lộ à? Con đường ấy huyện nha thu thuế đinh thuế lộ hàng năm, tiền mở đường rải đá dăm mười năm trước dân sáu xóm này đổ mồ hôi ra làm! Vạn Thạch Hành lấy tư cách gì, lấy quyền hành gì mà dám cấm xe dân sự qua lại?
— Chúng nó không nói là cấm! — Người thợ kia đập mạnh nắm tay xuống nền đất khô, uất ức gào lên. — Lũ khốn nạn ấy giở trò văn tự bẩn thỉu! Chúng nó dán trát thông báo bảo đường đá dăm bị sụt lún nền do trọc tức ngầm xói mòn, xe tải nặng chở đá chở vôi đi qua làm hỏng hạ tầng chung, nên phải đóng thêm cái gọi là “phí bảo trì đặc thù”! Trước đây mỗi xe thồ một tạ vôi tôi chỉ mất năm tiền đồng tiền lệ phí qua trạm, nay lão Đỗ Kính phát lệnh tăng vọt lên mười lăm tiền đồng một lượt! Một cỗ xe chum gốm mười cái của chị Tạ Hạnh chở từ lò ngoài về, chúng đòi thu đứt ba mươi tiền đồng!
Cậu thợ nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, giọng khản đặc đi:
— Ba mươi tiền đồng cho một chuyến xe sành! Ai không nộp đủ tiền mặt tại chỗ thì phải dỡ toàn bộ hàng xuống để lại thế chấp tại kho trạm gác của chúng! Chúng con lấy đâu ra bạc trắng? Tiền quỹ của Hội chỉ phát đủ tiền ăn đường với tiền lệ phí cũ. Khi chúng con toan quay đầu xe kéo hàng về đường rừng thì bị đám phu quặng của lão cầm gậy xông vào đánh đuổi, xô đổ vỡ mất sáu chum men kép của chị Hạnh! Chúng nó còn cười bảo... bảo để xem đất Thạch Nê không có vôi sống thì sống sót qua con trăng này bằng cách nào!
Mộc Tầm siết chặt bàn tay, những đốt ngón tay ken két phát ra âm thanh khô khốc. Lớp bùn quặng bám trên da thịt anh rụng lả tả xuống chân.
Một đòn kẹp đôi tàn khốc, chuẩn xác và lạnh lùng đến rợn người.
Thanh Lộ Tông hạ chốt sắt trên nguồn nước mặt, khóa chặt mạch sống từ trên cao. Vạn Thạch Hành hạ rào cọc trên đường bộ, bóp nghẹt huyết mạch vật tư từ dưới thấp. Tống Khuê và Đỗ Kính không cần rút ra một thanh bảo kiếm, không cần huy động một đạo quân tiên môn hay xua hàng trăm gia đinh tràn vào xóm Giếng Cạn để đối đầu trực diện với Lệnh bảo toàn hiện trạng có triện đỏ của Huyện nha Bình Xuyên. Chúng không cần vi phạm bất kỳ một quy định hành chính rõ ràng nào để huyện lệnh Ngô Trực có cớ đem lính cơ xuống can thiệp. Chúng chỉ việc siết chặt hai đầu yết hầu sinh tử: không nước ngọt để pha loãng lượng trọc tức bốc lên từ lòng đất mỗi ngày, và không có vôi tôi, than trấu hay chum gốm men kép để thu gom, chôn lấp những khối nốt sần độc hại đang rỉ ra từng canh giờ.
Bên bờ ruộng số một Thạch Nê, hậu quả của đòn phong tỏa kép giáng xuống nhanh hơn bất kỳ dự liệu bi quan nào.
Dưới cái nắng ran ran của buổi trưa không một giọt nước tiếp ứng, lớp mùn xốp mỏng manh mà Tức Căn dày công tạo dựng suốt một tháng qua bắt đầu co rút lại. Những ngọn mạ non vừa nhú lên được hai đốt ngón tay — vốn đang tươi mơn mởn nhờ dòng nước ngọt lọc ba tầng qua bể lắng — bắt đầu quăn mép lại. Màu xanh ngọc non nớt của lá lúa ngả dần sang màu vàng vôi nhợt nhạt, rồi mép lá cuộn tròn tít lại như những đầu kim khâu cắm thẳng lên trời để chống chọi với sự thoát hơi nước.
Mùi tanh lợm của trọc tức sun-fua từ các túi quặng nằm sâu dưới đáy đá vôi không còn áp lực của lớp nước mặt đè nén, bắt đầu bốc ngược lên theo các mao dẫn đất khô hạn. Chúng thiêu đốt những chóp rễ tơ non nớt vừa mới nhú ra thăm dò lớp đất thịt.
Mộc Tầm ngồi thụp xuống bờ ruộng số hai, áp cả hai lòng bàn tay trần vào tầng đất mặt.
Dưới lớp đất dày chỉ chừng nửa tấc, thông qua cảm ứng tinh tế của một người đã gắn bó sinh mệnh với từng mạch đất, anh cảm nhận được rõ mồn một từng đợt rung giật bất an, đứt quãng của mạng rễ Tức Căn. Mạng rễ ngầm đang hoảng loạn. Các nốt sần dọc thân rễ cái phình to ra một cách bất thường, lớp vỏ xơ màu chì căng cứng như lớp da trống bị nung nóng trên lửa than, chỉ chực bục vỡ vì phải hút dồn trọc tức trong tình trạng hoàn toàn thiếu nước hòa tan. Chúng đang bốc hỏa. Nhiệt độ truyền qua lòng bàn tay Mộc Tầm nóng ran như sờ vào mu rùa nung.
Nếu không có một lượng nước lạnh đáng kể làm mát biểu bì trong vòng mười hai canh giờ tới, toàn bộ mạng rễ non dài hơn nửa dặm nối từ Giếng Cạn ra tận mép Thạch Nê sẽ tự phát hỏa thiêu rụi từ bên trong, biến một mẫu hai sào ruộng cứu đói thành một bãi xỉ quặng ngập tràn độc tố không còn cách nào cứu vãn.
— Tầm! Mau lên Lò Đất Kín! Mau lên!
Tiếng gọi thất thanh, gấp gáp của Đào Nguyệt vang lên từ bờ mương phía tây đồi sỏi. Cô gái trẻ chạy thốc tới, vạt áo nhuộm thuốc màu nâu nhạt còn vương đầy bột hoàng cầm vàng óng, hơi thở dồn dập đến mức hai bả vai rung lên bần bật:
— Chị Tạ Hạnh... chị ấy sắp không giữ nổi kho chứa nữa rồi! Các bình độc bắt đầu phản ứng nghịch!
Mộc Tầm không chần chừ một khắc. Anh bật dậy, cùng Mộc An và Trịnh Bách vội vã băng qua vạt đồi sỏi lởm chởm, lao thục mạng lên gò đất cao phía đông làng — nơi đặt cụm Lò Đất Kín của gia đình Tạ Hạnh.
Cổng sắt của xưởng gốm mở toang hoác. Vừa bước chân qua ngạch cửa đất nung, một làn khói xám nhạt mang mùi lưu huỳnh hắc nồng nặc lập tức xộc thẳng vào mắt mũi khiến cả bốn người phải giật lùi lại, ho sặc sụa. Đào Nguyệt nhanh tay rút ra mấy mảnh vải tẩm giấm chua đưa cho mọi người bịt mũi.
Giữa khoảng sân nện đất sét chịu lửa của lò, Tạ Hạnh đang một mình dùng một chiếc xẻng sắt cán dài cào từng xẻng bùn ướt phủ lên miệng một hố đất sâu. Mồ hôi làm bết những lọn tóc đen nhánh trước trán người phụ nữ góa, gương mặt bà đỏ lựng vì sức nóng tỏa ra từ đáy hố, hai cánh tay run rẩy bần bật như sắp quỵ ngã.
Xung quanh bà, hơn hai mươi chiếc chum gốm men kép xếp thành dãy dài sát chân tường gạch chịu lửa. Ba chiếc trong số đó đang phát ra những tiếng xèo xèo ghê rợn như mỡ sôi trên chảo gang. Nắp chum bằng đất nung dày hai tấc bị áp suất khí độc bên trong đẩy lên, rung bần bật, va đập vào miệng bình côm cốp. Từ các kẽ nứt li ti quanh miệng bình nơi lớp vữa trám cũ đã bong tróc, từng giọt dịch đen sẫm đặc quánh như hắc ín đang rỉ ra, nhỏ tong tòng xuống nền gạch, sủi bọt trắng xóa và bốc lên từng cụm khói cay xè làm mờ mịt cả gian xưởng.
— Hết sạch rồi! Không còn gì nữa cả! — Tạ Hạnh buông rơi chiếc xẻng sắt xuống đất đánh *keng* một tiếng chát chúa. Bà quay lại nhìn Mộc Tầm với đôi mắt vằn đỏ những tia máu vì khói độc, giọng khản đặc và đứt quãng trong tuyệt vọng. — Kho dự trữ tro trấu khô cạn đáy từ sáng nay rồi! Vôi tôi loại một để quấy vữa trám miệng bình cũng không còn lấy nửa gáo! Đám nốt rễ các cậu đào lên từ hố thu gom số một chiều qua ngậm độc quá nặng, gặp khí nóng ban trưa bắt đầu rỉ dịch biến tính!
Bà thở hắt ra, đưa mu bàn tay áo quệt ngang trán nhưng chỉ làm lem thêm những vệt than đen:
— Không có tro trấu hút ẩm, không có vôi sống dập nhiệt để trét kín khe nắp, chỉ cần hai canh giờ nữa thôi, áp suất trọc khí sẽ phá tung toàn bộ nắp bình sành! Độc khí lưu huỳnh ngậm quặng mà thoát ra, tràn xuống mạch nước ngầm dưới chân móng lò, thì đừng nói là ruộng lúa Thạch Nê, cả cái giếng ăn của xóm Giếng Cạn này cũng biến thành một cái hố độc chết người!
Tạ Hạnh chỉ tay về phía góc kho trống hoác, nơi chỉ còn trơ lại vài cái sọt tre rách:
— Chuyến xe thồ vôi với tro trấu của tôi vừa bị Vạn Thạch Hành giữ lại ở trạm Đường Nam rồi. Lão Đỗ Kính đòi nộp phạt sáu mươi tiền đồng mới chịu thả hàng ra! Hội giữ đất của các người lấy đâu ra tiền mà chuộc? Bản thân tôi chỉ là một người thợ gốm góa bụa, tôi không thể gánh món nợ này thay các người được! Nếu trong chiều nay không có vôi trám nắp, tôi buộc phải dùng quyền chủ lò để trục xuất toàn bộ số chum độc này ra khỏi khuôn viên! Tôi không thể để con trai tôi chết ngạt trong cái lò này được! Các người có hiểu không?
Tiếng thét xé lòng của Tạ Hạnh như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự kiên nhẫn vốn đã căng như dây đàn của những người có mặt. Đào Nguyệt cúi đầu, hai tay siết chặt túi thảo dược; Trịnh Bách đứng chôn chân tại chỗ, bàn tay nắm chặt cán búa tạ đến mức các khớp ngón kêu lách cách nhưng không thể thốt ra được một lời phản bác.
Bà nói không sai. Tạ Hạnh đã cho Hội mượn kho, mượn lò, mượn tay nghề làm gốm chịu lửa của bà để chứa thứ phế thải nguy hiểm nhất mà không đòi một đồng tiền thuê. Nhưng khi hiểm họa bục vỡ đe dọa trực tiếp mạng sống của đứa con thơ đang nép sau cánh cửa buồng trong kia, lòng trắc ẩn của một người mẹ buộc phải biến thành sự tự vệ tàn nhẫn.
Tin dữ từ trạm thu phí Đường Nam và nguy cơ vỡ bình độc tại Lò Đất Kín lan nhanh như lửa bén rơm khô khắp sáu xóm Hạ Khê. Người ta truyền tai nhau qua bờ rào, qua miệng giếng, qua những con ngõ đất bụi bặm. Đến đầu giờ chiều, hơn bốn mươi người dân — gồm cả các nông hộ ở lại kiên trì bám đất lẫn những thân nhân, người đại diện của các gia đình đã di cư tản mát — đã lũ lượt kéo về tụ tập trước sân đình râm mát dưới bóng cây đa cổ thụ.
Bầu không khí dưới tán đa đặc quánh sự hoảng loạn, bức bối và bắt đầu rạn nứt bởi những ánh mắt nghi kỵ.
— Đã bảo từ đầu rồi mà! Dân đen cổ bé họng teo, làm sao đấu lại được tiên môn với đại thương hành! — Một nông lão họ Hoàng, mái tóc bạc phơ xơ xác, run rẩy chống chiếc gậy tre đập mạnh xuống bậc đá sân đình. Giọng ông lão lạc hẳn đi vì sợ hãi. — Tống Chấp sự chỉ cần lắc nhẹ ngón tay một cái là suối cạn mương khô. Đỗ Chưởng quỹ chỉ cần hạ một khúc rào gỗ là một hạt muối, một viên vôi cũng không lọt nổi qua khe núi. Giờ ruộng thì khát nước nứt toác, mạ non sắp chết cháy rụi, kho chum trên lò gốm thì rỉ độc chực nổ tung... Chúng ta lấy cái gì mà gánh? Lấy cái mạng rách này ra mà đền cho người ta à?
— Phải thương lượng thôi! Không còn đường nào khác đâu! — Một người đàn ông trung niên xóm dưới phụ họa theo ngay lập tức, nét mặt méo mó vì sự cùng quẫn. — Hay là... hay là ta cử người lên trạm Đường Nam gặp Đỗ Chưởng quỹ? Tôi nghe người nhà bên chợ Bến Tro bảo lại, Vạn Thạch Hành sẵn sàng bỏ tiền tươi thóc thật ra mua lại toàn bộ giấy ủy quyền canh tác của mấy thửa ruộng Thạch Nê. Họ còn hứa ứng trước cho mỗi hộ hai bao gạo trắng với một vò dầu thắp sáng. Đất đai để cho họ đứng tên quản lý, họ có tiền bạc rủng rỉnh để đóng phí cho tiên môn mở van nước. Dân mình xin làm thuê cấy rẽ lại cho họ, tuy mất quyền làm chủ nhưng ít ra còn giữ được cái mạng qua mùa đói giáp hạt này!
— Bán đất à? Cấy rẽ à? — Trịnh Bách bước xộc tới trước đám đông, hai tay chống mạnh cây búa tạ xuống mặt sân gạch nứt, mắt trợn trừng quát lớn như sấm nổ. — Mấy người quên hai bao gạo trắng hôm trước suýt nữa biến cả nhà tôi thành lũ bán làng phản bạn rồi sao? Đỗ Kính nó mua đất để làm gì? Để nó cắm cọc rào mương, ép các người vào đường cùng rồi siết nợ từng tấc một! Chờ đến khi các người ký giấy xong xuôi, nó đuổi cổ cả họ các người ra khỏi thung lũng như đuổi lũ chó hoang! Ai dám bước chân lên cầu xin thương hành, bước qua cây búa tạ của họ Trịnh này trước đã!
— Bác Bách nói thì dễ nghe lắm! — Người đàn ông trung niên kia không nhượng bộ, gào the thé đáp lại trong cơn tuyệt vọng cùng cực. — Nhà bác còn có sức trâu bò để đập đá thuê kiếm công điểm, nhà tôi chỉ có một bà mẹ già liệt giường với ba đứa con nheo nhóc, lấy cái gì mà nhai đá thay cơm? Giờ nước ngọt không có, vôi trám độc cũng không, ở lại giữ đất để cùng nhau chết ngạt dưới đáy thung lũng này à? Ai chịu trách nhiệm cho mạng sống của con cái chúng tôi? Là Hội giữ đất hay là mấy cái quy chế ghi trên giấy lộn của cô Mộc An?
Tiếng tranh cãi bùng nổ dữ dội như một tổ ong vò vẽ bị chọc thủng. Người đòi nhượng bộ, kẻ đòi buông xuôi, những lời đay nghiến, thở dài và tiếng trẻ con khóc thét hòa lẫn vào nhau.
Những ánh mắt nhìn nhau bắt đầu nhuốm màu e dè và cảnh giác. Mầm mống của sự chia rẽ — thứ độc dược nguy hiểm hơn cả trọc tức lưu huỳnh — bắt đầu len lỏi vào từng gương mặt hốc hác, từng nếp nhăn nheo của những người nông dân cùng quẫn. Người ở lại nghi ngờ người của các hộ di cư ngấm ngầm muốn bán tháo ruộng đất để lấy tiền dời nhà đi xứ khác làm ăn; người di cư lại nơm nớp lo sợ công sức ủy thác của gia đình mình bị xóm Giếng Cạn nuốt trọn khi mùa màng thất bát, sợ bị gán nợ tập thể.
Giữa lúc mớ âm thanh hỗn loạn sắp sửa biến thành một cuộc ẩu đả bạo lực, một bóng người thanh mảnh trong bộ áo vải thô màu nâu sẫm dứt khoát bước ra giữa sân đình.
Là Vũ Liên.
Bà không mang theo quang gánh hay cuốc xẻng như mọi khi. Trên hai tay bà là một bọc vải dầu màu chàm được buộc thắt nút cẩn thận bằng dây bện vỏ đay. Gương mặt người phụ nữ từng bươn chải khắp các nẻo đường di cư Đường Nam đanh lại, đôi mắt sắc sảo và từng trải quét qua đám đông đang nhốn nháo.
Bà không nói nửa lời, sải bước thẳng lên bậc đá cao nhất của sân đình, đứng chắn ngay cạnh Mộc An và Phạm Nghi. Trước ánh mắt ngỡ ngàng của hàng chục con người, Vũ Liên giật tung nút thắt bọc vải dầu.
Bên trong không phải là bạc vụn hay gạo cứu tế như nhiều người thầm hy vọng, mà là một xấp thư từ dày cộm, giấy hoa tiên màu ngà được gấp vuông vức từng mép, bên trên còn nguyên những vệt sáp niêm phong màu đỏ sẫm in nổi dấu triện riêng của Vạn Thạch Hành.
— Các người muốn thương lượng với Đỗ Kính à? — Giọng Vũ Liên vang lên. Đó là một giọng nói không quá lớn nhưng rõ ràng, dứt khoát và lạnh như băng tuyết đầu mùa, át đi toàn bộ tiếng ồn ào đang sôi sục dưới sân. — Muốn biết thương hành của các người đối đãi với dân Hạ Khê thế nào thì mở to mắt ra mà nhìn đống giấy này!
Bà rút ra bức thư nằm trên cùng, giơ cao lên giữa ánh nắng chói chang của buổi trưa, rồi cất giọng đọc rành rọt từng chữ:
— *“Gửi hiền muội Vũ Liên. Nếu muội có thể âm thầm thu gom toàn bộ giấy ủy quyền canh tác sáu sào ruộng số ba Thạch Nê của ba hộ họ Tống và họ Hoàng giao nộp cho Vạn Thạch Hành trước ngày rằm, thương hành sẽ lập tức chi trả ba lượng bạc trắng cho mỗi sào đất, không thiếu một đồng. Ngoài ra, đích thân Đỗ mỗ cam kết trích riêng cho muội hai phần mười tiền hoa hồng trên tổng số nông sản khai thác được trong ba năm tới, bảo đảm cho cả gia đình muội một căn nhà gạch khang trang tại phố chợ Bến Tro cùng giấy thông hành miễn thuế qua mọi trạm gác.”*
Cả sân đình bỗng chốc im bặt như tờ. Tiếng gió rít qua kẽ lá đa nghe rõ mồn một. Những người vừa lớn tiếng đòi thương lượng đều sững sờ, mở to mắt nhìn những bức thư có dấu triện đỏ chói lọi đang đung đưa trước gió.
Vũ Liên không dừng lại ở đó. Bà lạnh lùng rút tiếp bức thư thứ hai dán sáp đen tuyền:
— Còn đây là thư gửi đến lán của tôi đêm hôm qua, ngay sau khi van nước trên núi bị khóa chốt sắt: *“Liên muội, tình thế Thạch Nê đã vào chỗ chết. Mau chóng kích động các hộ di cư Đường Nam rút lại quyền canh tác, tuyên bố Hội giữ đất làm rò rỉ độc tố đe dọa khu dân cư, tạo cớ để huyện nha phải thu hồi giấy phép tạm thời. Chỉ cần nội bộ Hạ Khê tự tan rã, món nợ của nhà họ Mộc và toàn bộ khu ruộng Thạch Nê sẽ rơi vào tay thương hành. Phần thưởng của muội sẽ tăng gấp đôi, kèm theo mười bao gạo trắng đưa thẳng về nhà mẹ muội trong đêm.”*
Một tiếng xì xào kinh hoàng dội lên từ đám đông. Người nông lão họ Hoàng run rẩy đánh rơi cây gậy tre xuống thềm đá đánh *cộp*:
— Trời đất quỷ thần ơi... Nó... nó định mua đứt đất tổ tiên của chúng ta với cái giá ba lượng bạc một sào sao? Rồi xúi chúng ta tự cắn xé lẫn nhau để huyện nha tịch thu ruộng?
Vũ Liên bước xuống một bậc đá, hai tay vung mạnh, ném toàn bộ xấp thư từ của Đỗ Kính xuống mặt đất trước mặt đám đông. Những phong thư dán sáp đỏ bay lả tả trong gió trưa, rơi vãi dưới chân những người nông dân đang chết lặng.
— Đỗ Kính đã tìm tôi suốt ba tháng qua! — Vũ Liên dõng dạc nói, lồng ngực phập phồng vì nỗi uất nghẹn dồn nén bấy lâu nay bùng phát. Ánh mắt bà kiên định phi thường, không hề có lấy một tia do dự. — Lão nghĩ tôi là kẻ tha hương cầu thực, thân cô thế cô, chỉ cần quẳng ra vài đồng bạc vụn với lời hứa hoa hồng béo bở là tôi sẽ sẵn sàng bán đứng mồ mả tổ tiên, bán đứng những người anh em đang đổ mồ hôi sôi nước mắt bóc từng vảy đá ở Thạch Nê này! Lão tưởng người Đường Nam chúng tôi bỏ xứ ra đi là không còn biết nhục, không còn biết đau trước cảnh quê nhà bị bóp nghẹt hay sao?
Bà quay người lại, đối diện với Mộc An và Phạm Nghi. Giọng bà trầm xuống nhưng nặng tựa ngàn cân:
— Hôm nay, trước mặt thần hoàng làng xóm và toàn thể bà con hai họ ở lại lẫn ra đi, tôi — Vũ Liên — tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ, từ chối dứt khoát mọi giao dịch ngầm với Đỗ Kính và Vạn Thạch Hành!
Bà thò tay sâu vào trong vạt ngực áo chàm, rút ra một tập trích lục điền bạ bằng giấy bản dày, bên trên đóng dấu đỏ của Huyện nha Bình Xuyên — chính là toàn bộ các bản hợp đồng ủy quyền đất đai của những hộ dân di cư Đường Nam mà bà đã đứng ra gom góp và bảo lãnh bấy lâu nay. Bà tiến tới, đặt trọn vẹn tập giấy tờ ấy vào hai bàn tay đang mở sẵn của Mộc An.
— Toàn bộ sáu sào hai thước đất của các hộ Đường Nam, tôi giao lại hoàn toàn cho Ban điều hành Hội giữ đất Hạ Khê giám sát công khai! Kể từ giờ phút này, mọi quyết định canh tác, chia hoa lợi hay đối phó ngoại dịch đều phải thông qua sổ công điểm của Hội, ghi chép minh bạch từng chữ, công khai từng hào. Không một ai — kể cả bản thân tôi — có quyền tự tiện thương lượng riêng lẻ với bất kỳ thương nhân hay thế lực nào bên ngoài nữa!
Hành động dứt khoát, minh bạch đến tận cùng của Vũ Liên giống như một nhát búa tạ đập tan tành tảng băng hoài nghi đang đè nặng lên lòng chảo Thạch Nê.
Khoảng sân đình lặng ngắt trong vài nhịp thở dài. Không một ai cất lời, chỉ có tiếng lá khô xào xạc dưới chân. Rồi bỗng nhiên, người thợ mộc già họ Tống — người từng cầm cuốc muốn đắp bờ chặn mương giữ nước riêng cho nhà mình hôm trước — lảo đảo bước lên một bước. Ông cúi gập người xuống, nhặt một phong thư của Đỗ Kính lên, dùng đôi bàn tay thô ráp chai sần xé toạc nó làm đôi rồi ném phắt xuống đất:
— Chị Liên nói đúng! Đến một người đàn bà góa bươn chải nơi đất khách quê người còn không thèm ngửi mấy đồng bạc bẩn của Vạn Thạch Hành, bọn đàn ông chúng ta ở lại làng lại hèn hạ đòi quỳ gối xin tha sao? Đất của tổ tiên để lại, dẫu có hóa thành đá thì tro quặng của nó cũng là của người Hạ Khê! Không bán! Một thước cũng không bán!
— Đúng! Tuyệt đối không nhượng bộ một bước nào! — Trịnh Bách vung nắm đấm sắt lên trời, tiếng hô vang dội làm rung rinh cả những chùm rễ đa già buông rủ. — Nước bị cắt thì ta đào mương vét ngầm! Trạm gác bị chặn thì ta dùng đòn gánh gậy gộc hộ tống nhau đi lấy tro! Cùng lắm là liều mạng sống mái một trận với lũ gia đinh Vạn Thạch Hành, chứ quyết không để chúng nó dắt mũi biến ta thành nô lệ trên chính đất làng mình!
Làn sóng phẫn nộ trong chốc lát đã chuyển hóa thành một luồng sinh khí đoàn kết chưa từng thấy. Những ánh mắt nghi kỵ giữa người ở lại và các hộ di cư Đường Nam tan biến hoàn toàn, thay vào đó là sự gắn kết sống còn của những kẻ cùng chung một chiến hào, cùng đứng trên bờ vực sinh tử.
Mộc An siết chặt tập giấy ủy quyền trong tay, khẽ cúi đầu tạ ơn Vũ Liên. Đôi mắt nàng rực sáng, quay sang nhìn Mộc Tầm:
— Anh Tầm, lòng người đã vững rồi. Bây giờ ta phải giải quyết chuyện nước và vôi ngay lập tức.
Mộc Tầm bước lên bậc thềm giữa sân. Anh không nói những lời đao to búa lớn, giọng nói trầm tĩnh, đanh thép của anh lập tức thu hút toàn bộ sự chú ý của đám đông:
— Bà con nghe tôi! Ta không thể ngồi chờ Tống Khuê rủ lòng thương mở van nước, cũng không thể bỏ tiền chuộc vôi của Đỗ Kính để mắc vào cái bẫy nợ nần của hắn. Chúng ta sẽ đánh đổi thời gian bằng chính sức lao động và sự khéo léo của mình.
Anh quay sang phía Tạ Hạnh, người vừa từ lò gốm chạy xuống sân đình:
— Chị Hạnh, trong làng không còn vôi tôi loại một, nhưng tro bếp nguội của sáu xóm tích tụ suốt cả mùa đông qua thì còn rất nhiều trong các chái bếp. Ta sẽ huy động toàn bộ người già và trẻ nhỏ quét dọn tro bếp mịn, đem ngâm với nước lá bồ hòn nấu đặc quánh theo công thức của Đào Nguyệt. Nước kiềm tro bếp ngâm bồ hòn có tính kiềm cao, giàu muối kali và chất tạo keo tự nhiên, có khả năng kết tủa dịch quặng kim loại và dập tắt phản ứng tỏa nhiệt không thua kém gì vôi tôi. Chúng ta sẽ dùng thứ vữa đất sét trộn tro bồ hòn đó để trám tạm thời toàn bộ hai mươi chiếc chum rỉ độc ngay trong chiều nay!
Tạ Hạnh mở to mắt, ngẫm nghĩ một thoáng về đặc tính chịu nhiệt của đất sét và chất kiềm tro trấu, rồi vỗ mạnh một cái xuống đùi:
— Được! Đất sét mịn dưới đáy ao cũ tôi còn tích cả đống sau lò! Trộn tro bếp đãi kỹ với nước bồ hòn đặc sẽ tạo ra lớp keo nguội vừa dẻo vừa bám dính cực tốt, khi gặp nhiệt độ cao của khí độc nó sẽ tự nung chín thành lớp men bảo vệ! Tôi sẽ về nhóm lửa sấy bùn và chuẩn bị cối nghiền ngay lập tức!
— Còn nguồn nước cho mạ non ở Thạch Nê, — Mộc Tầm nhìn sang Lê Cẩn, người đang đứng dựa vào trụ đá sân đình với khuôn ngực gầy guộc còn quấn băng vải trắng. — Cẩn, cậu là người nắm rõ mạch đá dưới chân đồi tây nhất. Chúng ta phải làm gì để cầm cự?
Lê Cẩn bước tới, trải một mảnh vỏ cây dẻ khô có vẽ ngoằn ngoèo các đường nét địa tầng bằng than củi xuống mặt đất. Dù sắc mặt còn xanh xao do di chứng của những ngày hít phải bụi tro dưới đáy hầm mỏ, ánh mắt của người thợ đào giếng vẫn sắc sảo và tỉnh táo lạ thường:
— Van xả chính trên đập núi bị khóa, nhưng mó nước Giếng Cạn ăn thông với một mạch ngầm rỉ chậm từ vỉa đá vôi sườn tây. Nước ngầm ở đó thanh sạch nhờ Tức Căn đã lọc qua hơn một tháng nay. Tôi với mười anh em thợ đào giếng sẽ dùng máng nứa chẻ đôi kết hợp xẻ một đường mương hồi quy hình chữ chi chạy men theo chân gò. Ta sẽ vét từng gáo nước rỉ từ Giếng Cạn, bơm tuần hoàn qua ba bể lắng cát sỏi rồi dẫn nhỏ giọt trực tiếp vào từng gốc lúa! Nước thấm qua rễ lúa, rút xuống tầng đá vôi lại chảy ngược về mương hồi quy để gom lại dùng tiếp!
— Tưới nhỏ giọt hồi quy! — Đào Nguyệt thốt lên, đôi mắt ánh lên tia hy vọng rạng rỡ. — Cách đó có thể tiết kiệm được bảy phần mười lượng nước thất thoát do bốc hơi dưới nắng trưa!
— Đúng vậy! — Lê Cẩn gật đầu quả quyết. — Nhưng khối lượng công việc rất lớn, phải đào xong toàn bộ đường rãnh và lắp máng nứa ngay trong chiều nay, trước khi mặt trời lặn hẳn!
Không cần thêm một lời hiệu triệu nào nữa, sân đình lập tức chuyển động như một cỗ máy khổng lồ ăn khớp từng bánh răng.
Trịnh Bách dẫn đầu hai mươi tráng đinh vác cuốc, xẻng và búa tạ chạy thốc về phía bờ ruộng Thạch Nê để cùng Lê Cẩn đo đạc, bạt đất nắn dòng mương hồi quy. Vũ Liên cùng nhóm phụ nữ và các cụ già chia nhau đi từng ngõ ngách, gõ cửa từng nhà để gom từng sọt tro bếp mịn, trong khi đám trẻ con được phân công túa ra các bờ bụi hái lá bồ hòn quả già mang lên Lò Đất Kín tiếp viện cho Tạ Hạnh. Đào Nguyệt túc trực bên ba chiếc chảo gang khổng lồ dựng tạm bên giếng nước, liên tục quấy những mẻ dịch thảo mộc giải nhiệt pha loãng để chuẩn bị tưới lót làm mát nốt rễ.
Mộc An ngồi ngay tại điếm canh dã chiến ven ruộng, lật mở cuốn sổ da mộc. Ngọn bút lông trên tay nàng thoăn thoắt ghi chép từng sọt tro bếp được đóng góp, từng giờ công đào đất của từng người, quy đổi sòng phẳng thành công điểm tích lũy theo đúng Quy chế của Hội giữ đất. Từng nét mực hạ xuống dứt khoát, minh bạch, biến từng giọt mồ hôi rơi xuống thành một phần quyền lợi không ai có thể tước đoạt.
Đến khi ráng chiều đỏ quạch như máu nhuộm khắp dãy núi Thanh Lộ, con mương hồi quy bằng ống nứa chẻ đôi dài hơn ba trăm trượng đã hoàn thành.
Dưới sự chỉ dẫn chuẩn xác của Lê Cẩn, những giọt nước ngọt ngầm trong vắt vét từ đáy Giếng Cạn bắt đầu róc rách chảy qua hệ thống máng tre, rỉ từng giọt mát rượi vào quanh những gốc mạ non đang khô héo ở thửa ruộng số một và số hai.
Mộc Tầm quỳ rạp người bên mép rãnh, tận mắt nhìn thấy những ngọn lá lúa quăn queo từ từ giãn ra khi đón nhận từng giọt nước quý giá như ngọc. Dưới tầng đất ẩm, mạng rễ Tức Căn khẽ run rẩy một nhịp êm dịu, nhiệt độ bốc hỏa dần dần hạ xuống, các nốt sần căng phồng ngừng rỉ dịch độc, dịu lại trong lớp bùn mát vừa được bổ sung.
Trên gò cao Lò Đất Kín, tiếng xèo xèo ghê rợn của những chiếc chum độc cũng đã im bặt. Lớp vữa đất sét trộn tro bếp và nước bồ hòn đặc quánh của Tạ Hạnh đã đóng rắn thành một lớp mai rùa đen bóng, bịt kín hoàn toàn các kẽ nứt, giam chặt độc khí bên trong thành gốm an toàn.
Mọi người buông cuốc xẻng, ngồi bệt trên bờ ruộng Thạch Nê thở dốc, nhìn dòng nước nhỏ giọt tuần hoàn mà nở nụ cười kiệt sức nhưng rạng rỡ. Nguy cơ phân rã nội bộ đã bị dập tắt; cơn khát cháy bỏng trước mắt đã tạm thời được chặn đứng bằng ý chí và sự đồng lòng phi thường của cả cộng đồng.
Thế nhưng, giữa sự nhẹ nhõm của mọi người, Mộc Tầm đứng lặng một mình bên bờ đá phân thủy, ánh mắt nhìn sâu vào dòng nước ngầm đang chảy chậm dần dưới đáy Giếng Cạn.
Anh hiểu điều mà không ai dám nói ra.
Mương hồi quy và phương pháp tưới nhỏ giọt chỉ là một giải pháp tình thế tuyệt vọng. Mạch nước ngầm dưới đáy Giếng Cạn không phải là vô tận; nó dựa vào lượng nước thẩm thấu từ hồ chứa trên núi Thanh Lộ rỉ qua các khe nứt địa tầng. Khi Tống Khuê khóa chặt van xả đáy và giữ kín nước trên hồ trữ, áp lực nước ngầm đang sụt giảm từng canh giờ.
Chỉ cần ba ngày nữa, mạch nước ngầm vét từ Giếng Cạn cũng sẽ kiệt cùng. Khi đó, không một con mương hồi quy hay một ống nứa nào có thể cứu nổi mạng rễ Tức Căn và vụ lúa Thạch Nê khỏi thảm họa chết khô.
Nút thắt sinh tử vẫn nằm ở trên đỉnh núi kia — nơi chiếc van xả bằng sắt của Tống Khuê đang giam cầm dòng nước sống.
Bầu trời phía tây bắc bỗng sầm sì lại. Những đám mây dông đen kịt, nặng trĩu bắt đầu cuồn cuộn dâng lên từ rặng núi Thanh Lộ, mang theo áp suất ẩm ướt kỳ dị của một cơn bão lớn đang tích tụ trên thượng nguồn. Gió lạnh từ khe núi rít qua các vách đá, mang theo tiếng gầm gừ xa xăm của nước hồ đang dâng cao nguy hiểm sau thân đập rỉ sét.
Mộc Tầm không nói một lời. Anh lặng lẽ quay trở về túp lều ven vườn thuốc, tháo chiếc áo vải đã sũng bùn, với tay lấy chiếc áo tơi kết bằng lá cọ cũ kỹ và bó đuốc tẩm nhựa thông giắt sau cánh cửa đất.
Mộc An bước vào, nhìn thấy tay nải và đôi giày cỏ bọc gai của anh trai, khẽ giật mình:
— Anh... anh định đi đâu trong đêm nay? Trời sắp nổi bão lớn rồi!
Mộc Tầm cài chặt lại chiếc quai nón mê, quay lại nhìn em gái. Ánh mắt anh bình thản, sâu thẳm như đáy giếng cạn trước cơn mưa:
— Nước ngầm chỉ cầm cự được đến đêm mai. Muốn cứu lúa, cứu mạng rễ và giữ lấy sáu mươi ngày của quan huyện, ta không thể ngồi dưới đáy chảo này chờ chết khát.
Anh siết chặt chiếc gậy gỗ dẻ trong tay, ngoảnh nhìn về phía đỉnh núi mịt mù sương gió:
— Lê Cẩn từng nói với anh về một lối mòn cũ dùng để bảo trì cống xả trên vách Khe Táng Thủy. Anh phải lên đó.
Mộc Tầm khoác áo tơi bước ra cổng làng trong đêm, quyết định thực hiện một chuyến leo núi mạo hiểm lên cửa môn Thanh Lộ.