Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.22 / 36
Chapter 22

Chứng Cứ Có Người Trả Giá

Lớp sáp đỏ in hình lá phong ba nhánh của Thanh Lộ Tông vỡ vụn dưới mũi dao con của Bùi Sương, để lộ tập nhật trình xả thải ố vàng vương mùi dầu quặng luyện đan nồng nặc.

Mùi khét lẹt của dầu trẩu pha xỉ thiết quyện chặt với mùi ẩm mục của những trang giấy bổi lưu kho lâu năm xộc thẳng vào cánh mũi bà giáo già. Gió đêm cuối đông lùa qua khe liếp nứa hở ngoác, làm ngọn bấc đèn dầu hạt sở chao nghiêng dữ dội. Ánh lửa hạt đỗ đỏ quạch hắt bóng hai người lên vách đất trát rơm thành những vệt đen méo mó, rung rẩy từng chặp như chực đổ sụp xuống nền đất lạnh buốt. Từng hạt bồ hóng bay lơ lửng trong không khí, bám vào nếp nhăn nơi khóe mắt, bám vào lớp vôi tường bong tróc từng mảng lớn như da rắn lột.

Lâm Diệp ngồi thụp dưới sàn đất nện, hai đầu gối kéo sát vào ngực, lưng dựa chặt vào chân cột cái bằng gỗ xoan đã mọt rỗng một góc. Hai hàm răng hắn vẫn chưa ngừng va vào nhau lập cập, phát ra những tiếng lách cách khô khốc giữa bốn bề vắng lặng của xóm Giếng Cạn. Chiếc áo tơi cọ khoác trên vai hắn sũng nước sương đêm, nặng trịch như một tảng đá đè trĩu bờ vai gầy guộc. Gấu quần vải thô rách bươm bết đầy lớp bùn đỏ quánh đặc của Khe Cửa Chùa — thứ bùn quặng chua loét chỉ cần chạm vào da thịt quá nửa khắc là gây ngứa ngáy, lở loét đến tận xương. Đôi bàn tay hắn tím tái vì lạnh, các khớp ngón tay sưng vù, trầy xước từng mảng rỉ máu đỏ sẫm lẫn vào đất cát do phải bấm chặt vào từng gờ đá tai mèo trơn trượt trên vách Lũng Gai để trốn tránh các trạm gác tuần tiễu của Chấp sự phòng.

"Bà giáo... con đi lối đường rọc qua đồi Trúc Mộc," giọng Lâm Diệp run bần bật, hơi thở phả ra từng luồng khói trắng đục trong căn buồng lạnh ngắt không một thanh củi sưởi. Hắn phải nuốt khan mấy lần mới ghìm được cơn co giật nơi cuống họng. "Chuông canh ba vừa điểm ở Viện Chấp pháp thì con lẻn vào phòng văn thư của Hỏa Linh Phong. Lũ đệ tử gác đêm say rượu mật gấu lăn ra ngủ ở bậc thềm ngoài. Chỗ này... chỗ này là toàn bộ bản chép tay sổ điều tiết hồ chứa thượng nguồn suốt ba năm qua, kèm theo cả cuống chứng từ xuất kho mỡ khoáng và bột lưu huỳnh tẩy lò."

Bùi Sương không đáp lời ngay. Lưỡi dao con bằng sắt cùn trong tay bà tỉ mỉ gạt từng mẩu sáp đỏ vụn sang một góc chiếc đĩa sành sứt mẻ. Ngón tay bà nhăn nheo, khô ráp như rễ cây khô vùi trong đất cằn qua mùa hạn, nhưng khi chạm vào từng mép giấy da dê thì nhẹ bẫng và dứt khoát đến mức không phát ra lấy một tiếng sột soạt thừa thãi. Bà cúi sát mặt xuống mặt bàn gỗ tạp gồ ghề, đôi mắt đục mờ vì tuổi tác và khói đèn nheo lại, đọc lướt qua những dòng chữ viết vội bằng mực đen pha bột chì, xen lẫn những triện son đỏ chót đã hơi phai màu.

"Con có biết nếu Tống Khuê bắt được con ở trạm gác chân núi, con sẽ nhận lấy kết cục gì không?" Bà Sương ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng vào gương mặt nhợt nhạt, lem luốc của người đệ tử ngoại môn.

Lâm Diệp cúi gầm mặt, khóe môi giật giật, hai bờ mi khép chặt lại trong một thoáng như thể đang hình dung ra cảnh tượng hãi hùng mà hắn từng tận mắt chứng kiến năm ngoái. Hắn nuốt xuống ngụm nước bọt đắng chát:

"Trục xuất khỏi sơn môn, thu hồi ngọc bài thân phận. Sau đó... là phế bỏ tu vi, đánh nát đan điền bằng roi huyền thiết trước sơn môn để răn đe kẻ phản phúc. Con biết chứ. Con thấy người ta kéo xác đệ tử nhà họ Trương ra bãi tha ma Khe Cửa Chùa rồi, toàn thân không còn một dặm kinh mạch nào nguyên vẹn, lục phủ ngũ tạng nát nhừ như cháo cá."

Hắn siết chặt hai nắm tay, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay rỉ máu, cảm giác đau nhói ấy dường như là thứ duy nhất giúp hắn giữ được tỉnh táo:

"Nhưng nếu con không mang thứ này xuống, đợt xả cặn đáy hai ngày nữa sẽ biến cả cánh đồng Thạch Nê thành vũng bùn chết. Cả xóm Giếng Cạn, cả mẹ anh Tầm, rồi những người thợ đá đang ho rũ rượi ngoài kia... họ sẽ chết sạch. Tông môn nói giữ trận hộ sơn để bảo vệ bách tính khỏi thú dữ và ma đạo, nhưng dưới chân núi này người ta chết vì tro quặng của tông môn nhiều hơn chết vì tà tu phương bắc. Con trốn được một đêm, cùng lắm là mất mạng; còn để mặc họ mở van xả trọc tức, thì cả đời này con không rửa sạch được cái tội đồng lõa."

Căn phòng chìm vào tĩnh lặng nặng nề. Ngoài sân, tiếng gió rít qua rặng tre ngà ken dày nghe như tiếng ai oán than thở của những linh hồn vất vưởng nơi bãi tha ma đầu ngõ. Đâu đó dưới chân tường, một con dế mèn cất tiếng gáy ngắt quãng, lạc lõng giữa màn sương lạnh buốt đang từ kẽ liếp bò lan trên nền đất.

Bùi Sương lặng lẽ thở dài. Hơi thở của bà nặng nhọc, mang theo tiếng khò khè quen thuộc của những người già đã hít thở tro quặng suốt nửa đời người. Bà chống hai tay lên đầu gối, đứng dậy một cách khó nhọc. Khớp xương bánh chè của bà phát ra tiếng lách cách khô rốc. Bà bước chầm chậm về phía chiếc phản nứa ọp ẹp kê ở góc buồng tối tăm, nơi đặt chiếc rương mây cũ đựng vài tấm áo vá.

Bên dưới chân cột nhà sát góc phản có một hòn đá tảng kê chân cột hơi lỏng lẻo. Bùi Sương quỳ một chân xuống nền đất ẩm, dùng đầu mũi dao con nạy từng vệt bùn khô bám quanh kẽ đá. Hòn đá tảng khẽ dịch chuyển sang một bên với một tiếng cọ xát trầm đục. Từ khoảng trống đen ngòm dưới đáy hố, bà cẩn thận móc ra một chiếc hộp gỗ trắc chỉ dài hơn gang tay, bên ngoài bọc một lớp da cá đuối đã mốc meo, lấm tấm những đốm hoa mai màu xám vì hơi ẩm của đất.

Bà phủi lớp đất bám trên mặt hộp rồi mang lại bàn. Mở chiếc then cài bằng đồng đã gỉ xanh, bên trong không có lấy một hạt vàng vụn hay một mẩu linh thạch hạ phẩm nào, mà chỉ có một cuộn giấy dầu đã ngả sang màu nâu sậm của lá chuối khô, buộc chặt bằng một sợi chỉ ngũ sắc đã bạc phếch chỉ còn trơ lại hai màu đỏ đục và trắng nhờ.

Bùi Sương đặt cuộn giấy dầu lên mặt bàn, ngay cạnh tập nhật trình xả thải của Lâm Diệp. Hai cuộn giấy, một mới lấy trộm còn vương mùi dầu quặng tươi nồng, một đã nằm dưới đáy đất ẩm mốc suốt năm năm ròng rã, nằm song song bên nhau như hai nửa của một vết thương chưa từng khép miệng.

"Năm năm trước," giọng bà giáo trầm xuống, đều đều và lạnh lẽo như tiếng nước rỉ từng giọt xuống lòng giếng đá bỏ hoang, "ba mươi mẫu dược viên thượng đẳng ở sườn đông nam bỗng nhiên chết rũ chỉ trong ba ngày. Cây thối từ rễ cái thối lên, lá cháy đen như bị lửa ngầm thiêu đốt. Những gốc Hoàng Tinh năm mươi năm tuổi biến thành những khúc gỗ mục xốp xúp nước thối rữa. Ngày đó, ta là người trực tiếp trông coi, chăm bón từng luống linh thảo ấy cho ngoại vụ viện."

Bà run run gỡ sợi chỉ ngũ sắc mục nát, mở cuộn giấy ra. Đó là một bản cam kết giữ kín tông vụ, được viết trên loại giấy da dê cao cấp của nội môn. Phía cuối trang giấy có dấu triện son hình ngọn lửa ba nhánh sắc cạnh của Chấp sự phòng Thanh Lộ Tông, và ngay sát cạnh vết triện quyền uy ấy là một dấu điểm chỉ máu đã khô đen thành màu gỉ sắt — dấu ngón tay trỏ của chính Bùi Sương.

"Thằng Cương nhà ta khi ấy mới mười sáu tuổi," mắt bà ươn ướt, ánh lửa dầu tù mù soi rõ hai rãnh lệ sâu hoắm trên đôi gò má nhô cao. "Nó sốt li bì mười ngày mười đêm không dứt, độc quặng ngấm từ nguồn nước tưới ngấm vào kinh mạch, phổi đông cứng lại thành từng cục máu bầm. Chấp sự phòng khi ấy cử người mang đến cho ta ba viên Cố Mệnh Đan thượng phẩm, kèm theo tờ giấy này. Họ bảo nếu ta hé răng nửa lời về việc nước ngâm xỉ lò đan rò rỉ vào mạch rễ, nếu ta dám nói luống thuốc chết là do độc quặng chứ không phải do 'thiên tai địa kiếp', thì thuốc sẽ bị thu hồi ngay lập tức, và cả nhà ta sẽ bị trục xuất khỏi hạt đất Bình Xuyên, vĩnh viễn mang danh phỉ báng tiên môn, đời đời con cháu không được ngẩng đầu nhìn mặt trời."

Bà khẽ vuốt ve dấu điểm chỉ máu cũ kỹ, ngón tay run rẩy dừng lại thật lâu trên vết mực son của tông môn:

"Ta đã ký. Ta đã quỳ xuống đất dập đầu tạ ơn họ, ta đã im lặng để đổi lấy ba viên thuốc cứu mạng con trai mình. Nhưng rồi thằng Cương cũng chỉ sống thêm được đúng hai năm. Thuốc cứu mệnh của họ chỉ kéo dài được hơi tàn dật dờ, chứ không tẩy sạch được thứ độc tro quặng đã găm chặt vào cuống phổi nó. Nó chết trong vòng tay ta, miệng trào ra thứ nước đắng ngắt đen sì như bã quặng luyện đan."

Bùi Sương hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo vải nâu sồng. Bà với tay lấy nghiên mực đá đen đặt bên cạnh chiếc đèn dầu, nghiêng ống tre rót vào đó mấy giọt nước mưa hứng từ mái tranh. Đoạn, bà cầm thỏi mực Tùng Yên sứt một góc, chậm rãi mài từng vòng tròn đều đặn. Tiếng nghiên mực nghiến càn cạch trên mặt đá ráp trong đêm vắng nghe nặng nề, dứt khoát như tiếng một người thợ rèn đang mài giũa một mũi đao sắc lạnh chuẩn bị xuất trận.

Bà trải phẳng một tờ giấy dó dày bản lớn ra mặt bàn, nhúng ngọn bút lông thỏ vào chỗ mực đen nhánh vừa mài đặc, rồi bắt đầu hạ bút. Bàn tay từng run rẩy vì tuổi tác nay bỗng chốc vững vàng như gắn chặt vào mặt bàn. Từng nét chữ chân phương, cứng cỏi hiện lên dưới ánh đèn dầu hạt sở:

*Bản tường trình về sự cố suy kiệt và tiêu hủy ba mươi mẫu dược viên sườn đông nam năm Cảnh Hưng thứ mười bảy... Do nguyên cớ dịch súc lò chứa xỉ quặng hỏa linh xả tràn qua hệ thống cống ngầm số hai, trực tiếp ngấm vào địa tầng sinh dưỡng...*

Từng chi tiết năm xưa được bà ghi lại rành mạch không sót một điểm: ngày giờ phát hiện những sợi rễ đen nhánh đầu tiên trồi lên mặt đất, mùi chua nồng nghẹt thở của lưu huỳnh bốc lên từ lòng đất sau mỗi trận mưa rào, danh tính cụ thể của tên chấp sự phụ trách mở van cống ngầm, và cả từng lời đe dọa ép buộc ký giấy giữ kín của nội vụ viện. Bằng từng nét mực sắc cạnh này, Bùi Sương đang chính thức xé nát bản cam kết năm xưa, tự tay tước đi lớp vỏ bọc an toàn cuối cùng của gia đình mình để đối mặt với án phạt bồi thường bạc vạn và sự trừng phạt tàn khốc của môn phái.

Khi giọt mực cuối cùng vừa kịp ngấm vào thớ giấy dó, tiếng gõ cửa gấp gáp vang lên từ phía cửa trước:

*Cộc. Cộc cộc.*

Một nhịp dài, hai nhịp ngắn. Tiếng gõ chạm vào cánh cửa liếp mỏng manh nghe như tiếng tim đập dồn dập trong lồng ngực.

Lâm Diệp giật thót mình như bị ong chích. Phản xạ của một kẻ trốn chạy suốt mấy dặm đường rừng khiến hắn lập tức nhảy lùi về phía góc buồng, bàn tay thâm tím theo bản năng với lấy con dao găm giắt bên hông, mắt trừng trừng nhìn ra khe cửa, hơi thở dồn lên nghẹn ứ.

"Khoan đã," Bùi Sương khẽ giơ tay ngăn lại, ánh mắt bà vẫn bình thản lạ lùng. "Là người của chúng ta."

Bà tiến ra cửa, gỡ nhẹ chiếc then cài bằng tre đực. Gió lạnh bên ngoài lập tức ùa vào phòng kèm theo những hạt mưa bụi li ti và mùi đất ẩm. Ba bóng người trùm kín áo tơi màu tro nhanh chóng lách qua khe cửa bước vào. Cánh cửa liếp lập tức được cài chặt lại phía sau họ.

Người đi đầu là Mộc Tầm, tiếp theo là Mộc An, và người đi sau cùng là một phụ nữ trạc bốn mươi tuổi, dáng người mảnh khảnh nhưng tác phong nhanh nhẹn, dứt khoát. Người phụ nữ mang theo một chiếc túi da bò màu nâu sẫm hình vuông vức giắt bên hông, dây đeo bằng vải dù chắc chắn.

Đó là Lưu Tố, Thư lại quản lý sổ đất và khế ước của Điền bạ Ty huyện nha Bình Xuyên.

Bà Lưu Tố cởi chiếc nón mê đẫm nước xuống, tiện tay phủi đi lớp sương lạnh bám trắng trên vai áo tơi. Đôi mắt sắc sảo, tinh tường của một người quanh năm đối mặt với những vụ tranh chấp ruộng đất quét nhanh một lượt khắp gian phòng chật chội. Ánh mắt bà dừng lại thật lâu trên gương mặt tái mét, thở không ra hơi của Lâm Diệp, rồi dời sang tập nhật trình xả thải và bản tường trình vừa ráo mực đang đặt mở toang trên chiếc bàn gỗ tạp.

"Bà giáo Bùi," Lưu Tố cất giọng khẽ khàng, âm vực thấp nhưng từng từ thốt ra đều rành rọt như chuông khánh gõ trong sương. "Tôi nhận được ám hiệu qua trạm liên lạc Bến Tro liền mượn cớ đi kiểm tra trích lục điền bạ vùng biên giới hạn để xuống đây ngay trong đêm. Nha môn dạo này tai mắt của tông môn giăng khắp nơi, tôi phải đi vòng qua ba quãng đồng lầy mới cắt được đuôi tuần đinh. Đồ đạc ở đâu?"

Bùi Sương không nói, chỉ nghiêng người sang một bên, đưa bàn tay nhăn nheo chỉ về phía chiếc bàn gỗ tạp.

Lưu Tố bước tới, không thèm ngồi xuống chiếc ghế đẩu mục nát. Bà cởi phăng đôi bao tay bằng da thô, rút từ trong chiếc túi da bên hông ra một chiếc kính phóng đại bằng ngọc lưu ly có viền gọng đồng trạm trổ hoa văn tinh xảo. Bà ghé sát mắt vào kính, bắt đầu soi từng góc giấy, từng đường kim chỉ khâu mép của tập nhật trình xả thải do Lâm Diệp mang tới. Ngón tay thon dài, ngả màu vàng ố vì phẩm mực nha môn của nữ thư lại lướt nhanh qua các dòng mực son ghi chép lưu lượng, dừng lại ở các triện nổi hình ngọn lửa ba nhánh và các chữ ký tắt của các đời thủ kho.

"Dấu triện Chấp sự phòng của Thanh Lộ Tông... góc trái bị mẻ một vệt nhỏ bằng hạt kê. Đúng là con dấu dùng từ năm Cảnh Hưng thứ mười chín đến nay," Lưu Tố lẩm bẩm một mình, giọng nói mang theo sự lạnh lùng chuyên nghiệp của một người cả đời xem xét chứng cứ tư pháp. "Các trang sổ từ mười lăm đến hai mươi mốt đều có đóng dấu giáp lai giáp biên. Mực son dùng chu sa tự nhiên nghiền mịn pha dầu trẩu, loại mực phẩm cấp này chỉ có các viện phòng chính thức của tông môn mới được cấp phát, người ngoài tuyệt đối không thể làm giả trong một sớm một chiều."

Bà dịch chuyển chiếc kính ngọc sang bản tường trình của Bùi Sương, đọc lướt qua từng dòng chữ mực còn thơm mùi mới mài, rồi lại đối chiếu với bản cam kết cũ bọc giấy dầu có dán chỉ ngũ sắc. Đôi lông mày thanh tú nhưng cương nghị của bà khẽ nhíu lại thành một đường thẳng thớm.

"Chứng cứ này quá đủ để dựng thành một vụ án hoàn chỉnh," Lưu Tố ngước lên, tháo chiếc kính phóng đại cầm trên tay, ánh mắt nghiêm nghị nhìn thẳng vào bốn người đang đứng quây quanh bàn. "Nhưng các người có hiểu mình đang chuẩn bị ném thứ gì vào huyện đường không?"

Căn phòng chìm vào sự lặng ngắt ghê người. Không ai lên tiếng. Chỉ có tiếng thở dồn dập của Lâm Diệp, tiếng gió rít bên ngoài vách đất và tiếng lách tách khe khẽ của một tàn bấc đèn vừa rụng xuống đĩa dầu sở.

"Đưa tập hồ sơ này ra công đường Bình Xuyên," Lưu Tố nhấn mạnh từng từ, ngón tay khẳng khiu của bà gõ nhẹ nhưng đanh thép xuống mặt bàn gỗ, "đồng nghĩa với việc xé toang bức màn dối trá mà Thanh Lộ Tông đã giăng ra suốt mười năm qua trên toàn cõi hạ lưu này. Các người nghĩ quan huyện Ngô Trực sẽ lập tức gõ kinh đường mộc bắt trói Tống Khuê sao? Không đâu. Ngô Huyện lệnh là người cẩn trọng đến mức nhu nhược, chiếc ghế đồng tri phủ tương lai của ông ta phụ thuộc vào sự yên ổn của hạt đất này. Tông môn sẽ phản đòn dữ dội bằng mọi công cụ bạo lực và pháp lý mà họ có trong tay."

Ánh mắt sắc bén của bà dừng lại trên Lâm Diệp:

"Họ sẽ phát trát truy nã cậu khắp ba mươi sáu huyện thị về tội phản bội sư môn, trộm cắp bí mật tông vụ. Bất kỳ đệ tử chấp pháp nào bắt được cậu ngoài đường quan đều có quyền chém trước tâu sau, bêu đầu cậu ở cổng thành làm gương."

Rồi bà xoay người, nhìn thẳng vào Bùi Sương:

"Họ sẽ vin vào bản cam kết cũ này, kiện bà ra trước Tiên môn Sự vụ ty về tội bội ước, đòi bồi hoàn ba nghìn lượng bạc trắng tiền dược liệu cứu mạng năm xưa. Một khi bà không trả nổi, họ sẽ phát lệnh tịch biên căn nhà vách đất này, tịch biên mảnh vườn của bà, và đuổi sạch thân tộc của bà ra khỏi bờ cõi huyện, biến con cháu bà thành lưu dân vĩnh viễn không có quyền đứng tên trên bất kỳ tấc đất nào."

Không khí trong buồng như đông đặc lại dưới sức nặng của những lời cảnh báo sắc như dao cạo. Mộc An đứng cạnh anh trai, hai bàn tay nắm chặt vạt áo vải thô dầy cộp đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra. Cô ngước mắt lên, ánh mắt trong veo nhưng rực lửa nhìn thẳng vào người thư lại của huyện nha:

"Thế còn mạng sống của cả làng này thì sao, thưa Lưu thư lại? Nếu chúng tôi không đưa thứ này ra công đường, họ vẫn sẽ khóa van nước ngọt, vẫn sẽ xả trọc tức xuống ruộng Thạch Nê, và rồi tất cả chúng tôi cũng chết dần mòn trong cảnh nợ nần và bệnh tật. Mẹ tôi đang nằm liệt giường ho ra máu, đám trẻ con xóm Giếng Cạn bụng trướng to như cái trống, đất đai thì biến thành đá chết không mọc nổi một ngọn cỏ. Bị bóp cổ chết từ từ từng ngày một thì có khác gì bị chém đầu ngoài đường quan đâu? Thà một lần liều mạng đập vỡ cái bình độc của họ, còn hơn là ngoan ngoãn nằm chờ chết rục rã trong vũng bùn lầy!"

Lưu Tố nhìn cô gái trẻ, trong đáy mắt lạnh lùng bấy lâu của nữ quan lại nha môn thoáng qua một tia nể phục kín đáo. Bà khẽ thở hắt ra một hơi dài, bờ vai hơi chùng xuống nhưng nét mặt càng thêm phần cương quyết:

"Chính vì thế mà tôi mới lội bùn lội sình xuống đây trong đêm nay. Nếu muốn đánh trận này, chúng ta phải đánh bằng chính quy trình của họ, dùng chính luật lệ mà họ đặt ra để trói tay họ lại, tuyệt đối không để họ có cơ hội tiêu hủy chứng cứ hay vu vạ cho chúng ta tội vu khống."

Nói đoạn, Lưu Tố với tay mở chiếc túi da bò, rút ra ba phong bì bằng giấy gai bản lớn, dày cộp và thô ráp. Mặt ngoài của mỗi phong bì đều đã được quét một lớp dầu bóng chống nước cẩn thận. Bên cạnh đó, bà đặt lên bàn một thỏi sáp niêm phong màu đen tuyền mang dấu triện chìm của Huyện nha Bình Xuyên — loại sáp huyền thiết chỉ dùng cho các hồ sơ tố tụng trọng án hình sự hoặc tranh chấp địa giới cấp phủ.

"Quy tắc niêm phong đối chiếu ba bản," Lưu Tố nói nhanh, đôi tay thoăn thoắt phân loại từng trang giấy một cách điêu luyện. "Tài liệu này tuyệt đối không thể để chung một chỗ, càng không thể giao toàn bộ cho một người nắm giữ. Trứng để chung một giỏ, vỡ một quả là mất sạch."

Bà chia tập hồ sơ làm ba phần bằng nhau, mỗi phần gồm một bản chép lại có đối chiếu kỹ lưỡng của nhật trình xả thải, một trích lục chứng từ xuất kho lưu huỳnh và mỡ khoáng, cùng một bản sao có chữ ký tươi và dấu điểm chỉ mực đỏ của Bùi Sương và Lâm Diệp.

"Bản thứ nhất," Lưu Tố cẩn thận lồng tập giấy vào phong bì gai đầu tiên. Bà cầm thỏi sáp đen hơ trên ngọn lửa đèn dầu hạt sở. Mùi sáp cháy khét lẹt bốc lên. Từng giọt sáp đen nhánh nhỏ xuống mép phong bì, rồi bà rút chiếc ấn đồng nhỏ của Điền bạ Ty ấn mạnh xuống:

"Bản này tôi sẽ đích thân mang thẳng về huyện lỵ ngay trước giờ mở cổng thành sáng nay, khóa kín trong rương sắt bảo mật dưới tầng hầm lưu trữ của nha môn. Đây là căn cứ pháp lý để ép Tri huyện Ngô Trực phải giữ nguyên lệnh bảo toàn hiện trạng và không thể tự ý bác đơn cứu nạn của dân làng. Một khi hồ sơ đã vào sổ bạ của Điền bạ Ty, dù Tống Khuê có đem bạc vạn đến đút lót cũng không thể tùy tiện rút ra tiêu hủy mà không để lại dấu vết."

Bà cầm phong bì thứ hai lên, nhỏ sáp đen và đóng dấu tương tự, rồi đưa thẳng hai tay về phía Mộc An:

"Bản thứ hai, giao cho Hội giữ đất Hạ Khê cất giữ. Mộc An, cô là người giữ sổ công của hội, tính tình cẩn trọng, hãy tìm nơi khô ráo, an toàn nhất mà giấu kín. Đây là lá chắn sống của dân làng. Nếu trên huyện có biến cố, nếu nha môn bị áp lực của tông môn ép phải làm sai lệch hồ sơ hoặc 'bất cẩn làm cháy kho lưu trữ', các người vẫn còn bản đối chiếu có dấu triện đỏ này để công khai trước công chúng và các thương đoàn tại chợ Bến Tro. Để bàn dân thiên hạ nhìn thấy, bọn họ sẽ không thể bịt miệng tất cả mọi người."

Mộc An run rẩy đưa hai tay đón lấy phong bì dày cộp. Tấm giấy gai thô ráp, ấm nóng bởi lớp sáp vừa khô chạm vào lòng bàn tay cô như một ngọn lửa nhỏ. Cô ôm chặt lấy nó vào lồng ngực mình, như ôm lấy chính sinh mạng của mẹ, của anh trai và của hàng trăm con người đang ngắc ngoải ở xóm Giếng Cạn:

"Con hiểu rồi. Con sẽ cất nó cùng với sổ công điểm dưới hầm chứa tro trấu ở Lò Đất Kín. Chỗ đó ngoài con và anh Tầm ra, không một ai biết tới, dù lửa cháy trên mái cũng không bén tới đáy hầm."

"Còn bản thứ ba..." Lưu Tố cầm phong bì cuối cùng lên. Ánh mắt bà bỗng tối sầm lại, vẻ mặt trở nên vô cùng cẩn trọng và nghiêm ngặt. Lần này, bà không đóng dấu triện nha môn lên đó, cũng không dùng sáp đen huyền thiết, mà chỉ lấy ra một mẩu sáp ong vàng thông thường, hơ lửa rồi dán chặt mép bì thư. "Bản này tôi sẽ gửi bí mật ra ngoài phạm vi huyện đường Bình Xuyên, chuyển thẳng về nhà riêng của một vị tuần phủ đại nhân đã cáo lão ở phủ thành. Người này năm xưa từng có ân tình với gia đình tôi, lại vốn có hiềm khích sâu sắc với phái luyện đan của Thanh Lộ Tông. Phòng khi Tống Khuê dùng vũ lực phong tỏa cả huyện nha hoặc cấu kết với quan trên để xóa sổ toàn bộ chứng từ lưu trữ tại địa phương, đây sẽ là nhát kiếm đâm sau lưng hắn từ cấp phủ."

Cả gian phòng nín thở theo dõi từng động tác dứt khoát, điêu luyện của người thư lại. Trong ánh sáng vàng vọt, tù mù của ngọn đèn dầu, ba chiếc phong bì niêm phong nằm ngay ngắn trên chiếc bàn gỗ tạp như ba chiếc cọc sắt cắm sâu vào lòng đất cằn cỗi, sẵn sàng chống đỡ cơn sóng dữ đang chực tràn tới từ trên đỉnh núi thiêng.

Mộc Tầm bước tới mép bàn, ánh mắt anh dừng lại trên những trang nhật trình sao chép đang mở toang. Dưới ánh sáng le lói, những con số khô khốc được ghi lại bằng mực son của Thanh Lộ Tông bỗng chốc hóa thành những bản án giết người rành rành trước mắt anh. Những con số không biết nói dối, nhưng chúng chứa đựng máu và nước mắt của bao mảnh đời lầm than.

"Lưu thư lại," Tầm chỉ ngón tay thô ráp của một người thợ đá vào một bảng biểu quan trắc lưu lượng ở trang giữa, giọng anh run lên vì phẫn nộ kìm nén bấy lâu nay: "Chỗ này... xin bà xem lại thật kỹ chỗ này."

Lưu Tố cúi đầu xuống, chiếc kính ngọc lưu ly một lần nữa lướt nhanh qua từng cột số liệu dày đặc.

"Tháng tư năm nay... đợt mưa lớn đầu mùa," Tầm đọc lớn từng con số ghi chép, lồng ngực anh nghẹn lại: "Hồ chứa thượng nguồn Khe Táng Thủy ghi nhận tiếp nhận ba mươi vạn khối nước mưa từ đỉnh Linh Thứu đổ về. Nhưng thay vì xả tràn qua ba hồ lắng cát theo quy chuẩn công trình của phủ vụ, Chấp sự phòng đã ra lệnh mở toang van xả đáy số ba, xả thẳng hai mươi vạn khối trọc dịch chưa qua xử lý xuống hạ du trong vòng vỏn vẹn hai canh giờ."

"Gấp bốn lần định mức phủ cho phép," Lưu Tố lạnh lùng tiếp lời, ngón tay bà gõ mạnh lên dòng số liệu màu đỏ bầm. "Quy định của Phủ vụ ty đối với hồ chứa quặng loại hai ghi rất rõ: chỉ cho phép xả tối đa năm vạn khối trọc dịch đã qua pha loãng mỗi đợt mưa, và bắt buộc phải phát pháo hiệu cảnh báo trước ba ngày cho các xã dân sinh phía dưới để người dân sơ tán gia súc, tích trữ nước ngọt. Hai mươi vạn khối đổ dồn trong hai canh giờ... đó không phải là xả nước, đó là cố tình dội bùn độc xuống quét sạch hạ lưu."

"Không chỉ có thế đâu," Lâm Diệp chen vào, giọng đầy cay đắng và phẫn uất: "Các vị nhìn trang bên cạnh đi. Ngay sau đợt xả trọc dịch ấy, Chấp sự phòng đã đơn phương ra lệnh đóng chặt hai cửa van số một và số hai — hai cửa van dẫn nước ngọt từ mó nguồn về sáu xóm của vùng Hạ Khê. Họ lấy cớ lưu lượng nước đầu nguồn sụt giảm do hạn hán cục bộ để ưu tiên dẫn toàn bộ nguồn nước trong lành về hồ chứa trung tâm, làm mát đại trận hộ sơn và phục vụ các lò đan dược của Hỏa Linh Phong."

Mộc An lập tức lật cuốn sổ tay bọc da mộc mà cô luôn mang bên mình ra, đối chiếu từng ngày tháng ghi chép cẩn thận bằng mực đen:

"Hoàn toàn trùng khớp! Từng ngày, từng giờ một! Đó chính là chuỗi ngày mà mẹ tôi và bác Lê Cẩn lên cơn sốt phế tro dữ dội nhất, nước Giếng Cạn bốc mùi tanh tưởi như nước ngâm xỉ sắt, bèo tấm trong ao chết thối nổi trắng mặt nước, và toàn bộ rau màu ven khe suối chết rụi chỉ sau một đêm mưa. Họ khóa van nước ngọt để ép chúng tôi phải cắn răng mua nước sạch từ trạm dịch Bến Tro với giá mười đồng một thùng gỗ tạp, trong khi lại xả toàn bộ nước độc từ lò đan xuống đầu chúng tôi! Họ kiếm bạc trên từng giọt nước ngọt, rồi lại dìm chúng tôi xuống đáy bùn lầy!"

"Đây là vi phạm trắng trợn Phụ lục Giáp-Tý của Khế ước Địa Mạch ngàn năm," Lưu Tố gằn giọng, đôi mắt lóe lên tia sáng sắc bén của một kẻ nắm rõ từng kẽ hở của luật pháp cõi trần. "Phụ lục dân sinh ghi rõ: dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù tông môn khai thác mạch linh thạch hay luyện đan quy mô lớn đến đâu, họ bắt buộc phải duy trì lưu lượng xả đáy tối thiểu ba phân nước ngọt mỗi ngày đêm cho cư dân hạ du sinh hoạt. Họ không chỉ cắt đứt nguồn sống của bách tính mà còn cố tình dùng cống xả đáy biến toàn bộ lòng chảo Hạ Khê thành bãi chứa phế thải độc hại không công khai. Với tập hồ sơ này, Tống Khuê không còn bất kỳ tư cách pháp lý nào để vin vào Khế ước ngàn năm mà đòi quyền sở hữu đối với Tức Căn hay đuổi người dân ra khỏi mảnh đất Thạch Nê nữa."

Căn phòng vách đất tối tăm như bừng sáng lên một niềm hy vọng mong manh nhưng vô cùng đanh thép. Những chứng cứ này không còn là lời than khóc vô vọng hay những lời đồn đại mơ hồ của những người nông dân cùng quẫn trước cửa quan. Đây là những trang sổ sách có dấu son chính thức, có số liệu đối chiếu lưu kho, có chữ ký tươi của chính những kẻ chấp sự đã ký lệnh xả độc. Một hệ thống tội ác được ghi chép lại bởi chính bàn tay của kẻ thủ ác.

Mộc Tầm quay sang Lâm Diệp và bà giáo Bùi Sương. Anh lùi lại nửa bước, chỉnh đốn lại vạt áo tơi rách, rồi chắp hai tay lại trước ngực, cúi gập người thật sâu trước hai con người đang run rẩy vì rét lạnh và sợ hãi trước mặt mình. Lưng anh cong xuống, trán gần như chạm vào mép bàn gỗ tạp:

"Bà giáo... chú Diệp..." Giọng Tầm nghẹn lại, lồng ngực anh phập phồng những nhịp thở run rẩy vì sự xúc động chân thành: "Mạng sống của mẹ cháu, của cả xóm giếng và toàn bộ những gì chúng ta vừa liều mạng gây dựng được ở cánh đồng Thạch Nê... đều nhờ vào sự dũng cảm của hai người đêm nay. Cháu không biết lấy gì để đền đáp cái giá mà hai người đang phải gánh chịu trước sơn môn."

Lâm Diệp vội vã bước tới, đưa hai bàn tay thâm tím, trầy xước đỡ lấy cánh tay vạm vỡ của Tầm, khóe mắt hắn đỏ hoe:

"Anh Tầm, đừng làm thế, tôi tổn thọ mất. Tôi sinh ra và lớn lên ở cái đất Hạ Khê này trước khi được tuyển lên núi làm đệ tử tạp dịch quét dọn. Cha mẹ tôi cũng chết vì ho ra máu đen ở cái xóm nghèo này, xương cốt vùi ở bãi tha ma đầu làng còn chưa tiêu hết. Bao năm qua ở trên núi, nhìn từng đoàn xe trâu chở linh thảo xanh tốt, chở đan dược ngát hương vào kho của các trưởng lão, trong khi nhìn xuống chân núi chỉ thấy tro bụi xám xịt bao phủ những mái nhà tranh rách nát, lòng tôi lúc nào cũng như có lửa đốt. Tôi chỉ hối hận vì mình đã hèn nhát, đã câm nín quá lâu để đổi lấy vài mẩu linh thạch vụn mỗi tháng mà thôi."

Hắn siết chặt lấy cổ tay Tầm, giọng bỗng hạ thấp xuống nhưng trở nên vô cùng gấp gáp và nghiêm trọng:

"Nhưng anh Tầm này, anh và Hội giữ đất phải chuẩn bị tinh thần đón bão ngay từ lúc này đi. Chậm nhất là sáng mai, khi giờ điểm danh đầu ngày bắt đầu ở Hỏa Linh Phong, Tống Khuê sẽ phát hiện ra sự biến mất của tập nhật trình này. Chiều nay, lão đã bắt đầu mở đợt rà soát gắt gao tại các phòng kho và thư phòng trên núi rồi. Lão đã cho niêm phong hai kho chứa quặng phụ và bắt giam ba đệ tử ghi chép ở ngoại vụ viện để tra khảo bằng roi da cá đuối."

Lâm Diệp thở dốc, đôi mắt thâm quầng liếc nhanh ra cửa liếp đầy vẻ lo âu:

"Lão nghi ngờ có kẻ tuồn tin tức ra ngoài sau khi anh làm phép thử đốt rễ ở trạm Bến Tro chiều hôm kia. Tống Khuê là kẻ tàn nhẫn, lão thà giết nhầm mười người chứ không bao giờ để lộ sơ hở. Chắc chắn lão sẽ không ngồi yên chờ đến ngày công đường huyện nha mở phiên phân xử đâu."

"Cậu nói rất đúng," Lưu Tố nhanh nhẹn thu dọn các phong bì niêm phong cất vào chiếc túi da bò, cài chặt khóa đồng lách cách. Ánh mắt bà lóe lên vẻ sắc lạnh: "Tống Khuê là tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ, lại nắm trọn quyền chấp sự ngoại vụ suốt mười năm nay. Khi một kẻ quen dùng sức mạnh và quyền lực nhận ra chiếc thòng lọng pháp lý đang từ từ siết lại quanh cổ mình, phản ứng đầu tiên của hắn sẽ không phải là tìm cách gỡ thòng lọng, mà là dùng thanh kiếm trên tay để chém đứt đầu kẻ đang cầm dây."

Bà quay sang dặn dò Mộc An một lần nữa, giọng đanh thép:

"Cất bản thứ hai ngay lập tức. Đừng để nó ở trong nhà Mộc gia, cũng đừng mang ra quanh quẩn ở Giếng Cạn. Đưa nó vào nơi kín đáo nhất mà chỉ có ba người trong ban điều hành hội biết. Nếu có động tĩnh gì lạ, lập tức tản mác người già và trẻ con ra bãi đá ven sông."

Mộc An gật đầu dứt khoát không một chút do dự. Cô cẩn thận nhét phong bì dày cộp vào sâu bên trong lớp áo bông tơi rách, rồi lấy chiếc thắt lưng bằng vải thô buộc chặt lại quanh bụng, bên ngoài khoác thêm chiếc áo tơi cọ để che chắn hoàn toàn.

Bên ngoài, trời đã bắt đầu tờ mờ sáng. Màn đêm đen đặc dần chuyển sang một màu xám tro đùng đục. Một làn sương mù dày đặc từ đỉnh núi Thanh Lộ tràn xuống thung lũng, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt và mùi khét lẹt đặc trưng của những bãi xỉ quặng hỏa linh đang ủ men âm ỉ xa xa. Mùi ẩm mốc của đất chết quyện vào sương mù tạo thành một thứ không khí quánh đặc, hít vào phổi thấy rát buốt từng cơn.

Lâm Diệp kéo sụp chiếc nón mê rách xuống che kín nửa khuôn mặt bết đầy bùn đất. Hắn chắp tay chào bà giáo Bùi Sương rồi nhanh chóng lách qua khe cửa liếp, bước chân thoăn thoắt biến mất vào màn sương dày đặc theo lối mòn ven chân vách đá, cố gắng tìm cách luồn lách trở lại vị trí gác trước khi hồi chuông điểm canh năm vang lên trên đỉnh núi cao.

Bà Lưu Tố cũng chỉnh đốn lại trang phục thư lại, khoác chiếc áo tơi sẫm màu, đội nón mê bước ra cửa trước. Bà cần phải rảo bước thật nhanh về phía bến đò Bến Tro để kịp chuyến xe ngựa công vụ đầu tiên về huyện lỵ Bình Xuyên trước khi cổng thành mở cửa đón phiên chợ sớm.

Mộc Tầm và Mộc An cùng bước theo sau để tiễn người thư lại ra đầu ngõ. Trong lồng ngực Mộc Tầm, trái tim đập từng nhịp mạnh mẽ và dứt khoát hơn bao giờ hết. Sau bao nhiêu tháng ngày mò mẫm trong bóng tối, sau bao nhiêu lần chứng kiến người thân ngã xuống trong im lặng và bất lực, giờ đây họ không còn là những kẻ chỉ biết co cụm phòng thủ trong tuyệt vọng nữa. Trong tay họ đã có vũ khí — một thứ vũ khí không rèn bằng huyền thiết hay linh thạch, mà được đúc kết bằng chính sự thật, bằng những con số máu và lòng quả cảm của những con người dám bước qua ranh giới giữa sự sống và cái chết.

Họ bước đi trên con đường đất mòn gồ ghề, sương sớm đọng thành từng giọt nước lạnh ngắt rơi từ cành tre xuống cổ áo. Cả xóm làng vẫn còn chìm trong giấc ngủ mỏi mệt sau một ngày dài oằn mình trên những luống đất cằn.

Thế nhưng, ngay khi bước chân của ba người vừa chạm tới ngã ba đường đất dẫn ra cánh đồng Thạch Nê, một âm thanh hỗn loạn bất thường từ phía trạm lưu trú tạm thời của Ty Địa sư ở đầu thôn bỗng nhiên xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai.

*RẦM!*

Tiếng cánh cửa gỗ dày bị một lực đạo cực lớn đạp tung thô bạo vang lên chát chúa, làm rung chuyển cả rặng tre ven đường. Ngay sau đó là tiếng quát tháo dữ dằn, lạnh lùng của nhiều người đàn ông và tiếng đồ đạc bằng đồng, bằng sứ rơi vỡ loảng xoảng trên nền gạch.

"Kỷ Vân! Đem toàn bộ bản đồ trắc đạc và các hòm chứa la bàn tầm mạch ra đây!"

Mộc Tầm khựng phắt lại, bàn chân như chôn chặt xuống lớp bùn nhão. Đồng tử anh co rút dữ dội. Anh nhanh tay kéo mạnh Mộc An và đẩy nhẹ Lưu Tố nấp thụp xuống phía sau một bờ tường đá đổ nát ven đường mòn, nơi có những bụi gai tầm xuân mọc dại bao phủ.

Qua những kẽ hở của bờ đá rêu phong, dưới màn sương sớm bảng lảng màu tro, cảnh tượng trước mắt khiến hơi thở của Mộc Tầm nghẽn lại nơi cuống họng.

Gần mười bóng người mặc trường bào màu lam thẫm viền đen — bộ trang phục đặc trưng của Đội Chấp pháp Thanh Lộ Tông — đang bao vây kín mít căn nhà ngói ba gian của Ty Địa sư. Trên tay những tên đệ tử chấp pháp, những thanh huyền thiết kiếm dài ba thước đã tuốt trần khỏi vỏ, tỏa ra những luồng hàn quang sắc lạnh và u ám giữa sương sớm. Sát khí đằng đằng dội thẳng vào căn nhà nhỏ bé, lạnh lẽo đến mức lớp sương mù xung quanh dường như cũng phải dạt ra hai bên.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories