Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.20 / 36
Chapter 20

Bí Mật Của Người Chăm Cây

Mùi chua nồng của rễ mục bốc lên từ chậu ươm đất sét nung đặt dưới bóng râm rào thuốc Mộc gia, nơi nhánh cây con thứ hai vừa gục ngã hoàn toàn sau một đêm nín thở.

Mộc Tầm quỳ gối trên nền đất nện đã nứt toác vì khô hạn, hai đầu ngón tay run rẩy chạm vào lớp đất mặt trong lòng chậu. Đất không còn giữ được cái mịn màng xôm xốp đẫm hơi sương như khoảnh bùn đáy Giếng Cạn mà anh cẩn thận gạn từng gáo mang về ba hôm trước. Mặt chậu lúc này đã đóng thành một lớp váng xám nhờn nhợt, khô ráp, co quắt và rạn nứt chằng chịt như da trâu già phơi nắng trên bãi tha ma. Làn khói xám mỏng như tơ nhện bốc lên lờ nhờ từ kẽ nứt trung tâm, mang theo mùi lưu huỳnh gắt mũi quyện với mùi tanh tưởi của xác cỏ thối, xộc thẳng vào xoang mũi, khiến cuống họng anh khô khốc, ngứa ngáy từng cơn, bật ra tiếng ho khan nghẹn ứ nơi lồng ngực.

Anh cẩn thận luồn những ngón tay thô ráp, chai sần xuống sâu hơn qua lớp bùn quặng cứng đờ. Từng cử động đều chậm chạp, nín nhịn, tựa hồ chỉ cần một chấn động nhỏ cũng đủ làm tan biến chút tàn dư sinh mạng mong manh cuối cùng. Nhưng hy vọng của người làm vườn vụt tắt ngấm khi đầu ngón tay anh chạm phải một khối vật chất mềm nhũn, lạnh ngắt và nhớp nháp nằm sâu dưới ba lóng tay đất.

Trái tim Mộc Tầm thắt lại, chìm nghỉm xuống đáy vực tăm tối.

Nhánh rễ non từng mang màu xanh ngọc bích mọng nước — kết quả của ròng rã bao đêm trăn trở, nín thở dùng dao xương gọt tách từng thớ thịt từ rễ cái của cây mẹ dưới đáy giếng — lúc này đã biến thành một dải xơ màu tím thẫm, bết bát thứ dịch nhờn dính dớp như mủ hoại tử. Đoạn nốt rễ tích độc vốn dĩ chỉ nhỏ bằng hạt đỗ xanh, được kỳ vọng sẽ trở thành bộ lọc tự nhiên để dung nạp độc chất, nay sưng vù lên bằng đầu ngón tay cái. Vỏ ngoài của nốt sần nứt toác từng kẽ răng cưa lởm chởm, rỉ ra những giọt nước đục ngầu, sủi bọt tăm li ti có tính ăn mòn. Những sợi rễ tơ trắng ngần vừa mới bén đất ba hôm trước, biểu hiện của sự sống đang trỗi dậy, lúc này đã rụng sạch hoàn toàn. Chúng nằm cháy sém đen sì dưới đáy chậu, mủn ra thành tro vụn vô hồn ngay khoảnh khắc ngón tay run rẩy của anh vừa khẽ lướt qua.

Cây con đã chết. Chết rũ từ trong tủy rễ chỉ sau một đêm ngấm độc. Không phải do sâu bọ, không phải do úng nước thông thường, mà là một cái chết bị thiêu đốt từ bên trong bởi chính thứ độc tố mà nó chưa kịp chuẩn bị để dung nạp.

Mộc Tầm ngồi bần thần trên hai gót chân, hai bàn tay bê bết thứ bùn xám nhờn nhợt buông thõng xuống đầu gối. Gió từ rặng đồi trọc phía bắc thổi thốc qua hàng rào dâm bụt xơ xác, mang theo cát bụi và mùi tro xỉ nồng nặc từ các lò nung quặng của phường đúc Vạn Thạch Hành cách đó năm dặm. Đầu óc anh quay cuồng, từng mốc thời gian, từng quyết định sai lầm tựa như những chiếc đinh gỉ sắt đóng thẳng vào tâm can.

Ba ngày trước. Đúng ba ngày trước, sau khi chứng kiến áp lực khủng khiếp từ bản khế ước địa tô mới mà Tống Khuê mang tới giũ trước mặt dân làng, cùng những lời đe dọa bóp nghẹt từng ngả đường buôn bán thảo dược của Đỗ Kính, sự nôn nóng đã nuốt chửng lấy sự thận trọng vốn có của một kẻ quen nghề làm vườn. Anh đã hoảng sợ. Nỗi sợ hãi nhìn thấy mười hai mái nhà quanh xóm giếng phải tan đàn xẻ nghé, nhìn thấy những đứa trẻ phải ăn cháo cám trộn đất thối đã hun đúc trong lòng anh một ngọn lửa cuồng sốt. Anh muốn đốt cháy giai đoạn. Anh muốn chứng minh rằng Tức Căn không phải là một giống cây huyền bí xa vời cần cả năm trời thuần hóa, mà có thể nhanh chóng nhân giống ra hàng chục, hàng trăm chậu ươm để cấy phủ xanh khoảnh ruộng phía đông Thạch Nê trước khi Thanh Lộ Tông hạ lệnh đóng trạm gác phong tỏa toàn bộ lòng chảo Hạ Khê.

Và trong cơn say máu ấy, người làm vườn đã phạm phải một sai lầm chết người mà không một cuốn cổ tịch nào dung thứ.

Thay vì kiên nhẫn duy trì tỷ lệ nước đệm an toàn mà bà giáo Bùi Sương từng nghiêm cẩn căn dặn — một phần nước giếng ngọt thanh sạch hòa với hai phần nước bùn quặng đã qua bể lắng than trấu ba ngày ba đêm — anh lại sốt ruột múc thẳng gàu nước từ con mương dẫn ngoài bìa xóm. Con mương ấy vào buổi chiều hôm trước vừa tiếp nhận dòng nước lũ đục ngầu từ sườn đồi phía Hỏa Linh Phong đổ về sau cơn mưa giông chuyển mùa. Dòng nước ngậm đầy cặn quặng kim loại nặng, nồng nặc mùi phèn chua và độc tố sun-fua chưa kịp lắng cặn, cuồn cuộn chảy như một dải máu đen đặc quánh.

Mộc Tầm đã nghĩ rằng mầm Tức Căn có khả năng nuốt chửng trọc khí, nên càng cho nó tiếp xúc sớm với trọc tức đậm đặc thì nó sẽ càng nhanh thích nghi, càng mau lớn mạnh. Nhưng anh đã lầm. Dòng nước ngập ngụa trọc tức đậm đặc xộc thẳng vào bầu đất còn non yếu đã vượt quá ngưỡng chịu đựng của hệ rễ tơ vừa mới nhú. Rễ cây không kịp huy động tế bào để tạo vỏ bọc cho nốt sần tự vệ. Nó bị sốc nồng độ đột ngột. Nhiệt lượng của trọc tức bị dồn ứ không thể chuyển hóa, bùng phát từ chính lõi tế bào, biến nốt sần thành một lò than ngầm thiêu rụi toàn bộ sinh cơ chỉ trong vỏn vẹn vài canh giờ đêm tối.

Một sự thiển cận ngông cuồng phải trả giá bằng một sinh mạng thực vật vô giá.

"Anh Tầm..."

Tiếng gọi khẽ giật giọng của Mộc An từ cổng rào dâm bụt vang lên, bén nhọn như mũi kim chọc thủng không gian quánh đặc mùi tử khí, cắt đứt dòng suy nghĩ cay đắng đang giằng xé tâm can anh.

Mộc Tầm giật mình ngẩng đầu. Phía sau bóng dáng mảnh khảnh của cô em gái, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên sỏi đá khô khốc đang kéo tới mỗi lúc một gần, mỗi lúc một dồn dập. Không chỉ có một người. Cả một đám đông đang rầm rập tiến qua con ngõ hẹp dẫn vào góc vườn thuốc sau nhà họ Mộc. Tiếng thở dốc nặng nề, tiếng gậy gỗ chống đất cồm cộp, tiếng xì xào phẫn uất quyện vào nhau tạo thành một thứ âm thanh bức bối đến nghẹt thở.

Dẫn đầu đám đông là Phạm Nghi. Người quản sự già của xóm giếng tay cầm chiếc gậy gỗ nghiến bóng loáng nước sơn cũ, từng bước đi dằn mạnh xuống nền đất như muốn lún sâu vào lòng sỏi. Gương mặt khắc khổ với những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày của ông đanh lại, đôi lông mày bạc chĩa ngược lên đầy vẻ căng thẳng tột độ. Đi sát ngay phía sau ông là Trịnh Bách — gã thợ đá vạm vỡ với đôi bàn tay thô xơ xác quấn chằng chịt những lớp giẻ rách rỉ máu tươi, tàn tích sau buổi trưa vung búa tạ phá đá mở đường dẫn nước ngoài bờ kênh Thạch Nê. Đi sau nữa là ba chủ hộ đại diện cho những gia đình còn bám trụ quanh xóm giếng, những kẻ mà trưa nay vừa phải cắn răng chia nhau từng bát cháo ngô mốc meo để dồn phần gạo trắng ít ỏi còn lại cho người làm vườn có sức thức đêm canh cây.

Mùi lưu huỳnh bốc lên từ chậu ươm đất sét đã vượt khỏi giàn che tre nứa, luồn qua rào dâm bụt và lan tỏa khắp khoảng sân hẹp. Những người nông dân nghèo khó, quanh năm còng lưng cuốc đất cạnh các bãi xỉ quặng của vùng Hạ Khê này, quá nhạy cảm với mùi của cái chết. Đó là mùi của đất chết, của vỉa khí độc bục đáy hố, của những mầm ngô cháy lá non giữa mùa sương muối.

"Mộc Tầm! Mùi gì thế này?"

Phạm Nghi bước thẳng tới trước giàn che tre nứa rách nát, chiếc gậy gỗ nghiến gõ mạnh xuống nền đất đánh *cộp* một tiếng khô khốc đến rợn người. Ánh mắt đục ngầu nhưng sắc lẹm của ông đảo nhanh qua chiếc chậu gốm nứt mép bốc khói xám, rồi dừng sững lại ở nhánh rễ thâm tím dính đầy dịch nhờn rũ rượi trong lòng đất bới dở. Sắc mặt người coi sổ giếng lập tức chuyển từ ngờ vực, hoang mang sang bàng hoàng tột độ. Đôi môi mỏng dính của ông run rẩy: "Cây con... rễ non... chết rồi sao?"

Trịnh Bách hít mạnh một hơi không khí khét lẹt qua kẽ răng, lùi phắt lại nửa bước, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới manh áo cộc rách nát. Đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ và bụi đá của gã trừng trừng nhìn vào đống bùn tím tái, giọng nói vỡ ra thành những tiếng khàn đặc hoảng loạn:

"Cháy đen cả rễ... Khói lưu huỳnh! Trời đất quỷ thần ơi, cái mùi này... nó giống hệt cái lần túi khí độc bục ra dưới hố đá của thằng Cẩn ngoài Thạch Nê đợt vỡ vỉa vừa rồi! Da thịt thằng Cẩn lúc ấy cũng bốc khói chua loét thế này! Chuyện gì thế này hả Tầm? Mày nói cho cả xóm nghe xem rốt cuộc là chuyện gì thế này?!"

Mộc Tầm chậm rãi đứng dậy. Đất bùn xám ngoét bám đầy hai đầu gối chiếc quần vải thô vá chằng vá đụp của anh. Anh không phủi đất, cũng không né tránh những ánh nhìn như thiêu như đốt đang dồn dập dội vào người mình. Anh hít một hơi thật sâu thứ không khí đượm mùi tro tàn, cố kìm nén cơn co thắt nơi lồng ngực để giữ cho giọng mình giữ được vẻ bình thản tối thiểu:

"Là do tôi nôn nóng. Đêm qua, tôi đã dùng nước mương dẫn trực tiếp ngoài bìa đồi để thử nghiệm... Tôi muốn kiểm tra xem ngưỡng chịu tải của rễ non đối với bùn quặng thượng nguồn có thể đạt tới mức nào. Nhưng nồng độ trọc tức trong nước mương quá đậm đặc, chưa kịp qua bể lắng than trấu và tro bếp đã ngấm thẳng xuống bầu đất, khiến hệ thống nốt sần của rễ non bị sốc nhiệt và ngộ độc cấp tính. Rễ tơ không tải nổi, đã tự hủy hoại."

"Ngươi... ngươi tự tiện đem nó đi thử nghiệm?"

Phạm Nghi gằn từng tiếng một, chiếc gậy gỗ nghiến trong tay ông run lên bần bật theo từng nhịp thở dồn. Từng thớ thịt trên gò má hóp của người đàn ông già giật giật liên hồi:

"Hội giữ đất chúng ta họp bàn thâu đêm suốt sáng, từng nhà phải bớt xén từng bát bột ngô cho con trẻ, chắt bóp từng đấu nước ngầm thanh sạch từ đáy giếng sâu để mang về đây cho ngươi nuôi cái mầm cây này! Mười hai hộ gia đình cúi mặt chịu nhục trước những cái tát tai của sai nha Vạn Thạch Hành, liều cả tính mạng chống lại trát đòi sung công đất của Thanh Lộ Tông, tất cả chỉ trông chờ vào việc nhân giống được cây này ra để cứu lấy đất làng! Cây mẹ dưới đáy giếng vừa mới hồi sức sau mười bốn ngày bế khí suýt chết vì cạn kiệt sinh lực, nhánh con thứ hai này là máu thịt, là hy vọng sống còn của cả trăm miệng ăn trong xóm! Ngươi nói một câu thử nghiệm... là tự tiện múc nước bẩn đổ vào bóp chết nó sao?"

"Tôi làm vậy không phải để phá hoại, mà là để tìm ra giới hạn dung nạp thực tế của cây!" Mộc Tầm siết chặt hai bàn tay dính đầy bùn đất, các khớp xương kêu răng rắc khi anh cố gắng bước lên giải thích, giọng nói nghẹn ngào nhưng cương quyết: "Nếu chúng ta không biết rõ ngưỡng chịu độc tối đa của rễ non, làm sao chúng ta dám mang nó ra cấy đại trà ngoài bờ kênh Thạch Nê? Đợt xả cặn đáy định kỳ của Hỏa Linh Phong ngay tối mai là tràn về lòng chảo rồi! Nếu cứ tưới bằng nước ngọt chắt chiu từng giọt, cây con sẽ mãi chỉ là thứ cây kiểng yếu ớt, vừa chạm phải dòng nước lũ quặng ngoài đồng là chết rụi hàng loạt! Thời gian của chúng ta không còn nhiều nữa, các bác có hiểu không?!"

"Đủ rồi! Đừng có đem cái mồm mép của kẻ biết chữ ra mà lừa bịp chúng ta nữa!"

Phạm Nghi hét lên, ngắt phăng lời giải thích của anh. Không thèm nhìn vẻ đau đớn trên mặt Mộc Tầm, ông sấn tới trước chiếc chõng tre ọp ẹp đặt cạnh giàn râm, chộp lấy cuốn sổ bọc giấy bổi thô ráp đang nằm ép dưới một hòn đá cuội.

Đó là cuốn sổ quan trắc do chính tay bà giáo Bùi Sương trao cho Mộc Tầm từ những ngày đầu tiên phát hiện ra mầm Tức Căn. Đó là cuốn sổ mà Hội giữ đất đã lập lời thề quy ước: từng cữ nước tưới, từng biến chuyển của sắc rễ, từng biểu hiện của đất và bùn mùn đều phải được người làm vườn ghi chép trung thực, rõ ràng, không được giấu giếm nửa chữ để làm căn cứ chung cho sự an nguy của cả xóm.

"Đưa sổ nhật ký đây!" Phạm Nghi thở hồng hộc, những ngón tay gầy guộc như cành củi khô bấu chặt lấy gáy cuốn sổ. "Ta phải tận mắt xem rốt cuộc ngươi đã ghi những gì trong này! Ta phải xem ngươi đã lén lút làm những trò quỷ quái gì sau lưng mười hai hộ gia đình chúng ta!"

Mộc Tầm thoáng chấn động toàn thân. Một tia kinh hoàng lóe lên trong đáy mắt anh. Anh vô thức bước vội lên nửa bước, cánh tay vươn ra định giật lại cuốn sổ bọc giấy bổi: "Bác Nghi, cuốn sổ đó..."

Nhưng Mộc An đã nhanh hơn một bước, nàng vội vã níu chặt lấy vạt áo rách của anh trai. Đôi mắt trong veo của cô em gái ngước nhìn anh, tràn ngập sự van nài, lo âu và dự cảm chẳng lành. Bàn tay nhỏ bé của nàng lạnh ngắt, run rẩy truyền qua lớp vải thô mỏng manh một sự nhắc nhở tuyệt vọng: đừng manh động trước mặt đám đông đang sôi sục căm hờn.

Phạm Nghi lật mạnh từng trang giấy bổi xơ xác. Tiếng giấy thô sột soạt vang lên giữa bầu không khí căng thẳng đặc quánh. Ánh mắt ông lướt nhanh qua những dòng mực đen ghi chép tỉ mỉ: độ ẩm của đất từng giờ Tý, giờ Ngọ; sắc rễ chuyển từ trắng sang xanh ngọc; phản ứng của nốt sần khi tiếp xúc với bùn mùn đáy giếng... Mọi thứ dường như đều ngay ngắn, mực thước.

Thế nhưng, khi ngón tay thô ráp của Phạm Nghi lật ngược dần về những trang đầu tiên — trang ghi lại những biến cố kinh hoàng vào ngày thứ ba kể từ khi Mộc Tầm bí mật phát hiện ra mầm cây đầu tiên dưới đáy Giếng Cạn — bàn tay ông đột ngột khựng lại.

Đôi mắt người coi sổ giếng híp lại đầy ngờ vực. Ông giơ cao trang giấy bổi lên ngang tầm mắt, hướng thẳng về phía ánh nắng chiều gay gắt đang rọi xiên khoai qua những kẽ hở của giàn tre nứa.

Ở chính giữa trang giấy ấy, một mảng chữ lớn hình chữ nhật đã bị cạo xóa một cách thô bạo bằng dao nhíp gọt rễ. Lớp giấy bổi vốn đã mỏng tang nay bị nạo nham nhở, trơ ra những sợi rơm xơ xác, mỏng manh đến mức ánh mặt trời có thể xuyên qua dễ dàng. Đè lên vết cạo nham nhở ấy là một dòng mực mới viết vội vàng, nét chữ run rẩy cố tình ép cho đều đặn:

*"Nốt sần tự phát sinh, rễ tự tỏa nhiệt thích nghi."*

Nhưng giấy bổi giữ mực rất sâu. Dưới ánh mặt trời rực lửa như nung của buổi chiều tà, những vết mực cũ bị lưỡi dao cạo không hết, hằn sâu vào từng thớ xơ rơm, vẫn lờ mờ hiện lên từng nét chữ đứt đoạn, ngoằn ngoèo như những con giun đất quằn quại trong tro nóng:

*... rót mộc linh khí thử nghiệm... rễ phát nổ xé toang mô... cháy đen một tấc rễ cái... trọc tức trào ngược... ngón tay hoại tử...*

Phạm Nghi trợn trừng hai mắt. Đồng tử ông co rút lại thành hai chấm nhỏ tí hon. Gương mặt khắc khổ của người đàn ông cả đời chỉ biết cúi đầu trước đất đai bỗng chốc tái mét đi, không còn một giọt máu vì kinh hãi tột cùng, rồi chỉ trong tích tắc, máu dồn ứ ngược lên khiến gương mặt ấy chuyển sang màu đỏ tía vì một cơn phẫn nộ không thể kìm nén.

Bàn tay cầm cuốn sổ của ông run rẩy dữ dội đến mức những trang giấy bổi mỏng mảnh va đập vào nhau, phát ra những tiếng xao xác nghe như tiếng lá khô trong bão cát.

"Mộc Tầm..."

Giọng Phạm Nghi run lên bần bật. Đó không phải là thứ run rẩy của kẻ sợ hãi, mà là sự rùng mình của một con thú dữ bị dồn vào chân tường, là cơn thịnh nộ bị dồn nén đến tận cùng của sự phản bội:

"Trang này... trang này là thế nào? Ngươi mở mồm ra giải thích cho cả xóm nghe xem, cái gì gọi là 'rót mộc linh khí thử nghiệm'? Cái gì gọi là 'rễ phát nổ' và 'trọc tức trào ngược' hả?!"

Không gian quanh giàn che râm bỗng chốc im phăng phắc như một bãi tha ma vừa chôn cất người chết. Gió chiều dường như ngừng thổi. Tiếng ve sầu râm ran trên rặng dâm bụt khô cũng bặt tăm. Chỉ còn lại tiếng thở hổn hển đầy thù hận của đám tráng đinh và tiếng tim đập thình thịch như đánh trống trong lồng ngực Mộc Tầm.

Trịnh Bách sấn vội tới bên cạnh Phạm Nghi, giật lấy mép cuốn sổ, ghé sát đôi mắt vằn tia máu vào nhìn chăm chú từng nét mực bị cạo xóa dưới ánh mặt trời. Sắc mặt người thợ đập đá biến đổi một cách dữ dội, từ kinh ngạc chuyển sang tím ngắt:

"Linh khí? Cậu... cậu từng dùng linh khí của tu sĩ để ép cái rễ cây này? Từ ngày thứ ba sao?" Giọng Trịnh Bách lạc hẳn đi, vỡ vụn ra từng mảng: "Mộc linh khí thuần dương... rễ nổ tung... trọc tức trào ngược hoại tử ngón tay? Trời ơi là trời!"

Mộc Tầm đứng chôn chân tại chỗ trên nền đất nện.

Một cảm giác lạnh buốt tựa hồ như dòng nước đá mùa đông từ đỉnh đầu chảy dọc sống lưng anh, từ từ lan tỏa ra khắp tứ chi, làm đông cứng từng thớ cơ thịt. Bí mật đen tối nhất, nỗi sợ hãi nguyên thủy và sự xấu hổ ê chề nhất mà anh luôn tìm mọi cách chôn chặt dưới đáy lòng suốt bấy lâu nay — cái ngày anh ngạo mạn nghĩ rằng chút tu vi Dẫn Khí tầng một còi cọc của mình có thể cứu vãn mầm sống, để rồi suýt nữa kích nổ toàn bộ trọc tức bị nén sâu dưới đáy Giếng Cạn — rốt cuộc đã bị phơi bày trần trụi, trơ trẽn dưới ánh sáng ban ngày trước mắt tất cả những người mà anh từng thề sẽ bảo vệ.

"Tôi..." Cổ họng Mộc Tầm như có một hòn than nóng rẫy chẹn ngang, khô khốc và đắng ngắt. "Lúc đó... rễ cây mẹ bị đá vôi rơi xuống đè gãy ngang thân. Mầm sống khi ấy yếu ớt vô cùng, tưởng như không qua khỏi đêm ấy... Tôi chỉ muốn nối lại vết thương cho nó, tôi nghĩ mộc linh khí có thể giúp nó liền sẹo..."

"Ngươi muốn nối rễ, hay ngươi suýt nữa chôn sống tất cả chúng ta dưới lòng đất?!"

Phạm Nghi gầm lên một tiếng xé toạc màng nhĩ. Không thể kìm nén được nữa, ông vung tay ném mạnh cuốn sổ bọc giấy bổi xuống mặt chõng tre đánh *chát* một tiếng nổ giòn như pháo lệnh.

Chiếc gậy gỗ nghiến trong tay trái ông chỉ thẳng tắp vào chóp mũi Mộc Tầm, ngực ông phập phồng dữ dội tựa như một ống bễ lò rèn sắp vỡ tung:

"Ngươi giấu! Ngươi cạo xóa bằng chứng rành rành trên mặt giấy! Ngươi là đứa học việc ba năm ở nhà bà giáo Bùi Sương, ngươi biết rõ hơn ai hết rằng giống rễ này ăn bùn quặng, ngậm trọc khí, tuyệt đối kỵ linh khí thuần dương của giới tu tiên! Ngươi biết thừa rót linh khí vào sẽ làm trọc tức bị kích động mà phát nổ! Thằng Lê Cẩn suýt nữa mất cả hai lá phổi, suýt nữa bỏ mạng ngoài lòng chảo Thạch Nê chỉ vì một túi trọc tức nhỏ bằng nắm tay bị cuốc chim chạm phải! Vậy mà ngươi... một thằng nhóc miệng còn hôi sữa, dám châm ngòi nổ cho một khối trọc tức khổng lồ ngay dưới đáy cái giếng nằm sát vách ván nhà của cả xóm này!"

"Bác Nghi! Xin bác bớt giận, anh cháu thực sự không cố ý mà!"

Mộc An hoảng hốt bước hẳn lên phía trước, đem tấm thân gầy gò của mình chắn ngang giữa mũi gậy của Phạm Nghi và anh trai. Giọng cô gái run rẩy, nước mắt đã ứa ra quanh mi nhưng nàng vẫn cắn chặt môi cố giữ cho từng lời nói được rành mạch:

"Lúc đó là ngày thứ ba, anh cháu chưa từng tiếp xúc với giống cây dị thường như Tức Căn bao giờ! Anh ấy thấy cây gãy thì hoảng loạn muốn cứu chữa tức thời thôi! Ngay sau cái đêm suýt nổ ấy, anh cháu đã biết sai rồi, anh ấy đã thức trắng đêm đắp bùn lạnh giải nhiệt cho rễ, rồi sáng sớm hôm sau đã lén chạy tới Bến Tro tìm bà giáo Bùi Sương để thỉnh tội, xin thuốc giải độc hoại tử và học cách sửa sai..."

"Đến tìm Bùi Sương nhưng giấu tiệt không hé nửa lời với cả xóm chúng tôi!"

Trịnh Bách tức giận chen ngang, bước dồn một bước nặng trịch khiến nền đất rung lên. Giọng nói ồm ồm của người đàn ông vừa mới trải qua một buổi trưa đầy nhục nhã ngoài mỏ đá — nơi gã suýt nữa phải quỳ xuống nhận mấy đấu gạo bố thí của lũ tay sai Vạn Thạch Hành để đổi lấy mạng sống cho vợ con — bỗng chốc tìm được cái van xả cho mọi uất ức dồn nén:

"Nếu cái đêm hôm đó cái giếng cạn nổ tung, trọc tức tích tụ trăm năm xông thẳng lên mặt đất thì cả cái xóm mười hai nóc nhà này đã thành cái mồ chôn tập thể từ lâu rồi! Con cái chúng tôi đã thành những cái xác thối rữa dưới đáy bùn từ ngày thứ ba ấy rồi! Thế mà bao lâu nay, cậu Tầm một câu cũng không hé răng! Cậu im thin thít, cậu cạo sạch chữ trên sổ sách! Cậu để chúng tôi ngày nào cũng quỳ lạy trước miệng giếng tạ ơn trời đất, để chúng tôi tôn sùng cậu lên làm bậc ân nhân, làm người duy nhất trong cả cái đất Hạ Khê này hiểu được ý trời, hiểu được hơi thở của lòng đất! Cậu coi cái mầm cây đó là của riêng nhà họ Mộc các người, đúng không?!"

"Đúng thế chứ còn gì nữa!"

Một chủ hộ lớn tuổi đứng sau lưng Trịnh Bách vung nắm đấm gầy guộc lên không trung, đôi mắt trũng sâu nhìn Mộc Tầm tràn ngập sự nghi kị cay độc, chua chát:

"Ngay từ đầu, khi giếng cạn bỗng dưng rỉ ra nước ngọt, cậu ta cũng giấu nhẹm đi! Mãi đến khi mùi bùn thơm lan ra ngoài ngõ, dân làng phát hiện ra thì mới chịu gọi nhau lập hội! Giờ lại lòi ra cái trò cạo xóa sổ sách man trá này! Nay cậu ta tự ý thử nước làm chết rụi nhánh cây con thứ hai, ngày mai biết đâu cậu ta lại nổi hứng muốn đột phá tu vi, lại lén truyền linh khí làm nổ tung nốt cây mẹ dưới đáy giếng, đẩy cả làng này vào chỗ chết không có đất chôn thây!"

"Tôi không hề có ý coi cây là của riêng mình!"

Mộc Tầm rốt cuộc không thể nhẫn nhịn được nữa. Cơn uất nghẹn dồn ứ bấy lâu nay cùng nỗi tủi hổ tột cùng bùng nổ, anh cất cao giọng, từng lời nói đanh lại, sự ấm ức và nỗi đau đớn đan xen chằng chịt trong lồng ngực:

"Các bác có biết chăm sóc một mầm cây ngậm độc nó khó khăn, nguy hiểm đến thế nào không?! Từng cữ nước phải đong bằng muỗng gỗ, từng giọt dịch độc tiết ra từ vỏ rễ phải dùng tủy sậy thấm từng chút một, từng lần rễ co giật vì quặng sắt cọ xát trong bùn... Suốt hai mươi ngày qua, đêm nào tôi cũng phải thức trắng ngồi dưới đáy giếng lạnh ngắt, ngực tức nghẹn vì trọc khí để canh chừng từng nhịp thở của nó! Tôi cạo xóa trang sổ đó là vì sợ mọi người hoang mang! Tôi sợ các bác biết rễ cây có thể nổ tung thì sẽ sợ hãi mà bỏ chạy, sẽ không dám giữ giếng, không dám giữ đất nữa! Nếu tôi không giữ bí mật kỹ thuật, nếu tôi không tự mình gánh lấy rủi ro ấy, thì trong số các bác, ai... ai có thể bước xuống đáy giếng sâu ba trượng kia chăm sóc cho nó mà không làm nó chết ngay từ ngày đầu tiên?!"

"Chính vì cái thói ngạo mạn, tự cho mình là duy nhất đó của ngươi, nên cây con hôm nay mới chết rũ thối rễ ở đây!"

Phạm Nghi bước dồn dập lên một bước nữa, khoảng cách giữa ông và Mộc Tầm chỉ còn gang tấc. Đôi mắt người quản sự già lạnh băng như sương muối mùa đông, không còn một chút nhân nhượng hay thương tình:

"Ngươi sợ chúng ta hoang mang, hay là ngươi sợ mất đi cái quyền lực định đoạt sự sống chết của cái xóm này?! Ngươi sợ mất đi vị thế của một kẻ duy nhất được người khác kính sợ, cầu xin?! Mộc Tầm, một kẻ dối trá, dám cạo sửa nhật ký quan trắc thiêng liêng và tự ý làm bậy sau lưng xóm giềng, tuyệt đối không xứng đáng nắm giữ kỹ thuật của Tức Căn nữa! Nhân danh Hội giữ đất Hạ Khê, nhân danh mười hai gia đình đã thề cùng sống cùng chết với mảnh đất này, ta tuyên bố: kể từ giờ phút này, tước bỏ toàn bộ quyền kỹ thuật độc tôn của ngươi! Đáy Giếng Cạn sẽ do xóm cử người phong tỏa nghiêm ngặt bằng cọc gỗ và rào gai! Mọi việc tưới nước, bón bùn, chăm rễ từ nay về sau sẽ do người của Hội thay phiên nhau đảm nhiệm!"

Tước bỏ quyền kỹ thuật? Phong tỏa Giếng Cạn?

Từng lời phán quyết của Phạm Nghi giáng xuống tựa như những nhát búa tạ nện thẳng vào đỉnh đầu Mộc Tầm. Cảm giác bàng hoàng, kinh hãi lập tức xé toạc mọi sự tự chủ còn sót lại trong tâm trí anh.

"Không thể được! Các người điên rồi!"

Mộc Tầm hét lên lạc cả giọng. Vẻ bình thản giả tạo vỡ vụn hoàn toàn. Anh lao bổ tới, hai bàn tay bê bết bùn quặng túm chặt lấy mép áo vải thô của Phạm Nghi, đôi mắt đỏ ngầu vằn tia máu như một kẻ phát cuồng:

"Bác Nghi, bác không thể làm thế! Các người hoàn toàn không hiểu gì về đặc tính rễ của nó đâu! Nó không phải là củ cải hay luống khoai ngoài bãi để ai muốn múc nước tưới thế nào thì tưới! Đất Thạch Nê ngậm độc sâu ba thước, rễ của cây mẹ dưới đáy giếng lúc này đang bước vào chu kỳ nhả trọc tức cực kỳ nhạy cảm! Chỉ cần một người không hiểu nghề bước xuống đó, pha sai một gáo nước, dùng sai một muỗng bùn men, hay lỡ tay chạm mạnh vào một nốt sẹo chưa bão hòa... toàn bộ mầm sống dưới đáy giếng sẽ thối rữa chỉ trong nửa ngày! Các người sẽ tự tay giết chết nó mất! Các người đang tự tay đào mồ chôn mình đấy!"

"Còn hơn là để một kẻ kiêu ngạo, dối trá, quen thói giấu giếm sai lầm như ngươi một ngày nào đó thiêu cháy cả làng này thành tro bụi!"

Phạm Nghi vung mạnh cánh tay gầy guộc hất mạnh tay Mộc Tầm ra. Ánh mắt ông kiên quyết như đá tảng, không một tia lay chuyển:

"Buông ra! Cuốn sổ quan trắc này Hội giữ đất sẽ tịch thu lại ngay lập tức, đem đi tìm người khác có học vấn để đối chiếu, kiểm tra từng nét chữ!"

"Bác Nghi! Xin bác nghe cháu nói một lời thôi..."

Mộc An cuống cuồng nhào tới níu lấy cánh tay cầm gậy của Phạm Nghi, nhưng Trịnh Bách cùng hai người đàn ông lực lưỡng khác đã bước xô lên phía trước. Với thân hình hộ pháp và cơ bắp cuồn cuộn của những kẻ quen nghề đập đá, họ lập tức tạo thành một bức tường thịt sừng sững, thô bạo gạt Mộc An dạt sang một bên, ngăn cách hoàn toàn Mộc Tầm với cuốn sổ giấy bổi và chậu ươm rễ mục bốc khói xám.

"Tránh xa ra, Tầm! Đừng để bọn tao phải dùng đến dây thừng trói mày lại!" Trịnh Bách gằn giọng, bàn tay quấn giẻ rách rỉ máu đưa lên chặn ngang ngực Mộc Tầm, ánh mắt gườm gườm cảnh giác.

Không khí trong mảnh vườn thuốc nhỏ hẹp ngột ngạt đến mức tưởng chừng như chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng đủ làm bùng nổ một trận huyết chiến tương tàn. Sự nghi ngờ, oán hận, nỗi sợ hãi bị lừa dối và sự tuyệt vọng vì mất đi hy vọng sống đang bốc lên hừng hực từ từng lồng ngực gầy guộc, đe dọa xé toạc chút liên kết cộng đồng mong manh mà mười hai hộ dân nghèo khổ vừa mới chắp vá lại được sau bao chuỗi ngày gian nan chống chọi với cường quyền.

"Các người định tìm ai để đối chiếu?"

Một giọng nói già nua, khàn đặc nhưng đanh thép tựa như tiếng đe sắt gõ vào thép nguội bỗng nhiên từ đầu ngõ dâm bụt chậm rãi vọng vào.

Âm thanh không hề gào thét, nhưng mang theo một thứ uy lực vô hình nặng trĩu, khiến đám đông đang xô đẩy, gầm ghè nhau chợt khựng sững lại.

Mọi ánh mắt, từ vẻ giận dữ của Phạm Nghi, sự hung hãn của Trịnh Bách cho đến nỗi tuyệt vọng cùng cực của Mộc Tầm, đồng loạt quay phắt ra phía cổng rào.

Bùi Sương đang chậm rãi bước từng bước vào sân.

Bà giáo già của vùng Bến Tro mặc một bộ áo ngắn bằng vải thô màu nâu sẫm đã bạc màu theo năm tháng, gấu áo lấm tấm những vết nhựa thuốc đen nhánh không bao giờ phai. Mái tóc hoa râm xơ xác của bà được búi chặt sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc, để lộ vầng trán cao hằn sâu những nếp nhăn của một đời nếm mật nằm gai cùng cỏ cây thảo dược. Đi sát ngay phía sau lưng bà là Lê Cẩn. Sắc mặt người thợ đào giếng trẻ tuổi vẫn còn mang màu trắng bệch nhợt nhạt — di chứng tàn khốc của căn bệnh phổi tro tích tụ qua hơn hai năm làm nghề đào giếng, lại vừa trải qua đợt ngộ độc trọc tức thập tử nhất sinh ngoài bãi Thạch Nê cách đây chưa đầy nửa tháng — nơi khóe miệng anh ta quấn chặt một dải khăn vải tẩm thuốc sắc màu đen sẫm, nhưng đôi mắt sâu hoắm của anh nhìn Mộc Tầm lúc này lại tràn đầy vẻ lo lắng, xót xa và thấu hiểu.

Tiếng gậy trúc của bà Sương gõ đều đặn xuống từng phiến đá xanh lót bên bờ rào dâm bụt:

*Cộc. Cộc. Cộc.*

Từng nhịp gõ khô khốc, chậm rãi, khoan thai nhưng mang một sức nặng đè nén kỳ lạ, khiến đám tráng đinh bặm trợn của Trịnh Bách vô thức dạt sang hai bên, cúi đầu nhường lối cho bà cụ đi qua.

Bùi Sương bước thẳng vào giữa khoảng sân hẹp. Bà không nhìn Phạm Nghi, không nhìn Trịnh Bách, cũng chẳng thèm liếc mắt nhìn đám đông đang phẫn nộ hừng hực. Đôi mắt sắc như dao cau của bà dừng lại chuẩn xác ngay trên chậu ươm đất sét nung tím đen đang bốc khói lờ nhờ dưới giàn che tre nứa.

Bà chống gậy trúc, chậm rãi cúi người xuống. Đưa hai ngón tay gầy guộc khẳng khiu như cành củi khô, bà nhón lấy một mẩu rễ cháy sém, mềm nhũn trong lòng đất nứt nẻ đưa lên sát mũi ngửi một hồi lâu. Khẽ nhíu đôi lông mày bạc phếch, bà buông tay để mẩu rễ mục rơi lại vào đống bùn tàn.

"Nước mương dẫn trên sườn đồi, pha quặng xỉ chưa lắng than củi, chưa lọc qua tro trấu," Bùi Sương lạnh lùng buông ra một câu ngắn ngủn, giọng nói phẳng lặng như mặt nước giếng mùa đông.

Rồi bà quay ngoắt người lại, ánh mắt nghiêm khắc như lưỡi dao cạo xoáy thẳng vào mặt Mộc Tầm. Ánh nhìn ấy như muốn lột trần từng ngóc ngách sâu kín nhất, từng nỗi yếu hèn và kiêu ngạo đang giằng xé trong tâm can người học trò:

"Học nghề làm vườn ba năm ròng rã dưới mái hiên Bến Tro, ta dạy ngươi điều gì đầu tiên trước khi cho phép ngươi cầm xẻng chạm vào đất? Đất chưa hiểu thì tuyệt đối không đặt hạt. Nước chưa tỏ thì tuyệt đối không chạm rễ. Ngươi vội cái gì hả Mộc Tầm? Ngươi vội lập công để chứng minh tài năng với đám tu sĩ mũi hếch lên trời của Thanh Lộ Tông, hay ngươi vội chứng minh cho cả cái xóm nghèo này thấy rằng nếu không có bàn tay của một mình ngươi thì đất Hạ Khê này sẽ chết đói hết?!"

Mộc Tầm run lên, từ từ cúi gầm mặt xuống nền đất nện. Dưới ánh nhìn nghiêm khắc tựa sấm sét của người thầy già cả đời gắn bó với cỏ cây, mọi lý lẽ giãi bày, mọi sự ấm ức tự bào chữa trong lòng anh bỗng chốc trở nên rỗng tuếch, trơ trẽn và hèn mọn đến thảm hại.

Bùi Sương dời ánh mắt, quay sang phía Phạm Nghi. Bà vươn bàn tay gầy guộc ra, đón lấy cuốn sổ bọc giấy bổi thô ráp từ tay người quản sự xóm giếng. Bà thậm chí không cần lật mở trang giấy bị cạo xóa kia ra xem, bởi chính bà là người đã tận tay bôi từng thìa cao thuốc bồ hòn lên ngón tay thối rữa vì hoại tử của Mộc Tầm vào buổi sáng định mệnh sau ngày thứ ba ấy.

"Nghi này," Bùi Sương chậm rãi cất giọng, âm thanh trầm xuống nhưng rành rọt từng chữ một vang khắp khoảng sân: "Hôm nay ông nổi giận là đúng. Dân xóm giềng căm phẫn lại càng không có gì sai. Đứa trẻ này đã phạm phải một sai lầm chí mạng, một căn bệnh trầm kha muôn thuở của những kẻ bước đầu nắm giữ kỹ thuật: nó tưởng rằng việc giữ kín bí mật sẽ tạo ra sức mạnh cho bản thân, và nó ảo tưởng rằng sự hy sinh âm thầm của một cá nhân đơn độc có thể thay thế được sự minh bạch của cả một cộng đồng."

Bà giáo già xoay người, cây gậy trúc chỉ thẳng vào ngực Mộc Tầm, giọng đanh lại như thép nguội:

"Mộc Tầm! Ngươi ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mặt ta!"

Mộc Tầm cắn chặt môi dưới đến rỉ máu, từ từ ngẩng khuôn mặt bết bát mồ hôi và bụi đất lên. Đôi mắt anh đỏ hoe, cay xè vì khói lưu huỳnh và nỗi tủi hổ đang dâng trào nghẹn ứ nơi cuống họng.

"Ngươi nghĩ rằng ngươi giấu nhẹm chuyện làm nổ rễ ngày thứ ba là để bảo vệ xóm làng khỏi hoang mang sao?" Bùi Sương nghiêm khắc chất vấn, từng câu từng chữ như roi quất thẳng vào da thịt anh: "Ngươi nhầm to rồi! Ngươi giấu là vì ngươi sợ hãi! Ngươi sợ người ta biết rằng ngươi — kẻ mang danh học trò làm vườn ba năm của Bùi Sương — thực chất cũng chỉ là một thằng nhóc vụng về, suýt nữa làm chết mầm cây! Ngươi sợ mất đi vị thế độc tôn của kẻ duy nhất nắm giữ hy vọng! Người chăm sóc đất đai tuyệt đối không bao giờ được phép hành xử như một kẻ độc tài bí mật! Đất đai là của chung mười hai nóc nhà, mạch nước ngầm dưới đáy giếng là của chung cả xóm, và thảm họa trọc tức một khi bùng phát cũng sẽ chôn vùi tất cả già trẻ gái trai chứ không chừa riêng cái mảnh vườn nhà họ Mộc của ngươi! Khi ngươi giữ bí mật về một thất bại kỹ thuật, ngươi không hề gánh vác trách nhiệm cho ai cả — ngươi chỉ đang biến bản thân mình thành một quả bom nổ chậm treo lơ lửng trên đầu xóm giềng mà thôi!"

Mộc Tầm run rẩy dữ dội. Toàn thân anh lạnh toát. Từng lời của bà giáo già như một lưỡi dao mổ xẻ rạch toang lớp vỏ bọc kiêu hãnh mà anh bấy lâu nay tự khoác lên mình. Anh đã tự huyễn hoặc bản thân rằng mình đang hy sinh thầm lặng, đang đơn độc chịu đựng rủi ro để dân làng được yên ổn. Nhưng sự thật trần trụi là anh đã quá sợ hãi sự phán xét, sợ mất đi cái quyền lực tinh thần mà giống cây Tức Căn mang lại cho anh giữa một tập thể đang tuyệt vọng.

"Thế nhưng..."

Bùi Sương đột ngột đổi giọng, âm thanh sắc bén chuyển hướng, quét qua một lượt từ Phạm Nghi, Trịnh Bách cho đến từng khuôn mặt tráng đinh đang đứng vây quanh:

"... nếu các người nghĩ rằng chỉ cần tước đoạt toàn bộ quyền kỹ thuật của nó, rồi giao đáy Giếng Cạn cho một đám người chẳng biết gì về nhịp thở của Tức Căn tùy tiện xử lý, thì ta nói cho các người biết: các người cũng ngu xuẩn và mù quáng chẳng kém gì nó lúc múc gàu nước bẩn này đổ vào chậu ươm!"

Phạm Nghi khẽ giật mình, chiếc gậy gỗ nghiến trong tay ông run lên: "Bà Sương... bà định bao che cho học trò của mình sao? Nó đã làm chết một cây non, suýt nữa làm nổ tung cả cái giếng..."

"Ta không bao che cho nó!" Bùi Sương dằn giọng ngắt lời, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc sảo: "Ta đang cứu lấy mầm sống cuối cùng của cả cái xóm này dưới đáy giếng! Ta hỏi các người: ai trong số các người biết rễ Tức Căn hút độc theo chu kỳ con nước nào? Ai biết khi nào nốt sần bão hòa độc tố cần phải bọc bùn men ủ lá ngải cứu, khi nào rễ non tiết mủ cần phải tưới nước vỏ cây chát để hạ nhiệt? Ai trong số các người có thể dùng đầu mũi ngửi ra nồng độ trọc tức biến đổi trong bùn đất trước khi nó phát hỏa bùng nổ? Trịnh Bách? Với đôi bàn tay chỉ quen đập đá tảng này sao? Hay là ông, Phạm Nghi, với cuốn sổ đếm ngày chia gạo này?!"

Cả khoảng sân hẹp lại một lần nữa rơi vào im lặng như tờ.

Trịnh Bách lúng túng cúi gầm mặt xuống, nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay thô kệch quấn giẻ rách rỉ máu của mình, cổ họng ứ nghẹn không thốt nên lời. Phạm Nghi mím chặt môi, cơ mặt giật nhẹ từng hồi, ánh mắt dao động dữ dội. Lời nói của Bùi Sương như gáo nước lạnh tạt thẳng vào cơn thịnh nộ bốc đồng của đám đông, buộc họ phải đối diện với một thực tế tàn khốc: căm ghét sự dối trá là một chuyện, nhưng sống sót được mà không có kỹ thuật làm vườn lại là một chuyện hoàn toàn khác.

Bùi Sương hít một hơi sâu, sắc mặt trầm tĩnh lại, toát lên uy quyền tự nhiên của một dược sư đã dạn dày sương gió qua bao biến cố thăng trầm:

"Muốn giữ được đất, muốn mầm Tức Căn dưới đáy Giếng Cạn không chết rũ như chậu cây này, chúng ta phải đổi luật. Kể từ giờ khắc này, xóa bỏ hoàn toàn quyền tự quyết kỹ thuật của bất kỳ một cá nhân đơn lẻ nào. Mộc Tầm không được phép tự ý tưới một gáo nước, không được phép tự ý gọt tách một nhánh rễ nào nếu không có sự đồng thuận và giám sát."

Bà giơ cao cuốn sổ giấy bổi lên trước mặt mọi người:

"Điều thứ nhất: Toàn bộ ghi chép trong cuốn sổ này, từ sai lầm làm cháy rễ do rót linh khí ngày trước cho đến nguyên nhân chết rũ của chậu cây hôm nay, phải được công khai hoàn toàn cho toàn thể xóm giềng. Mộc An sẽ là người giữ sổ công của Hội giữ đất. Con bé biết chữ, tính tình cẩn thận, nó sẽ sao chép lại một bản niêm yết công khai ngay tại vách giàn che miệng giếng để bất kỳ ai trong xóm cũng có thể đến đọc, kiểm tra và đối chiếu bất cứ lúc nào."

Mộc An bước lên một bước, gạt đi giọt nước mắt còn đọng trên má, nàng gật đầu dứt khoát: "Cháu xin nhận việc này. Cháu thề trước vong linh tổ tiên sẽ ghi chép đúng từng đấu nước, từng loại bùn, không bao giờ che giấu dù chỉ một nét mực."

"Điều thứ hai:" Bùi Sương tiếp tục, giọng rành rọt, khúc chiết: "Thiết lập quy trình thuần nước ba bước nghiêm ngặt, áp dụng bắt buộc cho mọi đợt tưới tắm cho cây từ nay về sau. Tuyệt đối cấm múc nước mương, nước khe xả trực tiếp vào chậu ươm hay hố đất thử nghiệm! Bất kỳ nguồn nước nào lấy từ ngoài về bắt buộc phải đi qua đủ ba tầng lọc: Tầng thứ nhất, lắng cặn thô trong bể đất nện ít nhất nửa ngày để kim loại nặng chìm xuống đáy; tầng thứ hai, lọc thẩm thấu qua lớp cát mịn trộn sỏi vụn để giữ lại chất vẩn đục; tầng thứ ba, thẩm thấu qua tro trấu khô ngâm bồ hòn để triệt tiêu hoàn toàn nhiệt lượng trọc tức. Nước chưa đi qua đủ ba bước lọc ấy, dù chỉ một giọt cũng tuyệt đối không được phép chạm vào bầu rễ của Tức Căn!"

Trịnh Bách nuốt nước bọt cái ực, ngẩng đầu lên, ánh mắt sáng lên một tia quả quyết: "Việc đóng máng lọc cát, đào bể đất nện và đốt tro trấu ngâm bồ hòn, đội đập đá chúng tôi xin nhận! Chúng tôi có sức người, chúng tôi sẽ làm xong ba cái bể lọc ngay trong đêm nay!"

"Và điều cuối cùng," Ánh mắt Bùi Sương nhìn thẳng vào Mộc Tầm, rồi chuyển sang Lê Cẩn đang đứng lặng lẽ phía sau: "Thành lập ngay lập tức một Tổ kỹ thuật luân phiên gồm ba người. Mộc Tầm vẫn nắm kỹ thuật sinh học của rễ, nhưng tuyệt đối không được hành động một mình. Lê Cẩn — với kinh nghiệm mười năm của một thợ đào giếng và khả năng dùng mũi quan sát vỉa khí địa tầng — sẽ là người thứ hai chịu trách nhiệm giám sát môi trường ẩm và độ an toàn của đất đáy giếng. Người thứ ba sẽ là một thợ thuốc do chính ta chỉ định từ Nhóm dược hộ Bến Tro để kiểm định độ độc hại của nguồn nước trước khi đưa vào sử dụng. Mọi thao tác tưới nước, bón bùn mùn, hay sau này có chiết tách rễ non, bắt buộc phải có đủ mặt cả ba người cùng ký tên xác nhận vào sổ quan trắc. Thiếu một người, tuyệt đối không ai được phép động thủ!"

Bà quay sang nhìn chằm chằm vào Phạm Nghi: "Nghi, cách này ông thấy thế nào? Vừa không để một kẻ độc tài giấu giếm bí mật kỹ thuật, vừa không để những người mù mờ nghề nông làm chết mất mầm sống duy nhất của làng. Hội giữ đất của các ông có chấp thuận không?"

Phạm Nghi đứng lặng hồi lâu. Ông nhìn bà giáo già Bùi Sương, nhìn sang vẻ kiên nghị của Lê Cẩn và Mộc An, rồi nhìn lại cuốn sổ giấy bổi trên tay bà giáo. Sự căng thẳng hằn sâu trên vầng trán nhăn nheo của ông dần chùng xuống. Là một người cả đời gánh vác việc làng, ông hiểu quá rõ đây là con đường sống duy nhất: vừa giữ được sự công bằng, minh bạch để giữ yên lòng dân, vừa bảo toàn được ngọn lửa hy vọng mong manh trước lưỡi hái tử thần của nạn ô nhiễm quặng xỉ.

"Được." Phạm Nghi thở ra một hơi dài, nặng nhọc như vừa trút bỏ được một tảng đá đè nặng trên ngực. Giọng ông trầm hẳn xuống: "Nếu bà Sương đã đích thân đứng ra bảo chứng và đặt ra quy củ nghiêm ngặt đến mức này, Hội giữ đất chúng tôi chấp thuận. Nhưng..." Ông quay phắt sang trừng mắt nhìn Mộc Tầm, giọng đanh lại đầy răn đe: "... nếu có lần thứ hai giấu giếm sai lầm hay tự tiện làm bậy sau lưng xóm giềng, thì đừng trách bà con cạn tình cạn nghĩa đuổi cả nhà họ Mộc ra khỏi đất Hạ Khê này!"

Mộc Tầm đứng lặng giữa giàn che tre nứa.

Anh nhìn chậu ươm rễ mục tím đen đang nguội dần dưới chân, rồi nhìn sang ánh mắt nghiêm khắc nhưng bao dung vô bờ của bà giáo Bùi Sương, nhìn vẻ nhẹ nhõm pha lẫn kiên định của Lê Cẩn và Mộc An. Một cảm giác nghẹn ngào, cay đắng dâng lên tận cuống họng, nhưng kỳ lạ thay, tảng đá khổng lồ vô hình từng đè nặng lên lồng ngực anh suốt bao ngày đêm qua — nỗi sợ hãi tột cùng khi phải một mình gánh vác sinh mạng của hàng trăm con người, nỗi ám ảnh phải che đậy những sai lầm vụng về trong bóng tối — bỗng chốc tan biến thành mây khói.

Lần đầu tiên kể từ ngày tìm thấy mầm Tức Căn dưới đáy Giếng Cạn tăm tối, anh nhận ra mình không còn phải đơn độc đối diện với đất chết nữa.

Mộc Tầm quỳ rạp hai đầu gối xuống nền đất nện, hai tay chắp lại trước ngực, cúi đầu thật sâu sát mặt đất trước Phạm Nghi và những người đại diện xóm giềng:

"Cháu... Mộc Tầm, xin cúi đầu nhận tội trước bác Nghi và bà con xóm giềng. Cháu đã sai vì sự kiêu ngạo, nôn nóng và hèn nhát của mình. Cháu xin bàn giao lại toàn bộ sổ sách, và xin chấp hành tuyệt đối mọi quy chế của tổ kỹ thuật luân phiên."

Anh chậm rãi đứng dậy, bước từng bước vững chãi tới bên chõng tre. Cầm lấy cuốn sổ giấy bổi bằng cả hai bàn tay run rẩy nhưng thanh thản, anh trang trọng trao nó vào tay Mộc An.

Bàn tay cô em gái nắm chặt lấy mép bìa sổ xơ rơm, những ngón tay siết lại như một lời cam kết thầm lặng không lời.

Lê Cẩn bước tới bên cạnh, đưa bàn tay to bè, ấm áp nhưng chai sạn của người thợ đào giếng đặt mạnh lên bờ vai gầy của Mộc Tầm, khẽ siết nhẹ:

"Đừng nản lòng, Tầm. Lần này tao với mày cùng canh giếng. Sai thì cùng nhau sửa, từ nay không ai phải gánh một mình nữa đâu."

Mộc Tầm khẽ mỉm cười. Một nụ cười mệt mỏi, cay đắng nhưng thanh thản đến lạ kỳ giữa đống tro tàn của sự thất bại.

***

Chiều muộn buông xuống lòng chảo Hạ Khê. Ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu rưới những vệt sáng thê lương lên những triền đồi trơ trọi đá xám và những luống đất nứt nẻ bốc mùi tro xỉ.

Cách xóm Giếng Cạn hơn mười dặm đường rừng gập ghềnh đá sỏi, nơi ngã ba con suối cạn chảy qua bờ bến Bến Tro hoang vắng, làn gió khô khốc cuốn theo từng đợt bụi tro xám mịt mù từ các bãi thải khổng lồ của mỏ quặng thượng nguồn đổ về.

Đào Nguyệt đứng một mình bên bờ suối đá lởm chởm. Chiếc hòm thuốc bằng gỗ đào mộc mạc đeo chéo bên hông nàng dường như nặng hơn thường lệ, kéo trĩu một bên vai áo vải thô đã sờn rách. Nàng không nhìn về phía lòng chảo Hạ Khê đang chìm dần vào bóng tối mịt mùng, mà đôi mắt trong veo, u uẩn nhìn đăm đắm vào dòng nước suối đục ngầu đang cuộn những lớp bọt đen kịt xuôi về phương nam.

Trong tay nàng, một phong thư dán sáp đỏ mang triện nổi hình chiếc hồ lô đan dược tinh xảo của một y quán danh tiếng ngoài huyện lỵ Bình Xuyên đang khẽ run lên bần bật theo từng cơn gió lạnh rít qua khe đá.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories