Người Máy Biết Làm VườnCh.29 / 30
Chapter 29

Mùa thu hoạch và giấy phép

Không khí tại sảnh lớn của Trạm Dịch vụ Công thị trấn An Hải sớm nay rộn ràng, ấm áp khác hẳn vẻ trang nghiêm, khô khốc thường nhật. Thay cho mùi hồ dán cũ kỹ và mùi giấy tờ lưu trữ ẩm mốc bốc lên từ những ngăn tủ sắt gỉ sét của một công sở miền biển bãi ngang, cả gian sảnh ngập tràn một thứ hương vị tươi ròng của đất đai và mùa vụ. Dọc theo hai bên lối đi lát gạch hoa đã sứt mẻ vì gió muối, người ta xếp ngay ngắn những lẵng hoa cúc biển vàng rực hái vội từ mé cồn cát, những giỏ củ cải trắng muốt còn lấm tấm vài hạt phù sa mịn màng, và những sọt tre đan đầy ắp cải thìa, cải ngọt non tơ vừa cắt sớm từ Vườn cộng đồng Bãi Sau. Mùi ngai ngái, nồng nàn của đất bãi vừa hồi sinh quyện chặt với mùi tinh dầu the ấm của lá tía tô, mùi hăng hăng của lá lốt và hương rơm rạ mục ủ kỹ làm phân xanh, tạo nên một luồng sinh khí đẫm vị ngọt lành, lấn át hoàn toàn hơi gió mặn chát vốn từ ngoài khơi thổi thốc qua khe cửa.

Nắng sớm mùa đông dát một vệt vàng mật ong trải dài trên nền sảnh, rọi sáng từng vạt áo nâu chắp vá, những chiếc áo hoa sột soạt sờn bạc của các bà, các cụ từ xóm Cát, xóm Mũi lên dự họp. Ba dãy ghế băng bằng gỗ lim cũ kê sát nhau chật ních người ngồi, tiếng chuyện trò rì rầm xen lẫn tiếng ho húng hắng của tuổi già tạo nên một không gian quần tụ thân thương như một buổi hội làng sau mùa giông bão.

Ngay tại hàng ghế đầu tiên, đối diện thẳng với chiếc bục phát biểu phủ vải nỉ đỏ, bà Tạ Thị Lành ngồi ngay ngắn, hai đầu gối khép lại nghiêm cẩn. Đôi bàn tay gầy guộc, những khớp ngón sưng to và chai sần vì hơn sáu mươi năm cuốc đất bám vườn đan chặt vào nhau trên vạt quần lụa đen đã bạc màu. Thỉnh thoảng, lồng ngực gầy của bà lại khẽ thắt lại, đôi mắt mờ đục vì đục thủy tinh thể lại chầm chậm ngoái sang góc khán đài, nơi cỗ máy mang mã hiệu TM-VN-2042-8812 đang đứng im lìm trong ánh ban mai.

Gió đứng sừng sững ở đó, tĩnh lặng và trầm mặc như một khối đá tảng ven đê. Thân hình chắp vá bằng thép cường lực và hợp kim nhôm đúc xước xát của nó ánh lên một màu lam xám mờ dưới nắng sớm. Khớp gối chân trái – nơi từng bị cát mặn nghiền nát bạc đạn trong những ngày mưa bão tăm tối – nay được bọc kín bằng một ống cao su lưu hóa dày dặn, đen bóng, hoàn toàn triệt tiêu mọi tiếng ken két lạo xạo mỗi khi cỗ máy điều chỉnh trọng tâm. Tấm giáp ngực được bác Bảy Phước gò đẽo, tiện phẳng từ vỏ lốc máy của một chiếc tàu đánh cá Nhật bãi ôm khít lấy khung xương thép, vững chãi che chắn cho khối pin bán rắn cùng hệ mạch lai ghép phức hợp vừa trải qua những bài sát hạch tải trọng khắt khe bậc nhất.

Bộ cảm biến quang học của Gió khẽ nhấp nháy, phát ra những vệt sáng xanh lam dịu nhẹ khi nó thực hiện chu kỳ quét môi trường với tần số quét êm ái, ghi nhận từng gương mặt đang hiện diện trong gian phòng. Kia là bác Bảy Phước, người thợ rèn kiêm thợ máy già cả đời chỉ quen với mùi mỡ bò và tia lửa hàn, hôm nay lạ lẫm trong chiếc áo sơ mi cộc tay hiếm hoi còn lành lặn, chiếc cổ áo cài kín nút để lộ chòm râu kẽm hoa râm đang giần giật theo từng nhịp nhai trầu. Cạnh đó là cô giáo Vân, mái tóc đen cột gọn gàng sau gáy, đang mỉm cười dịu dàng một tay giữ vai cậu bé Gia Bảo – đứa trẻ hiếu động đang kiễng hẳn cả hai chân lên thành ghế, dỏng tai tròn mắt nhìn về phía người bạn sắt khổng lồ. Và xa hơn một chút, đứng tựa lưng vào mép khung cửa ra vào đón gió, dược sĩ Thúy An ôm chặt chiếc kẹp tài liệu bằng bìa cứng, ánh mắt sắc sảo thường ngày nay lấp lánh niềm mong đợi bình thản.

Tiếng micro trên bục phát ra một chuỗi âm rít nhẹ khi cán bộ Đỗ Mai Hạnh bước lên. Tiếng động nhỏ ấy lập tức kéo toàn bộ sự chú ý của gian sảnh về một mối. Hạnh khẽ đưa tay đẩy lại gọng kính cận màu đồi mồi, mở tập hồ sơ bọc da đỏ có đính con dấu tròn tươi màu mực son của Ủy ban Nhân dân tỉnh. Gương mặt người cán bộ trẻ vốn dĩ luôn giữ nét chỉn chu, mực thước của người làm công tác hành chính pháp quy, nay lại ánh lên một vẻ xúc động khó kìm nén. Cô hít sâu một hơi dài, để lồng ngực căng tràn hương đất bãi và hoa cúc, rồi cất giọng:

— Kính thưa toàn thể bà con thị trấn An Hải, thưa đại diện các ban ngành đoàn thể, các tổ hợp sản xuất và các hộ gia đình tham gia đề án!

Cả hội trường lập tức im phăng phắc. Tiếng vo ve đều đặn của chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt treo trên trần nhà cao dường như cũng chìm nghỉm vào bầu không khí nín thở chờ đợi của hàng trăm con người.

— Căn cứ Quyết định số 42 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ và giải pháp kỹ thuật đặc thù phục vụ dân sinh tại vùng bãi ngang duyên hải; căn cứ Biên bản sát hạch an toàn thực địa ngày hôm qua của Tổ Kiểm định Thiết bị Tự trị tỉnh do Kỹ sư trưởng Phạm Quốc Duy chủ trì; và căn cứ văn bản cam kết bảo trợ kỹ thuật toàn diện của đại diện Tập đoàn Công nghệ Tân Mạch cùng cơ sở cơ khí gia công địa phương... Hôm nay, thay mặt Ủy ban Nhân dân thị trấn An Hải và Hội đồng thẩm định cấp tỉnh, tôi xin long trọng công bố Quyết định số 318/QĐ-UBND: Phê duyệt đề án thí điểm, chính thức cấp giấy phép hoạt động công cộng đặc cách cho robot nông nghiệp tự hành mang mã hiệu TM-VN-2042-8812, thường gọi là robot Gió, trong vai trò thiết bị hỗ trợ nông nghiệp cộng đồng tại thị trấn An Hải!

— Hoan hô! Được rồi! Có giấy phép rồi!

Một tiếng hét thất thanh đầy phấn khích bật ra từ cổ họng cậu bé Gia Bảo. Lập tức, sự kìm nén của cả hội trường vỡ òa thành một tràng pháo tay rầm rộ, vang dội như sấm dậy. Những bàn tay chai sần gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ; bà Sương ngồi ở dãy thứ hai giơ hai tay vỗ bôm bốp, người chồm tới lắc mạnh bả vai bác Bảy Phước bên cạnh khiến ông thợ già suýt đánh rơi chiếc tẩu thuốc rỗng:

— Nghe chưa ông Bảy! Nghe rõ từng chữ chưa! Có giấy phép đàng hoàng của tỉnh cấp rồi nghen! Hết đứa nào dám đem xe cẩu xuống đòi tịch thu, đòi bắt đền bắt nộp đem đi nấu thép nữa rồi nghen!

Bác Bảy Phước hắng giọng một tiếng thật to, cố tình làm mặt giận dữ để giấu đi khóe mắt đang đỏ hoe và cay xè sau lớp mi dày, lầm bầm trong miệng:

— Cái bà này thiệt là... Rõ khéo vẽ chuyện! Ngồi yên nghe cô Hạnh đọc cho hết các điều khoản đã nào! Văn bản pháp quy của nhà nước chứ có phải cái tờ giấy gói bánh xèo ngoài chợ đâu mà vội mừng quýnh quáng lên thế!

Đỗ Mai Hạnh đứng trên bục, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười rạng rỡ. Cô giơ hai tay ra hiệu xin hội trường giữ trật tự. Khi tiếng vỗ tay dần lắng xuống thành những tiếng xì xào hoan hỉ, giọng người cán bộ tư pháp lại vang lên dõng dạc, rành rọt từng từ, từng câu, tựa như những nhát búa đóng chắc nịch vào không gian, xác lập một ranh giới pháp lý bền vững mà cộng đồng cư dân nơi đây đã phải trả bằng bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả những đêm thức trắng chống bão:

— Quyết định nêu rõ: Giấy phép đặc cách này được cấp kèm theo các điều kiện vận hành nghiêm ngặt nhằm bảo đảm tối đa an toàn tính mạng, tài sản và quyền riêng tư của nhân dân địa phương. Thứ nhất, về phạm vi không gian: Robot Gió được trao quyền tự trị lao động giới hạn trong ranh giới các vùng đất nông nghiệp đã được đo đạc, lập bản đồ địa chính gồm: toàn bộ khu vườn của hộ gia đình bà Tạ Thị Lành tại thôn Đông, Vườn thực nghiệm sinh thái của Trường Tiểu học Hải Bình, và khu vực Vườn cộng đồng Bãi Sau. Mọi hành trình di chuyển qua lại trên các trục đường dân sinh, ngõ xóm công cộng liên thôn bắt buộc phải duy trì vận tốc cơ học tối đa không vượt quá năm ki-lô-mét một giờ, đồng thời phải luôn có người bảo trợ kỹ thuật hoặc người giám sát cộng đồng đi kèm.

Hạnh dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn thẳng về phía kỹ sư Minh và bác Bảy Phước đang đứng nép bên cạnh cỗ máy:

— Thứ hai, về mặt an toàn cơ điện và bảo trì cấu trúc: Robot Gió phải chịu sự bảo trợ kỹ thuật thường trực của Tổ hợp dịch vụ cơ khí – công nghệ địa phương do kỹ sư Tạ Hoàng Minh và thợ cơ khí Nguyễn Văn Phước đồng chịu trách nhiệm pháp lý. Tổ hợp có nghĩa vụ thực hiện quy trình kiểm tra toàn diện định kỳ hai tuần một lần đối với hệ thống phanh hãm từ tính, độ rơ của các khớp cầu xoay, hệ thống cáp bọc chống giật, cùng cơ chế tự ngắt nguồn khẩn cấp cơ khí E-Stop gắn ngoài. Toàn bộ linh kiện thay thế, các mối hàn gia cố thân vỏ bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn chống ăn mòn cát mặn và chịu lực va đập đã đăng ký trong hồ sơ kiểm định an toàn thực địa.

Ánh mắt Hạnh dịch chuyển sang phía khung cửa ra vào, nơi Thúy An vẫn đang lặng lẽ lắng nghe:

— Thứ ba, về an toàn dữ liệu và quyền riêng tư của cư dân: Robot Gió chịu sự giám sát dữ liệu độc lập của đại diện cộng đồng do bà con tín nhiệm bầu ra, trực tiếp là dược sĩ Nguyễn Thúy An. Mọi luồng thông tin nhật ký hành trình, bản đồ quét địa hình ba chiều cùng các chỉ số cảm biến độ ẩm, thổ nhưỡng phải được sao lưu và niêm yết công khai trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của thị trấn vào mười tám giờ mỗi chiều thứ Sáu, bảo đảm mọi người dân đều có quyền tra cứu, đối chiếu. Công tắc ngắt cứng nguồn nuôi micro thu âm cơ học phải được duy trì ở trạng thái ngắt tuyệt đối khi robot hoạt động ngoài phạm vi đất tư nhân của hộ gia đình bà Tạ Thị Lành. Mọi hành vi kích hoạt thu thập hình ảnh, âm thanh trái phép hoặc truyền phát dữ liệu ra bên ngoài mà không thông qua phê duyệt của cộng đồng sẽ dẫn tới việc đình chỉ giấy phép ngay lập tức mà không cần báo trước.

Hạnh ngừng lại một khoảng lặng rất dài. Không gian trong sảnh dường như đông cứng lại, đến nỗi tiếng một con chim sẻ đậu ngoài bậu cửa kính cất tiếng hót líu lo cũng nghe rõ mồn một. Tờ quyết định trên tay người cán bộ trẻ khẽ rung rinh. Giọng Hạnh bỗng chùng xuống một cung bậc, trở nên ấm áp và tha thiết lạ thường:

— Và cuối cùng, điều khoản bổ sung đặc biệt số bốn, được xây dựng dựa trên sự đồng thuận tuyệt đối của một trăm phần trăm đại biểu nhân dân tham dự phiên điều trần, được sự chấp thuận bằng văn bản của đại diện nhà sản xuất Tân Mạch và được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê chuẩn: Nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi can thiệp phần cứng, nâng cấp hệ điều hành cưỡng bức hoặc chạy lệnh khởi tạo sạch nhằm mục đích xóa bỏ vùng ký ức thích nghi, các tập tin lịch sử và thói quen lao động của robot Gió lưu trữ trên chip Khôi-Nguyên 7X, khi chưa có sự đồng thuận được ghi nhận và xác thực của chính cỗ máy!

Một thoáng nín thở sững sờ bao trùm khắp khán phòng, như thể người ta vẫn chưa tin nổi những điều mình vừa nghe. Rồi, tựa như một con đê chắn sóng ngàn năm bỗng vỡ tung để dòng nước mát tràn vào đồng bãi, tiếng hò reo bùng lên, chấn động cả trần nhà vôi vữa.

Bà Lành run rẩy úp trọn hai bàn tay khô héo lên mặt. Những ngón tay chai sần, nứt nẻ vì phèn chua và gió bấc co rúm lại, cố ngăn những giọt nước mắt nóng hổi đang trào ra từ hai hốc mắt sâu thẳm. Nước mắt rơi lã chã qua kẽ tay, thấm ướt vạt áo lụa bạc màu.

Không còn ai có quyền xóa sạch nó nữa. Không một mệnh lệnh lập trình lạnh lùng nào từ thành phố xa xôi có thể tước đoạt đi những gì cỗ máy này đã gom góp bằng từng vòng quay servo, từng bước chân lội bùn. Ký ức về những buổi chiều hoàng hôn đỏ quạch bóng dáng ông Tư khom lưng bên gốc cải già; tiếng dặn dò run rẩy bày cách ủ tro bếp giữ ấm cho luống rau ngót sau đợt sương muối; mùi bùn non tanh nồng sau trận lũ dữ; những giọt mồ hôi rơi lộp độp trên bo mạch của thằng Minh trong đêm bão giật; cả cái vẻ lóng ngóng, vụng về của thằng bé Bảo khi học cách cắm cọc tiêu... Tất cả những mảnh ký ức lao động nghèo khó mà thiêng liêng ấy, cỗ máy đã gom nhặt, gìn giữ bằng chính thân xác bằng thép vụn rỉ sét của nó qua bao mùa nắng rát mưa dầm, giờ đây đã được pháp luật của con người, được sự che chở của cả một làng quê đứng ra bảo bọc.

Gió vẫn đứng thẳng tắp bên bục gỗ. Trên màn hình LED nhỏ khảm giữa lồng ngực bọc lốc máy tàu cá, một chuỗi ký tự màu xanh lục bảo khẽ nhấp nháy, lướt qua với nhịp độ êm đềm: `#LEGAL_STATUS: SECURED`. Cảm biến quang học siêu nhạy của nó hướng về phía bà Lành, ghi nhận dao động cơ học cực nhỏ nơi lồng ngực gầy gò của bà cụ: nhịp tim bảy mươi hai lần một phút, biên độ hô hấp sâu dần, huyết áp trở về vùng an toàn. Đầu cỗ máy khẽ nghiêng sang một góc năm độ – góc nghiêng quen thuộc mà nó thường dùng mỗi khi quan sát hạt mầm đội đất nhú lên – hướng về phía Minh đang đứng bên mép bục phát biểu.

Minh bước lên bục gỗ, hai tay đón lấy bản quyết định đóng dấu đỏ từ tay cán bộ Hạnh. Chàng kỹ sư trẻ không mặc âu phục sang trọng, chỉ mặc chiếc áo sơ mi bạc màu xắn cao quá khuỷu tay, mười đầu ngón tay vẫn còn hằn những vết sẹo bỏng thiếc hàn và vệt mỡ bò bám chặt trong kẽ móng tay sau đêm thức trắng chạy chẩn đoán mạch. Minh quay mặt về phía bà con xóm Cát, xóm Mũi, gập người cúi đầu thật sâu, một cái cúi đầu trĩu nặng ân tình:

— Cháu... con xin cúi đầu cảm ơn cô Hạnh, cảm ơn chú Duy, anh Quân, và trên hết là con xin đội ơn toàn thể bà con cô bác làng mình. Nếu không có những cánh tay giơ lên dứt khoát trong buổi biểu quyết hôm trước, nếu không có lòng bao dung của bà con những khi cỗ máy này lóng ngóng làm hỏng luống cày, làm vỡ mương nước, thì có lẽ sáng nay Gió đã nằm bẹp dí thành một đống sắt phế liệu vụn nát dưới lưỡi kìm của trạm tái chế rồi. Bản quyết định này của chính quyền không chỉ cứu lấy sự sống của một cỗ máy, mà nó cứu lấy cả niềm tin của tụi con vào mảnh đất đầy nắng gió này.

Nói đoạn, Minh bước xuống từng bậc thềm gỗ của khán đài. Anh cầm trên tay một tập hồ sơ thứ hai đóng bìa cứng màu xanh công nhân, bước những bước dài đĩnh đạc tiến thẳng về phía hàng ghế nơi bác Bảy Phước đang ngồi bất động.

— Chú Bảy, — Minh dừng lại, hai tay nâng tập hồ sơ chìa ra trước mặt người thợ già, — lời hứa bữa trước giữa hai chú cháu mình ngoài xưởng rèn... Cháu đã soạn thảo xong từng điều khoản chi tiết rồi đây ạ.

Bác Bảy Phước giật mình chớp mắt, đôi lông mày sâu róm bạc phếch nhíu chặt lại theo phản xạ phòng thủ quen thuộc của một người thợ già cả đời chịu nhiều thiệt thòi:

— Giấy má gì nữa đây anh kỹ sư? Lại tính bày trò bắt cái thân già này ký cam kết không được vung búa đập mạnh tay lên mấy cái vi mạch mỏng manh của anh nữa hả?

Tiếng cười rúc rích, vui vẻ lập tức lan khắp mấy dãy ghế phía sau. Minh lắc đầu, ánh mắt sáng rực sự chân thành và kiên định:

— Dạ không phải. Đây là Bản thỏa thuận thành lập Tổ hợp Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp An Hải — xưởng hợp tác chung của hai chú cháu mình. Chú phụ trách mảng cơ khí nặng, rèn đúc phôi, gò hàn kết cấu, xử lý chống ăn mòn cát mặn và phục hồi khung gầm; cháu chịu trách nhiệm về mạch điện, chẩn đoán phần mềm, lập trình vi điều khiển và bảo dưỡng toàn bộ hệ thống cơ điện tự hành cho bà con trong vùng. Toàn bộ lợi nhuận thu được sau mỗi vụ mùa, sau khi trích ba mươi phần trăm vào quỹ bảo trợ kỹ thuật và mua linh kiện dự phòng cho Gió, sẽ chia đều cho hai chú cháu. Và điều khoản quan trọng nhất nằm ở trang cuối: xưởng mình sẽ nhận sửa chữa máy bơm nước, máy nổ nông nghiệp miễn phí một trăm phần trăm tiền công cho tất cả các hộ gia đình già yếu, neo đơn trong xã.

Bác Bảy Phước sững sờ. Đôi mắt kèm nhem của người thợ già mở to hết cỡ, nhìn chằm chằm vào những dòng chữ đen in rành rọt trên trang giấy trắng. Bàn tay thô ráp, sần sùi như một khúc gỗ ngập mặn của ông khẽ run rẩy khi chạm vào mép giấy. Suốt bốn mươi năm ròng rã, cái xưởng rèn xập xệ lợp tôn thủng lỗ chỗ ven chân đê của ông chỉ được người đời coi là một bãi sắt vụn gom nhặt, một nơi chắp vá tạm bợ những chiếc chân vịt gãy, những chiếc máy bơm cũ mèm mà cánh thợ trẻ trên huyện chê không thèm sờ tới. Lớp trẻ lớn lên lần lượt bỏ xứ mà đi, đem theo cả cái định kiến nghiệt ngã rằng thời buổi này máy móc hỏng là phải vứt bỏ để mua đồ mới tinh bóng bẩy, rằng những người thợ thủ công già nua như ông chỉ là tàn tích mục ruỗng của thời tàu cá vỏ gỗ. Không một ai tin rằng những mảnh sắt rỉ, những con bu-lông ren mịn tiện tay, hay cái kinh nghiệm ngửi mùi khói máy để đoán bệnh pít-tông lại có thể ngồi chung mâm, đứng chung hàng ngũ với trí tuệ nhân tạo và những con chip điện tử tối tân.

— Anh... anh tính làm ăn thiệt với cái xưởng sắt vụn tàn tạ của tôi hả Minh? — Giọng bác Bảy Phước bỗng nghẹn đắng, khàn đặc đi như có hạt cát mắc ngang cuống họng.

— Chú Bảy, — Minh ngồi thụp xuống một bên gối, nhìn thẳng vào mắt người thợ già, — nếu không có bàn tay chú tôi luyện lại lốc máy tàu cá, Gió đã nứt toác lồng ngực dưới bài kiểm tra tải trọng của tổ kiểm định. Nếu không có cái rãnh thoát cát góc nghiêng bốn mươi lăm độ do chính chú đục tay trên bạc đạn, khớp gối của nó đã chết cứng vì cát biển từ tuần trước rồi. Tri thức thực nghiệm của chú là xương sống của mọi cỗ máy muốn bám trụ lại mảnh đất khắc nghiệt này. Cháu có học đại học mười năm, đọc cả ngàn cuốn sách kỹ thuật ở thủ đô cũng không bao giờ có được bốn mươi năm kinh nghiệm tay búa của chú. Cháu cần chú. Đất này cần chú. Cháu muốn ở lại đây dựng xưởng cùng chú.

Bà Lành ngồi bên cạnh, mỉm cười đôn hậu, lấy tay huých nhẹ vào cánh tay áo ông thợ rèn:

— Ký lẹ đi ông Bảy! Thằng Minh nó nói từ tận đáy lòng đó. Nó tính cắm rễ ở lại cái xứ cát mặn này thiệt bụng rồi. Ông còn ngồi đó làm bộ làm tịch tới chừng nào nữa hả ông giáo búa?

— Ai... ai thèm làm tịch! — Bác Bảy Phước lúng búng phân bua, vội vàng luồn tay vào túi áo ngực lôi ra cây bút bi cũ mèm đã bị cắn nát phần đuôi nhựa.

Ông đặt tập hồ sơ lên đầu gối, cẩn thận miết phẳng từng nếp gấp rồi cắm cúi ký từng nét chữ vuông vức, đậm đặc và dứt khoát như một nhát đục thép: *Nguyễn Văn Phước*.

Khi Minh và bác Bảy Phước cùng đứng dậy, giơ cao hai bản thỏa thuận có chữ ký đỏ au trước mặt toàn thể bà con, cả sảnh đường lại một lần nữa rung chuyển trong tiếng vỗ tay rầm rộ. Lần này, tràng pháo tay không chỉ mang niềm vui mừng cho một cỗ máy thoát nạn, mà nó là sự hân hoan trước một mầm sống thực sự vừa đâm chồi: một sinh kế vững vàng, tự chủ, mọc rễ ngay từ những xóm nghèo ven biển, kết nối đôi bàn tay lấm lem dầu mỡ của quá khứ với trí tuệ công nghệ của tương lai, biến những con người bình dị thành điểm tựa vững chãi cho nhau.

***

Ba tuần sau ngày công bố bản quyết định lịch sử ấy, thị trấn An Hải bước vào những ngày cuối đông đẹp nhất mà người già nơi đây từng chứng kiến trong suốt hai thập kỷ qua.

Những đợt gió mùa đông bắc tràn về mang theo cái lạnh se sắt nhưng hanh hao, khô ráo, quét sạch bầu trời duyên hải thành một vòm xanh ngắt không một gợn mây. Những con triều mặn hung hãn của tháng mười một nay đã chịu rút lui xa tít tắp ra ngoài mép rạn đá ngoài khơi, nhường lại bờ bãi cho những luồng gió lộng mang vị phù sa ngọt ngào từ cửa sông đổ về.

Tại Vườn cộng đồng Bãi Sau, một khung cảnh mà chỉ sáu tháng trước đây thôi, dẫu có nằm mơ giữa ban ngày cũng không một người dân nào ở xóm Cát dám mường tượng, nay đang phô bày vẻ rực rỡ đến nao lòng dưới ánh nắng sớm tinh khôi. Mảnh đất rộng hơn hai sào từng là bãi hoang phế ngập ngụa cỏ chỉ sắc nhọn, rác rưởi trôi dạt, vỏ chai vỡ và những vũng nước đọng mặn chát phèn chua, nay đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một thảm xanh mướt mát, ngút ngàn tầm mắt, trải dài tít tắp từ chân đê phòng hộ ra tận mép mương dẫn nước ngọt.

Bí quyết làm nên vụ mùa kỳ diệu giữa mùa đông này nằm ở chính những thuật toán thủy văn tỉ mỉ mà Gió đã kiên trì đo đạc và tính toán suốt chuỗi ngày bão lụt vừa qua. Thay vì để dòng nước lũ từ thượng nguồn cuồn cuộn trôi ra biển một cách vô ích, cỗ máy đã vận hành một quy trình thau chua rửa mặn độc đáo chưa từng có trong tiền lệ canh tác địa phương: nó hướng dẫn bà con mở các cửa cống ngăn mặn đúng vào thời khắc đỉnh triều nước ngọt của sông dâng cao nhất, mượn áp lực khổng lồ của dòng nước lũ để cuốn trôi toàn bộ lớp muối kết tinh trên bề mặt xuống hệ thống mương tiêu sâu một mét do chính nó cày xới. Tiếp đó, ngay khi mặt đất vừa ráo nước, Gió hướng dẫn người dân rải đều một lớp hợp chất gồm vôi bột nghiền mịn trộn với mùn cưa và tro trấu hun dở. Lớp mùn xốp này hoạt động như một màng lọc sinh học, khóa chặt tầng phèn nhôm bên dưới đáy, không cho muối mặn mao dẫn ngược lên rễ cây. Đất bãi sau thảm họa bão lũ tưởng như đã biến thành bãi đất chết, hóa ra lại được tắm gội, thau rửa sạch sẽ đến từng hạt cát.

Hôm nay là buổi thu hoạch rộ đầu tiên của vụ rau đông.

Từ bốn giờ sáng, khi sương mù còn giăng mờ mịt mặt sông và cái lạnh buốt thấu xương của gió biển vẫn làm tê cóng những đầu ngón tay, ánh đèn pin le lói đã lấp loáng khắp các bờ luống ở Bãi Sau. Tiếng kéo bấm tanh tách rộn ràng hòa cùng tiếng cười nói, tiếng gọi nhau í ới xua tan đi sự vắng lặng nghèo nàn vốn có của bờ biển hoang vu.

Gió sải từng bước chân vững chãi và êm ái trên những rãnh đất xốp mịn đã được lu lèn cẩn thận. Đôi cánh tay cơ khí mang găng đệm cao su mềm khéo léo luồn xuống tận gốc những cây bắp cải cuộn chặt, dùng lực cắt thủy lực vừa đủ để tách rời thân cây mà không làm dập nát một chiếc lá ngoài nào, rồi nhẹ nhàng xếp từng cây rau vào sọt tre.

Nó không còn vận hành một cách vội vã, cuồng loạn nhằm chạy đua theo các chỉ số định ngạch công nghiệp vô hồn như thời còn cài hệ điều hành cũ của nhà máy. Từng chuyển động xoay khớp, từng nhịp nâng hạ của cỗ máy giờ đây đã hoàn toàn thích nghi với nhịp thở, nhịp bước chân và sức lực của các cụ già trong hội làm vườn.

Khi cảm biến quang học nhận thấy bà Tư Chắt – người phụ nữ bảy mươi tuổi mắc chứng thoái hóa khớp gối nặng – đã phải khom lưng nhổ cải liên tục suốt mười lăm phút, Gió liền tự động bước lại gần. Nó không phát ra bất kỳ tiếng còi báo động chói tai nào, chỉ lặng lẽ hạ thấp thân máy xuống ba mươi phân, đặt chiếc sọt rau ngay sát mép bàn tay của bà cụ, chìa một điểm tựa cơ khí bọc cao su ở phần hông ra phía trước để bà có thể vịn tay đứng thẳng lưng lên nghỉ ngơi.

— Con robot này thiệt tình... khéo quá chừng khéo! — Bà Tư Chắt vịn tay vào hông máy, đứng thẳng người thở phào một hơi nhẹ nhõm, đưa tay áo quệt vệt mồ hôi đang rịn ra trên trán rồi tấm tắc khen. — Nó biết tui đau cái khớp háng bên trái, cứ lựa cái lúc tui mỏi nhừ người là nó ghé sọt tới liền, lại còn đứng im cho tui dựa lưng nữa. Người thiệt nhiều khi còn chưa tinh ý, chưa biết thương người già bằng cái cỗ máy này đâu nghen!

Đúng sáu giờ sáng, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng phi lao ngoài bờ sóng, nhuộm hồng cả một khúc sông, chiếc xe kéo ba gác tự chế do Gió kéo chậm rãi lăn bánh tiến vào cổng Chợ Sớm An Hải.

Khu chợ ven sông họp chật hẹp bên bến đò hôm nay bỗng như bừng sáng bởi sự xuất hiện của đoàn thu hoạch xóm Cát. Dẫn đầu đoàn là bà Sương, chiếc khăn rằn quấn lệch trên đầu, chiếc nón lá cắp bên hông, miệng oang oang cất tiếng rao vang cả một góc chợ, át cả tiếng mặc cả mua bán tôm cá ồn ào:

— Rau sạch Bãi Sau đây bà con cô bác ơi! Cải ngọt, cải thìa đất bãi mười phần ngon ngọt cả mười đây! Cải bẹ xanh mướt mượt, xà lách giòn rụm, củ cải trắng ngọt lịm không một giọt thuốc sâu, không một hạt phân hóa học đây! Rau tưới nước ngọt phù sa, thu hoạch sớm tinh mơ còn đẫm sương mai đây!

Tiếng rao của bà Sương như một thỏi nam châm hút sạch sự chú ý của cả người mua lẫn người bán. Chỉ trong chớp mắt, các tiểu thương, các bà nội trợ và những người đi chợ sớm đã xúm đông xúm đỏ quanh quầy hàng dã chiến của Hội Người cao tuổi. Những bó cải ngồng mập mạp xanh mướt, những củ cải trắng tròn trịa, nặng trịch còn vương chút đất cát mịn màng được chuyền tay nhau từ người này sang người khác trong sự kinh ngạc, trầm trồ.

— Trời đất quỷ thần ơi! — Chị bán cá đối diện trố mắt nhìn củ cải trắng to bằng bắp tay trên tay bà Sương. — Đất Bãi Sau mà trồng được củ cải tốt dường này thiệt sao bà Sương? Mấy chục năm nay thả con bò ra đó gặm cỏ nó còn chê cỏ mặn không thèm ăn, sao giờ lại ra được thứ rau củ tốt tươi như trên đất phù sa miệt vườn vậy nè?

— Ấy thế mới tài chứ lị! — Bà Sương hất hàm đầy tự hào, đưa mắt nhìn về phía Gió đang đứng cẩn thận dùng hai cánh tay máy bốc từng bó rau xếp ngay ngắn lên mặt sạp gỗ. — Nhờ kỹ thuật tính toán con nước của kỹ sư Minh, nhờ cái lưỡi cày xới sâu của bác Bảy Phước, và trên hết là nhờ cái cỗ máy làm vườn này nó ngày đêm đo mặn, canh đúng con nước lũ để xả chua rửa mặn đó! Mấy cô mấy chị cứ bẻ thử một lá cải ăn sống coi, ngọt lịm như nước mía, đậm đà vị phù sa chứ không có nhạt toẹt, xốp xộp như cái thứ rau trồng phòng lạnh trên thành phố đâu nghen!

Một người ăn thử, rồi hai người ăn thử. Tiếng trầm trồ tán thưởng nhanh chóng biến thành những lời giục giã mua hàng rộn rã:

— Bán cho tôi hai bó cải bẹ với ba củ cải trắng đi bà Sương!

— Để cho tôi nguyên cái sọt xà lách kia nghen, tôi lấy về làm rau sống ăn bánh xèo trưa nay!

Chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ, sáu sọt tre lớn đựng đầy rau củ tươi non từ Bãi Sau đã được bán sạch nhẵn không còn sót lại một cọng lá sâu. Chiếc túi vải thổ cẩm đeo bên hông bà Sương căng phồng những tờ tiền lẻ được vuốt phẳng phiu. Hai người chủ quầy rau đầu mối lớn ở chợ huyện thậm chí còn lặn lội xuống tận nơi, rút tiền cọc dúi vào tay bà Lành để đặt mua độc quyền toàn bộ lứa thu hoạch cà chua và dưa leo vào tuần tới.

Đứng nhìn những chiếc sọt tre rỗng không nằm ngay ngắn trên thùng xe ba gác, nhìn gương mặt rạng ngời niềm hân hoan của những cụ già tóc bạc phơ vừa tự tay làm ra đồng tiền từ chính mảnh đất quê hương, ông Tám khẽ nghiêng người, nói nhỏ vào tai bà Lành:

— Chị Lành này, cái vạt đất hoang phía nam chân đê ấy, chỗ gần cái trạm bơm dầu cũ bỏ phế hồi chiến tranh, tôi đo thử rồi, độ mặn ở đó còn thấp hơn Bãi Sau này nhiều lắm. Hay là... xong đợt thu hoạch Tết này, Chi hội mình làm đơn bàn với cô Hạnh xã, xin cho nhận thêm sào đất đó nữa đặng phục hóa luôn thể? Lũ nhỏ trường tiểu học Hải Bình hôm qua cũng tíu tít khoe với tôi, tụi nó bảo vụ xuân này muốn nhờ chú Gió cày giúp một bãi đất cát để trồng dưa hấu ăn Tết!

— Được quá đi chứ ông Tám! — Bà Lành cười, những nếp nhăn nơi khóe mắt dạt ra như những gợn sóng bình yên trên mặt sông êm ả. — Đất quê mình bao đời nay có bao giờ phụ lòng người đâu, chỉ tại mình thiếu sức, thiếu máy mà đành lòng bỏ bê nó thôi. Cứ có sức người đồng lòng, lại có thêm cỗ máy thông minh nó đỡ đần những việc nặng nhọc, độc hại thì cát mặn cỡ nào rồi cũng phải hóa thành vườn xanh mướt hết thôi ông à!

Gió đứng im lìm bên mép chợ, hai cánh tay máy thu gọn sát thân mình để không làm cản trở lối đi của người gánh hàng rong. Cảm biến âm thanh đa hướng của nó thu nhận toàn bộ những thanh âm hỗn tạp mà nồng ấm của buổi chợ: tiếng cười giòn tan của các bà, tiếng mặc cả thân tình, nhịp tim đập rộn ràng đầy phấn chấn của những người lao động nghèo.

Trong sâu thẳm của chip vi xử lý Khôi-Nguyên 7X, các luồng dữ liệu mới liên tục được đối chiếu với những tệp nhật ký cũ kỹ lưu trữ từ những ngày đầu mùa đông năm ngoái. Hệ thống nhớ lại chuỗi ngày nó chỉ là một khối kim loại phế thải vô dụng nằm chờ chết bên góc sân, nhớ bóng lưng còng cô độc của bà Lành ngồi nhặt từng hạt sạn bên mâm cơm nguội ngắt dưới ánh đèn dầu leo lét, nhớ sự nghi kỵ lạnh lùng của dân làng khi nhìn một cỗ máy công nghiệp xa lạ. Một tệp lệnh mới được tạo lập, tự động ghi đè và khóa vĩnh viễn vào phân vùng bất biến của bộ nhớ: `#COMMUNITY_REGENERATION: COMPLETE. EXPANSION_FACTOR: POSITIVE`.

Cỗ máy đã học được một điều mà không có bất kỳ dòng mã nguồn xuất xưởng nào từng dạy nó: khu vườn thực sự không hề có ranh giới cọc rào. Khu vườn không dừng lại ở bờ tre nhà bà Lành, nó đã vươn ra bãi cát hoang ven biển, len lỏi vào sân trường tiểu học, tràn qua từng sạp chợ ven sông, và cắm rễ thật sâu vào trong huyết mạch, trong niềm hy vọng tái sinh của cả một cộng đồng.

***

Buổi chiều hôm ấy, nắng rải một vạt vàng óng ả như mật ong rừng lên khoảng sân gạch đỏ trước hiên nhà bà Lành. Cây khế cổ thụ do chính tay ông Tư trồng trước ngày tạ thế, sau những ngày oằn mình chống chọi với cuồng phong bão dữ, nay đã bắt đầu đâm ra những chồi non xanh biếc, mỡ màng phủ kín những vết cắt sâu hoắm trên thân cành vừa kéo da non.

Bên dưới giàn mướp hương đã rụng hết hoa vàng, chiếc bàn trà bằng gỗ keo đã được lau chùi sạch bóng. Trên bàn, một ấm trà móc câu nóng hổi bốc khói nghi ngút bên cạnh đĩa kẹo gừng cay nồng và đĩa lạc rang thơm phức.

Mọi người tụ họp về đây đông đủ lạ thường: bà Lành ngồi ở vị trí chủ nhà, kỹ sư Minh ngồi cạnh bác Bảy Phước, cô giáo Vân dịu dàng rót trà cho cán bộ Hạnh và dược sĩ Thúy An, còn cậu bé Gia Bảo thì ngồi xếp bằng ngay trên bậu cửa, đôi mắt không rời cỗ máy Gió đang đứng lặng lẽ bên cạnh giàn trầu.

Bác Bảy Phước hắng giọng một tiếng, đặt lên mặt bàn một chiếc hộp gỗ nhỏ làm bằng gỗ mít, bên trong lót một tấm vải nhung đỏ thắm đã ngả màu mộc mạc. Bàn tay thô ráp của người thợ già run run mở nắp hộp, cẩn trọng lấy ra một vật thể bằng kim loại sáng lấp lánh dưới ánh tà dương.

Đó là một tấm biển nhỏ đúc bằng đồng thau nguyên chất, kích thước chỉ nhỉnh hơn bàn tay người lớn một chút. Bốn góc tấm biển được mài vát cong mềm mại, khoan sẵn bốn lỗ bắt vít ren mịn thẳng tắp. Trên bề mặt tấm biển đồng đã được bác Bảy Phước tỉ mỉ dùng giấy ráp nước đánh bóng như gương, những nét chữ hoa được chạm khắc thủ công bằng mũi đục thép nổi bật lên sắc sảo, đĩnh đạc và rắn rỏi:

**G-7 GIÓ** **NGƯỜI LÀM VƯỜN CỦA THỊ TRẤN AN HẢI** *(Giấy phép đặc cách số 318/QĐ-UBND)*

Nhìn thấy tấm biển đồng lấp lánh, cậu bé Bảo không kìm được thích thú, reo khẽ:

— Đẹp quá bác Bảy ơi! Chữ bác đục bằng búa mà nhìn sắc sảo, thẳng tắp y như chữ in trong sách giáo khoa của tụi cháu vậy!

— Bậy nào! — Bác Bảy Phước vờ trừng mắt lườm yêu thằng bé, nhưng khóe miệng lại nở một nụ cười rạng rỡ không giấu giếm vẻ tự hào. — Tay nghề rèn đục bốn mươi năm của tao ở cái bến cá này mà mày dám bảo in sách à! Mỗi nét chữ tao phải gõ cả trăm nhát búa con đó con!

Nói rồi, bác Bảy quay sang nhìn bà Lành, giọng ông chùng xuống đầy vẻ kính trọng:

— Chị Lành, tôi đã đo đạc ni tấc hết sức cẩn thận rồi. Tấm biển này được đúc bằng đồng thau chân vịt tàu biển, bền gấp mấy lần sắt thép thường. Tôi dùng đúng bốn con ốc vít bằng inox ba lẻ tư chống gỉ tuyệt đối, bắt thẳng vào bốn lỗ ren chờ sẵn trên tấm ốp ngực lốc máy của thằng Gió. Dù có dầm mưa dãi nắng hai mươi năm nữa, dù có gặp bão biển cấp mười hai thổi cát bay rát mặt, tấm biển này cũng không bao giờ rơi ra hay hoen ố được đâu!

Bà Lành run rẩy đưa hai bàn tay đón lấy tấm biển đồng từ tay người thợ rèn già. Miếng kim loại nặng trịch, mát rượi khi chạm vào da thịt, nhưng kỳ lạ thay, dường như nó lại tỏa ra một hơi ấm nồng nàn – hơi ấm truyền lại từ bàn tay, từ sự nhọc nhằn và tâm huyết của người thợ cả đời gắn bó với sắt thép. Đôi mắt mờ đục của bà cụ ngấn lệ. Bà ngẩng đầu nhìn cô giáo Vân:

— Cô Vân ơi... cô với tôi, hai cô cháu mình cùng gắn nó lên ngực cho thằng Gió nghen cô.

— Dạ, cháu cùng gắn với bà. — Vân khẽ đáp, giọng nghẹn ngào vì xúc động.

Minh lập tức đứng dậy, cầm theo chiếc tuốc-nơ-vít thân dài bọc nhựa cách điện chuyên dụng bước lại gần cỗ máy. Anh ngước nhìn vào màn hình hiển thị của Gió, ra lệnh bằng một giọng nói trầm tĩnh và ấm áp:

— Gió, kích hoạt chế độ nghỉ đứng. Khóa cứng khớp ngực ở góc không độ.

— *Đã kích hoạt chế độ nghỉ an toàn. Tôi đang lắng nghe.* — Giọng loa phát thanh của Gió vang lên trầm ấm, vang vọng trong khoảng sân nhỏ. Bộ lọc tạp âm mới do Minh lắp đặt đã loại bỏ hoàn toàn những tiếng rè rè cơ học, khiến âm thanh của nó nghe gần gũi, dịu êm như tiếng nói của một con người.

Cỗ máy đứng thẳng tắp, hai cánh tay máy buông xuôi dọc thân mình, bộ cảm biến quang học hạ thấp góc quét xuống ba mươi lăm độ, chăm chú nhìn người phụ nữ già nua đang run rẩy tiến lại gần trước ngực mình.

Bà Lành nhón gót chân, cẩn thận nâng tấm biển đồng áp chặt vào vị trí chính giữa lồng ngực – ngay trên tấm giáp gù tiện từ lốc động cơ tàu cá của bác Bảy Phước. Cô giáo Vân đứng bên cạnh, một tay giữ chặt mép biển đồng mát lạnh, tay kia nhẹ nhàng đỡ lấy cánh tay gầy guộc đang run lên vì xúc động của bà cụ.

Minh đưa từng con ốc vít inox vào bốn góc ren. Tiếng kim loại xoay vào nhau phát ra những âm thanh *ken két* giòn giã, chắc nịch. Từng vòng xoắn ốc siết chặt dần, như gắn kết vĩnh viễn toàn bộ mồ hôi, nước mắt, những đêm thức trắng chống bão, sự kiên trì của người kỹ sư, sự tinh tế của người thợ già và tình yêu thương bao la của một xóm nghèo ven biển vào thân xác sắt thép của cỗ máy tự hành.

Khi con ốc cuối cùng được siết chặt đến nấc ren tối đa, ánh hoàng hôn từ phía biển xa bất chợt bừng lên rực rỡ. Ánh tà dương đỏ ối lọt qua những kẽ lá khế non, rọi thẳng một vệt sáng vàng rực vào giữa lồng ngực cỗ máy, làm bừng sáng dòng chữ khắc chìm: **NGƯỜI LÀM VƯỜN CỦA THỊ TRẤN AN HẢI**.

Bà Lành đứng lặng đi một hồi lâu. Rồi, như một phản xạ tự nhiên của một người mẹ đối với đứa con đi xa vừa trở về nhà, bà đưa bàn tay gầy gò, khô ráp vuốt nhẹ lên bề mặt tấm biển đồng còn thơm nồng mùi dầu đánh bóng kim loại. Bà ngước nhìn lên đôi mắt quang học màu lam nhạt đang dịu dàng nhìn mình, nghẹn ngào thầm thì:

— Từ nay con là người của làng mình rồi nghen Gió. Đàng hoàng, đĩnh đạc, có tên có tuổi, có cả giấy tờ chứng nhận của nhà nước cấp rồi. Từ rày về sau... hổng còn ai có quyền gọi con là đống sắt vụn nữa đâu nghen con...

Một tiếng *tít* nhỏ vang lên, thanh thoát và trong trẻo từ sâu thẳm trong khối vi điều khiển trung tâm. Trên màn hình LED hiển thị trạng thái của cỗ máy, một biểu tượng hình mầm cây màu xanh ngọc bích từ từ hiện ra, tỏa sáng dịu êm và đập nhịp nhàng theo đúng tần số nhịp tim bình yên của người già.

Dược sĩ Thúy An bước tới bên cạnh, đưa ngón tay gạt nhẹ chiếc công tắc an toàn màu đỏ gắn sau gáy cỗ máy sang nấc bảo vệ cộng đồng, rồi mỉm cười quay sang cán bộ Hạnh:

— Biên bản kiểm tra an toàn tuần này tôi xin phép ký xác nhận luôn tại sân nhà bà Lành nhé. Toàn bộ hệ thống cơ điện và dữ liệu vận hành hoàn hảo, không có bất kỳ một lỗi kỹ thuật nào.

Cậu bé Bảo từ bậc cửa nhảy tót xuống sân, chạy ào lại ôm chầm lấy chiếc chân bọc cao su lưu hóa đen bóng của Gió, ngửa khuôn mặt lấm lem bùn đất lên toe toét cười:

— Gió ơi! Chiều mai tớ mang sách vở ra vườn Bãi Sau, cậu nhớ cắm que đo độ ẩm rồi chỉ tớ làm mấy bài toán chia diện tích đất với tính thể tích nước tưới nghen!

— *Đã ghi nhận yêu cầu hỗ trợ học tập của Gia Bảo. Xác suất hoàn thành bài tập đúng hạn đạt chín mươi tám phần trăm.* — Loa của Gió phát ra âm thanh đều đặn. Cánh tay máy bên phải của nó khẽ nâng lên, những ngón kẹp kim loại bọc đệm cao su mềm mại chầm chậm hạ xuống, khẽ chạm nhẹ vào mái tóc bù xù của cậu bé với một lực nén hoàn toàn chuẩn xác: 1.2 Newton – một lực nén vừa đủ để trao đi hơi ấm dịu dàng, không thừa một chút áp lực cơ học nào.

Cả khoảng sân rộ lên những tiếng cười giòn giã. Tiếng cười ấm áp, thân thương lan tỏa khắp gian nhà ba gian, bay qua giàn mướp hương, hòa vào tiếng rì rào muôn thuở của rặng phi lao ngoài đê chắn sóng và tiếng chuông chiều từ ngôi chùa làng xa xa vọng lại từng nhịp khoan thai.

Những ngày giáp Tết Nguyên Đán đã về rất gần trên mảnh đất duyên hải An Hải.

Gió đứng sừng sững giữa khoảng sân gạch, giữa vòng tay của những con người bằng xương bằng thịt đã cưu mang và trao cho nó một linh hồn lao động. Ánh mắt quang học của nó dõi theo bóng hoàng hôn đang buông chậm rãi xuống khu vườn thân thương, nơi từng luống rau xanh mướt đang đâm chồi trên cát mặn. Tấm biển nhỏ bằng đồng được gắn trang trọng trên ngực Gió: 'G-7 Gió – Người làm vườn của Thị trấn An Hải'.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories