Người Máy Biết Làm VườnCh.20 / 30
Chapter 20

Điều kiện của kiểm định

Chiếc xe công vụ mang biển kiểm định thiết bị tự trị tỉnh dừng lại trước cổng Trạm Dịch vụ Công An Hải giữa một buổi sớm đầy gió hanh.

Gió từ cửa biển thổi thốc qua rặng phi lao xao xác, cuốn theo những hạt cát mịn li ti quất rát rạt vào những tấm pano tuyên truyền đã bạc màu vì nắng muối. Cát lạo xạo dưới lốp cao su, tràn qua gờ bê tông nứt nẻ của khoảnh sân trụ sở xã, làm khô khốc những vệt sương đêm hiếm hoi còn đọng lại trên mép mái tôn xám xịt. Không khí đầu ngày mang vị mằn mặn đặc quánh của bãi triều lúc rút nước, trộn lẫn với mùi đất cày ải nồng nặc bốc lên từ phía Bãi Sau. Tiếng động cơ hybrid của chiếc xe tuần kiểm tắt ngấm sau một cú rùng mình rất khẽ; hệ thống quạt tản nhiệt dưới nắp ca-pô chỉ còn rù rì thêm vài nhịp ngắn ngủi rồi lịm dần dưới cái nắng chớm ngày đang bắt đầu gắt gao, bốc hơi trên nền xi măng lở lói.

Cánh cửa xe màu bạc mở ra. Phạm Quốc Duy bước xuống.

Khác hẳn với vẻ hào nhoáng, bóng bẩy, thơm nức mùi nước hoa máy lạnh và mang đậm phong cách tiếp thị công nghệ trình diễn của Vũ Khải Quân bên Tân Mạch dạo nọ, Kỹ sư trưởng của Tổ Kiểm định Thiết bị Tự trị tỉnh khoác trên mình bộ đồng phục kiểm định màu xám chì giản dị đến khắc khổ. Cổ áo bẻ thẳng thớm không một nếp nhăn thừa, hai đầu ve áo cài ghim kim loại mang biểu trưng thước kẹp và tia sét chuẩn hóa của ngành đo lường quốc gia. Ông trạc ngoài bốn mươi lăm tuổi, dáng người dong dỏng cao, gầy guộc nhưng các khớp xương cổ tay và bả vai lộ rõ vẻ rắn rỏi của một người quen trèo lên các khung giàn máy gặt đập liên hợp ven biển hơn là ngồi phòng thí nghiệm vô trùng có máy lọc bụi tĩnh điện. Nước da ông ngăm đen vì sương muối, khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn chân chim của thói quen nheo mắt đo đạc ngoài trời nắng gắt. Đôi mắt sau gọng kính titan mỏng mang vẻ điềm tĩnh đến lạnh lùng, sắc sảo và cẩn trọng như một mũi vạch dấu bằng hợp kim vonfram.

Trên tay Duy không phải là chiếc máy tính bảng bóng bẩy chạy hiệu ứng ba chiều mà là một vali thiết bị đo chẩn đoán chuẩn mực quốc gia—loại hộp chống va đập bọc cao su đen dày cộm, bên hông khắc chìm dãy mã hiệu của Cục Tiêu chuẩn Đo lường An toàn Cơ điện. Những góc hộp trầy xước nước sơn đen sần sùi để lộ lớp hợp kim magiê xám xịt bên dưới, dấu tích không thể chối cãi của hàng trăm cuộc thanh kiểm tra thực địa trải dài từ các công trường tự động hóa ở vùng than Đông Bắc cho đến những nông trường duyên hải khắc nghiệt miền Trung. Chiếc vali nặng trịch kéo trĩu một bên vai của viên kỹ sư trưởng, nhưng bước chân ông nện xuống nền sỏi vẫn đều đặn, dứt khoát, không hề có sự ngập ngừng của một vị khách vãng lai.

Duy đứng lặng trên bậc thềm dẫn vào sân trạm vài giây, đưa mắt quan sát khoảnh sân rải sỏi của trạm dịch vụ công.

Ở góc sân, dưới bóng cây bàng cằn cỗi đang trút những chiếc lá đỏ quạch cuối cùng xuống nền đất mặn, Gió đang đứng ở chế độ chờ. Toàn bộ khối thân kim loại bằng hợp kim duralumin của cỗ máy G-7 vẫn còn phủ một lớp bụi đất sét khô cong, nứt nẻ như vảy cá từ buổi cày ải chiều hôm qua ngoài Bãi Sau. Vết chém mẻ sâu hoắm trên cẳng tay trái—dấu tích nhát cuốc quáng quàng của Minh từ những ngày đầu mùa vụ—đã ngả sang màu xám xỉn vì muối biển ăn mòn mép kim loại; chiếc công tắc ngắt micro bằng đồng thau bọc trong vỏ nhựa bakelite đỏ thẫm mà ông Phước thợ rèn hàn gắn tạm bợ cho nó hôm trước nhô ra nổi bật, chông chênh bên vòm cổ; còn ở cụm chân bước bên trái, lớp đệm cao su lưu hóa đen bóng vừa mới được gọt giũa thủ công bằng dao bài đang ôm khít lấy ổ bi trục hành tinh, còn rịn ra vài vệt mỡ bò bôi trơn màu vàng sẫm. Khối pin lithium-iron phosphate sau lưng nó đã được tháo tung nắp bảo vệ bằng tôn mạ kẽm, để lộ ra những giắc cắm dã chiến quấn băng keo cách điện đen sì, vẫn còn vương mùi nhựa đường và phenolic cháy khét lẹt của sự cố sụt áp chiều qua.

Cạnh cỗ máy, Minh đứng sừng sững. Hai quầng mắt anh thâm quầng, trũng sâu sau một đêm thức trắng ngồi canh từng milivôn dòng sạc nhỏ giọt từ chiếc biến áp tự ngẫu cũ rích trong kho của ông Phước. Bàn tay anh dính đầy dầu mỡ đen nhánh nơi kẽ móng, chiếc áo sơ mi bạc phếch ướt đẫm mồ hôi sau lưng dù trời mới chỉ chớm nắng. Phía sau anh, bà Lành ngồi trên chiếc ghế gỗ gấp mang từ chái bếp ra, hai bàn tay gầy guộc chắp lại trên đùi, những khớp ngón tay sần sùi vì cào nghêu bấu chặt vào nếp vải lanh thô ráp, ánh mắt đầy lo âu và bồn chồn hướng về người đàn ông vừa bước xuống từ chiếc xe công vụ. Bà Sương đứng bên cạnh, một tay quẩy theo chiếc làn mây còn dính vài cọng rau xà lách tươi và mấy quả cà chua mọng nước từ buổi chợ sớm, hơi thở dồn dập như thể vừa chạy bộ vượt một quãng đường dài. Cô giáo Vân trong tà áo dài màu hoa lục bình giản dị, vạt áo còn lấm một vệt phấn trắng ở mạn sườn, cũng đã có mặt tự bao giờ, đứng nép sau lưng bà Lành như một điểm tựa thầm lặng. Từ trong cánh cửa trạm mở rộng, Cán bộ Đỗ Mai Hạnh vội vã bước ra, trên tay ôm tập hồ sơ đề án thí điểm dày cộp, mép bìa kẹp giấy còn in rõ con dấu đỏ của Ủy ban nhân dân xã.

“Chào anh Duy,” Hạnh cất tiếng phá vỡ sự im lặng căng thẳng đang đè nặng lên từng hạt cát trên sân. “Tổ kiểm định về sớm hơn lịch hẹn thông báo trong văn bản hành chính một ngày. Chúng tôi tưởng sáng mai đoàn mới bắt đầu làm việc tại địa bàn.”

Duy khẽ gật đầu chào mọi người, giọng nói trầm đều, vang và khô, không mang chút biểu cảm vồn vã xã giao hay xa cách quan liêu: “Tôi ghé qua hiện trường Bãi Sau từ chập tối hôm qua, ngay lúc các vị đang kéo dây sạc dã chiến nối từ trạm bơm cũ cho cỗ máy. Trực tiếp nhìn thấy hiện trường vận hành thực tế luôn có giá trị hơn là đọc báo cáo tổng hợp trên giấy chuyển tiếp qua ba cấp văn thư. Chào cô Hạnh. Chào bà con.”

Ánh mắt Duy lướt qua gương mặt hốc hác của Minh rồi dừng lại rất lâu trên lồng ngực cỗ máy G-7. Ông bước tới, đặt chiếc vali đo lường nặng trịch lên chiếc bàn đá tròn đặt giữa sân trạm. Tiếng kim loại va chạm với mặt đá hoa cương vang lên một tiếng cạch đanh gọn. Khóa vali bật tách dứt khoát. Bên trong chiếc khay xốp định hình màu đen tuyền là hệ thống máy phân tích phổ trở kháng pin chuyên dụng, thiết bị quét sóng rò rỉ điện từ trường và một đầu đo laser kiểm tra dung sai cơ khí đa trục với các đầu kim mạ vàng sáng lóa.

Thấy viên kỹ sư trưởng nhìn chăm chú vào những vết trầy xước phong trần và lớp vỏ máy chắp vá trên thân Gió, bà Lành không nén nổi nỗi sốt ruột đang cào xé trong ngực. Bà vịn tay vào lưng chiếc ghế gấp, run run đứng dậy, bước lên một bước về phía bàn đá. Bàn chân bà trong đôi dép nhựa mòn vẹt khẽ run lên:

“Chú kỹ sư… Chú từ trên tỉnh xa xôi về đây nhọc nhằn quá. Tui là Lành, chủ của con Gió này đây chú. Chú ngó tướng mạo nó sứt sẹo, rệu rã vậy thôi chứ nó hiền lành, chịu thương chịu khó lắm chú à! Mấy tháng nay ở xóm Cát này, từ việc gánh nước cứu giàn mướp cho bà Tám sốt mê man không gượng dậy nổi, tới chuyện xúc từng tảng đá ngập mặn đắp bờ Bãi Sau giữ nước ngọt, nó làm đâu ra đó, không nề hà nắng nôi chi hết. Người già tụi tui mắt mờ chân chậm, có đau ốm, đãng trí, nó cũng kiên nhẫn đi theo sau đỡ từng bước chân, nhặt từng cành củi rụng…”

Bà Sương đứng cạnh lập tức bước dấn lên đỡ lời, giọng nói sang sảng đặc sệt chất chợ búa nhưng chứa chan một vẻ tha thiết đến nghẹn ngào: “Thiệt đó chú cán bộ! Tui buôn bán ngoài chợ Sớm mấy chục năm trời, mắt nhìn người chưa bao giờ lầm. Người còn lừa nhau, người còn bớt xén từng cọng hành lạng thịt chứ cỗ máy này nó ngay thẳng như cây cột buồm vậy đó. Chiều hôm qua ngoài Bãi Sau, nếu không có nó thức trắng ngày cày thông mương xả mặn, rồi cắm từng cọc tiêu phân luống thì đám người già tụi tui với lũ nhỏ trường Hải Bình biết bấu víu vào đâu mà làm cho kịp con nước cường? Nó ngã xuống vì làm việc quá sức cho xóm làng chứ nó có quậy phá, có đụng chạm làm đổ một bờ dậu của ai đâu chú!”

Cô giáo Vân cũng bước lên, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước tà áo dài, ánh mắt tha thiết hướng về phía Duy: “Thưa kỹ sư, tôi là giáo viên trường Hải Bình. Cỗ máy này không chỉ làm việc đồng áng đơn thuần. Ở mảnh vườn sinh học của trường chúng tôi, Gió biết kiên nhẫn đứng đợi các em nhỏ gieo từng hạt đậu, biết hạ thấp sải tay thép xuống sát mặt luống để lũ trẻ không sợ hãi, biết dạy học sinh bài học trực quan nhất về sự gắn bó với đất đai quê mình. Đối với trẻ em vùng bãi ngang thiếu thốn này, nó không phải là một đống sắt vụn, nó là một người bạn lao động mẫu mực…”

Những lời khen ngợi mộc mạc, chân thành và chan chứa ân tình của ba người phụ nữ vang lên giữa khoảnh sân vắng, hòa cùng tiếng gió biển rì rào trên tán lá bàng già. Từng lời nói đều mang hơi thở của đời sống xóm Cát, mang nỗi niềm của những con người cả đời gắn bó với dải cát cằn cỗi và luôn thèm khát một điểm tựa để giữ lại màu xanh cho mảnh đất quê hương. Minh đứng bên cạnh khẽ thở hắt ra một hơi dài, ánh mắt trĩu nặng âu lo thoáng chút hy vọng le lói khi nhìn thấy vẻ im lặng chăm chú của người kỹ sư tỉnh.

Nhưng Phạm Quốc Duy không hề mỉm cười. Ông cũng không hề tỏ ra rung động trước những lời giãi bày tha thiết ấy.

Kỹ sư trưởng bình thản nâng bàn tay đeo găng vải sợi carbon màu đen xám lên ngang ngực. Động tác giơ tay của ông rất nhẹ nhàng, chừng mực, mang phong thái của một trí thức công vụ lịch thiệp, nhưng nó lại dứt khoát và sừng sững như một bức tường ngăn cách vô hình hạ xuống giữa hai thế giới: thế giới của cảm xúc cộng đồng và thế giới của kỷ luật kỹ thuật tuyệt đối.

Khoảnh sân lập tức chìm vào im lặng. Tiếng lá bàng khô xào xạc dưới chân ghế bà Lành nghe rõ mồn một.

“Thưa bà cụ, thưa các cô,” Duy cất giọng, âm điệu trầm tĩnh nhưng lạnh như nhát cắt của một lưỡi thước thép trên bàn nguội. “Tôi đã lắng nghe toàn bộ những điều các vị vừa nói. Tôi ghi nhận những đóng góp xã hội, sự gắn kết nhân văn và tình cảm xóm làng mà người dân An Hải dành cho cỗ máy này. Những điều đó rất đáng quý trong đời sống thường nhật. Nhưng với tư cách là Kỹ sư trưởng của Tổ Kiểm định Thiết bị Tự trị, tôi phải nói thẳng một nguyên tắc bất di bất dịch của nghề nghiệp chúng tôi: tình cảm xóm làng không thể thay thế cho tiêu chuẩn an toàn cơ điện.”

Duy quay sang nhìn thẳng vào mắt bà Lành. Ánh mắt ông không hề có sự coi thường hay gắt gỏng của kẻ bề trên, chỉ có sự nghiêm cẩn đến khắc nghiệt của một người thấu hiểu sâu sắc cái giá của những thảm họa máy móc:

“Một khối kim loại nặng gần hai trăm kilôgam mang động cơ bước công suất lớn không vận hành bằng lòng tốt, thưa bà. Nó vận hành bằng các định luật vật lý, hóa học và logic điện tử. Khi một thanh truyền cơ khí bị mỏi gãy đôi, hoặc một tế bào pin cháy nổ giải phóng toàn bộ năng lượng hóa học tích tụ, quán tính của khối thép đang lao đi sẽ không phân biệt người đứng trước mặt nó là một cụ già đáng kính hay một đứa trẻ ngoan. Luật an toàn thiết bị tự hành không sinh ra để đo đếm lòng nhân ái; nó sinh ra để bảo đảm không một ai phải đổ máu vì sự bất cẩn của máy móc.”

Bà Lành sững người. Bờ môi móm mém của bà khẽ mấp máy nhưng không thể thốt nên lời nào trước lập luận rành rẽ và lạnh lùng ấy. Bà Sương sượng sùng buông thõng hai tay, chiếc làn mây nghiêng đi làm rơi một quả cà chua xuống nền sỏi. Cô giáo Vân cụp mắt xuống, khẽ cắn môi, nhìn vào mũi giày vải của mình.

Duy không để phí một giây đồng hồ nào. Ông quay người sang chiếc vali chuyên dụng, rút ra một que đo cảm biến nhiệt hồng ngoại có đầu bảo vệ bằng đồng thau và một đầu dò điện áp nội trở bốn cực, sải bước tiến thẳng về phía lồng ngực đang mở toang của Gió.

“Hôm qua, lúc cỗ máy này đổ sụp xuống rãnh đất ngoài Bãi Sau, tôi đã đứng trên đỉnh đê chứng kiến từ đầu đến cuối,” Duy vừa nói vừa đưa đầu dò quét một đường chậm rãi qua từng khe hở giữa các thanh pin lithium-iron phosphate. Thiết bị đo trên tay ông lập tức phát ra những tiếng bíp bíp khô khốc, sắc nhọn, hiển thị các thông số nhảy múa liên tục trên màn hình tinh thể lỏng đơn sắc. “Tôi đã đọc kỹ hồ sơ kiến nghị thí điểm do cô Hạnh gửi lên Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tuần trước. Trong báo cáo kỹ thuật ban đầu, các vị gọi sự cố chiều qua là ‘máy tự ngắt an toàn vì quá tải ngoại cảnh’. Một cách dùng từ rất văn vẻ, rất xoa dịu và mang tính hành chính xoa dịu dư luận.”

Duy ngước mắt lên, ghim thẳng cái nhìn sắc lạnh qua tròng kính titan vào gương mặt đang căng cứng của Tạ Hoàng Minh:

“Nhưng số liệu thực tế thì nói điều hoàn toàn ngược lại, anh Minh à.”

Minh siết chặt hai bàn tay thành nắm đấm, bước lên nửa bước, đối diện trực tiếp với người kỹ sư đàn anh: “Hệ thống rơ-le lưỡng kim gắn trên đường dẫn dòng ngắt mạch khẩn cấp khi nhiệt độ lồng pin chạm ngưỡng 67,8 độ C. Đó là cơ chế bảo vệ phần cứng nguyên bản của dòng G-7, cỗ máy đã hành xử hoàn toàn đúng theo thiết kế ban đầu của nhà sản xuất.”

“Đúng theo thiết kế của mười lăm năm trước, khi khối pin còn mới nguyên trong phòng sạch của nhà máy!” Duy gằn giọng, thanh âm đanh lại như tiếng thép nguội đập xuống đe. Ông dùng đầu bút thử điện có vỏ bọc mica cách điện chỉ thẳng vào góc bên phải của khối pin: “Anh là một kỹ sư phần mềm từng làm việc ở các trung tâm công nghệ lớn, nhưng anh hoàn toàn mù tịt về điện hóa hay anh đang cố tình nhắm mắt làm ngơ trước hiểm họa để bảo vệ cỗ máy của mình? Nhìn vào đây!”

Minh cúi đầu nhìn theo đầu bút thử điện. Dưới ánh sáng chói chang của buổi sớm, tại vách ngăn giữa cell pin số 3 và số 4, lớp vỏ hợp kim nhôm đã bị phồng rộp lên một mảng tròn lớn bằng miệng chén ăn cơm. Bề mặt kim loại bị kéo giãn quá mức xuất hiện những vết rạn chân chim li ti như mạng nhện, và bao quanh những vết rạn đó là một màng muối kết tinh màu xám trắng pha chút ố vàng—dấu vết vật lý không thể chối cãi của hiện tượng rò rỉ dung môi điện phân hữu cơ do quá nhiệt cực hạn kéo dài.

“Nhiệt độ 67,8 độ C đối với một khối pin LiFePO4 đã thoái hóa qua mười lăm năm tuổi không phải là một ngưỡng ngắt bình thường của chu trình làm việc,” Duy phân tích, giọng điệu chính xác và lạnh lùng đến từng chi tiết kỹ thuật. “Nó là ranh giới mong manh cuối cùng giữa việc ngắt mạch an toàn và hiện tượng thoát nhiệt dây chuyền (thermal runaway). Nội trở của cell số 3 này đã tăng vọt lên gấp bốn lần mức tiêu chuẩn xuất xưởng do các tấm cực bị biến dạng và lớp màng ngăn xốp bị thoái hóa. Chỉ cần hôm qua trời lặng gió hơn một chút, hoặc tải kéo của chiếc bừa cào ngậm phải một tảng đá ngầm sâu hơn mười phân khiến dòng xả chạm đỉnh 45 ampe trong vòng ba mươi giây nữa thôi, áp suất khí tích tụ bên trong cell số 3 này sẽ xé toạc lớp vỏ bọc bằng nhôm mỏng.”

Duy đảo mắt nhìn quanh một vòng, ngón tay ông chỉ về phía bà Lành rồi quét sang cô giáo Vân:

“Trong bán kính mười mét, nơi có bà cụ Lành, cô giáo Vân và các cháu học sinh trường tiểu học đang đứng nhổ cỏ và cổ vũ, một cột lửa hóa chất ba trăm độ C sẽ phụt thẳng ra ngoài không gian cùng luồng khí độc hydro florua ăn mòn phổi. Lúc đó, ai trong số các vị ở đây sẽ đứng ra chịu trách nhiệm hình sự cho một thảm kịch bỏng hóa học diện rộng ngay sát khu dân cư?”

Không khí trong sân trạm dường như đông cứng lại dưới cái nắng hanh hao. Từng chữ Duy thốt ra như những giọt axit rỏ xuống vết thương hở. Bà Lành run rẩy tái mặt, hai hàm răng va vào nhau lập cập, bà vội đưa bàn tay gầy gò túm chặt lấy vạt áo Minh như muốn tìm kiếm một sự chở che trước cơn bão táp của sự thật kỹ thuật.

Duy không dừng lại ở khối pin. Ông bước vòng qua bên sườn cỗ máy, đưa những ngón tay bọc găng carbon gõ nhẹ lên cụm cảm biến quang học phía trên đỉnh đầu Gió, rồi cúi người chỉ xuống vết nứt mẻ nơi cẳng tay máy:

“Rủi ro thứ hai: sự suy thoái toàn diện và không thể cứu vãn của hệ thống nhận thức môi trường. Cảm biến độ ẩm đất chuyên dụng TH-094 gắn ở đầu ngón tay đã bị cắt bỏ hoàn toàn sau một sự cố rò rỉ nước xà phòng trong quá trình tẩy rửa—điều mà tôi đã đọc được rất rõ trong phần phụ lục ghi chú thực nghiệm của cô dược sĩ Thúy An. Nghĩa là cỗ máy này hiện tại đang mù hoàn toàn về các thông số cơ bản nhất của đất đai, phải phụ thuộc một trăm phần trăm vào việc người điều khiển dùng tay không bốc đất kiểm tra rồi ra lệnh thủ công. Tệ hơn nữa, cụm camera quang phổ cũ kỹ của dòng chip Khôi-Nguyên 7X này sử dụng cảm biến CMOS đời đầu với dải tương phản động vô cùng hạn hẹp. Dưới ánh nắng chói chang và khúc xạ gay gắt của vùng cát biển miền Trung vào buổi trưa, hiện tượng lóa quang học và trôi dạt điểm mù (sensor drift) xảy ra với tần suất trên 14% tổng thời gian quét.”

Duy dừng lại, nhìn Minh bằng ánh mắt nghiêm khắc tột cùng:

“Một cỗ máy nông nghiệp nặng gần hai tạ, di chuyển bằng bánh xích và hệ thống chân bước hỗn hợp giữa trưa hè, mà thị giác quang học bị lóa trắng từng hồi, mất khả năng phân biệt giữa một gốc cây khô và cẳng chân của một đứa trẻ đang chạy chơi trên bờ ruộng… Các vị gọi đó là một thiết bị tự trị an toàn đủ điều kiện để thí điểm giữa cộng đồng dân cư hay sao?”

Duy lùi lại một bước dài, khoanh hai tay trước ngực, giọng nói trầm xuống nhưng đanh gọn, đưa ra điểm chí mạng cuối cùng trong bản cáo trạng kỹ thuật:

“Và điều nguy hiểm nhất, điều không thể dung thứ nhất trong toàn bộ hồ sơ cơ điện này: cỗ máy này thiếu hẳn một cơ chế ngắt nguồn khẩn cấp độc lập hoàn toàn với bo mạch điều khiển trung tâm!”

Minh giật mình thót thót, lồng ngực thắt lại. Anh vội vàng cướp lời người kỹ sư trưởng: “Chúng tôi có cơ chế ngắt mạch vật lý! Tôi và bác Phước thợ cơ khí của xóm Cát đã chế tạo và lắp đặt một công tắc gạt chịu dòng 20 ampe ngay trên cổ máy…”

“Đó chỉ là công tắc cắt nguồn tiền khuếch đại của cụm micro thu âm!” Duy ngắt lời Minh bằng sự sắc sảo tàn nhẫn của một chuyên gia đầu ngành đã đọc thấu từng đường dây mạch điện. “Tôi đã kiểm tra kỹ lưỡng sơ đồ đấu dây mà anh nộp kèm theo hồ sơ cho cô Hạnh sáng nay. Chiếc công tắc bakelite đỏ đó chỉ có tác dụng ngắt tín hiệu âm thanh để giải quyết vấn đề lo ngại riêng tư dữ liệu cá nhân cho cô dược sĩ An khi cỗ máy đi ngang qua trạm y tế. Còn nguồn điện động lực chính cấp cho hệ thống bơm thủy lực và các động cơ bước di chuyển ở các khớp chân thì sao? Toàn bộ dòng điện đó vẫn chạy qua cụm rơ-le trạng thái rắn (solid-state relay) được điều khiển trực tiếp bởi các chân lệnh GPIO của con chip Khôi-Nguyên 7X!”

Duy bước áp sát vào Minh. Bóng của viên kỹ sư trưởng cao lớn phủ trùm lên người cựu kỹ sư công nghệ thông tin. Giọng Duy hạ thấp xuống, nặng nề như một khối đá tảng:

“Nghĩa là gì, anh Minh? Nghĩa là nếu hệ điều hành AgriCore 4.2 bị treo cứng do lỗi tràn phân vùng bộ nhớ, hoặc con chip nơ-ron già cỗi kia rơi vào một vòng lặp vô tận (infinite loop) vì xung đột dữ liệu cảm xúc ngoại lệ mà anh cố nhồi nhét vào nó, bo mạch chủ sẽ hoàn toàn mất quyền kiểm soát phần cứng. Khi đó, lệnh ngắt nguồn từ phần mềm sẽ biến thành con số không tròn trĩnh. Các cổng logic sẽ giữ nguyên trạng thái đóng mạch cuối cùng. Cỗ máy này sẽ biến thành một khối sắt mất phanh, quán tính của khối thép đang lao đi sẽ đẩy nó tiến thẳng về phía trước theo lệnh truyền động cơ cuối cùng còn lưu lại trong thanh ghi. Các vị không hề có một nút ấn dừng khẩn cấp cơ học (E-Stop) chuẩn công nghiệp—loại nút nấm đỏ có lò xo nén kép, có buồng dập hồ quang và có khả năng ngắt đứt vật lý toàn bộ đường dây nguồn dương động lực tách biệt hoàn toàn khỏi sự sống chết của bo mạch xử lý!”

Minh đứng chết trân tại chỗ. Từng luận điểm kỹ thuật đanh thép của Duy như những mũi khoan thép tôi cắm phập vào những lỗ hổng chết người trong hệ thống mà suốt những ngày qua anh đã cố tình lờ đi hoặc tự trấn an mình bằng sự lạc quan ngây thơ.

Anh vốn là một kỹ sư phần mềm xuất thân từ môi trường máy tính văn phòng; anh quen với việc đối diện với những lỗi hệ thống bằng những dòng mã vá tạm thời, những câu lệnh `try-catch` lồng ghép khéo léo, những thuật toán ghi đè logic trong bộ nhớ ảo. Nếu một tiến trình phần mềm bị sập, màn hình chỉ hiện lên một thông báo lỗi xanh lè, bấm nút khởi động lại là xong. Nhưng thế giới mà Phạm Quốc Duy đang sống và phán xét là thế giới trần trụi của sắt thép, của dòng điện hàng chục ampe, của nhiệt lượng tích tụ trong các lớp màng ion và của dung môi hóa chất sẵn sàng bốc cháy khi vượt ngưỡng giới hạn. Ở thế giới cơ điện khắc nghiệt này, một lỗi tràn bộ nhớ không chỉ làm đứng màn hình vi tính, mà nó có thể bẻ gãy một khúc xương người, nghiền nát một bàn chân hoặc biến cả một khoảnh sân thành ngọn đuốc hóa chất.

Duy nhìn thẳng vào mắt Minh, đôi mắt sắc lạnh sau tròng kính titan như muốn lột trần toàn bộ sự bất an đang che giấu dưới vẻ ngoài kiên định của người thanh niên:

“Bây giờ, hãy trả lời tôi đi, kỹ sư Tạ Hoàng Minh. Nếu chiều mai, trong lúc cỗ máy này đang vận hành ngoài Bãi Sau, một con sóng nhiệt từ cát biển làm tê liệt con chip Khôi-Nguyên 7X, cỗ máy mất lái lao thẳng vào bờ ruộng hất ngã bà nội anh khiến bà gãy xương chậu, hoặc bánh xích của nó chồm lên đè nát bàn chân của một đứa trẻ trường Hải Bình đang ngồi bên rãnh nước… ai sẽ là người đứng ra ký tên vào biên bản trách nhiệm hình sự trước tòa án? Anh—một cựu kỹ sư công nghệ vừa phá sản với tài khoản ngân hàng ngập trong những khoản nợ nần chưa trả hết? Hay bà nội anh—một cụ già gần tám mươi tuổi sống dựa vào cuốn sổ tiết kiệm mười hai triệu đồng cất trong đáy rương gỗ? Hay cán bộ Hạnh đại diện cho Trạm Dịch vụ Công của một xã bãi ngang nghèo khó? Hay chính là tôi—người đặt bút ký phê duyệt an toàn cho một cỗ máy phế liệu được phép tiếp tục lưu hành giữa cộng đồng?”

Lời chất vấn cuối cùng như một tiếng sét nổ tung giữa khoảnh sân trạm dịch vụ công.

Không gian xung quanh im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng gió biển rít qua rặng phi lao và tiếng kim loại co giãn lách tách bên trong lồng ngực cỗ máy G-7.

Gió đứng im lìm dưới bóng bàng. Bộ cảm biến quang học của nó khẽ chuyển dịch ống kính với một tiếng rột rẹt rất nhỏ. Con chip nơ-ron Khôi-Nguyên 7X ghi nhận nhịp tim của Minh đang vọt lên 138 nhịp một phút thông qua camera hồng ngoại tầm gần; nó ghi nhận huyết áp của anh đang tăng nhanh, các cơ bả vai và quai hàm co cứng lại dưới một áp lực tâm lý tột độ. Loa thoại gắn trước ngực Gió khẽ phát ra một tiếng rè nhỏ như tiếng thở dài cơ học, hai ống kính quang học màu xanh lục chớp nháy liên hồi như muốn phát âm để phản hồi môi trường. Nhưng chiếc công tắc ngắt micro bằng đồng thau trên cổ vẫn đang bị gạt xuống, và các thuật toán logic bên trong bộ nhớ của nó không thể tìm thấy bất kỳ câu lệnh điều kiện nào có thể phủ nhận những con số, những thông số rủi ro mà Phạm Quốc Duy vừa liệt kê. Tất cả những gì Duy nói đều chính xác đến từng phần mười milimét dung sai, từng milivôn sụt áp và từng độ C quá nhiệt.

Minh nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng. Cổ họng anh khô khốc như vừa hít phải một nắm cát biển. Anh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào người kỹ sư trưởng khó tính, cố gắng điều chỉnh hơi thở để giọng nói của mình không bị run rẩy:

“Anh Duy… Những rủi ro kỹ thuật mà anh vừa chỉ ra, tôi thừa nhận hoàn toàn. Không có một từ nào anh nói sai sự thật. Đó là những thiếu sót cơ điện chết người do tôi đã quá tập trung vào việc khôi phục phân vùng ký ức và bảo tồn các mô hình hành vi thích nghi của nó mà xem nhẹ các quy chuẩn hạ tầng phần cứng. Nhưng xin anh hãy nhìn vào cuốn nhật ký hành vi của G-7 được lưu trong bộ nhớ suốt bốn tháng qua! Suốt thời gian có mặt ở mảnh đất này, nó chưa từng có một hành vi xâm lấn, đe dọa hay gây ra bất kỳ nguy hiểm nào cho con người. Nó tự học cách sải bước chậm lại khi đi cạnh bà nội tôi; nó tự giới hạn mô-men xoắn của cánh tay thép dưới 15 newton-mét mỗi khi phát hiện có trẻ con trong bán kính ba mét; và chính chiều hôm qua ngoài Bãi Sau, nó đã chủ động ngắt dòng, chấp nhận tự sập nguồn ngã dúi dụi xuống rãnh đất để bảo vệ những người xung quanh khỏi nguy cơ một vụ nổ pin…”

“Đó là sự may mắn, không phải là sự bảo đảm kỹ thuật,” Duy lạnh lùng ngắt lời, giọng nói không hề lay chuyển dù chỉ một phân. “Một hệ thống an toàn công cộng không bao giờ được phép xây dựng trên nền tảng của sự may mắn ngẫu nhiên và những ngoại lệ nhận thức tự phát của phần mềm.”

Bầu không khí trong sân rơi vào sự bế tắc tột cùng. Tờ thông báo thu hồi và niêm phong cưỡng chế màu vàng cam nằm trong cặp tài liệu của Duy dường như chỉ còn cách cổ tay G-7 một gang tay. Bà Lành run rẩy bám chặt lấy vai Minh, hai mắt bà ướt nhòe nước mắt, bờ vai gầy guộc rung lên từng chập.

Lúc này, cán bộ Đỗ Mai Hạnh hít một hơi thật sâu rồi dứt khoát bước lên. Cô đặt tập hồ sơ đề án thí điểm dày cộp lên mặt bàn đá, đứng chen vào khoảng trống giữa Minh và Duy. Nét mặt người nữ cán bộ cơ sở vô cùng nghiêm túc, nhưng trong ánh mắt cô ánh lên sự kiên định của một người hiểu rõ thực tế nghiệt ngã của vùng đất này:

“Thưa anh Duy. Với tư cách là đại diện Trạm Dịch vụ Công xã An Hải, tôi hoàn toàn đồng ý với anh về tính tối thượng của các tiêu chuẩn an toàn cơ điện quốc gia. Chúng tôi không đứng đây để bao biện cho sự chắp vá, và chính quyền xã cũng không bao giờ đem sinh mạng, sự an toàn của người dân hay các cháu học sinh ra đánh cược với bất kỳ mô hình thí điểm nào.”

Duy quay đầu lại, im lặng nhìn Hạnh, chờ đợi những lý lẽ hành chính tiếp theo.

Hạnh tiếp tục, giọng nói rành rọt, khúc chiết và đanh thép: “Nhưng thưa anh, quy chế thí điểm thiết bị tự trị đặc thù vùng bãi ngang theo Quyết định 42 của Ủy ban Nhân dân tỉnh sinh ra chính là để mở đường cho những trường hợp ngoại lệ có giá trị xã hội sâu sắc như thế này. An Hải là một xã ven biển đang già hóa dân số với tốc độ chóng mặt; thanh niên trai tráng đều bỏ làng đi làm công nhân ở các khu công nghiệp miền Nam; đất đai Bãi Sau bị nhiễm mặn nghiêm trọng và đang đứng trước nguy cơ hoang hóa hoàn toàn. Ngân sách cấp xã không bao giờ có đủ tiền tỷ để mua sắm những dàn máy nông nghiệp tự hành tối tân, bóng bẩy của tập đoàn Tân Mạch. Cỗ máy G-7 này, dù phần cứng của nó đã già cỗi và mang nhiều khiếm khuyết, nhưng mô hình thích nghi thổ nhưỡng độc nhất vô nhị của nó đang là chìa khóa duy nhất giúp người già xóm Cát và các cháu nhỏ trường Hải Bình hồi sinh ba sào đất canh tác Bãi Sau.”

Hạnh nhìn thẳng vào mắt Duy, không hề né tránh cái nhìn sắc sảo của vị kỹ sư trưởng:

“Nếu ngày hôm nay, Tổ kiểm định tỉnh chỉ áp đặt nguyên xi quy trình kiểm định phòng thí nghiệm rồi ra quyết định cưỡng chế niêm phong tiêu hủy ngay lập tức, chúng ta sẽ triệt tiêu hoàn toàn nỗ lực tự thân cuối cùng của một cộng đồng nghèo đang cố gắng bám trụ với đất đai quê hương. Thay vì ra quyết định tiêu hủy hôm nay theo Thông báo 104, tôi đề xuất Tổ Kiểm định tỉnh cho cỗ máy này một cơ hội sát hạch thực tế có kiểm soát. Hãy đặt ra các ranh giới an toàn khắt khe nhất, những điều kiện ngặt nghèo nhất về mặt kỹ thuật, và buộc đội ngũ kỹ thuật địa phương phải chứng minh bằng năng lực khắc phục trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng.”

Khoảnh sân trạm dịch vụ công lại rơi vào tĩnh lặng. Ngọn gió biển mang theo vị mặn chát thổi tung mép vạt áo xám chì của Phạm Quốc Duy.

Kỹ sư trưởng không trả lời ngay. Ông cúi đầu nhìn chiếc vali đo lường đang mở nắp với những đồng hồ hiển thị số màu xanh lục, rồi từ từ đưa mắt nhìn sang cỗ máy G-7 đang đứng lặng câm dưới tàn lá bàng.

Trong sâu thẳm tâm trí Duy, một ký ức cũ kỹ và đau đớn chợt gợn lên—ký ức về một vụ tai nạn kinh hoàng ba năm về trước tại khu nông nghiệp công nghệ cao phía bắc tỉnh. Khi ấy, chính tay ông đã đặt bút ký duyệt biên bản an toàn tuyệt đối cho một lô robot làm vườn đời mới nhất nhập khẩu từ nước ngoài. Những cỗ máy ấy có lớp vỏ bọc bằng sợi carbon sáng bóng không một tì vết, chạy bằng khối pin graphene tối tân, sở hữu đầy đủ chứng chỉ ISO cao nhất của ngành tự động hóa. Mọi thông số trong phòng thí nghiệm đều hoàn hảo đến mức mẫu mực.

Nhưng rồi, chỉ vì một bản cập nhật phần mềm tự động từ xa (OTA) bị lỗi đồng bộ xung nhịp trong một đêm mưa bão, cả đàn máy móc triệu đô ấy đã phát điên giữa đêm tối. Chúng phá tung các cổng rào điện tử, cày nát ba héc-ta nhà màng trồng hoa giống quý và suýt chút nữa đã hất văng một người công nhân trực ca đêm xuống mương thoát nước sâu hoắm. Kể từ cái đêm định mệnh đứng nhìn đống sắt vụn sáng loáng ấy, Duy không bao giờ tin vào những cỗ máy bóng bẩy, không bao giờ tin vào những lời cam kết hoa mỹ viết trên giấy tờ bóng lộn. Ông chỉ tin vào những vết sẹo thực tế do môi trường khắc nghiệt tôi luyện nên, và ông tin vào thái độ trung thực dám nhìn thẳng vào lỗi lầm của những người trực tiếp vận hành máy móc.

Duy ngẩng đầu lên. Ánh mắt ông quét qua bà cụ Lành với đôi bàn tay đang run rẩy, quét qua những ngón tay dính đầy dầu mỡ cơ khí và đất cát của Minh, rồi dừng lại ở tập hồ sơ đề án còn thơm mùi mực in của Hạnh.

“Được,” Duy lên tiếng, âm điệu vẫn giữ nguyên vẻ đanh thép, lạnh lùng thường thấy nhưng bên trong đã hé mở một lối thoát hẹp. “Tôi sẽ không ký lệnh niêm phong cưỡng chế cỗ máy này ngày hôm nay.”

Bà Lành thở phào một tiếng run rẩy từ tận đáy ngực, bờ vai bà sụp xuống như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đang đè nặng. Minh mở to hai mắt, sững sờ nhìn Duy như không tin vào tai mình.

“Đừng vội mừng, anh Minh,” Duy lập tức giơ ngón tay trỏ đeo găng carbon lên, giọng điệu sắc nhọn như một nhát dao cạo. “Tôi đồng ý cấp cho các vị một cơ hội cuối cùng: một bài kiểm tra thực địa độc lập toàn diện do chính tôi trực tiếp giám sát vào ngày cuối cùng của mùa hè năm nay—đúng ba mươi ngày nữa, khi thời hạn tạm hoãn của Thông báo 104 kết thúc.”

Duy bước lại gần chiếc bàn đá, lật mở cuốn sổ công tác bìa da đen của Tổ kiểm định, rút cây bút lông dầu màu xanh đen gạch đầu dòng từng điều kiện rõ ràng lên trang giấy trắng:

“Điều kiện thứ nhất: Toàn bộ các rủi ro phần cứng mà tôi vừa chỉ ra phải được khắc phục triệt để và đạt chuẩn cơ điện quốc gia dành cho thiết bị ngoại cảnh. Khối pin rò rỉ này phải được hạ nhiệt, bóc tách và thay thế toàn bộ các cell pin bị thoái hóa, đồng thời phải trang bị hệ thống tản nhiệt cưỡng bức đạt chuẩn chống bụi, chống nước mặn IP65. Cụm thị giác quang học của chip Khôi-Nguyên 7X phải được hiệu chuẩn và lắp kính lọc phân cực quang học để chống lóa mặn tuyệt đối giữa trưa hè. Và bắt buộc—tôi nhấn mạnh một lần nữa là bắt buộc—phải thiết kế một cơ chế ngắt nguồn khẩn cấp cơ học độc lập hoàn toàn với bo mạch điều khiển trung tâm. Cơ chế này phải có khả năng cắt đứt mạch động lực trong vòng 0,05 giây bằng một nút nấm vật lý màu đỏ nổi bật, có thể nhìn thấy và kích hoạt dễ dàng từ khoảng cách hai mươi mét.”

Minh gật đầu lia lịa, ánh mắt anh bừng lên một ngọn lửa quyết tâm: “Tôi và xưởng cơ khí của bác Phước cam kết sẽ hoàn thành toàn bộ những yêu cầu phần cứng này đúng thời hạn!”

“Điều kiện thứ hai,” Duy gõ mạnh đầu bút lông dầu xuống mặt bàn đá, phát ra tiếng cộp đanh gọn. “Tính minh bạch tuyệt đối về mặt dữ liệu vận hành. Tôi không chấp nhận bất kỳ hành vi che giấu lỗi, xóa vết tích hay xoa dịu thông số để làm đẹp hồ sơ kỹ thuật. Bắt đầu từ ngày hôm nay cho đến ngày sát hạch cuối hè, anh Minh phải kết nối cổng truyền thông dữ liệu của cỗ máy với trạm giám sát độc lập từ xa của Tổ Kiểm định tỉnh. Toàn bộ nhật ký lỗi (error logs), từ các xung nhịp trôi dạt cảm biến nhỏ nhất, hiện tượng sụt áp milivôn, cho đến những xung đột tiến trình ngoại lệ trong phân vùng nhớ sâu… tất cả phải được công khai nguyên trạng theo thời gian thực. Không được phép xóa đè, không được phép lọc bớt dù chỉ một dòng mã đơn lẻ!”

Duy dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào tận đáy mắt của Minh, ánh mắt nghiêm khắc nhưng hàm chứa một triết lý kỹ thuật sâu sắc:

“Tôi thà thấy một cỗ máy biết thừa nhận nó đang gặp lỗi mười lần một ngày và tự động dừng lại một cách trung thực, còn hơn là một cỗ máy giả vờ hoàn hảo nhưng phát nổ bất thình lình giữa đám đông.”

Minh run lên vì xúc động. Từng lời nói của Duy như chạm đúng vào bản chất kỹ thuật sâu xa nhất mà anh hằng trăn trở suốt những tháng ngày qua. Gió chưa bao giờ là một cỗ máy hoàn hảo; nó là một cỗ máy đầy rẫy những khiếm khuyết, chắp vá từ những mảnh vụn phế liệu của quá khứ, nhưng nó luôn ghi nhận trung thực từng vết xước của thời gian và đời sống lam lũ của vùng đất này.

“Tôi cam kết mở toàn bộ cổng dữ liệu cho Tổ kiểm định giám sát,” Minh dõng dạc trả lời, giọng nói không còn chút e ngại nào.

“Và điều kiện cuối cùng,” Duy hạ giọng xuống một tông, từng chữ rớt xuống mặt bàn đá như những giọt chì nóng rực. “Bản cam kết trách nhiệm tối hậu. Trong suốt buổi sát hạch thực địa vào ngày cuối hè, cỗ máy sẽ phải vận hành liên tục bốn giờ đồng hồ dưới trời nắng gắt ngoài Bãi Sau. Nó sẽ phải thực hiện liên hoàn các tác vụ: kéo bừa phá váng mặn, đào mương dẫn nước và tương tác trực tiếp với các chướng ngại vật mô phỏng người già, trẻ nhỏ và gia súc đi lạc. Nếu xảy ra một sai sót nguy hiểm duy nhất—dù chỉ là một lần mất lái trượt bánh xích quá biên độ cho phép ba mươi xăng-ti-mét, một lần trôi điểm mù cảm biến làm nghiêng đổ vật cản mô phỏng, hay một lần nhiệt độ khối pin vượt ngưỡng quy định mà cơ chế an toàn không tự dập tắt được ngay lập tức… Lệnh thu hồi và cưỡng chế tiêu hủy rã xác tại chỗ sẽ được thi hành ngay tức khắc. Không có khiếu nại, không có giải trình bổ sung, và tuyệt đối không có thêm bất kỳ ngoại lệ tình cảm nào nữa. Các vị có dám chấp nhận không?”

Không khí trong sân trạm nín thở. Lời thách thức của Duy đặt cỗ máy đứng trước lằn ranh sinh tử mỏng manh như một sợi chỉ. Chỉ cần một cú sảy chân cơ khí nhỏ nhoi, toàn bộ công sức, toàn bộ ký ức mười lăm năm của cỗ máy G-7, toàn bộ những giọt mồ hôi của bà Lành và những hy vọng vừa nhen nhóm của dân làng xóm Cát sẽ vĩnh viễn biến thành một đống phế liệu bị nghiền nát dưới chiếc máy ép thủy lực của tỉnh.

Bà Lành ngước nhìn Minh, ánh mắt bà run rẩy như ngọn đèn trước gió. Cô giáo Vân và bà Sương cũng nhìn Minh, nín thở chờ đợi. Mọi gánh nặng sinh tử của cỗ máy già nua lúc này dồn trọn lên đôi vai gầy guộc của người kỹ sư trẻ.

Minh từ từ quay đầu nhìn sang Gió. Cỗ máy cũ kỹ vẫn đứng đó dưới bóng cây bàng cằn cỗi, hai ống kính quang học màu xanh lục sáng lên tĩnh lặng, phản chiếu hình ảnh người cháu nội của bà Lành với chiếc áo sờn vai và đôi bàn tay chai sần vì đất cát. Gió không biết sợ hãi cái chết theo cách sinh học của con người, nhưng phân vùng nhớ sâu 128 MB trong con chip Khôi-Nguyên 7X của nó đang chứa đựng hơi thở của ông Tư giữa cơn bão biển năm nào, chứa đựng ánh hoàng hôn buông xuống bên gốc cải già của bà Lành, chứa đựng bông hoa giấy màu vàng của bé Bảo cài lên khớp ngón tay thép. Những ký ức ấy, sự sống ấy xứng đáng để anh chiến đấu và đánh cược bằng tất cả danh dự của một người làm khoa học chân chính.

Minh hít sâu một hơi gió mặn nồng từ cửa biển thổi vào, ưỡn thẳng lồng ngực đối diện với Kỹ sư trưởng Tổ Kiểm định:

“Tôi chấp nhận. Chúng tôi sẽ chuẩn bị toàn diện cho buổi sát hạch cuối hè.”

Phạm Quốc Duy nhìn Minh một thoáng thật sâu. Trong đáy mắt sắc lạnh như thép nguội của ông dường như vừa lóe lên một tia dao động rất nhẹ—một sự tôn trọng kín đáo dành cho lòng dũng cảm nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của người đồng nghiệp trẻ tuổi.

Ông không nói thêm bất kỳ lời thừa thãi nào. Bàn tay đeo găng carbon dứt khoát đóng sập nắp chiếc vali đo lường lại, phát ra hai tiếng cạch khô khốc vang dội khắp khoảnh sân vắng. Duy cầm lấy tập biên bản kiểm tra thực địa do Hạnh vừa nhanh chóng soạn thảo trên mẫu giấy công vụ, ký nhanh một nét chữ sắc sảo rồi trao lại cho cô cán bộ trạm.

Duy gập tập hồ sơ lại: “Tôi không ghét cỗ máy của các vị, nhưng tôi có trách nhiệm bảo đảm nó không hất ngã một đứa trẻ khi gặp sự cố.”

Dứt lời, người kỹ sư trưởng quay lưng bước thẳng về phía chiếc xe công vụ màu bạc đang đỗ dưới bóng phi lao. Cánh cửa xe đóng sầm lại. Tiếng động cơ hybrid khẽ rù lên một nhịp rồi chiếc xe chầm chậm lăn bánh, để lại một làn bụi mỏng cuộn tròn theo ngọn gió hanh đang thổi thốc qua cổng trạm, hướng thẳng về phía con đường đê lộng gió.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories