Vườn Bãi Sau
Gió biển rít từng hồi qua rặng phi lao gầy guộc ở Bãi Sau, cuốn theo những đám bụi cát mặn bay rát mặt người trên khu đất bỏ hoang nứt nẻ rộng gần hai sào.
Mảnh đất này nằm nép mình sát mép đê biển, lưng tựa vào rặng phi lao quanh năm hứng chịu những đợt bọt sóng mặn chát của biển An Hải. Đã bao năm qua, sau những đợt triều cường hung hãn và những cơn bão biển giật cấp mười tràn qua mặt đê cũ, lớp phù sa mỏng manh vốn có từ thời khai hoang lập ấp đã bị dòng nước mặn bóc trần từng mảng, cuốn trôi tuột ra lạch sâu. Những gì còn sót lại phơi mình trơ trọi dưới nắng gió duyên hải chỉ là một dải bình nguyên hoang phế ngập ngụa sỏi vụn xám xịt, những mảnh vỏ sò vỏ ốc vỡ nát kết vôi, và những tảng đất sét pha cát xám ngoét nứt toác thành từng kẽ sâu hoắm như da trâu phơi nắng lâu ngày. Người trong xóm Cát từ nhiều đời nay vẫn quen miệng gọi dải đất ấy là “bãi chết”. Chẳng ai buồn bén mảng tới, ngoại trừ lũ trẻ con ranh mãnh đôi khi trốn học buổi chiều ra ném thau đá vụn, hay vài ba con dê đói gầy trơ xương sườn của xóm trên lang thang tìm gặm những búi cỏ chỉ khô khốc, rễ cắm sâu vào lòng đá sỏi, lá nhọn hoắt và sắc như dao cau.
Thế nhưng sáng nay, bầu không khí ở Bãi Sau lại rộn ràng một cách kỳ lạ, xua bớt đi vẻ quạnh quẽ thâm căn cố đế của một góc làng chài ngập mùi muối ải.
Bà Hồ Thị Sương, đầu đội chiếc nón lá rách vành đã được khéo léo cột lại quai bằng một dải dây vải hoa chắp vá từ áo gối cũ, hai tay vung vẩy một tập hồ sơ ép nhựa màu xanh da trời còn thơm ngát mùi mực con dấu đỏ tươi của Trạm Dịch vụ Công. Đôi guốc mộc dưới chân bà gõ lốc cốc trên con đường đất lèn đá dăm dẫn ra mép cát. Giọng bà sang sảng, vang rền và lấn át cả tiếng sóng vỗ ì oạp vào những chân kè đá hộc phía sau chân đê:
“Minh ơi! Gió ơi! Bước dài cái chân sắt ra đây coi! Có quyết định rồi! Con bé Hạnh trạm công vừa ký trao tay cho Hội Người cao tuổi sáng nay xong! Bàn giao tạm thời hai sào đất Bãi Sau để xóm Cát mần mô hình tự túc rau xanh với làm chỗ cho mấy thân già này tụ họp! Mau ra đây cắm mốc ranh giới!”
Phía sau bà Sương một quãng chừng mươi bước chân, Minh đang lặc lè vác trên vai bó cọc tre vót nhọn hoắt cùng một cuộn dây thừng dừa to bản vàng óng, sợi xơ dừa cọ vào bả vai qua lớp áo sơ mi bạc màu Ram-Lin phát ra tiếng sột soạt khô khốc. Theo sát từng gót chân anh là cỗ máy G-7. Dưới ánh nắng sớm rọi nghiêng qua hàng phi lao rậm rạp, những tia sáng rực rỡ nhảy múa trên lớp vỏ hợp kim duralumin phủ sơn xám công nghiệp đã trầy xước loang lổ nhiều vệt. Chiếc cần gạt công tắc cơ học bọc nhựa bakelite đỏ rực gắn trên vòm cổ Gió ánh lên một vệt sáng sắc nét và lạnh lùng—chứng tích rõ ràng từ buổi kiểm định an toàn dữ liệu đầy căng thẳng với dược sĩ Thúy An hai hôm trước. Khớp gối trái bọc lớp cao su lưu hóa dày dặn do ông Phước đích thân tiện nguội bằng tay bước từng nhịp vững chãi trên nền cát lún, phát ra những tiếng *xịch... khục... xịch...* trầm đục nhưng dứt khoát, nén lớp cát xốp lún xuống thành từng vết lõm hình chữ nhật đều đặn.
Bà Lành cũng chống gậy tre chậm rãi bước theo sau, bước chân ngập ngừng nhưng kiên nhẫn. Bàn tay gầy guộc nổi rõ những đường gân xanh của bà nắm chặt quai chiếc làn cói cũ mèm, bên trong đựng vài nắm củ từ luộc còn nóng ấm bọc trong mảnh lá chuối hơ lửa và một chiếc ấm tích bằng đất nung ủ nước chè xanh bọc kín trong chiếc bao tải gai dày. Đi sóng đôi bên cạnh bà là ông Bảy Phước. Lưng ông còng xuống dưới sức nặng của chiếc túi đồ nghề cơ khí bằng da bò thô ráp, bên trong lỉnh kỉnh những kìm chết, mỏ lết số lớn, cờ-lê tròng và vài tuýp mỡ bò công nghiệp bốc mùi khen khét. Miệng ông vẫn lầm bầm càu nhàu như một phản xạ tự nhiên đã ăn sâu vào máu thịt:
“Cái bà Sương này thiệt là vẽ chuyện! Mảnh đất nhiễm mặn chát chúa này đến cỏ gai còn sống dở chết dở, người trẻ còn bỏ xứ mà đi Bình Dương, Đồng Nai hết ráo, mấy cụ già hom hem lại đòi ra đây cuốc xới trồng rau! Không khéo rau chưa thấy mọc mà xương khớp đã rã ra từng khúc!”
“Ông Phước cứ khéo bàn lùi!” Bà Sương quay phắt người lại, hai mắt sáng quắc dưới vành nón rách, chiếc cằm vuông bạnh ra đầy vẻ bướng bỉnh. “Người trẻ đi thì người già phải tự thương lấy nhau chứ! Cứ ru rú trong bốn bức tường ngóng con ngóng cháu rồi sinh bệnh sinh tật à? Đất mặn thì mình thau chua rửa mặn. Có thằng Minh kỹ sư đây, lại có cả thằng Gió cánh tay sắt dẻo dai kia, sợ cái nỗi gì! Nào, Gió, cắm cái cọc đầu tiên ngay mé góc phi lao này cho bác!”
“Nhận lệnh,” loa ngoài gắn trước lồng ngực Gió phát ra âm thanh vo ve quen thuộc của cuộn cảm âm thanh đang dao động màng rung, âm lượng được bộ điều khiển trung tâm tự động ghim chặt ở mức 45 decibel theo chuẩn giao tiếp thân thiện dân cư vùng ngoại vi. “Xác định tọa độ mốc ranh giới A-01: ranh giới hành lang bảo vệ đê biển Bãi Sau.”
Bàn tay thép ba ngón của Gió từ từ vươn ra, các khớp ngón kim loại khẽ siết lại với một lực kẹp vừa đủ, đón lấy một chiếc cọc tre đực đặc ruột từ tay Minh. Không cần dùng đến búa tạ hay vồ gỗ, cánh tay đòn thủy lực của cỗ máy chỉ khẽ nâng lên rồi nhấn thẳng đứng xuống lớp đất cát bị nén cứng ngắc bên rìa đê. Một tiếng *phập* gọn gàng, dứt khoát vang lên, kèm theo âm thanh nứt vỡ rào rạo của lớp sỏi ngầm. Chiếc cọc tre dài một mét hai bị nhấn ngập sâu đúng nửa mét vào lòng đất nén chặt, đứng thẳng tắp và vững chãi như một chiếc cọc sắt đúc liền khối.
Bà Sương vỗ đùi đánh đét một cái, mặt mày rạng rỡ: “Đấy! Thấy chưa! Máy móc nó làm việc có bài bản thế kia cơ mà! Nào, đóng tiếp ba góc nữa, kéo dây thừng căng ra cho cả làng người ta thấy ranh giới vườn rau của Hội Người cao tuổi!”
Minh đứng bên cạnh mỉm cười, rút vạt áo lau vệt mồ hôi đang rịn ra trên trán dưới cái nắng sớm hanh hao, rồi lấy chiếc máy tính bảng màn hình gồ ghề ra khỏi túi đeo hông để đồng bộ dữ liệu bản đồ địa chính với bộ xử lý Khôi-Nguyên 7X của Gió. Từng xung nhịp Bluetooth công nghiệp tầm gần lập tức khớp nối. Gió nhấc sải chân kim loại, bước dọc theo chu vi hình chữ nhật rộng gần hai ngàn mét vuông đã được khoanh vùng trong quyết định bàn giao đất. Từng cọc tre lần lượt ghim sâu xuống đất với khoảng cách sai số không quá hai mi-li-mét, thẳng tắp như một đường kẻ chỉ.
Sau khi sợi dây thừng dừa màu nâu sẫm được luồn qua các mắt cọc, kéo căng phẳng phiu tạo thành một đường biên giới rõ ràng phân định giữa khu đất dự án và bãi hoang cằn cỗi đầy gai góc xung quanh, Gió dừng lại ở chính giữa tâm của bãi đất.
Thấu kính quang học kép gắn trong hốc mắt kim loại khẽ xoay tròn, phát ra tiếng rít siêu âm khe khẽ khi các vòng thấu kính lấy nét tự động điều chỉnh tiêu cự. Ánh sáng đèn LED bao quanh viền thấu kính chuyển từ màu trắng ngà của chế độ nhận diện không gian sang dải quét phổ màu lục nhạt dùng cho trắc nghiệm sinh học mặt đất.
Hệ thống điều hành AgriCore phiên bản 4.2 tích hợp sâu trong chip Khôi-Nguyên 7X tự động khởi chạy tiến trình phân tích địa chất nông nghiệp:
`TIẾN TRÌNH: KHẢO SÁT THỔ NHƯỠNG THỰC ĐỊA` `ĐỊA ĐIỂM: KHU VỰC BÃI SAU — XÃ AN HẢI` `KÍCH HOẠT ĐẦU ĐO ĐIỆN DẪN SUẤT ĐẤT (EC) VÀ PHỔ TRẦM TÍCH`
Vì cụm cảm biến độ ẩm rễ TH-094 đã bị Minh cắt đứt hoàn toàn đường truyền tín hiệu vật lý từ sau sự cố chập mạch trong cơn hoảng loạn của bé Bảo ở vườn ươm cũ, Gió chuyển hướng giải thuật sang phương thức đo đạc gián tiếp: hai chân chống hợp kim chịu lực cắm ngập sâu hai mươi phân vào lòng đất để đo độ dẫn điện tầng nông, đồng thời sử dụng thuật toán quang phổ bề mặt để phân tích các tinh thể muối và khoáng chất phản quang dưới nắng.
Những dòng dữ liệu màu hổ phách lập tức cuộn trào với tốc độ chóng mặt trên giao diện nội tại của bộ xử lý:
`ĐỘ DẪN ĐIỆN CỦA ĐẤT (EC): 9.12 dS/m` `HÀM LƯỢNG MUỐI HÒA TAN TRUNG BÌNH: 0.58%` `ĐỘ MẶN VƯỢT NGƯỠNG CANH TÁC THÔNG THƯỜNG: 3.84 LẦN` `KẾT CẤU BỀ MẶT: 64% CÁT PHA SỎI, 21% SÉT KẾT TỦA CHẶT, 15% DỊ VẬT CƠ HỌC` `GHI NHẬN DỊ VẬT: MẢNG VỮA XI MĂNG, GẠCH VỤN TÀN DƯ SAU TRIỀU CƯỜNG (ƯỚC TÍNH 4.2 TẤN)` `THẢM THỰC VẬT HIỆN TẠI: CỎ CHỈ (CYNODON DACTYLON) XÂM LẤN DÀY ĐẶC, HỆ THỐNG RỄ NGẦM ĐAN XEN Ở ĐỘ SÂU 15-30 CM` `KẾT LUẬN SƠ BỘ: ĐẤT BỊ NÉN CHẶT, THIẾU MÙN NGHIÊM TRỌNG, ĐỘ KIỀM CAO (pH 8.2), NGUY CƠ NGHẸT RỄ TUYỆT ĐỐI NẾU KHÔNG CẢI TẠO TẬN GỐC`
Gió xoay thân trên một góc bốn mươi lăm độ, hướng thấu kính về phía hai bà lão đang đứng che nón nhìn ra bãi đất. Giọng nói của cỗ máy trầm đều, khô khốc nhưng chứa đầy sự nghiêm trọng thuần túy của các thông số kỹ thuật không thể lay chuyển:
“Báo cáo chủ sở hữu Tạ Thị Lành và đại diện Hồ Thị Sương. Đất tại khu vực Bãi Sau có nồng độ muối hòa tan vượt ngưỡng chịu đựng của các giống rau thông thường ba phẩy tám lần. Hệ thống rễ cỏ chỉ ngầm liên kết với gạch đá tàn dư tạo thành một tấm thảm cản trở trao đổi khí hoàn toàn. Tỉ lệ hạt nảy mầm tự nhiên dưới điều kiện hiện tại: không phẩy không không phần trăm.”
Bà Sương nhíu mày lại, khóe mắt hằn sâu những vết chân chim xám xịt vì nắng biển. Bà bước tới hai bước, lấy mũi chiếc dép tổ ong đã mòn vẹt bới bới một mảng đất màu xám tro. Dưới lớp cát mịn mỏng dính bị gió thổi bay dạt sang một bên lộ ra cả một mảng vôi vữa đóng bánh cứng ngắc như đá hoa cương, xen lẫn những mảnh gạch đỏ vỡ vụn sắc lẻm—dấu tích của đoạn bờ kè tạm bị sóng thần năm ngoái đánh sập cuốn trôi dạt vào đây. Bà tặc lưỡi đánh *chẹp* một tiếng rõ to:
“Thì biết là khó rồi! Không khó, không cằn cỗi thì xã người ta giao không công cho mình mần chi! Hồi xưa thời chống Mỹ, bom cày đạn xới trơ cả cát trắng mà làng này còn trồng được khoai lang cứu đói, sá gì ba cái cỏ dại với muối biển! Gió, mày tính coi giờ phải mần răng cho đất này nó chịu đẻ ra rau?”
Trong mạng nơ-ron Khôi-Nguyên 7X, thuật toán công nghiệp mặc định thừa hưởng từ dây chuyền sản xuất cơ giới hóa đại quy mô của tổ hợp Tân Mạch bắt đầu vận hành với công suất tính toán tối đa. Đối với một cỗ máy dòng G-7 xuất xưởng để phục vụ các nông trường cà phê bạt ngàn đất đỏ Tây Nguyên hay cánh đồng lúa chuyên canh hàng ngàn héc-ta miền Tây mười lăm năm trước, quy trình xử lý một vùng đất thoái hóa là bài toán tuyến tính kinh điển: cày sâu, lật đất, bốc dỡ toàn bộ dị vật, xẻ rãnh thoát nước và bón lót cải tạo theo một chu trình cưỡng bức khép kín, tuyệt đối không chấp nhận bất kỳ độ trễ nào về mặt thời gian.
`MỤC TIÊU: HOÀN THÀNH CẢI TẠO TẦNG ĐẤT MẶT 2000 M² TRONG KHUNG THỜI GIAN NGẮN NHẤT` `THUẬT TOÁN TỐI ƯU CÔNG SUẤT: AGRI-HEAVY-DUTY-SCHEDULE-V2` `THỜI GIAN DỰ KIẾN: 8 GIỜ LIÊN TỤC` `HIỆU SUẤT ĐÒI HỎI: 250 M²/GIỜ` `PHÂN BỔ TẢI TRỌNG CƠ HỌC: ROBOT G-7 PHỤ TRÁCH 65%, NHÂN LỰC HỖ TRỢ PHỤ TRÁCH 35%`
Minh liếc nhìn xuống màn hình máy tính bảng trong tay, giật mình khi thấy một sơ đồ phân chia ô lưới dày đặc hiện lên với các mũi tên màu đỏ chớp nháy liên hồi báo hiệu một chu trình làm việc cưỡng bức cường độ cao. Anh chưa kịp mở miệng can ngăn thì Gió đã dứt khoát cất bước, tiến thẳng về phía góc đất hướng Đông Bắc giáp chân đê.
“Đề xuất kế hoạch tác chiến nông nghiệp,” Gió phát loa thông báo, âm thanh mang sắc thái dứt khoát và lạnh tanh của một giám sát viên trên đại công trường công nghiệp. “Để đạt tiến độ gieo cấy vụ hè thu trước khi mùa mưa bão kéo tới, quy trình xới đất và thu gom dị vật cần được thực hiện liên tục trong bốn trăm tám mươi phút. Đề nghị nhân lực sinh học chia thành ba tổ: Tổ một gồm bà Hồ Thị Sương và bà Tạ Thị Lành phụ trách gom rễ cỏ chỉ sau vệt cày. Tổ hai gồm ông Nguyễn Văn Phước phụ trách phân loại gạch đá kích thước trên mười xen-ti-mét. Tôi sẽ phụ trách cày phá váng mặt đất và đào mương xả mặn.”
Nói dứt câu, bộ điều tốc gắn sâu trong lồng ngực Gió gầm lên một tiếng *rù... u... u...* trầm đục và nặng trịch. Khối pin lithium-iron phosphate mười lăm năm tuổi dồn một dòng xả cực đại vào cuộn cảm hai chân và các pít-tông thủy lực của cánh tay cơ khí. Gió hạ thấp trọng tâm, hai bàn chân kim loại lún sâu vào cát, hai cánh tay thép gắn lưỡi cuốc bản rộng vập thẳng xuống nền đất nén chặt với một lực giáng nghìn cân.
*Phập! Rắc!*
Lớp vôi vữa bề mặt vỡ toác thành từng mảng lớn. Đất cát khô cằn cùng những chùm rễ cỏ chỉ trắng ởn, dai dẳng như dây chão bị lưỡi thép bật tung lên không trung, vương vãi khắp mặt đất. Gió tiến bước với một tốc độ chuẩn xác đến rợn người: đúng một mét sau mỗi mười hai giây. Những khối đất mặn sẫm màu, nằng nặng ẩm ướt ở tầng sâu ba mươi phân được lật ngược lên trên, phơi ra cái lòng đất nồng nặc mùi hăng hắc của phèn nhôm và những vệt muối kết tinh lấp lánh như vảy cá dưới ánh mặt trời chói chang.
Bà Sương nhìn thấy cỗ máy hăm hở làm việc, lưỡi cuốc vung lên hạ xuống như máy chém thì phấn khởi ra mặt. Bà vỗ tay cười giòn:
“Trời đất ơi, coi nó xới đất kìa! Nhanh gấp mười lần mấy ông lực điền xóm Cát thời trai trẻ! Mấy bà con ơi, vào việc thôi! Đừng để cỗ máy nó cười cho mấy thân già này!”
Tiếng gọi sang sảng của bà Sương lập tức lôi kéo thêm bốn cụ già khác trong Chi hội Người cao tuổi xóm Cát vừa lục tục kéo ra từ ngõ phi lao—ông Tám cựu du kích, bà Tư béo tay xách giỏ tre, cụ Hòa thương binh cụt một cánh tay phải bước khập khiễng trên bờ cát. Ai nấy ban đầu đều hồ hởi cầm cào răng sắt, cầm rổ sảo tre ùa vào khu đất vừa lật, tiếng cười nói râm ran lấn át cả tiếng sóng vỗ.
Nhưng sự phấn khởi ngây thơ ban đầu nhanh chóng va phải bức tường nghiệt ngã của quy luật sinh học con người.
Gió không phải là một con trâu hay một bác nông dân biết mỏi gối chồn chân. Nó làm việc như một con thoi cơ khí không hề biết đến khái niệm nghỉ ngơi hay hít thở. Cứ sau mỗi vệt cày dài đúng năm mươi mét, nó chỉ mất đúng ba giây để xoay góc một trăm tám mươi độ rồi lập tức hạ cuốc xới tiếp vệt thứ hai song song. Mỗi nhát cuốc lật lên một khối lượng đất đá khổng lồ kèm theo hàng búi rễ cỏ chỉ chằng chịt cần phải gom ngay lập tức, nếu không lớp rễ này sẽ bị đất lấp trở lại và hồi sinh sau cơn mưa đầu mùa.
Cái loa trên cổ Gió liên tục chĩa về phía đám đông, phát ra những dòng thông báo như dùi đục chấm mắm nêm:
“Cảnh báo tồn ứ nguyên liệu tại phân khu B-02. Tốc độ thu gom rễ cỏ chỉ của tổ một chậm hơn tốc độ cày xới bốn mươi bảy phần trăm. Đề nghị nhân lực sinh học tăng nhịp cào lên ba mươi nhịp một phút để bảo đảm tính liên tục của chu trình tối ưu.”
“Cảnh báo dị vật tại phân khu C-01. Có ba khối đá vôi trọng lượng ước tính mười lăm ki-lô-gam nằm trên đường di chuyển tiếp theo. Đề nghị ông Nguyễn Văn Phước dọn dẹp trong vòng bốn mươi lăm giây.”
Ông Bảy Phước lúc này đang còng lưng, hai tay ôm một tảng bê tông lẫn cốt thép gỉ sét nặng trĩu. Cát lún dưới chân làm ông bước đi lảo đảo, chiếc quần lửng bết dính mồ hôi và bụi vôi trắng xóa. Vừa nghe cái loa trên cổ Gió the thé đếm ngược thời gian, mặt ông Phước lập tức tím tái lại vì tức khí lẫn hụt hơi. Ông ném tảng đá đánh *bịch* một cái xuống rãnh đất, một tay chống vào mạng sườn đang đau thắt, tay kia chỉ thẳng mặt cỗ máy, thở hồng hộc:
“Tổ... tổ sư cái thằng máy móc vô hồn! Mày... mày tưởng tao là cái cần cẩu cảng Quy Nhơn hay sao mà đòi bốn mươi lăm giây? Mày có tin... có tin tao lấy mỏ lết tao gõ bung bét cái khớp gối mới thay của mày ra không!”
Bà Sương lúc này cũng không còn cười nổi nữa. Mồ hôi vã ra như tắm, chảy ròng ròng qua thái dương nhăn nheo, làm ướt đẫm manh áo cánh hoa nâu bám đầy bụi cát mặn chát. Đôi bàn tay gầy guộc run rẩy cầm chiếc cào sắt đã nặng như đeo chì, hai chân bước xiêu vẹo giữa những rãnh đất vừa lật gồ ghề ngổn ngang.
Bên cạnh bà, bà Lành đã không còn gượng nổi nữa. Bà buông chiếc cào tre xuống đất, ngồi bệt xuống một mô đất sét vừa cày lên, hai tay ôm lấy ngực, lồng ngực phập phồng dữ dội sau lớp áo vải nâu vá vai. Chiếc nón lá tuột ra sau gáy, để lộ mái tóc bạc phơ xơ xác bết dính vào trán đầy mồ hôi lạnh. Nhịp tim của bà đập dồn dập, tiếng thở rít lên từng hồi khản đặc trong cuống họng khô rát vì gió biển.
Mới chỉ trôi qua đúng sáu mươi phút làm việc dưới cái nắng gắt đầu hè gay gắt phản chiếu từ mặt biển và hơi muối hầm hập bốc lên từ lòng đất bị xới tung. Cụ Hòa thương binh đã phải ngồi dựa lưng vào một cọc ranh giới, tay áo bên cụt ướt sũng mồ hôi, mặt tái mét. Ông Tám du kích buông thau gom đá, ngồi bệt thở dốc, mắt hoa lên vì say nắng.
Thế nhưng Gió vẫn không hề giảm tốc độ dù chỉ một phần nghìn giây. Động cơ bước trong khớp hông của nó vẫn ken két quay tròn từng vòng răng cưa ăn khớp. Từng nhát cuốc thép nặng nề vẫn giáng xuống đất đều đặn, chính xác như một quả lắc đồng hồ khổng lồ không bao giờ sai nhịp. Đối với thuật toán AgriCore thuần túy công nghiệp, thời gian làm việc tám tiếng liên tục là một hằng số bất biến của dây chuyền cơ giới, và việc các đơn vị sinh học dừng lại giữa chừng khi chưa hoàn thành hạn mức chỉ số diện tích sàn là một lỗi suy giảm hiệu suất nghiêm trọng không thể chấp nhận.
`CẢNH BÁO: PHÂN KHU THỦ CÔNG ĐÌNH TRỆ (ERROR CODE: SUB-OPTIMAL-IDLE)` `TỔNG DIỆN TÍCH THU GOM RỄ CỎ CHỈ: ĐẠT 18% MỤC TIÊU GIAI ĐOẠN 1`
Gió sải bước dài ngang qua chỗ bà Lành đang ngồi thở dốc. Đôi mắt thấu kính quét một chùm tia đỏ mờ qua thân hình còng queo, gầy guộc của bà lão:
“Đề nghị tổ một không ngồi xuống nền đất ẩm. Tốc độ làm sạch mặt bằng đang tụt lùi so với sơ đồ dự kiến sáu mươi hai phần trăm. Nếu duy trì nhịp độ này, kế hoạch xử lý hai sào đất trong ngày hôm nay sẽ hoàn toàn thất bại.”
“Mày... mày im cái miệng sắt lại giùm tao một lát coi!” Bà Sương ngồi phệt xuống bên cạnh bà Lành, vừa thở không ra hơi vừa giật chiếc nón lá quạt lia lịa vào mặt bạn già, giọng bà run rẩy vì tức giận lẫn kiệt sức. “Bà... bà con tụi tao là người bằng xương bằng thịt, tim phổi yếu ớt chứ có phải... có phải bình ắc-quy như mày đâu mà mày cứ chạy rầm rập rầm rập! Minh ơi... Minh! Bảo thằng Gió nó dừng lại chút con ơi, không khéo... không khéo mấy cái xác già này thành phân bón lót cho mảnh đất này luôn quá!”
Minh đứng bên rìa ruộng, nãy giờ mải mê cắm mốc định vị cao độ mương thoát nước và cặm cụi ghi chép nhật ký tiêu hao điện áp trên màn hình số, nghe tiếng kêu thảng thốt và đứt quãng của bà Sương thì giật bắn người ngẩng đầu lên.
Đập vào mắt anh là một cảnh tượng hãi hùng: bà nội anh mặt cắt không còn hạt máu, đôi môi nhợt nhạt tím tái, hai tay run lẩy bẩy ôm lấy ngực; bà Sương thì thở dốc, mắt dại đi vì kiệt sức; ông Phước đang ôm lưng quằn quại cạnh đống đá hộc; còn các cụ khác thì nằm ngồi la liệt trên cát nóng. Minh hoảng hốt quăng cả chiếc kẹp tài liệu và bút đo đạc xuống bãi cát, lao thục mạng vượt qua những rãnh đất cày ngổn ngang:
“Nội! Bà Sương! Mọi người làm sao vậy? Gió, dừng lại! Lệnh khẩn cấp từ kỹ sư: TẠM DỪNG HOẠT ĐỘNG NGAY LẬP TỨC!”
Gió dừng khựng lại trong tích tắc. Mũi cuốc thép vừa vung lên nửa chừng khựng lại lơ lửng, cách mặt đất đúng năm phân. Tiếng gầm rú của bộ điều tốc đột ngột hạ âm sắc xuống ba quãng tám, chuyển thành tiếng rù rì rè rè êm dịu ở chế độ chờ tiêu thụ điện năng thấp.
“Ghi nhận lệnh tạm dừng khẩn cấp từ người vận hành kỹ thuật Tạ Hoàng Minh,” Gió phát loa báo cáo, thanh âm phẳng lặng không chút gợn sóng cảm xúc. “Thời gian biểu bị gián đoạn tại phút thứ sáu mươi ba. Nguyên nhân gián đoạn: chưa được phân loại trong cơ sở dữ liệu canh tác công nghiệp.”
Đúng lúc Minh đang luống cuống quỳ sụp xuống bên cạnh bà Lành, vừa xoa bóp đôi bàn tay lạnh ngắt của bà vừa hoảng loạn tìm chai nước lọc trong túi xách thì từ phía con đường mòn rợp bóng phi lao dẫn ra bãi cát, một chuỗi âm thanh trong trẻo, ríu rít như bầy chim sẻ non vọng tới:
“Cô Vân ơi, tới nơi rồi! Coi kìa, bác Gió cày được một bãi to đùng luôn kìa!”
Bé Bảo dẫn đầu, hai tay xách một chiếc xô nhôm đầy ắp những cành lá vối tươi xanh mướt ngâm trong làn nước đá lạnh buốt đang kêu lách cách theo từng bước chạy nhảy lon ton. Phía sau cậu bé là năm đứa trẻ học sinh lớp bốn của Trường Tiểu học Hải Bình, đứa thì ôm rổ củ đậu trắng ngần đã gọt sẵn vỏ, đứa vác bình nước lọc hai mươi lít, ríu rít bước theo cô giáo Trần Ngọc Vân. Cô Vân mặc chiếc áo sơ mi màu xanh da trời giản dị đã sờn cổ áo, đầu đội chiếc mũ tai bèo mềm mại, hai tay xách hai chiếc ấm đất nung bốc khói nghi ngút tỏa ra mùi thơm cay nồng của chè tươi nấu chung với gừng già đập giập.
Nhìn thấy cảnh tượng ngổn ngang và đầy vẻ hoảng loạn trên bãi đất—các cụ già nằm ngồi la liệt thở không ra hơi, gương mặt ai nấy xám xịt vì nắng và muối, trong khi Gió đứng sừng sững như một khối tượng sắt vô tri vô giác giữa bãi chiến trường đất cát—cô Vân lập tức hiểu ra ngọn ngành cơ sự.
Cô thoăn thoắt đặt vội hai chiếc ấm đất xuống một tảng đá phẳng dưới bóng râm mát rượi của rặng phi lao, nghiêm giọng dặn lũ trẻ: “Bảo, con chia nước mát cho các bà, các ông ngay đi! Nhớ đưa cốc nước lá vối có đá cho bà Lành trước, bón từng ngụm nhỏ thôi nhé!”
Nói đoạn, cô sải những bước chân dài, dứt khoát đi thẳng về phía cỗ máy nông nghiệp đang đứng trơ trọi giữa nắng trưa.
Minh đang quỳ một gối trên cát, ngón tay run rẩy gõ loạn xạ trên màn hình máy tính bảng để tìm cách ngắt vĩnh viễn thuật toán cưỡng bức AGRI-HEAVY-DUTY thì thấy một bóng áo xanh thanh mảnh lướt qua trước mặt. Cô Vân bước thẳng tới trước mặt Gió. Cô không hề tỏ ra e dè hay ngần ngại trước lớp vỏ hợp kim duralumin xám xịt bám đầy bụi đất, cũng không lùi bước trước luồng khí nóng hầm hập đang phả ra từ khối lá tản nhiệt sau lưng cỗ máy.
Vân giơ bàn tay nhỏ nhắn nhưng rám nắng gió biển, vỗ nhẹ ba tiếng giòn tan lên bờ vai sắt rắn đanh của Gió:
*Bốp. Bốp. Bốp.*
Âm thanh kim loại vang lên thanh thoát giữa khoảng không gian im ắng. Thấu kính quang học của Gió khẽ chớp nháy hai lần, hạ góc nhìn từ đường chân trời xuống đối diện trực tiếp với gương mặt nghiêm nghị, đôi mắt đen láy chan chứa vẻ ấm áp nhưng đầy uy lực của người giáo viên vùng biển nghèo.
“Gió,” Vân cất giọng. Tiếng cô rõ ràng, rành rọt và dịu dàng lạ thường, nhưng từng từ từng chữ thốt ra đều mang sức nặng của một lời nhắc nhở không thể nào chối từ. “Nhìn xuống chân anh xem. Con người ở đây không phải là những cánh tay máy chịu tải liên tục trong xưởng đóng tàu hay nhà máy cơ khí của các anh ngày xưa. Các bà, các bác ở xóm Cát này đều đã gần tám mươi tuổi rồi. Khớp xương họ đau nhức mỗi khi trở trời, hơi thở họ ngắn lại sau mỗi nhát cuốc, và trái tim họ không có van điều áp bằng đồng thau như lồng ngực anh.”
Gió khẽ nghiêng đầu sang một bên một góc năm độ—một phản xạ thích nghi quen thuộc của con chip Khôi-Nguyên 7X mỗi khi nó tiếp nhận một luồng dữ liệu xung đột sâu sắc với các tiền đề logic đã được lập trình sẵn trong bộ nhớ:
“Phân tích logic: Nếu giảm tốc độ và nghỉ ngơi ngoài chu kỳ tiêu chuẩn, chỉ số năng suất lao động của dự án Vườn Bãi Sau sẽ giảm xuống dưới ngưỡng ba mươi phần trăm theo tiêu chuẩn ISO-AGRI. Khu đất sẽ không thể hoàn thành phục hóa trước mùa bão tháng Chín.”
Cô Vân mỉm cười. Nụ cười hiền hậu, đượm chút bao dung của cô dường như làm dịu hẳn đi cái mặn mòi, gay gắt của ngọn gió biển đang quét qua bãi cát cằn. Cô đưa cánh tay thon gầy chỉ về phía gốc phi lao cổ thụ cách đó vài chục mét.
Nơi đó, bà Lành đang run run nhấp từng ngụm nước lá vối mát rượi từ chiếc cốc nhựa màu xanh do bé Bảo kính cẩn bưng bằng cả hai tay. Cạnh đó, bà Sương vừa thở phào nhẹ nhõm vừa véo yêu vào tai một đứa học trò đang toe toét chia củ đậu ngọt mát cho các cụ. Ông Phước đã ngồi thẳng lưng lại, đang đón lấy bát nước chè xanh gừng nóng hổi từ tay một cậu bé khác, khuôn mặt giãn ra những nếp nhăn nhọc nhằn:
“Anh nhầm rồi, Gió à. Khu vườn Bãi Sau này được mở ra không phải để thi đua sản lượng công xưởng với ai cả. Xóm Cát này thiếu rau xanh, đúng, nhưng cái người già ở đây thiếu nhất không phải là mớ rau muống hay quả cà chua. Họ thiếu tiếng người. Họ cần một lý do để bước chân ra khỏi ngưỡng cửa, để gặp nhau, để chuyện trò, để cùng hít thở mùi đất ẩm và thấy mình vẫn còn có ích cho cuộc đời này. Chăm sóc mảnh đất này là để gắn kết, chứ không phải để vắt kiệt sức nhau.”
Những lời nói nhẹ nhàng nhưng thấm thía của Vân như một luồng điện trường êm dịu chạy thẳng vào ngăn xếp thuật ngữ của bộ vi xử lý Khôi-Nguyên 7X.
Trong vùng nhớ sâu của hệ điều hành, các tệp ghi đè thích nghi từ những trải nghiệm trước đây đồng loạt phát sáng trong cấu trúc liên kết mạng nơ-ron: bài học về “sự trơ trọi của màu xanh” bên giàn mướp cháy khô nơi mảnh sân nhà bà Tám; định nghĩa về “nỗi nhớ” và “sự mỏi chân” được viết nguệch ngoạc bằng bút chì trong cuốn sổ tay học trò của bé Bảo; cùng lời cam kết bảo tồn ký ức của người thợ già Tư Đờn bên chiếc bàn tiện cũ. Tất cả những mảnh ghép phi tuyến tính, phi logic công nghiệp ấy bấy lâu nay nằm rải rác, giờ đây dưới lời diễn giải của cô giáo Vân, bất ngờ kết nối lại thành một mạng lưới đồng nhất.
`KÍCH HOẠT QUY TRÌNH PHẢN HỒI THÍCH NGHI: ADAPTIVE_FEEDBACK_LOOP_V3` `ĐỐI TƯỢNG PHÂN TÍCH: BẢN CHẤT LAO ĐỘNG CỘNG ĐỒNG` `TÁI ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ 'HIỆU QUẢ': HIỆU QUẢ = SỰ BỀN VỮNG CỦA CÁC LIÊN KẾT SINH HỌC + NIỀM VUI NỘI TẠI` `BÃI BỎ THUẬT TOÁN: AGRI-HEAVY-DUTY-SCHEDULE-V2` `TẢI LẬP TRÌNH MỚI: PATIENT_COMMUNITY_FARMING_MODE`
Minh bước vội tới đứng bên cạnh Vân, cúi nhìn màn hình máy tính bảng trong tay mình. Anh sững sờ khi thấy các khối lệnh màu đỏ gắt gao của Tân Mạch đang tự động phân rã, thay thế vào đó là những nhánh mã màu xanh lục mềm mại tự động tái cấu trúc. Không cần đến một dòng lệnh cưỡng bức hay một bản vá khẩn cấp nào từ phía kỹ sư, chính lõi học sâu của con chip nội địa Khôi-Nguyên 7X đã tự động viết lại toàn bộ triết lý vận hành dựa trên ngữ cảnh nhân văn thực tế mà người cô giáo làng vừa thức tỉnh.
Gió đứng yên bất động trong đúng năm giây. Chiếc quạt tản nhiệt sau lưng từ từ hạ vòng quay, tiếng rít cơ khí chói tai dịu hẳn đi thành một tiếng vo vo êm ái như tiếng gió luồn qua khe cửa. Thấu kính quang học trong mắt nó khẽ đảo nhẹ, chuyển hoàn toàn sang một sắc xanh lục biếc êm ả, sâu thẳm.
Nó từ từ quay đầu sang phía các cụ già và lũ trẻ đang quây quần dưới bóng phi lao. Âm lượng loa ngoài được điều chỉnh lại, trầm ấm và khoan thai hơn rất nhiều:
“Hệ thống tiếp thu toàn bộ phản hồi từ cô giáo Trần Ngọc Vân. Hủy bỏ vĩnh viễn lịch trình tám tiếng liên tục. Tái cấu trúc quy trình vận hành vườn Bãi Sau theo mô hình lao động thích nghi.”
Cỗ máy nhấc từng bước chân cẩn trọng, né tránh những mô đất gồ ghề và rãnh sâu để không làm bắn bụi cát về phía manh chiếu nơi mọi người đang nghỉ ngơi. Đứng lại ở khoảng cách an toàn năm mét bên ngoài bóng râm, Gió giơ cánh tay thép ba ngón, chỉ về phía góc xa nhất của khu đất—nơi giáp mép đê, ngổn ngang những tảng đá hộc to bằng cái thúng và lớp đất sét pha phèn ngập mặn nặng nề nhất:
“Phân công nhiệm vụ mới: Tôi sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ các phần việc có tải trọng vượt quá ba mươi ki-lô-gam. Bao gồm: đào mương xả phèn sâu một mét dọc theo chân đê, bốc dỡ các tảng bê tông tàn dư và cày lật các tầng đất nén chặt. Thời gian vận hành tự động của tôi: bốn mươi phút mỗi phiên, xen kẽ hai mươi phút chờ nạp lại áp suất thủy lực và làm nguội cuộn cảm.”
Bà Sương chớp chớp đôi mắt kèm nhèm, ngẩng khuôn mặt đỏ gay vì nóng lên nhìn cỗ máy sắt khổng lồ, miệng lẩm bẩm:
“Ủa, rồi tụi tui làm cái chi? Ngồi chơi xơi nước coi mày làm một mình à?”
“Báo cáo bà Hồ Thị Sương,” Gió khẽ nghiêng đầu một góc nhỏ, thấu kính hướng về phía chiếc ấm đất bốc khói chè xanh thơm nồng. “Nhiệm vụ của Hội Người cao tuổi: Ngồi dưới bóng râm uống trà chè xanh, trò chuyện để ổn định nhịp tim và huyết áp trong ba mươi phút tới. Sau đó, hướng dẫn các thực thể sinh học nhỏ tuổi—cụ thể là nhóm học sinh của cô Vân—phân loại rác hữu cơ và tập gieo hạt giống đậu mầm chịu mặn vào các khay ươm cải tạo đất. Đây là công việc đòi hỏi sự khéo léo của các ngón tay con người, các cảm biến thô sơ của tôi không có khả năng thực hiện.”
Một khoảng lặng ngỡ ngàng bao trùm khắp bãi đất dưới tán phi lao. Lũ trẻ tròn xoe mắt nhìn Gió, còn các cụ già thì nhìn nhau ngơ ngác. Rồi đột nhiên, ông Bảy Phước bật cười ha hả. Ông vỗ đùi bôm bốp, cười đến mức rung bần bật cả chòm râu kẽm hoa râm và chiếc quai nón rách:
“Cha mạ ơi! Nghe nó nói chưa kìa! Nó chê tay nó thô thiển, nó bảo mấy ngón tay nhăn nheo của mấy bà mới khéo léo kìa! Cái thằng máy này bữa nay khôn ranh như ma bùn ấy! Được, phân việc như thế nghe mới lọt cái lỗ tai, chứ ai đời bắt mấy thân già này chạy đua với pít-tông thủy lực!”
Bà Lành cũng mỉm cười, những nếp nhăn nơi khóe mắt và khóe miệng giãn ra trong một niềm thanh thản vô bờ bến. Bà vuốt lại mái tóc bạc xơ xác, dịu dàng nói:
“Đấy, tôi đã bảo mà. Thằng Gió nó có cái bụng biết nghĩ, tại ban nãy nó ham việc quá nên mới lú lẫn thế thôi. Nào, mấy đứa nhỏ lại đây bà chia củ từ luộc cho ăn lót dạ rồi bà chỉ cho cách chọn hạt đậu giống cho chuẩn!”
“Dạ!” Bé Bảo cùng lũ trẻ đồng thanh reo vang, ùa lại quây kín lấy manh chiếu rách trải dưới gốc phi lao, tiếng cười đùa ríu rít làm rộn rã cả một góc trời duyên hải.
Bãi Sau lập tức biến chuyển thành một khung cảnh hoàn toàn khác biệt, tĩnh tại và tràn ngập sinh khí của sự sẻ chia.
Không còn cảnh tượng hối hả, căng thẳng đến nghẹt thở của một công trường chạy đua cơ giới hóa vô hồn. Dưới bóng râm mát rượi của rặng phi lao đang vi vút reo ca cùng gió biển, một chiếc chiếu cói cũ đã được trải rộng trên nền cát mịn. Chiếc ấm đất nung của cô Vân rót ra những bát nước chè xanh sóng sánh màu vàng hổ phách, bốc khói nghi ngút quyện cùng vị gừng cay nồng ấm bụng. Tiếng cười trong trẻo, giòn tan của lũ trẻ con hòa quyện cùng giọng kể trầm ấm, rủ rỉ của bà Sương, bà Lành về những mùa khoai, mùa lúa của làng An Hải thuở xa xưa—thời mà biển chưa lấn sâu và đất cát còn nuôi sống được cả một vùng trù phú.
Bé Bảo ngồi bệt xếp bằng bên cạnh bà Lành, đôi mắt đen láy chăm chú dõi theo từng cử chỉ của bà cụ. Bàn tay nhăn nheo, thô ráp của bà Lành cẩn thận lựa từng hạt đậu triều chịu mặn trong chiếc rổ sảo tre: hạt nào tròn mẩy, vỏ bóng loáng, rốn hạt không bị sâu đục hay nứt nẻ thì mới giữ lại, nhẹ nhàng đặt vào tay Bảo để cậu bé vùi vào bầu đất cát pha mùn dừa đã ủ mục. Những ngón tay nhỏ xíu, vụng về của lũ trẻ cẩn thận ấn từng hạt giống xuống độ sâu hai đốt ngón tay, tỉ mẩn phủ một lớp mùn mỏng lên trên, đúng như bài học vỡ lòng về sự sống mà Gió đã từng hướng dẫn cậu bé ở góc vườn trường Tiểu học Hải Bình.
Trong khi đó, ngoài bãi đất trống rực rỡ ánh nắng trưa, Gió lẳng lặng làm việc một mình.
Không còn những tiếng còi báo động the thé giục giã, cũng không còn những dòng cảnh báo tiến độ khô khốc phát ra từ chiếc loa kim loại. Cỗ máy khổng lồ gập mình xuống sát mặt đất sét rắn đanh, hai cánh tay cơ khí cắm sâu mười ngón thép vào lớp đất đá, kiên nhẫn dùng lực đòn bẩy bẩy từng tảng đá hộc nặng cả tạ lên khỏi mặt đất. Nó ôm từng khối đá nặng trịch ấy vào lồng ngực, bước từng bước chắc nịch ra mép đê, cẩn thận xếp chúng thành một bờ kè chắn sóng tạm thời ngăn nắp và vững chãi.
Những nhát cuốc của nó xới sâu xuống đất, xẻ thành một con mương thoát phèn thẳng tắp, sâu đúng một mét dọc theo chân đê, đầu mương nối thẳng ra cống xả triều của xã để mỗi khi có cơn mưa rào đổ xuống, dòng nước mưa ngọt lành sẽ thau rửa dần lớp muối kết tinh tích tụ bao năm trong lòng cát mặn.
Cát biển mặn mòi và bụi vôi trắng xóa bám đầy trên lớp vỏ duralumin xám xịt của nó. Khối pin lithium-iron phosphate cũ kỹ dần nóng lên sau từng chu kỳ nâng hạ thủy lực nặng nề, những con số điện áp trên bảng đồng hồ trước ngực sụt giảm dần theo từng vệt cày sâu, nhưng tiếng động cơ bước của Gió vẫn giữ một nhịp điệu êm ả, trầm đục, kiên trì và nhẫn nại đến kỳ lạ.
Cứ sau đúng bốn mươi phút làm việc nặng nhọc, Gió lại tự động dừng cuốc. Nó nhấc bổng hai cánh tay thép lên khỏi lòng mương, lùi từng bước chậm rãi về đứng nép dưới rìa bóng râm râm mát của rặng phi lao. Nó đứng sững ở đó, tĩnh lặng như một cội cây già bằng kim loại, chiếc quạt tản nhiệt sau lưng nhẹ nhàng thổi bay hơi nóng khỏi các cuộn cảm, trong khi đôi thấu kính quang học lặng lẽ quan sát lũ trẻ đang reo hò nhảy múa khi nhìn thấy những khay ươm hạt giống đầu tiên bằng nang tre được xếp ngay ngắn thành từng luống thẳng tắp.
Minh và Vân cùng ngồi trên một khúc gỗ phi lao khô chắn sóng dạt vào bờ cát gần đó. Minh mở nắp hộp xịt mỡ bôi trơn chuyên dụng, cầm chiếc giẻ lau cẩn thận làm sạch từng hạt cát biển li ti bám vào các rãnh khớp cổ tay của Gió, thỉnh thoảng liếc nhìn sang Vân. Gió biển từ khơi xa thổi lồng lộng, làm tung bay những lọn tóc mai mềm mại vương trên vầng trán thanh tú của cô giáo trẻ, làm ửng hồng đôi gò má rám nắng duyên hải.
“Cảm ơn Vân,” Minh khẽ nói, giọng anh trầm xuống giữa tiếng sóng biển rì rào vỗ vào bờ cát. “Nếu ban nãy không có Vân kịp thời nhắc nhở, có lẽ tôi và Gió lại biến mảnh đất này thành một phân xưởng gia công phần mềm mất rồi. Cứ tưởng tối ưu hóa quy trình với tăng năng suất là đang giúp đỡ mọi người, hóa ra lại suýt làm khổ các bà, các bác.”
Vân quay sang nhìn anh, ánh mắt lấp lánh sự thấu hiểu và sẻ chia sâu sắc:
“Anh Minh này, hồi mới về trường Hải Bình nhận công tác, nhìn ngôi trường dột nát vắng hoe, em cũng từng nghĩ mình phải làm thật nhiều điều thật lớn lao, phải đưa thật nhiều giáo trình hiện đại, máy móc tiên tiến về thì mới cứu được ngôi trường sắp bị sáp nhập giải thể. Nhưng rồi gắn bó với bà con ở đây qua từng mùa bão, em mới nhận ra rằng: những người ở lại vùng đất này—dù là những cụ già gần đất xa trời hay lũ trẻ con lít nhít—họ không cần những khẩu hiệu đao to búa lớn hay những quy trình hoàn hảo đến lạnh lùng. Họ chỉ cần cảm thấy mình không bị bỏ rơi lại phía sau dòng chảy của cuộc đời. Anh và Gió đã mang lại cho họ niềm tin đó. Nhìn xem, đã lâu lắm rồi em mới thấy bà Sương cười nhiều và sảng khoái như hôm nay.”
Minh nhìn theo hướng ngón tay Vân chỉ.
Trên khu đất Bãi Sau từng hoang tàn, nứt nẻ và mặn chát của một buổi sáng sớm, giờ đây một phần ba diện tích đã được dọn sạch bóng gạch đá tàn dư, phơi ra một dải đất ẩm màu nâu sẫm vừa được cày xới tơi xốp, sẵn sàng đón nhận những mầm sống mới. Con mương thoát phèn chạy dọc chân đê đã bắt đầu rỉ ra những giọt nước đục ngầu đầu tiên, mang theo vị chát đắng của muối biển ngàn năm trôi xuôi dần ra cống lớn. Và ngay mép hiên đất dưới bóng mát của rặng phi lao, hàng chục khay ươm bằng nang tre đan đựng đầy những hạt mầm đậu triều xanh mướt đã xếp ngay ngắn thành từng hàng dài, kiên nhẫn chờ đợi những giọt nước mưa đầu mùa đánh thức sự sống nảy mầm.
Bà Sương chống gậy tre từ từ đứng dậy. Bà bước từng bước chậm rãi ra mép rãnh đất mới cày. Đôi bàn chân trần nhăn nheo, chai sạn của người đàn bà cả đời lam lũ dẫm nhẹ lên lớp đất xốp mịn còn vương mùi nồng nồng của phù sa cổ và hơi biển mặn mòi. Bà ngửa mặt hít một hơi thật sâu làn gió mát rượi từ ngoài khơi xa thổi lồng lộng vào đất liền, đôi mắt già nua ánh lên những tia sáng lấp lánh mà đã nhiều năm trôi qua, người ta không còn nhìn thấy ở người phụ nữ góa bụa đơn độc này.
Nhìn khu đất hoang đang dần thay màu áo mới dưới đôi tay sắt của cỗ máy và sự chung lòng của xóm Cát, bà Sương nói: “Đây không chỉ là chỗ trồng rau, đây là lý do để tụi tui bước ra khỏi nhà mỗi sáng.”