Người Gõ Cửa Lúc 3 Giờ 17Ch.10 / 20
Chapter 10

Người giữ chìa khóa

Dưới bóng râm ảm đạm của cây bàng già bên chân bể nước nổi, bà Hòa run rẩy kéo tấm bạt che quán trà đá lại gần hơn.

Gió sớm thổi qua khoảng sân chung khu tập thể Hòa An mang theo hơi ẩm nhơm nhớp và cái lạnh buốt của sương muối cuối thu. Tấm bạt dứa rách mép phần phật đập vào những thanh tre buộc tạm, phát ra những âm thanh khô khốc, rách rưới như tiếng vải liệm cọ vào vách đá. Quán nước sáng nay không có ấm tích ủ trong giỏ bọc rơm khô, không có làn khói thuốc lào Tiên Lãng bảng lảng quấn quýt mùi trà mạn cắm hương sen cũ, cũng chẳng có tiếng cười cợt, kháo chuyện của những người thợ hưu trí hay nhóm công nhân ca ba đi bộ sớm qua cổng ngõ.

Mọi thứ chỉ còn là một góc tối ngổn ngang, chật chội và nhớp nháp, nơi những chiếc ghế nhựa thấp tè màu xanh đỏ cáu bẩn xếp chồng lên nhau bên cạnh chiếc bàn gỗ tạp đã long đinh, mặt ván tróc lở từng mảng sơn nâu sẫm để lộ thớ gỗ mục rữa vì ngấm nước mưa nhiều năm. Trên mặt bàn bết dính nước trà đặc, vài chiếc cốc thủy tinh mắt trâu sứt mẻ nằm nghiêng ngả cạnh chiếc khay nhôm ố vàng, phản chiếu luồng ánh sáng lờ nhờ, đùng đục của một buổi sớm mai không có mặt trời.

Bà Hòa không buông tay Mai. Những ngón tay gầy guộc, thô ráp như rễ cây khô cằn của bà vẫn bấu chặt lấy cổ tay áo khoác gió của cô gái trẻ, mười đầu móng tay cáu bẩn vì cặn bùn và tàn thuốc lá găm sâu qua lớp vải dù dày, siết mạnh đến mức Mai cảm nhận rõ từng đường gân mạch máu đang co giật bần bật truyền thẳng vào da thịt mình. Cả thân hình bà lão co ro như một nắm giẻ rách vứt xó.

Đôi mắt bà đảo liên hồi quanh hốc mắt trũng sâu thâm quầng, ánh nhìn nhớn nhác, kinh hãi như một con thú rừng vừa trốn thoát khỏi miệng bẫy ngầm nhưng vẫn nghe thấy tiếng bước chân người thợ săn dẫm lá khô đuổi sát sau lưng. Bà quét mắt từ dãy ban công hoen gỉ tầng hai của căn hộ ông Tự — nơi cánh rèm vải hoa xơ xác vẫn buông rũ bất động — sang tận phía hành lang hun hút gió của đơn nguyên số ba bên cạnh, rồi lại giật thót mình, cổ họng bật ra một tiếng nấc nghẹn khô khốc khi nhìn chăm chăm vào chân cầu thang thoát hiểm phía đông.

Nơi đó, cánh cửa sắt bản dày hoen gỉ toàn phần, bị quấn chặt bởi tầng tầng lớp lớp những vòng xích gang to bản xỉn màu và khóa chặt bằng chiếc ổ khóa đồng cổ lỗ sĩ, vẫn im lìm chìm trong bóng tối dày đặc của gầm cầu thang. Vệt nước đen kịt, sủi bọt nhờn nhợt và tanh nồng mùi bùn rỉ sắt vẫn lặng lẽ rỉ ra từ kẽ hở chân tường nứt toác, bò ngoằn ngoèo qua khoảng sân xi măng lỗ chỗ như một vết thương chưa từng bao giờ chịu khép miệng suốt gần hai mươi năm ròng rã.

Mùi xú khí của bùn thối ngâm rỉ sét và rác rưởi mục nát phả lên từng đợt, hòa lẫn vào cái lạnh cắt da của buổi sáng mùa sương, biến khoảng không gian quanh bể nước thành một vùng đầm lầy vô hình, ngột ngạt và đầy ám ảnh.

"Vào đây... vào sâu trong này đã, hai đứa... Đừng đứng lấp ló ngoài mép rào, mắt người ta dòm thấy bây giờ..."

Giọng bà Hòa khản đặc, the thé và dập dồn, như thể cuống họng bà vừa bị ai đó nhét vào một nắm cát khô lẫn xỉ than vụn. Bà lùi lũi kéo Mai và Linh lách qua khe hẹp ẩm mốc giữa bức tường bể nước nứt nẻ đóng đầy rêu xanh và tấm bạt dứa rách, ép sát cả ba người vào góc khuất nhất của quán nước. Nơi này được che chắn bởi bóng tối rậm rạp của tán bàng già xơ xác, cành lá rụng trơ trụi như những cánh tay khẳng khiu chỉ lên vòm trời xám xịt, ngăn triệt để mọi ánh nhìn tò mò từ các ô cửa sổ chớp gỗ phía trên các tầng lầu rêu phong.

Linh nhanh nhẹn đưa tay kéo góc bạt buông rũ xuống, che chắn nốt khe hở duy nhất nhìn ra khoảng sân trong lát gạch vỡ, đồng thời bàn tay trái thọc sâu vào túi áo khoác rộng, kín đáo bấm nút khởi động chiếc máy ghi âm kỹ thuật số chuyên dụng. Ánh đèn led đỏ li ti trong túi áo nhấp nháy một nhịp thầm lặng. Linh nhìn sang Mai, ánh mắt sắc sảo, kiên định của người làm báo khẽ nheo lại, kín đáo ra hiệu cho bạn mình phải giữ thật vững tâm lý.

Mai khẽ gật đầu, dù lồng ngực cô lúc này đang đập dồn dập từng cơn dữ dội, tim đập thình thịch như có ai cầm chiếc búa tạ nện vào từng thanh xương sườn. Mùi bùn tanh từ tấm áo nâu sờn rách của bà Hòa, hay đúng hơn là thứ mùi nước tù đọng nồng nặc tử khí ám ảnh từ chân cầu thang sắt kia rỉ lại, đang bao vây lấy họ trong một không gian chật chội chỉ vừa đủ ba bóng người nép sát vào nhau.

"Bác Hòa," Mai ngồi thụp xuống chiếc ghế nhựa thấp nhất kê sát chân tường bể nước, thu hẹp khoảng cách để tầm mắt mình ngang bằng với ánh nhìn hoảng loạn của bà lão. Cô nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đưa bàn tay ấm áp của mình phủ lên mu bàn tay lạnh ngắt, nổi đầy đồi mồi của bà. "Bác vừa nói... đêm qua lúc ba giờ mười bảy phút, bác nghe thấy tiếng xích sắt? Tiếng của cha cháu?"

Một cơn co giật nhẹ chạy dọc gò má hóp teo tóp của bà Hòa, kéo giật khóe miệng bà méo xệch sang một bên. Đôi môi thâm tím tái ngắt của bà run bần bật, hàm răng giả lỏng lẻo va vào nhau lập cập thành từng chuỗi âm thanh ghê rợn:

"Không phải chỉ là nghe... Bác thấy! Trời đất quỷ thần ơi, bác tận mắt nhìn thấy cái bóng đen ướt rượt trườn qua mái tôn, ngay trên đầu chỗ bác kê manh chiếu rách với cái giường bạt trông quán nước này! Tiếng xích sắt to bản kéo lê sàn sạt... sàn sạt trên mặt ngói xi măng xám... Cứ đúng một phút tròn trĩnh, từ ba giờ mười bảy phút đến ba giờ mười tám phút, rồi cái bóng ấy rút về phía cánh cửa sắt kia, chui tọt vào kẽ nứt chân tường. Chúng nó không để cho bác sống nữa đâu, Mai ơi! Mười tám năm rồi... bác đã ngậm miệng mười tám năm ròng để đổi lấy cái góc gầm bể nước này, cắm cái cọc tre, đặt cái bàn nước cặn bã nuôi thân tàn ma dại này qua ngày... nhưng bác không chịu nổi nữa rồi. Đêm nào nhắm mắt lại cũng thấy nước bùn ngập lên đến cổ họng, thấy anh Dũng ngửa mặt lên nhìn trừng trừng qua kẽ sắt..."

Bà nghẹn lại giữa chừng, hai vai gầy rung lên bần bật. Nước mắt đục ngầu, mặn chát của tuổi già ứa ra từ hai khóe mắt đỏ hoe sưng húp, chảy ngoằn ngoèo qua những nếp nhăn sâu hoắm như những rãnh cày nứt nẻ trên khuôn mặt sạm đen vì gió bụi.

"Bác kể cho chúng cháu nghe đi," Linh bước tới nửa bước, đặt một bàn tay vững chãi lên bờ vai đang run rẩy của bà lão, giọng cô trầm tĩnh, mạch lạc nhưng chứa đựng một sức nặng thôi thúc đầy uy lực. "Có chuyện gì đã thực sự xảy ra ở chân cầu thang phía đông vào đêm bão năm 2006? Đêm mà người ta nói rằng cha của Mai, cô Lệ và chú Phúc đã biển thủ tiền quỹ rồi bỏ trốn?"

Bà Hòa run rẩy đưa ống tay áo cáu bẩn quệt ngang dòng nước mắt đầm đìa, hơi thở phì phò dồn dập như một kẻ vừa chạy thục mạng qua một cánh đồng ngập gai góc. Bà từ từ ngửa mặt nhìn lên những kẽ lá bàng đẫm sương, ánh mắt trôi dạt vô định về một khoảng không mờ mịt của ký ức — nơi cơn ác mộng nguyên thủy nhất của khu tập thể Hòa An bắt đầu mở màn.

"Đêm ấy... là rạng sáng ngày mười sáu tháng Bảy năm 2006," giọng bà Hòa thì thào, nhỏ giọt và rời rạc, âm lượng bị ghìm chặt xuống mức tối đa, như thể sợ rằng bức tường gạch mục nát của bể nước cũng có tai để nghe trộm. "Cơn bão số ba đổ bộ thẳng vào thành phố. Mưa to như trút nước, gió giật từng cơn rách toạc cả mái bạt của bác. Nước từ sông Tô Lịch dềnh lên, cống rãnh tắc nghẽn, nước ngập trắng xóa cả cái sân tập thể này, mấp mé thềm xi măng của các căn hộ tầng một. Bác ngồi co ro trông quán thâu đêm, chẳng dám ngủ vì sợ nước dâng làm ướt mấy bao chè khô với thùng kẹo lạc là vốn liếng cả đời của bác. Khoảng hơn hai giờ sáng, trời sấm chớp đùng đoàng sáng rực cả một góc trời, bác nép sau tấm liếp thì thấy lão Khang — khi ấy lão còn đang đương chức trưởng ban đại diện lâm thời — mặc chiếc áo mưa cánh dơi màu ghi sáng, dẫn ba người đi vội vã cắt ngang qua khoảng sân ngập nước."

"Ba người đó là ai hả bác?" Mai nín thở, giọng cô ghìm xuống tận đáy lồng ngực, dù từng giác quan và trực giác của cô đã gào thét câu trả lời từ trước khi bà lão thốt ra.

"Là anh Dũng cha mày, chị Lệ thủ quỹ, và thằng Phúc thợ điện," bà Hòa rùng mình, hai con ngươi đục lờ mở to trừng trừng như đang nhìn thấy những vong hồn hiện về giữa ban ngày. "Lão Khang lúc ấy nói rất to, cố tình gào lên át cả tiếng mưa gió để nếu có ai trên tầng mở cửa chớp dòm xuống thì cũng nghe thấy. Lão bảo là nước cống ngầm đang tràn ngược vào buồng bơm áp lực cao dưới tầng hầm, máy bơm chính có nguy cơ chập cháy nổ cầu chì toàn khu, và nhân tiện ba bên phải đối chất ngay tại chỗ cuốn sổ sách thu chi quỹ cải tạo tầng hầm đã bị ai đó rút ruột bấy lâu nay. Chị Lệ lúc đó ôm khư khư chiếc túi dù màu mận chín trước ngực, nước mưa xối ướt đầm mái tóc, mặt mày chị ấy giận dữ và cương quyết lắm. Chị ấy gắt lên rằng lần này dứt khoát phải làm cho ra nhẽ khoản tiền hai trăm mấy chục triệu bị ăn chặn, danh dự của chị ấy không thể để người ta bôi tro trát trấu. Còn anh Dũng... anh Dũng thì xách theo chiếc đèn pin bình ắc-quy lớn và chiếc túi đồ nghề cơ khí bằng vải bạt nặng trĩu. Họ lầm lũi đi theo lão Khang, rẽ vào lối cầu thang thoát hiểm phía đông để xuống cửa hầm."

Mỗi chi tiết, từng cử chỉ, từng vật dụng mà bà Hòa vừa thốt ra đều khớp đến lạnh gáy với những hình ảnh rời rạc nhưng cháy bỏng mà Mai từng cảm nhận được khi chạm vào chiếc áo bảo hộ rách mép của cha và chiếc túi dù mận chín của bà Lệ. Một cơn ớn lạnh bò chậm rãi từ thắt lưng lên đến gáy Mai, khiến các chân lông dựng đứng. Cô cắn chặt môi dưới đến bật máu, mười đầu ngón tay bấm sâu vào lòng bàn tay để nén chặt tiếng nấc đang chực trào lên nghẹn ứ cổ họng.

"Lúc họ vừa bước xuống khỏi ba bậc tam cấp đầu tiên của lối dẫn xuống hầm," bà Hòa kể tiếp, giọng bà hạ thấp xuống thành tiếng khò khè đứt quãng, "lão Khang đột ngột thụt lùi lại phía sau. Lão không bước chân xuống sàn hầm. Lão đứng ở lưng chừng chiếu nghỉ, giơ cây đèn pin cá nhân soi rọi xuống vũng nước đang ngập ngang mắt cá, hối thúc ba người họ vào sâu bên trong buồng máy bơm kiểm tra rơ-le áp lực trước đi, lão sẽ đứng trên này trông chừng miệng cống và canh dòng nước tràn. Anh Dũng và thằng Phúc vì nôn nóng cứu hệ thống điện nước chung của cả trăm hộ dân nên không mảy may nghi ngờ. Vừa lúc cả ba người họ đặt chân xuống sàn hầm ngập nước, đi sâu vào khúc quanh dẫn tới buồng bơm... thì lão Khang ở trên này... lão kéo sập cánh cửa sắt lại!"

Âm thanh *rầm* và tiếng *cạch* khô khốc vang lên trong lời kể thì thào của bà lão như một nhát rìu chém toạc khoảng không gian tĩnh mịch của buổi sớm cuối thu. Mai cảm thấy tim mình như ngừng đập trong một khoảnh khắc tàn nhẫn.

"Lão sập cánh cửa sắt dày lại thật nhanh, động tác gọn gàng dã man như đã tính toán từ trước cả trăm lần," bà Hòa tiếp tục, mắt trợn trừng, hai thái dương giật giật từng cơn. "Lão rút từ trong vạt áo mưa ra một sợi xích gang to tướng, nhanh như cắt luồn qua hai then cửa hình chữ U rồi bập chiếc ổ khóa đồng loại lớn vào. Tiếng chốt khóa kim loại nảy lên đánh *tách* một tiếng rợn người giữa một tràng sấm rền vang trời. Dưới hầm sâu, anh Dũng và thằng Phúc lập tức nhận ra điều bất thường. Họ quay ngoắt lại, lao ngược lên dốc hầm, lao vào cánh cửa đập rầm rầm rầm! Chị Lệ thì gào khóc thảm thiết, tiếng thét của chị ấy vang vọng qua khe sắt hẹp, chị gào tên con gái Thảo của chị, rồi chị chửi lão Khang là đồ súc sinh, đồ giết người bịt miệng để cướp tiền dự án! Nhưng cánh cửa sắt thoát hiểm ấy quá dày, lại có gioăng cao su chặn khít... Nước từ đường cống ngầm phía sau buồng máy thì bắt đầu bung nắp, tuôn xối xả vào như thác đổ."

Linh khẽ nheo mắt lại, ánh nhìn sắc bén như dao mổ, lập tức nắm bắt mấu chốt kỹ thuật của hiện trường: "Lúc đó lão Khang đứng ở đó một mình sao bác? Còn ông Tự thì sao? Ông Tự lúc đó đang ở đâu?"

"Chỉ vài phút sau khi cánh cửa sắt bị sập khóa," bà Hòa nuốt khan một ngụm nước bọt đánh ực, ngón tay run lẩy bẩy chỉ thẳng lên khoảng không gian u ám phía tum mái của dãy nhà bốn tầng, "bác nhìn thấy ông Tự. Ông ta mặc một chiếc áo tơi lá xé rách tả tơi, lấm lét, dáo dác như một bóng ma đói khát. Ông ta không dám nhìn thẳng xuống hố cầu thang phía đông nơi có tiếng đập cửa kêu cứu, mà cắm đầu cắm cổ, ba chân bốn cẳng trèo vội lên cầu thang sắt lộ thiên dẫn lên phòng điện tum mái. Bác thề có trời đất chứng giám, chỉ khoảng hai hay ba phút sau khi bóng ông ta biến mất sau cánh cửa sắt tum mái... thì 'phụt' một cái! Toàn bộ dãy đèn chiếu sáng dọc hành lang cầu thang phía đông và bóng đèn dây tóc soi cửa hầm tắt ngấm hoàn toàn!"

Một luồng gió lạnh buốt từ ngoài sân thốc thẳng qua khe bạt, làm tấm vải dứa rách táp mạnh vào lưng Mai. Không gian xung quanh dường như chùng xuống, đông cứng lại trong một sự tĩnh lặng chết chóc.

Mai nghe thấy tiếng tích tắc khô khốc từ chiếc đồng hồ kim cơ khí trên cổ tay Linh đang nhích từng giây tàn nhẫn. Ba giờ mười bảy phút. Con số định mệnh quái ác ấy lại một lần nữa hiển hiện, trần trụi, lạnh lùng và chuẩn xác đến từng giây từng phút. Cuốn sổ nhật trình vận hành hệ thống điện nước bọc vải bạt quân đội năm 2006 mà Mai và Linh đã liều mạng lấy được từ tum mái tối hôm qua, với dòng lệnh ngắt cầu dao CD-04 lúc 03:17 do chính tay Vũ Đức Tự ký bằng mực xanh Cửu Long, giờ đây đã được nhân chứng sống cuối cùng này xác nhận đến từng chi tiết vụn vặt nhất.

"Điện tắt ngấm," giọng bà Hòa nghẹn ngào trong đờm dãi và nước mắt, "dưới đáy hầm chỉ còn lại một màu đen đặc quánh như mực tày, và tiếng nước cống cuồn cuộn gầm rú như thú dữ bị bỏ đói. Tiếng đập cửa của ba con người khốn khổ ấy càng lúc càng tuyệt vọng hơn, tiếng kim loại từ chiếc cờ-lê hay xà-beng của anh Dũng nện chan chát vào then sắt, tóe cả tia lửa sáng le lói qua khe hẹp. Lão Khang đứng trên bậc thềm tam cấp nhìn xuống một lúc lâu, mặt lão lạnh tanh như mặt xác chết trôi. Rồi lão quay ngoắt người, co cẳng chạy biến về phía nhà văn hóa tầng một để tạo bằng chứng ngoại phạm. Bác lúc đó... bác sợ đến mức chết trân tại chỗ, hai đầu gối dính chặt vào nhau, nép sát vào bức tường bể nước này, đái cả ra quần mà không dám thở mạnh một hơi..."

Bà lão dừng lại, lồng ngực gầy guộc phập phồng dữ dội, từng cơn hen suyễn kéo lên ràn rạt trong phế quản. Đôi mắt mờ đục của bà chuyển từ sự hoảng loạn sang một nỗi xót xa vô bờ bến, và rồi, một sự tội lỗi ghê gớm hiện lên khi bà nhìn thẳng vào khuôn mặt đang trắng bệch của Mai. Đó là một cái nhìn chan chứa sự giằng xé, nhục nhã và một sự thật kinh hoàng khác — một sự thật không nhắm vào những kẻ thủ ác họ Phạm hay họ Vũ, mà chĩa thẳng mũi dao vào chính căn hộ 407, vào chính người ruột thịt duy nhất của Mai.

"Rồi sau đó... chuyện gì xảy ra nữa bác?" Mai hỏi, thanh âm cô lạc hẳn đi, run rẩy và mỏng manh như một sợi chỉ sắp đứt trước gió bão. Một linh cảm chẳng lành bắt đầu trỗi dậy từ đáy sâu tâm thức cô, buốt giá và nhức nhối như một tảng băng trôi ngầm đang va đập vào mạn thuyền.

"Sau đó... chừng năm hay mười phút gì đấy," bà Hòa thì thào, âm lượng nhỏ đến mức Mai phải ghé sát tai vào bờ môi khô khốc của bà mới nghe rõ, "bác nhìn thấy một bóng người nữa hớt hải chạy xuống chân cầu thang. Không phải lão Khang quay lại, cũng chẳng phải ông Tự..."

Trái tim Mai thắt lại một nhịp đau nhói. Cô trân trân nhìn vào đôi môi mấp máy của bà lão.

"Là cái Hạnh... Mẹ mày đấy, Mai ơi!"

Một luồng điện buốt giá chạy dọc từ đỉnh đầu xuống tận gót chân Mai, khiến toàn bộ cơ thể cô đông cứng như hóa đá. Linh đứng bên cạnh cũng giật thót người, đôi mày thanh tú nhíu chặt lại, trong đáy mắt người phóng viên điều tra sắc sảo lóe lên một tia bàng hoàng tột độ.

"Mẹ... mẹ cháu ư?" Mai lắp bắp, từng âm tiết rơi khỏi bờ môi cô nặng trĩu, ngắt quãng và khô khốc như sỏi đá cọ vào nhau.

"Ừ, chính là cái Hạnh," bà Hòa chua xót gật đầu lia lịa, nước mắt già nua lại ròng ròng tuôn chảy xuống những nếp nhăn méo mó. "Nó hớt hải lao từ trên cầu thang tầng bốn xuống, người ngợm chẳng kịp khoác manh áo mưa hay che chiếc ô nào, cả người ướt sũng như chuột lột từ đầu đến chân. Nó lao thẳng đến chân cầu thang thoát hiểm phía đông, nơi vệt nước bùn đang bắt đầu tràn qua bậc thềm. Bác nấp sau tấm liếp này, bác nhìn thấy rõ mồn một từng li từng tí... Trong bàn tay phải của mẹ mày lúc đó đang nắm chặt một chùm chìa khóa sắt to bản. Đó là chùm chìa khóa dự phòng của cánh cửa thoát hiểm tầng hầm, cái chùm chìa mà ngày trước tổ dân phố và ban quản trị tòa nhà đã giao riêng cho nhà mày giữ, vì anh Dũng vốn là kỹ sư phụ trách toàn bộ hệ thống cơ điện ngầm của khu tập thể này."

Bà Hòa nhắm nghiền đôi mắt sưng húp lại, hai bàn tay run rẩy đưa lên bưng lấy mặt như muốn chối bỏ hình ảnh khủng khiếp đang cuộn trào về từ quá khứ:

"Nó chạy đến đứng sững trước cánh cửa sắt hoen gỉ. Tay nó run bắn lên, run dữ dội đến mức chùm chìa khóa sắt va đập vào nhau kêu *lách cách... lách cách...* rợn cả người giữa tiếng mưa gió mịt mù. Dưới lòng hầm ngập nước, anh Dũng nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc chạy xuống, anh ấy nhận ra hơi thở dồn dập của vợ mình. Bác nghe thấy tiếng anh Dũng gào thét lên từ sau khe cửa sắt hẹp, giọng anh ấy khản đặc vì ngạt khói và ngấm nước: *'Hạnh ơi! Cứu anh! Thằng Khang nó khóa trái cửa rồi, nước cống đang ngập đến ngực rồi Hạnh ơi! Mở khóa nhanh lên em! Cứu lấy cả chị Lệ với thằng Phúc nữa!'*..."

Mai thấy đất trời xung quanh như đảo lộn, nghiêng ngả dữ dội. Tiếng rít của gió sớm qua tán lá bàng bỗng hóa thành tiếng gào thét câm lặng của những linh hồn bị dìm chết trong bùn đen, từng đợt từng đợt bóp nghẹt lồng ngực cô, khiến cô không tài nào hít thở nổi.

"Nhưng... nhưng cái Hạnh nó không tra chìa vào ổ khóa," bà Hòa nức nở, tiếng khóc của bà vỡ òa thành một chuỗi âm thanh nghẹn ngào, đau đớn và phẫn uất tột cùng. "Nó đứng trơ trơ ra ở chân cầu thang, cách cánh cửa sắt chỉ vỏn vẹn có ba bậc tam cấp xi măng! Tay nó nắm chặt chùm chìa khóa sắt ướt sũng, nhưng đôi chân nó như bị chôn chặt xuống nền đất, không dám bước thêm một bước nào nữa. Bác thấy nó khóc trào nước mắt, mặt nó trắng bệch không còn một giọt máu. Nó đưa mắt nhìn dáo dác ra phía ngoài khoảng sân chung, nó nhìn thấy bóng dáng lão Khang cùng hai gã đàn ông lạ mặt xăm trổ đang đứng lảng vảng dưới mái hiên nhà văn hóa đối diện, cầm đèn pin rọi le lói... Nó sợ! Nó sợ nếu nó tra chìa mở cánh cửa sắt ấy ra, cứu ba con người kia thoát chết, thì lão Khang và lũ đầu gấu kia sẽ không để yên cho hai mẹ con mày được sống sót rời khỏi khu này! Hoặc giả... nó sợ hãi chính cái bóng tối đen đặc quẹt dưới lòng hầm, nơi dòng nước cống thối tha đang gầm rú như một cái mồm quái vật khổng lồ muốn nuốt chửng tất cả..."

"Mẹ cháu... đã không mở cửa?" Mai thì thào, từng chữ như bị nghiền nát giữa hai hàm răng đang run rẩy kịch liệt.

"Nó đứng chôn chân ở đó, nhìn cánh cửa sắt rung bần bật dưới những cú đập tuyệt vọng bằng cờ-lê và nắm đấm của chồng mình," bà Hòa ôm lấy ngực, giọng run bần bật theo từng nhịp thở ngắt quãng. "Tiếng anh Dũng gào khóc, gọi tên nó, gọi tên con gái Mai... tiếng gọi ấy cứ yếu dần, yếu dần đi, lẫn trong tiếng nước ngập ùng ục tràn ngập buồng máy bơm. Rồi cái Hạnh khuỵu sụp hai đầu gối xuống vũng bùn. Nó ôm chặt lấy đầu, há to miệng khóc mà không dám bật ra một tiếng nấc nào vì sợ người ngoài nghe thấy. Sau đó... nó từ từ đứng dậy. Nó quay lưng lại. Nó cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng ngược lên lối cầu thang bộ dẫn lên tầng bốn, bỏ mặc ba sinh mạng đang giãy giụa trong bóng tối đen ngòm và dòng nước cống thối tha phía sau lưng!"

Gió sáng thổi thốc mạnh vào góc quán nước, làm tấm bạt dứa giật tung một góc buộc, quất phần phật vào khung bể nước. Một khoảng lặng chết chóc bao trùm lấy ba con người dưới gốc bàng già. Linh đứng sững sờ, bàn tay cô siết chặt lấy bả vai Mai như một chiếc gông kìm cố định, mắt cô nhìn thẳng vào khoảng không vô định, chấn động trước sự thật quá đỗi tàn khốc vừa được phơi bày.

Mai ngồi bất động trên chiếc ghế nhựa thấp tè. Toàn bộ thế giới quan, toàn bộ niềm tin và những ký ức suốt mười tám năm qua về người mẹ hiền từ, người đàn bà góa bụa sống khép mình trong đau khổ, lặng lẽ chịu đựng nỗi oan khuất của chồng, ngày ngày lau chùi chiếc ghế đẩu thứ ba bên mâm cơm gia đình... tất cả đang rạn vỡ, đổ sụp tan tành thành hàng ngàn mảnh thủy tinh sắc nhọn, găm thẳng vào tim gan cô.

"Tại sao..." Mai nghe thấy giọng mình vang lên, khô khốc, đắng ngắt như vừa ngậm phải một ngụm nước rỉ sắt từ đáy hầm. "Tại sao suốt mười tám năm qua, bác không nói cho ai biết? Tại sao bác lại chọn im lặng để mặc cho cha cháu, cô Lệ và chú Phúc phải chịu cái án oan trộm cắp tiền bạc rồi bỏ trốn ô nhục đến tận ngày hôm nay?"

Bà Hòa run rẩy sụp hẳn người xuống nền xi măng ẩm ướt ngay trước mũi giày của Mai. Đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ đầy cáu ghét của bà run rẩy chắp lại trước ngực, vái lạy cô gái trẻ trong sự nhục nhã và hổ thẹn tột cùng:

"Bác có tội... Bác là con mụ già hèn nhát, đê tiện, Mai ơi! Bác già yếu rồi, cả một đời cô độc không chồng không con, thân cô thế cô, chỉ biết trông cậy vào cái quán nước con con này dưới chân bể nước nổi để kiếm cọng rau, bát cháo lo cho cái miệng qua ngày. Sáng hôm sau đêm bão ấy, khi nước ngoài sân vừa rút xuống một nửa, lão Khang đã dắt theo ba thằng thanh niên xăm trổ mặt đằng đằng sát khí xông thẳng vào quán của bác. Lão lật tung manh chiếu rách, đập vỡ tan tành toàn bộ ấm chén sành, đạp đổ cái bàn gỗ, giẫm nát mấy thùng bánh kẹo của bác xuống vũng bùn đất nhơ nhớp..."

Những giọt nước mắt đục ngầu của bà lão rơi tí tách xuống nền xi măng xám xịt:

"Lão Khang dí thẳng vào mặt bác một tờ giấy cam kết đã được đánh máy sẵn từ trước. Lão gằn giọng đe dọa, bảo rằng nếu bác không ký tên vào đó để làm chứng rằng hồi hai giờ sáng đêm mưa bão, bác đã tận mắt nhìn thấy anh Dũng, chị Lệ và thằng Phúc lén lút thu dọn ba lô đồ đạc, dắt xe máy rời khỏi cổng khu tập thể để ôm bọc tiền quỹ bỏ trốn... thì lão sẽ san phẳng cái quán nước này ngay lập tức. Lão dọa sẽ đuổi bác ra khỏi gầm cầu thang, tống bác vào trại tế bần, và lão sẽ cho người về tận quê Thái Bình quấy phá mồ mả tổ tiên, không để cho một ai trong họ hàng nhà bác được yên thân! Lão dí sát mặt vào bác rồi rít lên: *'Bà muốn sống yên ổn để bán nước chè, hay muốn bị quẳng xuống hầm buồng bơm uống nước cống chung với ba con ma đó?'*... Bác sợ quá, Mai ơi! Bác sợ chết rũ xương nơi đầu đường xó chợ... Bác đã run rẩy cầm bút ký vào cái bản cam kết khốn nạn ấy... Mười tám năm nay, mỗi chén nước chè bác rót ra cho người ta uống, bác đều thấy nó đỏ ngầu và tanh tưởi như nhuốm máu của anh Dũng, của chị Lệ... Bác là kẻ có tội, bác có tội tày đình với nhà mày, có tội với con Thảo..."

Bà Hòa gục hẳn trán xuống hai đầu gối tong teo, bờ vai còng rạp rung lên bần bật theo từng cơn nấc nghẹn ngào, đau đớn.

Nhưng lúc này, đôi tai Mai dường như đã ù đi. Cô không còn nghe thấy những lời van xin, sám hối muộn màng của bà lão bán nước nữa.

Những lời trần tình xé ruột xé gan vừa rồi như một chiếc chìa khóa vô hình tra đúng vào ổ khóa han gỉ bị niêm phong suốt gần hai thập kỷ trong tiềm thức của cô, mở toang cánh cửa dẫn về một buổi sáng mùa hạ năm cô tròn mười một tuổi — một mảnh ký ức kinh hoàng mà bấy lâu nay cô đã luôn tự dối lòng, tự ru ngủ bản thân rằng đó chỉ là một cơn ác mộng hoang đường của thời thơ ấu.

Năm ấy, Mai vừa tròn mười một tuổi.

Đó là buổi sáng ảm đạm ngay sau đêm cơn bão số ba quét qua thành phố. Mưa bão đã tạm ngớt, nhưng bầu trời Hà Nội khi ấy vẫn sũng nước, xám xịt và trĩu nặng như màu chì mục. Nước ngập ngang bắp chân ngoài khoảng sân chung khu tập thể Hòa An, bốc lên mùi bùn đất ngai ngái hòa lẫn với mùi rác rưởi trôi nổi.

Mai thức dậy trong căn hộ 407 tĩnh mịch và lạnh lẽo. Căn nhà vắng ngắt không có bóng dáng cao lớn, trầm mặc của cha cô. Cha cô vốn làm kỹ sư điện nước, thường xuyên phải đi trực ca ba từ đêm hôm trước, nhưng sáng hôm ấy mâm cơm trên chiếc bàn gỗ lim chỉ có độc một đĩa rau muống luộc nguội ngắt thâm sì và ba chiếc bát ăn cơm úp ngược nằm im lìm bên cạnh chiếc ghế đẩu thứ ba trống rỗng.

Cánh cửa chính bằng gỗ dán đột ngột kẹt mở một khe nhỏ. Gió lùa vào lạnh buốt. Mẹ cô — bà Trần Thị Hạnh — lảo đảo bước vào nhà.

Hình ảnh người mẹ của buổi sáng định mệnh năm ấy đột ngột hiện về rõ mồn một trước mắt Mai, sắc nét, tàn nhẫn đến từng chi tiết vụn vặt. Bà Hạnh bước vào cửa không còn là người phụ nữ đảm đang, chỉn chu, dịu dàng thường ngày nữa. Gấu quần lụa đen của bà bết dính đầy bùn cống đen đặc quánh, đôi bàn chân trần tái mét, run rẩy giẫm từng bước nặng nề lên nền gạch hoa tráng men xanh, để lại những vệt chân nước nhớp nháp, bốc mùi hôi thối. Gương mặt bà trắng bệch, không còn một giọt máu, hai hốc mắt trợn trừng vô hồn như người vừa bước ra từ cõi chết, và bờ môi thâm tím run lên bần bật không ngừng va đập vào nhau thành chuỗi âm thanh lách cách.

Bà không nhìn con gái, dù cô bé Mai mười một tuổi khi ấy đã sợ hãi chạy lại, nắm lấy vạt áo ướt sũng của mẹ mà cất tiếng gọi: *"Mẹ ơi... cha đâu rồi mẹ? Sao cha chưa về ăn cơm?"*.

Bà Hạnh tuyệt nhiên không trả lời. Bà như một cái xác không hồn, lầm lũi đi thẳng vào gian bếp chật hẹp, tối tăm phía sau nhà. Mai khi ấy vì quá sợ hãi và tò mò nên đã rón rén bước theo sau, đứng nép mình bên cạnh khung cửa gỗ nhìn mẹ qua khe hẹp.

Bà Hạnh quỳ sụp xuống cạnh chiếc thùng gạo cũ bằng tôn gỉ sét đặt ở góc bếp, ngay dưới bóng tối nhờ nhờ của chiếc chạn bát bằng tre. Hai bàn tay bà run rẩy dữ dội đến mức đánh rơi nắp thùng gạo xuống sàn gạch men, phát ra một tiếng *choang* chói tai vang vọng khắp gian nhà vắng. Và rồi, từ trong túi chiếc áo khoác gió sũng nước mưa, bà run rẩy lôi ra một vật.

Đó là một chùm chìa khóa sắt to bản, cũ kỹ, ướt đẫm nước và bám đầy những vệt bùn đen tanh tưởi cùng những mảng rỉ sét hoen ố.

Bà Hạnh vục cả hai cánh tay gầy guộc vào thùng gạo, thọc sâu xuống lớp gạo trắng ngần, điên cuồng gạt gạo sang hai bên cho đến khi những đầu ngón tay chạm tới tận đáy tôn sâu nhất, lạnh ngắt. Bà nhét chùm chìa khóa sắt ướt sũng dính bùn đen ấy vào tận góc đáy thùng, rồi như một kẻ phát cuồng, bà vốc từng nắm gạo trắng phủ kín lên trên, vùi lấp nó lại như vùi lấp một thi thể không được phép nhìn thấy ánh mặt trời.

Sự tương phản tàn nhẫn giữa những hạt gạo trắng tinh khôi dùng để nuôi sống con người và thứ bùn cống đen ngòm bám trên chùm chìa khóa tử thần ấy đã khắc sâu vào võng mạc của Mai, trở thành một vết sẹo tâm lý không bao giờ lành.

Khi vùi kín chùm chìa khóa xong xuôi, bà Hạnh từ từ quay người lại. Bà nhìn thấy Mai đang đứng nép bên cửa bếp. Ánh mắt của mẹ cô lúc đó... đó là một ánh mắt chứa đầy sự hoảng loạn tột cùng, sự sợ hãi điên dại và một nỗi mặc cảm tội lỗi sâu hoắm như vực thẳm. Bà lao tới, quỳ sụp xuống ôm chặt lấy đứa con gái mười một tuổi vào lòng. Bà siết chặt đến mức Mai nghẹt thở, hai cánh tay mẹ run lên bần bật cọ vào da thịt Mai chiếc áo sũng nước bùn lạnh ngắt, và bà rít lên từng tiếng qua kẽ răng nghiến chặt:

*"Không được nói với ai... Mai nghe mẹ, con tuyệt đối không bao giờ được nói cho bất kỳ ai biết về chùm chìa khóa này... Quên nó đi! Con phải quên sạch nó đi thì hai mẹ con mình mới có thể sống sót được ở cái khu này!"*.

Suốt mười tám năm qua, Mai đã vô thức chôn vùi ký ức kinh hoàng ấy vào góc sâu kín nhất của tâm trí. Cô từng tự huyễn hoặc bản thân, tự dối lòng mình rằng đó chỉ là một cơn ác mộng chập chờn của một đứa trẻ bị sang chấn tâm lý sau khi người cha đột ngột mất tích; rằng mẹ cô chỉ cất chùm chìa khóa dự phòng vào đáy thùng gạo để chống ẩm mốc rỉ sét theo thói quen tằn tiện của những người phụ nữ sống qua thời kỳ bao cấp khó khăn.

Nhưng không. Sự thật không hề êm đềm như những lời dối trá tự an ủi ấy.

Chùm chìa khóa sắt ấy không phải được cất giữ để chống ẩm mốc. Chùm chìa khóa sắt dính bùn đen nằm dưới đáy thùng gạo ấy chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất của cha cô, của bà Lệ, của chú Phúc!

Cùng lúc đó, mảnh ký ức đau đớn từ chiếc áo bảo hộ lao động mà cô chạm vào đêm trước lại trào dâng, nhức nhối như một vết thương hở bị xát muối ớt. Mai nhắm nghiền mắt lại, và trong bóng tối thăm thẳm của tâm thức, cô nhìn thấy cha mình — người kỹ sư Nguyễn Văn Dũng hiền lành, mẫn cán — đang chới với giữa dòng nước ngập đen ngòm của buồng bơm áp lực cao dưới tầng hầm.

Nước cống lạnh buốt ngập ngang ngực, rác rưởi, dầu mỡ và xác chuột nổi lềnh bềnh. Đèn điện đã tắt ngấm sau cú ngắt cầu dao định mệnh của Vũ Đức Tự, chỉ còn lại một vệt sáng yếu ớt le lói hắt qua khe cửa sắt từ ngọn đèn hành lang phía trên chiếu nghỉ. Cha cô ngước khuôn mặt đẫm nước và máu lên phía bậc tam cấp, hai bàn tay rướm máu bám chặt lấy song sắt hoen gỉ, gào thét tên người vợ đầu ấp tay gối trong cơn tuyệt vọng cùng cực:

*"Hạnh ơi! Cứu anh... Hạnh ơi... mở khóa đi em... Con Mai nó còn nhỏ dại lắm em ơi..."*

Cha cô đã chết trong sự lạnh lẽo tột cùng của dòng nước cống, chết trong nỗi uất hận khi vẫn đinh ninh rằng người vợ thân yêu của mình đang đứng ngay phía bên kia cánh cửa sắt, chỉ cách ông ba bậc tam cấp, đang dốc hết sức tìm cách mở khóa cứu mình. Nhưng cha cô vĩnh viễn không thể ngờ được rằng, người vợ ấy đã cầm sẵn chùm chìa khóa trong tay, đứng nhìn ông giãy giụa qua khe sắt hẹp, rồi quay lưng bỏ chạy chỉ vì sự hèn nhát và ích kỷ của bản thân!

Và suốt mười tám năm đằng đẵng sau đó, mẹ cô chưa từng có lấy một ngày thanh thản. Nghi thức kỳ quái, ma mị mà bà thực hiện đều đặn vào mỗi ngày rằm và mùng một âm lịch hàng tháng — việc lầm lũi mang chiếc khăn xô trắng xuống chân cầu thang thoát hiểm, cúi đầu lau khô vệt nước bùn rỉ ra từ kẽ cửa hầm, đặt chiếc đĩa sứ trắng, rót ba chén rượu đầy và lầm rầm khấn tên ba con người xấu số... hóa ra chưa bao giờ là một nghi thức tưởng nhớ, chuộc lỗi hay cầu siêu cho người đã khuất!

Đó là một chiếc nẹp phong tỏa tội lỗi!

Đó là một nhà tù tâm linh tàn nhẫn mà mẹ cô dựng lên để giam hãm linh hồn của chính người chồng mình và hai người hàng xóm vô tội dưới đáy bùn sâu, ngăn không cho họ trồi lên đòi lại công lý, ngăn không cho sự thật xé toạc lớp vỏ bọc bình yên giả tạo mà bà đã đánh đổi bằng chính lương tri và nhân tính của mình!

Bà Hạnh không chỉ đơn thuần là một nạn nhân góa bụa, cam chịu nỗi oan khuất suốt gần hai thập kỷ. Mẹ cô... chính là kẻ nắm giữ chiếc chìa khóa định đoạt sinh mạng của ba con người, nhưng đã nhẫn tâm buông tay chỉ vì sự hèn hạ của chính mình!

"A..."

Một tiếng thét nghẹn ngào, đau đớn tột cùng bật ra từ đáy họng Mai.

Cô ôm chặt lấy lồng ngực, toàn thân gập cong lại, run rẩy dữ dội trên chiếc ghế nhựa thấp tè. Hai hàng nước mắt nóng hổi tuôn rơi lã chã, làm ướt đẫm vạt áo khoác gió. Cơn đau quặn thắt từ trong tim lan nhanh ra khắp lồng ngực, chạy dọc tứ chi khiến cô nghẹt thở, hai tai lùng bùng những tiếng gào thét trong bùn nước. Mai thấy lợm giọng, một cảm giác buồn nôn, ghê tởm và tuyệt vọng trào dâng trong từng huyết quản.

Hình tượng người mẹ tảo tần, chịu thương chịu khó mà bao năm qua cô hằng kính trọng, người mẹ mà cô luôn tìm mọi lý do để xót thương, chở che và tha thứ... tất cả đã hoàn toàn sụp đổ, vỡ nát thành tro bụi nhơ nhớp ngay dưới chân bể nước rêu phong này.

"Mai! Nhìn tao này! Mai! Tỉnh lại đi!"

Linh lập tức quỳ sụp xuống nền xi măng ẩm ướt ngay trước mặt bạn mình. Hai bàn tay cứng cáp của Linh tóm chặt lấy hai bả vai đang run lên bần bật của Mai, lắc thật mạnh. Ánh mắt Linh sáng quắc, sắc lạnh như một lưỡi dao cạo, kiên định và không hề có một chút né tránh trước sự thật tàn nhẫn vừa được bóc trần.

"Nghe tao nói đây, Mai!" Giọng Linh đanh thép, từng từ từng chữ rơi xuống như một chiếc neo sắt giữ chặt lấy Mai giữa cơn lốc xoáy của sự sụp đổ tinh thần. "Tao biết mày đang đau đớn đến mức nào. Mẹ mày đã sai! Bà Hạnh đã phạm phải một tội lỗi khủng khiếp, một sai lầm không thể dung thứ khi chọn cách quay lưng bỏ chạy và ngậm miệng im lặng suốt mười tám năm qua! Nhưng mày không phải là bà ấy! Mày nghe rõ chưa? Mày không mang tội lỗi của mẹ mày!"

"Linh... mẹ tao... chính mẹ tao đã để cho cha chết đuối..." Mai nghẹn ngào, hai mắt đỏ ngầu, ngấn lệ nhìn bạn, tiếng nấc xé toạc từng câu chữ. "Bà ấy cầm chìa khóa trong tay... bà ấy đứng ngay trước cửa hầm... nhưng bà ấy đã bỏ mặc cha tao chết ngạt trong nước cống..."

"Đúng! Bà ấy đã hèn nhát đến mức tàn nhẫn!" Linh gằn giọng, ánh mắt không hề chùn xuống, cô từ chối xoa dịu bạn bằng những lời an ủi giả tạo, dối trá. "Và chính sự hèn nhát đó đã tiếp tay cho lão Khang, giam cầm chú Dũng, cô Lệ và chú Phúc dưới đáy bùn thối suốt mười tám năm ròng rã! Nhưng mày có nhìn thấy thực tế không? Nghi thức phong tỏa của mẹ mày đã hoàn toàn kết thúc vào cái ngày bà ấy nhắm mắt xuôi tay! Tiếng gõ cửa lúc ba giờ mười bảy phút mỗi đêm, chiếc áo bảo hộ lao động của chú Dũng, chiếc đồng hồ điện tử của chú Phúc, chiếc túi dù của cô Lệ... tất cả những thứ đó xuất hiện trở lại không phải để trừng phạt mày hay hù dọa mày! Họ tìm đến mày vì mày là người duy nhất còn lại có thể kết thúc cơn ác mộng tăm tối này!"

Linh nắm chặt lấy bàn tay đang lạnh ngắt như băng của Mai, ép chặt vào lồng ngực đang đập vững chãi của mình:

"Mày có hai con đường để chọn ngay lúc này, Mai! Mày có thể chọn cách tiếp tục che đậy tội lỗi cho mẹ mày, tiếp tục câm nín như bà ấy đã từng câm nín suốt mười tám năm qua, để rồi chính bản thân mày sẽ trở thành một kẻ đồng lõa tiếp theo dìm chết linh hồn cha mày dưới đáy hầm! Hoặc mày có thể ngẩng đầu dậy, đứng thẳng lưng lên, dũng cảm đối diện với toàn bộ sự thật nhơ bẩn này — kể cả phần tội lỗi và sự hèn nhát của mẹ mày — để đưa ba bộ hài cốt kia ra ngoài ánh sáng công lý! Đó là con đường duy nhất... là cách duy nhất để mày chuộc lại lỗi lầm cho mẹ mày, và trả lại sự thanh thản, sự trong sạch thực sự cho cha mày!"

Từng lời, từng chữ của Linh như những nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can Mai, đập tan đi sự yếu đuối, sự hoảng loạn và nỗi tự thương hại đang nhấn chìm lý trí của cô.

Mai nhìn sâu vào đôi mắt rực lửa của Linh. Rồi cô từ từ quay sang nhìn bà Hòa. Bà lão vẫn đang quỳ rạp dưới đất, trán tì sát nền xi măng nhớp nháp trong sự sám hối muộn màng và đau đớn. Rồi ánh mắt Mai hướng qua khe bạt rách, nhìn thẳng ra chân cầu thang thoát hiểm phía đông.

Nơi đó, cánh cửa sắt rỉ sét vẫn im lìm khóa chặt, và vệt nước đen tanh nồng mùi rỉ sắt vẫn đang âm thầm rỉ ra từng giọt, từng giọt... như những giọt máu uất nghẹn của ba sinh mạng vẫn đang kiên nhẫn chờ đợi một sự giải thoát dưới đáy mồ sâu.

Không thể che đậy được nữa.

Công lý không bao giờ có thể được xây dựng trên sự dung túng hay bao che, dù kẻ phải chịu trách nhiệm có là người mẹ mang nặng đẻ đau mà cô hằng yêu kính nhất trần đời. Sự thật phải được trả về đúng vị trí trần trụi, nhức nhối nhưng cứu rỗi của nó.

Mai hít một hơi thật sâu. Luồng không khí lạnh buốt của buổi sớm mùa sương tràn vào buồng phổi, buốt nhức từng phế nang nhưng khiến cho đầu óc cô bừng tỉnh, sáng rõ một cách lạ thường. Cô đưa mu bàn tay áo gạt phắt đi những giọt nước mắt còn vương trên má. Đôi mắt đỏ hoe của cô dần lấy lại vẻ tĩnh lặng, sắc lạnh và kiên định như thép đã qua tôi luyện.

Cô cúi người xuống, vòng hai tay đỡ lấy đôi bờ vai gầy guộc của bà Hòa, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát nâng bà lão đứng dậy, dìu bà ngồi ngay ngắn trở lại chiếc ghế nhựa thấp.

"Bác Hòa," giọng Mai cất lên, không còn một chút run rẩy hay nghẹn ngào nào nữa. Thanh âm của cô trầm xuống, đanh gọn và rành rọt từng tiếng. "Bác không việc gì phải quỳ lạy cháu. Cháu không có tư cách để phán xét nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bác suốt mười tám năm qua. Nhưng bây giờ, cháu cần bác làm giúp cháu một việc."

Bà Hòa ngước đôi mắt đục ngầu, kèm nhèm ngấn lệ nhìn Mai, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép áo: "Việc... việc gì hả Mai? Bác làm... bác thề bác sẵn sàng làm tất cả mọi việc để chuộc lại cái tội tày đình này..."

"Bác sẽ đi cùng cháu và Linh," Mai nhìn thẳng vào đáy mắt đục mờ của bà lão, ánh mắt cô không hề né tránh. "Bác sẽ đem toàn bộ những gì bác vừa kể cho chúng cháu nghe — từ chuyện lão Khang lừa ba người xuống hầm rồi khóa cửa sắt, chuyện ông Tự lẻn lên tum ngắt cầu dao buồng bơm lúc ba giờ mười bảy phút, chuyện mẹ cháu cầm chìa khóa đứng bất động ở chân cầu thang, cho đến cả bản cam kết giả mạo mà lão Khang đã ép bác ký tên — bác sẽ khai báo lại toàn bộ sự thật trước cơ quan điều tra."

Bà Hòa khẽ rùng mình một cái, nhưng lần này trong ánh mắt bà không còn sự lẩn tránh hay hèn nhát quen thuộc của một kiếp người sống chui lủi dưới gầm bể nước nữa. Tiếng xích sắt kéo lê trên mái tôn đêm qua dường như đã bẻ gãy mắt xích sợ hãi cuối cùng trong tâm hồn bà lão. Bà gật đầu dứt khoát, hai bàn tay run rẩy đan chặt vào nhau:

"Được... Bác sẽ đi! Bác sẽ khai hết, không giấu giếm nửa lời! Bác gần đất xa trời rồi, cùng lắm là chết, nhưng bác không thể sống nốt những ngày tàn đời trong cảnh đêm nào cũng nghe thấy tiếng xích sắt của anh Dũng kéo lê trên đầu bác nữa!"

"Tốt lắm," Linh khẽ mỉm cười, một nụ cười đanh thép, lạnh lùng và đầy quyết đoán của một người chuẩn bị bước vào trận đánh quyết định.

Ba người họ nhanh chóng thu dọn lại góc quán nước, buông tấm bạt dứa rách xuống để che đậy chiếc bàn gỗ ọp ẹp. Không ai đi ra lối sân chính — nơi cánh rèm cửa sổ nhà ông Tự có thể hé mở bất cứ lúc nào, và nơi những đôi mắt rình rập của tay chân lão Khang có thể bắt gặp. Họ lách người qua lối đi phụ chật hẹp phía sau bể nước nổi, men theo con ngõ nhỏ đầy rác và rêu mốc áp sát bờ tường bao khu tập thể, rồi nhanh chóng bước lên cầu thang thoát hiểm phía tây để trở về căn hộ 407.

Căn hộ 407 đón họ bằng sự tĩnh lặng quen thuộc, nhưng bầu không khí bên trong dường như đã bớt đi vẻ ngột ngạt, âm u đè nặng suốt những ngày qua.

Trên chiếc bàn ăn bằng gỗ lim xỉn màu ở giữa phòng khách, nơi chiếc ghế đẩu thứ ba vẫn được kê ngay ngắn bên mép bàn như một lời nhắc nhở câm lặng về người vắng mặt, Linh dọn sạch khay ấm chén cũ kỹ, trải ra một tấm vải bạt dã chiến màu xanh thẫm.

Linh kéo khóa chiếc balo cứu hộ chuyên dụng của mình. Từng món đồ, từng mảnh ghép bằng chứng thép của một tội ác bị chôn vùi dưới lớp bùn đen suốt mười tám năm ròng rã lần lượt được cô lấy ra, đặt ngay ngắn lên mặt bàn gỗ lim theo thứ tự thời gian và tính chất pháp lý:

Đầu tiên là tập tài liệu sao kê quỹ sửa chữa và cải tạo tầng hầm năm 2006 — tập hồ sơ đóng dấu đỏ đã ố vàng mà Mai tìm thấy trong khoang chứa pin của chiếc đài National cổ trên nóc tủ đứng — nằm bên cạnh bản vẽ kỹ thuật gốc cảnh báo nguy cơ bục túi nước ngầm buồng bơm áp lực cao, nơi chữ ký thẩm định của kỹ sư Nguyễn Văn Dũng đã bị giả mạo một cách thô thiển.

Tiếp theo là cuốn sổ nhật trình vận hành hệ thống điện nước nguyên bản năm 2006 bọc vải bạt quân đội cáu bẩn — cuốn sổ mà Linh vừa đoạt lại từ tay ông Tự trên tum mái đêm qua — đang được mở đúng trang ghi chép ngày 16 tháng 7 năm 2006. Dòng chữ viết tay run rẩy ghi lệnh ngắt cầu dao buồng bơm CD-04 lúc 03:17 kèm theo chữ ký mực xanh Cửu Long sắc nét của Vũ Đức Tự đập thẳng vào mắt người nhìn như một lời tự thú không thể chối cãi.

Nằm kế bên là bức thư tố cáo viết vội ngày 16 tháng 7 năm 2006 của thủ quỹ Đỗ Thị Lệ để lại cho con gái Thảo trước khi xuống hầm, cùng chiếc phong bì dày cộp đựng 50 triệu đồng tiền mặt mang danh nghĩa "tiền cọc ưu đãi cải tạo căn hộ" mà Phạm Văn Khang đã dùng để mua chuộc sự im lặng của các hộ dân trong suốt quá trình bịt miệng dư luận.

Và cuối cùng, Linh đặt chiếc máy ghi âm kỹ thuật số màu đen bóng xuống cạnh tập tài liệu. Cô cắm sợi cáp nối từ máy ghi âm vào chiếc máy tính xách tay quân sự nhỏ gọn mang theo, nhanh chóng đồng bộ hóa toàn bộ đoạn ghi âm lời khai nhân chứng trực tiếp dài hơn bốn mươi phút của bà Lê Thị Hòa vừa được ghi lại dưới chân bể nước, tải thẳng dữ liệu lên hệ thống lưu trữ đám mây bảo mật của tòa soạn.

Tất cả đã đầy đủ, khớp nối chặt chẽ đến từng mắt xích nhỏ nhất.

Dây chuyền tội ác tàn độc của Phạm Văn Khang, sự tiếp tay hèn hạ của kẻ vận hành hệ thống điện Vũ Đức Tự, sự im lặng đồng lõa của một cộng đồng cư dân bị thao túng bởi nỗi sợ hãi và những món lợi nhỏ mọn, và cả vết nứt đạo đức đau đớn, nhẫn tâm của bà Trần Thị Hạnh — tất cả đã hội tụ thành một tập hồ sơ chứng cứ hoàn chỉnh, đanh thép và không còn để lại bất kỳ một kẽ hở nào cho sự chối bỏ hay chạy tội.

Mai đứng lặng người bên cạnh bàn ăn. Ánh mắt cô từ từ dời khỏi những tập tài liệu trên bàn, hướng về phía góc bếp tối tăm — nơi chiếc thùng gạo cũ bằng tôn vẫn nằm im lìm dưới chân chiếc chạn bát.

Cô biết rất rõ, dưới đáy sâu của lớp gạo trắng ngần trong chiếc thùng tôn ấy, chùm chìa khóa sắt hoen gỉ dính bùn đen vẫn đang nằm đợi cô suốt mười tám năm qua. Nhưng lúc này, Mai không bước lại gần nó. Cô không cần phải tự tay đào bới nó lên trong bóng tối nữa. Pháp luật và công lý sẽ là người lôi chùm chìa khóa ấy ra ngoài ánh sáng, sẽ mở toang cánh cửa sắt thoát hiểm bị khóa xích kia giữa thanh thiên bạch nhật, trước sự chứng kiến của toàn thể cư dân khu tập thể Hòa An này.

Linh kéo khóa chiếc cặp tài liệu bằng nhựa cứng trong suốt bọc ngoài tập hồ sơ dày cộp. Tiếng khóa kéo *xoẹt* một cái dứt khoát vang lên, xé toạc không gian tĩnh mịch của căn hộ 407 như một phát súng lệnh mở màn cho hồi kết.

Linh ngẩng đầu lên nhìn Mai, ánh mắt sắc bén và bình thản lạ thường.

Linh đặt tập hồ sơ dày cộp lên bàn và thông báo cô đã hẹn gặp điều tra viên Trịnh Quốc Quân vào sáng sớm hôm sau.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories