Hòn Đảo Không Đứng Trên Bản Đồ
Bức tường sương mù trắng xóa lùi dần về phía sau lưng họ như một tấm màn trướng vĩ đại vừa bị vén lên, nhường chỗ cho một khoảng trời trong vắt, tĩnh mịch đến sững sờ, nơi một khối sa thạch khổng lồ lơ lửng giữa thung lũng hư không.
Không còn những luồng gió giật xé toạc từng thớ vải buồm gai, không còn tiếng gầm rít chói tai của các dòng khí nén cực hạn vặn xoắn nơi rìa xoáy lốc, cũng chẳng còn thứ ánh sáng tán xạ ba trăm sáu mươi độ từng làm đảo lộn phương hướng và thiêu đốt võng mạc suốt chặng đường tử địa. Vùng trời bao bọc lấy hòn đảo yên ắng đến mức kỳ dị, phẳng lặng và trong trẻo tựa hồ một mặt nước mùa thu chưa từng bị mái chèo hay bóng chim nào khuấy động. Ánh sáng vàng óng ả như hổ phách từ vòm trời tầng cao rót thẳng xuống những sườn đá sa thạch màu xám bồ câu, phản chiếu thứ sắc màu êm dịu, ấm áp, bao bọc lấy khối đảo cô độc đang sừng sững ngự trị giữa tâm điểm của bão giông.
Con thuyền *Mầm Gió* nhẹ nhàng lướt tới, mũi thuyền bằng gỗ thông mây khẽ rẽ qua lớp sương tơ mỏng mảnh cuối cùng còn vương vất giữa hai vùng khí quyển. Ngay sát mạn hữu, chiến thuyền bọc thép *Kim Điêu* của Hội Kim Phong lầm lũi trôi theo như một con quái thú kim loại vừa thoát khỏi cạm bẫy ngầm. Toàn bộ các họng pháo hơi nén dọc thân tàu đã được thu sâu vào khoang đáy, cửa nắp đậy chặt; những tấm vách thép tán đinh xước xát mạt đồng sau cú va quẹt kinh hoàng với tháp đá ngầm nơi cửa ải trước giờ đây rỉ ra từng vệt nước sương lạnh ngắt, bốc hơi thành những dải khói mỏng dưới nắng mai.
Trên đài chỉ huy nhô cao của chiến hạm, Kim Thịnh đứng bất động. Chiếc áo choàng nhung viền lông tuyết thử đắt giá của ông đã sũng nước mây, trĩu nặng trên đôi vai xuôi. Đôi mắt vốn luôn sắc sảo, tính toán từng biên độ dao động của giá cả và luồng hàng giờ đây mở lớn, dán chặt vào khối đá kỳ vĩ phía trước bằng một ánh nhìn sững sờ, kính cẩn đến run rẩy. Bao năm tích lũy uy quyền, bao nhiêu bản hợp đồng độc quyền ký bằng mực vàng dường như vừa tan biến sạch trơn trước sự tĩnh lặng tuyệt đối của tự nhiên.
Ở phía đuôi tàu *Mầm Gió*, Tứ Hải hai tay vẫn ghì chặt lấy cặp bánh lái kép bằng gỗ sồi già. Các khớp ngón tay cậu trắng bệch, hằn rõ gân xanh sau hàng giờ chống chọi với những dòng xoáy trượt, nhưng nơi đáy mắt cậu, ngọn lửa kiêu hãnh của một người hoa tiêu vừa giật lại mạng sống của con tàu từ miệng vực Tầng Mù đang bùng cháy rực rỡ. Cậu từ từ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực rung lên, rồi cẩn trọng hạ nhẹ cần gạt điều khiển túi khí nâng phía sau, giảm dần góc nghiêng của các vây hãm đà:
“Lam Nhi, nhìn đáy thuyền kìa! Không có lực hút chân không... Hoàn toàn không có hiện tượng hụt áp! Lớp mây đệm ở đây dày dặn và ổn định đến mức khó tin. Mũi tàu đang tự định hướng... Chúng ta đang trôi vào một thềm đá tự nhiên!”
Nghe tiếng gọi, Lam Nhi mới từ từ bước lùi khỏi mút giàn đo trắc đạc nhô ra ngoài mũi thuyền. Đôi bàn tay đeo găng da cừu cẩn thận tháo cỗ ống Pitot bằng thạch anh nguyên khối—thiết bị đo chênh lệch áp suất nhạy cảm nhất mà ông nội để lại—bọc cẩn thận vào lớp da mềm có lót lông rồi cài chắc chắn vào thắt lưng bản rộng. Đôi chân cô khẽ run lên một thoáng khi gót ủng chạm lại vào mặt sàn gỗ quen thuộc của *Mầm Gió*, nhưng nhịp tim đã dần tìm lại sự bình ổn nhờ kỹ thuật thở ba nhịp sâu mà Đội trưởng Hạ Vũ từng kiên nhẫn truyền dạy bên bờ vực Đảo Lam Bến.
Cô đưa tay vuốt lại những lọn tóc mai bết dính hơi sương, rồi ngẩng đầu lên. Tầm mắt cô mở rộng, thu trọn lấy hình ảnh hòn đảo huyền thoại mà suốt ba trăm năm qua, bao thế hệ người giữ bản đồ, bao phường hội thương nhân và những kẻ phiêu lưu liều mạng của Vân Quốc chỉ dám thì thào nhắc đến trong những trang nhật ký hải trình nửa vời hay những cơn mê sảng bên bàn rượu.
Đó là Đảo Neo.
Không giống như Đảo Lam Bến với những vách đá tổ ong bị gió xói mòn nham nhở, không giống Đảo Thiên Phong sừng sững tựa một lưỡi kiếm chọc trời, và càng không giống bất kỳ hòn đảo trôi nổi nào khác trôi giạt vô định khắp chín tầng mây, Đảo Neo hoàn toàn không mang hình dáng chóp nón lộn ngược gồ ghề của những khối đất đá bị giằng xé bởi gió đối lưu vĩnh cửu. Nhìn từ xa, toàn bộ hòn đảo tựa như một chiếc đĩa tròn khổng lồ bằng đá nguyên khối, đáy đảo vát thoai thoải thành một đường cong khí động học hoàn hảo đến kinh ngạc, tựa như một giọt nước khổng lồ rơi xuống từ cõi hư vô rồi đông cứng lại giữa không trung.
Nhưng điều kỳ lạ nhất, điều khiến tim Lam Nhi đập trật một nhịp khi nhìn xuống đáy đảo qua lớp thấu kính đo đạc, chính là phần bụng của khối đá. Đáng lẽ ra, ở phần chịu lực lớn nhất của một hòn đảo lơ lửng, người ta phải nhìn thấy thứ ánh sáng xanh lơ rực rỡ quen thuộc và nghe thấy tiếng ngân rung trầm đục, nhức óc của những vỉa khinh thạch nguyên khối đang oằn mình chống đỡ hàng triệu tấn đá sa thạch. Thế nhưng, phần bụng của Đảo Neo lại hoàn toàn tối thẫm, nhẵn nhụi và tĩnh mịch như đáy của một chiếc bát gốm cổ xưa úp ngược giữa tầng mây.
“Không có khinh thạch...” Lam Nhi thốt lên khe khẽ, hơi thở cô phả vào không gian ẩm mát tạo thành một làn khói mỏng. Bàn tay nhỏ nhắn vô thức đưa lên chạm vào phiến thạch anh phong vũ đeo trước ngực áo—phiến đá lúc này phẳng lặng như gương, không hề dao động dù chỉ một phần mười vạch chia. “Một hòn đảo khổng lồ cỡ này... làm sao có thể ngự trị giữa lưng chừng trời mà không hề có lõi khinh thạch nâng đỡ?”
“Chính xác hơn là nó không cần đến thứ đá đó,” giọng cô Tùng Lâm vang lên từ mạn thuyền bên tả, trầm trồ, kính cẩn và rung lên từng hồi vì xúc động.
Nhà thực vật học của Phường Giữ Bản Đồ đang hai tay bám chặt lấy thanh lan can gỗ nghiến, chiếc kính lúp trắc vi gọng đồng đeo lệch trên một bên mắt, nửa thân trên rướn hẳn ra ngoài như muốn dùng mọi giác quan để nuốt trọn từng tấc cảnh quan đang mở ra trước mắt. Gió nhẹ mơn trớn tà áo choàng màu rêu của bà, làm bay bay những sợi tóc hoa râm bên thái dương:
“Các cậu hãy nhắm mắt lại và cảm nhận luồng khí đang luân chuyển dưới lườn tàu mà xem! Không hề có lực đẩy dội ngược gắt gao của từ trường thạch quyển, cũng không có lực hút xé rách của dòng thăng. Hòn đảo này ngự trị tại tâm điểm tuyệt đối của chín tầng trời—nơi mọi luồng khí đối lưu nóng bỏng từ Tầng Sáng bên trên và những dòng khí nén giá lạnh từ Tầng Mù bên dưới triệt tiêu lẫn nhau một cách hoàn hảo, tạo nên một điểm cân bằng động học vĩnh cửu. Đảo Neo đứng yên không phải vì nó bị xích giữ bởi sức nặng, mà vì cả bầu trời bao la đang đồng lòng nâng đỡ nó từ mọi hướng!”
Con tàu *Mầm Gió* từ từ trượt êm ả vào một thềm đá nhẵn nhụi thoai thoải vươn dài ra mép biển mây như một chiếc cầu cảng tự nhiên. Tứ Hải thành thạo bẻ nhẹ vây lái phụ mạn trái, gạt chốt hãm tời neo. Sợi dây cáp bện bằng tơ mây mười hai lõi vút ra với một tiếng rít giòn giã, mỏ neo ba chấu bằng sắt rèn móc ngọt lịm vào một rãnh đá hình bán nguyệt mịn màng—một rãnh đá dường như đã được đẽo gọt vô cùng tinh xảo từ hàng ngàn năm trước, chỉ chực chờ những cánh buồm viễn xứ tìm về neo đậu.
Cùng lúc đó, chiến hạm *Kim Điêu* cũng từ từ xả bớt áp lực trong các bình chứa phụ, lướt tới áp mạn cách *Mầm Gió* chừng mười trượng. Mũi tàu thép đồ sộ khẽ chạm vào gờ đá ngoài cùng, phát ra một tiếng vang trầm đục rồi dừng hẳn, giữ đúng khoảng cách danh dự và cẩn trọng theo đúng tinh thần của bản giao ước tạm thời mà Kim Thịnh đã ký kết với đoàn khảo sát trước khi tiến vào Vùng Giới Hạn.
Khi mũi giày da của Lam Nhi chạm xuống mặt đá của thềm cập bến, một cảm giác vững chãi lạ thường lập tức truyền qua lòng bàn chân, chạy dọc lên sống lưng cô. Đá ở đây không hề lởm chởm hay sắc nhọn như đá ngầm ở Vực Gió Cắt, mà nhẵn bóng, mát lạnh như ngọc thạch. Đó không phải là kết quả của búa đục hay bàn tay con người mài giũa, mà là dấu tích của hàng thế kỷ, hàng thiên niên kỷ được gột rửa bởi những dòng sương mù thuần khiết luân chuyển liên tục với một vận tốc không bao giờ thay đổi.
Cả nhóm chậm rãi bước lên thềm đá, từng tiếng bước chân vang lên lách cách, khô ráo và rõ mồn một giữa không gian thanh tịnh không một tiếng động tạp nham.
Từ trên cầu ván của tàu *Kim Điêu*, Kim Thịnh bước xuống cùng hai viên hoa tiêu phụ thân tín. Vị thương nhân quyền lực nhất vùng trời hôm nay không mang theo trượng chỉ huy bọc vàng, không mang theo ống nhòm mạ bạc hay những xấp khế ước nặng trĩu trong tráp gỗ. Hai bàn tay ông buông thõng bên hông, bước đi có phần xiêu vẹo vì mệt mỏi sau chuyến hải trình bão táp, ánh mắt ông đảo qua từng phiến đá, từng đường gân sa thạch với một nỗi bàng hoàng không sao che giấu nổi.
Hiện ra trước mắt họ không phải là những cung điện lộng lẫy bằng đồng thau nguy nga, không phải những pháo đài kiên cố chĩa họng súng vào hư không như lời thêu dệt hoang đường của đám thủy thủ say xỉn nơi Bãi Thuyền Lạc. Cảnh quan Đảo Neo mở ra như một kỳ quan trần trụi, thuần khiết và tráng lệ của cơ học tự nhiên kết hợp với đỉnh cao trí tuệ của nền văn minh thượng cổ.
Tỏa ra từ trung tâm của hòn đảo là hàng chục vòng ruộng bậc thang thoai thoải vươn dần lên cao theo hình xoắn ốc logarit hoàn hảo. Nhưng trên những bờ ruộng đá màu xám tro ấy tuyệt nhiên không hề có lúa nước, ngô mây hay bất kỳ loại hoa màu nào của con người; bề mặt của từng bậc thang được lát phẳng phiu bằng những phiến đá bản rộng, ở giữa khoét những lòng máng nông uốn lượn nhịp nhàng nối tiếp nhau.
Một cảnh tượng kỳ ảo đang diễn ra trước mắt họ: những dải sương mù trắng muốt từ biển mây bao quanh hòn đảo không hề tan biến vào không khí, mà dường như bị một lực hút tinh tế kéo vào các bậc thang thấp nhất. Tại đó, theo độ dốc thoai thoải và cấu trúc xoắn ốc của lòng máng đá, hơi nước cuộn tròn lại, ngưng tụ dần thành từng dòng suối sương lỏng óng ánh như thủy ngân, róc rách chảy ngược dòng lên các tầng cao hơn thay vì đổ xuống vực thẳm.
Đan xen giữa các vòng ruộng bậc thang kỳ vĩ ấy là một mạng lưới kênh dẫn khí chạy ngầm chằng chịt, đục xuyên qua lòng khối sa thạch cổ đại. Cứ cách vài mươi bước chân, trên mặt đường đá lại xuất hiện những nắp cống bằng đồng thau đục lỗ tổ ong tinh xảo, mép đồng đã lên ten xanh biếc vì thời gian. Từ những lỗ tổ ong đó, từng luồng khí ấm áp, tinh khiết phả ra nhè nhẹ, mang theo một tiếng thở phì phò trầm thấp, nhịp nhàng và đều đặn đến mức kỳ lạ—tựa như nhịp đập từ buồng phổi của một sinh thể khổng lồ thời tiền sử đang say ngủ yên bình trong lòng đất mẹ.
Thế nhưng, cảnh tượng khiến Tứ Hải phải há hốc mồm kinh ngạc, đưa tay lên dụi mắt liên tục đến đỏ hoe lại chính là những thứ đang vươn thẳng lên nền trời xanh ngắt phía trên các sườn đồi.
Rải rác khắp các tầng ruộng bậc thang, hàng trăm cột buồm bằng đá nguyên khối sừng sững dựng đứng giữa thanh thiên bạch nhật. Mỗi cột buồm cao từ mười đến hai mươi trượng, thân cột tròn trịa, thon dài, nhẵn thín không một vết gờ ráp. Trên đỉnh mỗi cột đá đều được gắn một cánh vây bản rộng làm bằng loại đá bọt xốp nhẹ, mỏng manh tựa như cánh chuồn chuồn khổng lồ vươn ra đón gió. Điều quái dị và phi lý nhất đối với một hoa tiêu cả đời gắn bó với lườn thuyền như Tứ Hải chính là việc bên dưới những cột buồm đá ấy hoàn toàn không hề có vỏ tàu, không có ván đáy, cũng chẳng có bất kỳ kết cấu nổi nào của một con thuyền buồm gió thông thường.
Chúng mọc thẳng lên từ nền đá móng vững chắc của hòn đảo, như một rừng cây vô tri nhưng kiêu hãnh và uy nghiêm đến nghẹt thở.
“Quỷ thần chín tầng trời chứng giám...” Tứ Hải lẩm bẩm, bước chân vô thức tiến lại gần một cột buồm đá gần mép đường nhất. Cậu ngửa cổ ra sau, nhìn mãi lên tận chóp vây đá đang khẽ xoay tròn êm ả theo một góc nghiêng mười lăm độ, không hề phát ra một tiếng cót két cơ khí nào. “Cột buồm... mà lại không có thân thuyền? Người xưa cắm buồm vào đá núi để làm cái quái gì thế này? Chẳng lẽ họ định đón gió để kéo cả hòn đảo này chạy vòng quanh bầu trời hay sao?”
“Không phải để kéo đảo chạy,” Lam Nhi đáp, thanh âm trong trẻo của cô rung lên từng đợt thán phục. Đôi mắt đen láy của cô gái trẻ lấp lánh khi đối chiếu vị trí phân bố của các cột đá với những biểu đồ rãnh xả áp suất mà cô vừa ghi chép vội trong mê cung sương trắng. “Đó là những cánh vây tiêu tán động năng! Tứ Hải, cậu còn nhớ những chiếc vây lái kép gắn ở đuôi *Mầm Gió* chứ? Mỗi khi con tàu đâm đầu vào một dòng khí ngược bất thường, chúng ta buộc phải nghiêng vây để xé gió, làm tiêu tán bớt xung lực tác động lên túi khí nâng để thuyền không bị bẻ gãy sống lưng. Những cột buồm đá này cũng hoạt động theo đúng nguyên lý ấy!”
Cô bước thêm hai bước, đưa bàn tay trần chạm nhẹ vào bề mặt mát lạnh của thân cột buồm đá:
“Hàng trăm cột buồm này được kết nối ngầm với hệ thống van xả bên dưới lòng đảo. Chúng tự động xoay chuyển góc đón gió theo chu kỳ bốn mùa của Biển Mây, triệt tiêu mọi lực giật bất thường từ các cơn bão táp lọt vào tâm, ghìm giữ lực cản khí động học của Đảo Neo ở mức cân bằng tuyệt đối. Hòn đảo này không bao giờ trôi dạt như Lam Bến hay Thiên Phong... Nó tự khóa chặt vị trí của mình giữa ngã tư của bầu trời bằng chính sức mạnh của những ngọn gió dữ dội nhất!”
Kim Thịnh đứng cách đó vài bước, khẽ thở dài một tiếng thật sâu. Tiếng thở dài của người đàn ông cả đời kiêu hãnh nghe sao mà cay đắng và thảng thốt. Bàn tay ông vô thức thọc sâu vào túi áo choàng, siết chặt lấy chiếc la bàn trắc đạc bằng đồng thau cũ kỹ—kỷ vật duy nhất còn sót lại từ thời ông còn là một hoa tiêu học việc bần hàn.
“Ba mươi năm...” Kim Thịnh lẩm bẩm, giọng khản đặc như bị nghẹn lại nơi cuống họng, ánh mắt ông mờ đi khi nhìn lên những cánh vây đá đang nhẹ nhàng gọt giũa gió trời. “Ba mươi năm ròng rã, Hội Kim Phong của ta đã vung ra không biết bao nhiêu vạn đồng vàng ròng, đốn ngã hàng ngàn cánh rừng thông mây cổ thụ, đóng những con tàu bọc thép dày tấc sắt, rồi chế tạo những cỗ máy nén khí xoáy lốc khổng lồ gầm rú đinh tai nhức óc... Tất cả chỉ cốt để khuất phục, để đè bẹp và xé toạc các luồng bão táp trên hải trình buôn bán... Trong khi Những Người Canh Neo từ ngàn năm trước... họ chỉ dùng những phiến đá tĩnh lặng này, dùng sự mềm mại nương theo tự nhiên để biến chính cơn bão hung hãn nhất thành lực nâng êm ả chở che cho hòn đảo. Thật nực cười... Thật nực cười và thảm hại cho sự ngạo mạn của sắt thép!”
Hai viên hoa tiêu phụ đứng sau lưng Kim Thịnh đưa mắt nhìn nhau, im lặng cúi đầu. Họ là những người từng lái những cỗ máy bọc thép hùng mạnh nhất xé toạc không gian, nhưng lúc này, trước vẻ đẹp tĩnh tại và thông tuệ của Đảo Neo, mọi cơ bắp và động cơ hơi nén dường như chỉ còn là những món đồ chơi thô thiển của lũ trẻ con tập tành cơ khí.
Trong khi mọi người còn đang chìm đắm trong nỗi bàng hoàng trước rừng buồm đá kỳ vĩ, cô Tùng Lâm đã quỳ thụp xuống bên bờ của một con kênh dẫn sương nứt nẻ từ lúc nào. Bỏ qua mọi phép tắc nghi lễ xã giao, nhà thực vật học rút từ thắt lưng ra một chiếc dao trích mẫu nhỏ bằng bạc sáng loáng. Đôi tay bà khẽ run, nhẹ nhàng nạo lấy một mảng rêu màu xanh lục sẫm ánh bạc đang bám chặt trên gờ đá ẩm ướt sát mép kênh.
“Kỳ diệu... Thật là một điều kỳ diệu vô song ngoài sức tưởng tượng!” Tùng Lâm reo lên khe khẽ, giọng bà nghẹn ngào vì sung sướng tột cùng. Bà đưa mảng rêu nhỏ lên sát thấu kính lúp trên mắt, ngón tay nâng niu từng thớ sinh vật li ti như sợ một hơi thở mạnh cũng có thể làm tổn thương nó. “Lam Nhi! Tứ Hải! Lại đây... Mau lại đây mà xem này!”
Lam Nhi vội vã chạy tới, ngồi xổm xuống bên cạnh người cô của mình. Dưới ánh sáng quang đãng của vùng trời hổ phách, mảng rêu nằm trên đầu ngón tay đeo găng của Tùng Lâm không hề có cấu trúc phiến lá dẹt thông thường như rêu đá ở Lam Bến. Từng sợi rêu nhỏ mảnh mai như những sợi tơ trong suốt, đan cài vào nhau thành một mạng lưới đàn hồi; ở đầu mỗi sợi tơ phồng lên thành những bọc tròn tí hon trong veo, bên trong chứa đầy một chất khí nhẹ hơn không khí. Kỳ lạ thay, những chiếc túi khí vi mô ấy liên tục co giãn nhịp nhàng, phập phồng theo từng đợt gió ấm phả ra từ miệng kênh ngầm phía dưới.
“Đây chính là rêu túi khí nguyên thủy,” Tùng Lâm thì thầm giải thích, đôi mắt sau lớp tròng kính rực sáng lên niềm say mê thuần khiết của một học giả đã dành trọn cả cuộc đời cho cỏ cây Biển Mây. “Nhìn cấu trúc thành tế bào của những túi khí vi mô này xem, chúng có khả năng tự tích tụ khí hydro sinh học trực tiếp từ hơi ẩm của mây và quang năng tầng cao mà không cần đến nhiệt độ sôi. Loài rêu này... chính là tổ tiên, là cội nguồn phát tích của tất cả các loài thực vật túi khí đang phân bố khắp chín tầng trời của Vân Quốc chúng ta!”
Bà chỉ tay về phía những rãnh đá thoai thoải dẫn lên đỉnh núi:
“Những cây ngân sương phát quang ở Rừng Sương Quang, những quả nang tự nổi trứ danh ở Vườn Hạt Bay, và thậm chí là cả những thảm rêu giữ ẩm giúp bờ vách quê hương Lam Bến của chúng ta không bị vỡ vụn trước gió bão... tất cả, tất cả đều là hậu duệ phân nhánh từ thảm thực vật cổ xưa nguyên thủy này mà ra!”
Nói đoạn, bà cẩn thận rút từ trong túi ngực ra chiếc hộp gỗ thông nhỏ đã theo bà suốt từ ngày đầu khởi hành tại Bến Cũ. Nắp hộp trượt nhẹ sang một bên, để lộ ra mẫu rễ Neo cổ thụ khô quắt mà bà cất giữ như sinh mệnh. Ngay khoảnh khắc nắp hộp vừa mở toang, tiếp xúc với không khí của Đảo Neo, khúc rễ màu hổ phách bỗng nhiên bừng sáng rực rỡ, phát ra thứ nhiệt lượng ba mươi bảy độ ấm áp quen thuộc như một sinh linh vừa tỉnh giấc sau giấc ngủ nghìn năm.
Lạ lùng thay, ngay khi vầng sáng hổ phách ấy lan tỏa, những sợi rêu cổ bám dọc bờ kênh sa thạch cũng đồng loạt lay động. Hàng ngàn, hàng vạn chiếc túi khí tí hon khẽ phát quang ánh xanh ngọc bích dịu dàng, uốn mình vươn dài về phía chiếc hộp gỗ trong tay Tùng Lâm, tựa như những đứa con thơ tìm về với hơi ấm của cội nguồn ruột thịt sau bao tháng ngày lưu lạc.
Đúng lúc ấy, chiếc khăn len thô quấn quanh đầu chim cánh mây Bông trên vai Tứ Hải bỗng khẽ cựa quậy.
Sau nhiều giờ liền bị tê liệt bởi trường tĩnh điện cực mạnh của vùng bão táp và tiếng rít cơ khí cao tần đinh tai nhức óc phát ra từ khối động cơ hơi nước của tàu bọc thép, sinh vật nhỏ bé cuối cùng cũng hồi tỉnh. Bông cẩn trọng thò cái đầu nhỏ phủ lớp lông tơ mềm mại màu xám bạc ra ngoài, đôi mắt tròn xoe màu hổ phách chớp chớp liên hồi, ngơ ngác đón nhận thứ ánh sáng êm dịu, ấm áp của Đảo Neo.
Chiếc vòng đá bọt Mạch Neo đeo dưới cổ nó—kỷ vật mà Lam Nhi đã tỉ mẩn xâu chuỗi cho nó từ ngày rời xưởng—lập tức bắt lấy những xung động từ lòng khối sa thạch dưới chân, tỏa ra một làn ánh sáng xanh biếc dịu dàng, đồng điệu tuyệt đối với nhịp đập phập phồng của thảm rêu cổ.
Bông rũ mạnh bộ lông ướt, đập nhẹ đôi cánh mây xốp mịn rồi nhảy tót khỏi vai Tứ Hải, sà xuống đỉnh một khối đá sa thạch nhô cao ngay cạnh lòng kênh dẫn sương. Chú chim nhỏ vươn thẳng chiếc cổ tơ, hít một hơi thật sâu luồng không khí khô ráo đượm mùi khoáng thạch cổ và hương rêu ngàn năm, rồi cất tiếng hót.
Đó hoàn toàn không phải là tiếng kêu ríu rít lanh lảnh báo hiệu đổi hướng gió thường ngày trên đài quan sát của *Mầm Gió*, cũng không phải thanh âm the thé, hoảng loạn cảnh báo bão táp quen thuộc. Tiếng hót của Bông cất lên trong trẻo, cao vút và ngân vang lạ thường, mang trọn vẹn giai điệu của một khúc đồng dao cổ xưa tưởng chừng đã thất truyền từ thuở khai thiên lập quốc: ba nhịp trầm kéo dài khoan thai, ngắt quãng bằng một khoảng lặng tinh tế, rồi kết thúc bằng một nốt luyến bổng vút thẳng lên vòm trời xanh ngắt.
Đáp lại tiếng chim đơn độc, từ sâu trong lòng các vách đá sa thạch bao quanh những vòng ruộng bậc thang, một chuỗi âm thanh vi vu kỳ ảo bỗng chốc đồng loạt trỗi dậy.
Gió đối lưu từ biển mây bên ngoài luồn qua hàng ngàn lỗ thông hơi tự nhiên và những rãnh xả khí ngầm khoét sâu vào sườn núi, biến toàn bộ lòng khối sa thạch của Đảo Neo thành một dàn nhạc khí khổng lồ ngự trị giữa trời. Những ống sáo đá tự nhiên ngân lên những hợp âm hạ âm trầm hùng, rung chuyển nhè nhẹ mặt đất dưới chân họ, hòa quyện tuyệt đối và chính xác đến từng dao động sóng âm với giai điệu mà chú chim nhỏ vừa cất lên. Âm thanh ấy không hề chói tai, mà vang vọng, êm ái, chảy tràn qua từng ngõ ngách tâm can của những người lữ khách vừa bước qua cửa tử.
“Bản hòa âm của Những Người Canh Neo...” Lam Nhi đứng sững giữa bãi đá, toàn thân nổi gai ốc vì một nỗi xúc động trào dâng nghẹn ngào nơi cuống họng.
Từng ký ức về những đêm thức trắng bên ngọn đèn dầu mờ ảo ở Đảo Lam Bến dội về trong tâm trí cô: mảnh văn bia vỡ vụn phủ đầy rêu phong ở Tháp Lịch Phong, những bản thảo dịch hiệu đính bằng mực tím tại Thư Viện Phi Diệp, và cả những nốt nhạc dẫn đường huyền bí vang vọng trong Hẻm Ngân Chuông mà cô và Tứ Hải từng liều mạng ghi chép... Tất cả đều khớp nối lại một cách kỳ diệu trong bản hòa âm trầm hùng này.
“Bông không hề lạc lối,” Lam Nhi thì thầm, giọt nước mắt lăn dài trên gò má xám bụi đường trường. “Nó thuộc về nơi này... Tổ tiên của nó chính là loài chim Hộ Mạch mang trong huyết quản ký ức về giai điệu điều hòa của bầu trời!”
Bông khẽ nghiêng đầu sang một bên, cất thêm một hồi hót ngắn lanh lảnh đầy thỏa mãn rồi xòe rộng đôi cánh mây, lượn một vòng tròn hoàn hảo trên đầu Lam Nhi trước khi sà xuống đậu vững vàng trên bờ vai gầy guộc của cô. Nó cọ cọ chiếc mỏ mềm mại, ấm áp vào má cô bé, như muốn sẻ chia niềm hân hoan vô bờ của một đứa con lưu lạc tìm lại được mái nhà đích thực sau bao giông bão cuộc đời.
Lam Nhi mỉm cười qua làn nước mắt, đưa ngón tay khẽ vỗ về lớp lông tơ mịn màng trên lưng người bạn nhỏ. Rồi với tất cả sự cẩn trọng và trang nghiêm, cô tháo chiếc ống đồng gia truyền đeo chéo bên hông ra, rút tấm Bản Đồ Mây bằng da mây mềm mại trải rộng trên một mặt đá phẳng nhẵn thín gần đó.
Ngay khi tiếp xúc với thềm đá của Đảo Neo, toàn bộ bề mặt tấm bản đồ dệt từ sợi rễ Neo cổ thụ bỗng rung lên bần bật. Lớp mực phong vũ đặc chế—thứ mực nhạy cảm từng chuyển sang sắc tím ngắt, đục ngầu vì sự rạn nứt của Mạch Neo suốt chặng đường hải trình vừa qua—nay bừng sáng một sắc quang ngân lộng lẫy, chói lòa chưa từng thấy.
Ở chính giữa tấm bản đồ, khoảng trống tròn không có tọa độ bấy lâu nay—nơi từng là nỗi ám ảnh và dấu hỏi lớn nhất của ba thế hệ hoa tiêu nhà Lam Nhi—bỗng xuất hiện những đường vân mực mảnh mai, sắc nét như những sợi tơ nhện bằng bạc. Từng đường mực tự động di chuyển, phác họa lại sống động từng vòng ruộng bậc thang xoắn ốc, từng mạng lưới kênh ngầm dẫn khí và vị trí chính xác đến từng ly của hàng trăm cột buồm đá mà họ vừa tận mắt chứng kiến ngoài kia.
Các luồng khí lưu từ khắp chín tầng mây của Vân Quốc hiển hiện thành những mũi tên ánh sáng mềm mại, đổ dồn cuồn cuộn về tâm đảo, rồi theo một chu kỳ hô hấp kỳ diệu, lại tỏa ngược ra ngoài không gian bao la như những nhánh mạch máu nuôi dưỡng một cơ thể sống vĩ đại.
Lam Nhi chăm chú cúi nhìn sự chuyển động biến ảo phi thường của lớp mực quang ngân. Từng mảnh vụn tri thức trắc đạc, từng số liệu áp suất vi sai, từng lời dặn dò đứt quãng của ông nội thu thập suốt hải trình dài dằng dặc bỗng chốc kết nối lại với nhau trong tâm trí cô thành một bức tranh toàn cảnh hoàn chỉnh, sáng tỏ và rực rỡ như ánh ban mai xua tan màn sương mù vạn trượng.
Suốt hàng trăm năm qua, cư dân Biển Mây—từ những vị học giả uyên bác trong viện hàn lâm của Phường Giữ Bản Đồ, những tay thương nhân thực dụng và đầy tham vọng của Hội Kim Phong, cho đến đám thợ thuyền trôi dạt cơ hàn tại Bãi Thuyền Lạc—tất cả đều nuôi dưỡng một ảo tưởng hoang đường và sai lệch về Đảo Neo.
Kẻ thì đồn đại rằng nơi đây cất giấu một sợi xích sắt thần thánh khổng lồ cắm sâu vào tâm trái đất để giam hãm bầu trời, giữ cho các hòn đảo không rơi rụng xuống cõi chết; kẻ khác lại tin rằng đây là một chiếc phễu ngầm tham lam chuyên nuốt trọn sinh lực của các tầng mây, hay một mỏ khinh thạch vô tận mà ai chiếm đoạt được sẽ trở thành chúa tể thống trị toàn cõi Vân Quốc.
Nhưng sự thật vĩ đại và giản dị lại đang nằm sờ sờ ngay trước mắt cô, được khắc ghi bằng chính ngôn ngữ của đá và gió.
“Đảo Neo không phải là xích sắt...” Lam Nhi khẽ thốt lên, thanh âm trong trẻo của cô bé vang vọng giữa bản hòa âm trầm bổng của các ống sáo đá sa thạch. “Nơi này... từ thuở sơ khai chưa từng giam giữ hay xích buộc bất cứ thứ gì cả.”
Tứ Hải và Kim Thịnh cùng bước lại gần, cả hai người đàn ông im lặng cúi nhìn tấm bản đồ đang biến chuyển sống động dưới từng cử chỉ của Lam Nhi.
“Ý cháu là sao, Lam Nhi?” Tứ Hải gãi đầu, ánh mắt ngập tràn vẻ băn khoăn lẫn hoài nghi của một người thủy thủ thực tế. “Nếu không có xích sắt neo giữ, vậy thì cái quái gì đang giữ cho Lam Bến, Thiên Phong và hàng ngàn hòn đảo ngoài kia không rơi rụng tan tành xuống đáy Tầng Mù?”
“Là sự điều hòa khí động học tuần hoàn,” Lam Nhi đưa ngón tay mảnh khảnh di chuyển chậm rãi theo các đường mực quang ngân đang nhịp nhàng luân chuyển trên bề mặt da mây. “Hãy nhìn dòng chảy này xem. Khi các mỏ khinh thạch trên các hòn đảo nổi hấp thụ nhiệt lượng từ Tầng Sáng, chúng sinh ra lực nâng khổng lồ. Nhưng nếu lực nâng ấy quá lớn mà không có lực cản đối trọng kìm hãm, các hòn đảo sẽ mất kiểm soát, bốc lên quá cao rồi vỡ tung vì áp suất tầng cao quá loãng. Ngược lại, khi gặp bão tuyết hay các dòng khí lạnh từ vực sâu, chúng sẽ mất đà và rơi tự do.”
Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt quét qua những vòng ruộng bậc thang và rừng buồm đá:
“Đảo Neo chính là trái tim, là chiếc van xả áp khổng lồ của toàn bộ hệ thống phân phối lực nâng ấy! Những vòng ruộng bậc thang thu gom sương ẩm ngưng tụ để tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ; các kênh ngầm nén và xả khí để điều tiết áp suất vi sai giữa các tầng mây; còn hàng trăm cột buồm đá tự điều chỉnh góc nghiêng để tạo ra lực cản khí động học bù trừ cho toàn bộ mạng lưới không gian. Nó vận hành như một lá phổi... Hít vào cơn bão táp dư thừa và thở ra sự cân bằng êm ả!”
Ánh mắt Lam Nhi chuyển hướng, dừng lại trên gương mặt phong trần và hốc hác của Kim Thịnh. Giọng cô trở nên kiên định, thẳng thắn và đanh thép:
“Mạch Neo không phải là một mỏ khoáng sản để chiếm hữu làm của riêng, cũng không phải một tuyến đường thương mại độc quyền để bất kỳ ai có quyền phong tỏa, dựng trạm thu phí. Nó là một bộ máy điều hòa tuần hoàn của sự sống! Bất kỳ hành vi khoan khoét khinh thạch bừa bãi nào bằng mũi khoan công nghiệp ở các đảo phụ cận cũng đều làm rách tấm lưới cân bằng này. Khi các đảo xung quanh mất lực nâng, Đảo Neo buộc phải gồng mình lên, co thắt các kênh ngầm để rút cạn lực nâng của tầng trung nhằm bù đắp cho trung tâm. Đó là lý do vì sao Đảo Tiêu Sa bị tụt độ cao hàng trăm trượng, Thư Viện Phi Diệp đứt tung xích treo, và bờ kè quê hương cháu ở Đảo Lam Bến bị sụt mất ba tấc nước mây chỉ sau một đêm!”
Kim Thịnh đứng chết lặng giữa thềm đá. Từng lời, từng chữ của Lam Nhi tựa như những nhát búa trắc đạc gõ thẳng vào tâm can, đập tan những ảo tưởng về quyền lực và sự giàu sang mà ông đã tôn thờ suốt nửa đời người. Đôi vai vạm vỡ từng gánh vác cả một tập đoàn thương thuyền khổng lồ khẽ sụp xuống. Ông run rẩy nhìn những đường mực quang ngân đang phân nhánh tỏa đi khắp bản đồ—một hệ sinh thái công bằng, minh bạch và hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau, nơi không một mắt xích nào có thể tồn tại biệt lập và kiêu ngạo nếu các mắt xích khác bị bẻ gãy.
“Vân Kính... người bạn cũ của ta...” Kim Thịnh nghẹn ngào, giọng nói chìm nghỉm trong tiếng sáo đá vi vu của hòn đảo. “Ông ấy đã nhìn thấy tất cả những điều này từ mười năm trước... Ông ấy đã cảnh báo ta trong bức thư cuối cùng gửi từ Tháp Lịch Phong... Còn ta... ta đã mù quáng tin rằng sức mạnh của đồng tiền, của súng đạn và những bản hợp đồng bằng giấy có thể khuất phục và thao túng được cả bầu trời này.”
“Nhưng hệ thống này... nó đang bị tổn thương nghiêm trọng,” giọng cô Tùng Lâm đột ngột vang lên, sắc lạnh và đầy lo âu, cắt ngang dòng suy ngẫm đau đớn của mọi người.
Bà không còn nhìn vào tấm bản đồ trên tay Lam Nhi nữa. Đôi mắt sau tròng kính lúp của nhà thực vật học đang chăm chú quan sát con kênh dẫn sương chạy dọc theo sườn bậc thang dẫn ngược lên đỉnh đồi. Sắc mặt bà tái nhợt:
“Các cháu hãy nhìn kỹ những vách kênh đá phía trên kia kìa!”
Lam Nhi vội vã cuộn chặt tấm Bản Đồ Mây lại, cài vào ống đồng rồi cùng Tứ Hải bước nhanh theo bóng lưng của Tùng Lâm. Kim Thịnh khẽ cắn môi, cũng rảo bước đi theo.
Càng đi sâu vào lòng đảo, men theo những vòng ruộng bậc thang hướng lên đỉnh cao, cảnh tượng tráng lệ, hài hòa và êm ả ban đầu dần nhường chỗ cho những dấu vết tàn phá đáng sợ, trần trụi và đau xót.
Con kênh dẫn sương lỏng—nguồn sống nuôi dưỡng thảm rêu túi khí và vận hành các van áp suất ngầm—không còn đầy ắp những dòng sương lỏng óng ánh như ở thềm ngoài nữa. Lòng kênh ở đoạn này khô cạn trơ đáy, để lộ ra những mảng đá vôi phong hóa trắng bệch, nứt nẻ tựa như một dải xương sống khô khốc của một con quái thú đã chết từ lâu.
Chạy dọc theo đáy kênh và xé toạc các vách sa thạch là những vết nứt sâu hoắm, có những vết rạn toác rộng tới nửa sải tay, ăn sâu vào cấu trúc dẫn khí ngầm bên dưới lòng núi. Bột đá ba-zan mịn như tro tàn rỉ ra từ các khe nứt, bám đầy trên những thảm rêu sương lam đang khô héo, quăn queo và chuyển dần sang màu nâu xám vì thiếu dưỡng khí.
“Đây không phải là những vết nứt do thời gian hay phong hóa tự nhiên...” Lam Nhi ngồi sụp xuống, luồn những ngón tay trần run rẩy vào một vết rạn địa tầng sâu hoắm.
Cô nhắm mắt lại, vận dụng kỹ năng trắc đạc địa chấn gia truyền, cảm nhận rõ rệt từng đợt rung giật ngắt quãng, khô khốc đang truyền ngược lên từ đáy sâu của hòn đảo:
“Đây là vết nứt do chấn động Mạch Neo tầng sâu dội ngược về! Hoạt động khai thác khinh thạch nguyên khối bằng mũi khoan hơi nước áp lực cao của Hội Kim Phong ở các mỏ cực nam, cùng với sự sụp đổ dây chuyền của các đảo nông nghiệp ngoài vành đai... chúng đã tạo ra những đợt sóng phản chấn áp suất cực lớn dội thẳng vào mạng lưới. Đảo Neo... hòn đảo này đã phải gánh chịu toàn bộ lực va đập hủy diệt đó suốt thời gian qua để giữ cho các tầng mây của Vân Quốc không sụp đổ ngay lập tức!”
Tứ Hải nhìn những vết nứt chằng chịt như mạng nhện khổng lồ kéo dài tít tắp lên tận đỉnh núi đá, cổ họng cậu nghẹn đắng. Cậu nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng run rẩy:
“Nếu... nếu các kênh dẫn sương và buồng nén khí này vỡ nát hoàn toàn... chuyện gì sẽ xảy ra?”
“Toàn bộ hệ thống điều hòa sẽ ngừng trệ vĩnh viễn,” Tùng Lâm đáp, từng lời của bà đanh lại, lạnh ngắt như băng tuyết Tầng Mù. “Không còn sương ẩm nuôi dưỡng thảm rêu túi khí, không còn áp suất khí nén để vận hành rừng buồm đá. Điểm cân bằng động học sẽ tan vỡ. Trong vòng chưa đầy bảy ngày, lực nâng của Mạch Neo sẽ triệt tiêu hoàn toàn. Tầng Hành Trình sẽ rơi tự do xuống Tầng Mù, và bầu trời này... sẽ không còn một hòn đảo nào tồn tại. Tất cả sẽ tan thành cát bụi dưới đáy vực sâu.”
Một bầu không khí nặng nề, nghẹt thở bao trùm lấy tất cả mọi người. Sự im lặng đáng sợ đè nặng lên từng lồng ngực. Họ bàng hoàng nhận ra rằng việc tìm thấy Đảo Neo sau muôn vàn gian nan mới chỉ là một nửa chặng đường; hiểm họa thực sự, sự diệt vong của quê hương họ vẫn đang treo lơ lửng ngay trên đầu, và thời gian đang cạn dần theo từng nhịp thở ngắt quãng, đau đớn của hòn đảo cổ đại.
Không ai nói thêm một lời nào nữa. Họ lặng lẽ cất bước dọc theo bờ kênh sương nứt nẻ, men theo con đường mòn phủ rêu cổ dẫn ngược lên đỉnh cao nhất của Đảo Neo.
Nơi đó sừng sững một công trình kiến trúc cổ kính bằng đá sa thạch nguyên khối hình bán cầu, nửa chìm sâu vào lòng núi thiêng, nửa vươn kiêu hãnh ra ngoài khoảng không trung vô tận: Điện Điều Hòa.
Mặt tiền của ngôi điện là một vòm cửa khổng lồ hình elip cao hơn mười trượng, không hề có cánh cửa đóng kín hay then cài bằng sắt thép mà mở toang đón nhận mọi dòng khí lưu từ bốn phương tám hướng. Từ bên trong cửa vòm tối mờ, hàng chục ống sáo đá khổng lồ vươn ra tua tủa như những chiếc ống phong cầm của một đền thờ cổ xưa, không ngừng phát ra những chuỗi âm thanh tuần hoàn: ba nhịp ngắn thanh thoát, một khoảng lặng kéo dài chừng hai khắc nghẹt thở, rồi một nhịp dài trầm hùng, rung chuyển cả không gian sa thạch.
Đúng lúc bước chân vừa chạm đến bậc thềm đá cuối cùng của lối mòn dẫn thẳng vào vòm cửa Điện Điều Hòa, Lam Nhi chợt dừng sững lại.
Toàn thân cô đông cứng như vừa bị một luồng sét lạnh đánh trúng. Hơi thở nghẹn ứ lại nơi lồng ngực, đôi mắt cô mở to hết cỡ, dán chặt xuống lớp thảm thực vật ẩm ướt ngay dưới mũi chân mình.
Trên lớp rêu xanh xám mượt mà phủ kín lối đi dẫn vào bóng tối của cửa vòm, in hằn những dấu vết ủng đo đạc sâu hoắm, rõ mồn một từng đường nét.
Đó tuyệt đối không phải là dấu ủng đóng đinh sắt thô kệch của đám thủy thủ tàu buôn, cũng chẳng phải loại giày bọc da mỏng nhẹ nhàng của các học giả hàn lâm viện Phường Giữ Bản Đồ. Phần mũi ủng hơi bè ra với đường viền bọc đồng thau bảo hộ chống va đập đá ngầm; và đặc biệt nhất, ở phần gót chân bên phải, có một rãnh khuyết hình chữ V sâu đúng hai phân—chính là vết khuyết cơ học mà một năm trước, Lam Nhi đã tự tay dùng chiếc giũa sắt ba cạnh mài giũa tỉ mẩn trên bàn đóng giày ở Xưởng Lam Bến, cốt để người mang nó có thể móc chắc chắn vào các thanh giàn đo trắc đạc ngoài boong tàu lộng gió mà không bao giờ bị trượt ngã!
“Dấu ủng của ông nội...” Lam Nhi thốt lên thành tiếng, thanh âm run rẩy, vỡ òa giữa không gian tĩnh mịch.
Nước mắt cô trào ra như chuỗi ngọc đứt chỉ, làm nhòe đi tầm nhìn. Những ngón tay nhỏ nhắn siết chặt lấy mép áo khoác phong lôi, lồng ngực phập phồng dữ dội, tim đập thình thịch từng hồi dồn dập tựa như tiếng trống trận. Suốt hàng tháng trời ròng rã vượt qua giông bão, đối mặt với vực thẳm nghìn trượng của Tầng Mù, vượt qua nỗi sợ độ cao tột cùng và những nghi kỵ, hiểm nguy rình rập... tất cả những gánh nặng đè trĩu tâm can ấy dường như tan biến sạch trơn trong khoảnh khắc định mệnh này.
Dấu ủng vẫn còn rất mới. Lớp rêu vi mô xung quanh mép vết lún chỉ vừa mới khẽ đàn hồi trở lại, và những giọt sương đọng quanh viền đất còn chưa kịp bốc hơi—chứng tỏ người để lại dấu chân vừa bước qua đây chưa đầy một tuần trà!
“Ông nội!” Lam Nhi gào to, tiếng gọi xé rách sự im lặng ngàn năm của hòn đảo, bất chấp mọi nguy hiểm toan lao thẳng vào bóng tối của vòm cửa.
“Lam Nhi, cẩn thận!” Tứ Hải vội vã đưa tay nắm chặt lấy bả vai cô kéo lại, nhưng chính bàn tay cậu cũng đang run lên bần bật, và ánh mắt chàng hoa tiêu trẻ tuổi rực sáng một niềm hy vọng mãnh liệt chưa từng thấy.
Kim Thịnh, Tùng Lâm và chim Bông đều nín thở, đồng loạt hướng trọn ánh nhìn vào khoảng tối mờ mịt, thâm nghiêm bên trong vòm đá sa thạch.
Bản hòa âm của các ống sáo đá dường như khẽ chuyển điệu, nhịp xả van khí nén đột ngột dừng lại giữa chừng, để lại một khoảng lặng tuyệt đối, nghẹt thở đến từng nhịp tim.
Từ sâu trong bóng tối của cửa vòm Điện Điều Hòa, một bóng người gầy gò khoác chiếc áo choàng hoa tiêu bạc màu chậm rãi bước ra ánh sáng.