Chuẩn Thứ Ba
Tia sáng sao Dẫn Lộ tinh khiết như một lưỡi dao bạc chiếu thẳng qua lăng kính hội tụ, cắm phập vào tâm vòng tròn đồng tâm trên tấm da bản đồ.
Không gian bên trong vòm tháp bát giác của Đài Quan Trắc Sao Dẫn Lộ dường như ngưng đọng lại trong khoảnh khắc chuyển giao linh thiêng giữa hai khắc giờ Ngọ. Cái buốt giá ngút ngàn của Tầng Sáng—thứ hàn khí cắt da cắt thịt vốn thường trực làm đông cứng từng giọt sương đọng trên sợi cáp buồm và ngưng tụ hơi thở của con người thành từng làn khói trắng xóa—bỗng nhiên bị xua bạt bởi luồng quang năng thuần khiết vừa giáng thẳng xuống từ miệng giếng trời mở toang trên đỉnh vòm. Bốn bề vách đá hoa cương xám nhẵn bóng, nơi những đường rãnh khắc kinh vĩ độ từng chìm trong bóng tối lạnh lẽo suốt mười năm sai lệch nghiệt ngã, nay đồng loạt lấp lánh phản quang như mặt nước hồ băng vào cữ mặt trời lên cao nhất. Bụi đá lơ lửng giữa luồng sáng trông như những mảnh vụn kim cương li ti đang khiêu vũ.
Lam Nhi đứng bất động trước mép bàn đá cẩm thạch nguyên khối. Hai bàn tay cô buông thõng bên hông, những ngón tay gầy guộc khẽ siết chặt lấy đường viền áo khoác dạ rồi lại từ từ thả lỏng theo từng nhịp tim đập. Nhịp thở ba nhịp—hít vào ba giây nén đầy lồng ngực, giữ hơi ba giây lắng nghe biến chuyển của cơ thể, rồi thở nhẹ ra ba giây qua kẽ môi—vốn là bài học an toàn sống còn đầu tiên mà Đội trưởng Hạ Vũ đã kiên nhẫn truyền dạy cho cô giữa những cơn chao đảo dữ dội của biển mây vô tận. Giờ đây, chính nhịp thở kỷ luật ấy đang giúp lồng ngực cô gái mười lăm tuổi lấy lại sự bình tĩnh tuyệt đối trước ngưỡng cửa lịch sử.
Trước mắt cô, tấm Bản Đồ Mây dệt từ sợi rễ Neo cổ đang trải rộng trên mặt phẳng xám tro. Những mép viền dệt thô ráp, săn chắc và phẳng phiu bám chặt lấy mặt đá nhờ các mấu kẹp đồng thau vừa được Tứ Hải cẩn thận gia cố lại bằng kìm mỏ vịt. Từng thớ sợi thực vật ngả màu vàng sẫm của thời gian phơi mình dưới luồng sáng bạc, để lộ những đường gân dẫn khí tự nhiên li ti như mạng mao mạch của một lá phổi khổng lồ.
Mọi nỗi hoài nghi âm ỉ, mặc cảm tự ti của một đứa trẻ học việc vụng về, cùng những cơn dằn vặt xé lòng tích tụ từ cái ngày cay đắng rời khỏi xưởng vẽ Đảo Lam Bến dường như đã hoàn toàn tan biến sau nhát búa trắc đạc quyết định đưa trục kính thiên văn về vị trí vạch số không chuẩn mực. Không còn chỗ cho sự do dự hay tiếc nuối quá khứ. Giờ đây, trong tâm trí Lam Nhi chỉ còn lại một sứ mệnh duy nhất: đánh thức tầng mực ẩn cuối cùng mà ông nội Vân Kính cùng Những Người Canh Neo tiền nhân đã dày công niêm phong bằng những quy luật vĩnh cửu của đất trời.
"Chuẩn thứ nhất: Thời gian của gió," Lam Nhi cất giọng. Thanh âm của cô không lớn nhưng trong trẻo, rành rọt, ngân vang vọng lại từ những phiến đá vòm cao vút của gian tháp cổ kính.
Cô cẩn trọng vươn tay vào chiếc túi đồ nghề may bằng vải bạt lót dạ dầy đeo lệch bên hông, nhẹ nhàng nâng ra mảnh phù điêu bằng đồng thau hình cánh quạt bát giác. Đó là mảnh ghép cơ khí vô giá thu được từ cơ cấu nhịp chuông áp suất sâu trong lòng Tháp Lịch Phong trên Đảo Thiên Phong—vật chứng của những ngày gió gầm thét xé rách màng tai. Bề mặt phiến đồng lạnh buốt chạm nổi biểu tượng mỏ neo ba ngấn không xích sắc sảo, rìa ngoài là những khấc răng cưa vi mô được mài giũa chính xác đến từng phần mười phân, biểu thị cho chu kỳ tích tụ và giải phóng khí áp của bốn mùa gió Vân Quốc.
Lam Nhi nín thở, đặt nhẹ phiến đồng xuống góc trên bên trái của bàn đá, đưa nó trượt khít vào vị trí rãnh định vị hướng đông bắc—nơi hội tụ của những luồng gió mậu dịch tầng trung vốn duy trì sự sống cho toàn dải hải đồ. Kim loại cổ xưa chạm vào mặt đá hoa cương phát ra một tiếng *keng* thanh mảnh, vang vọng và dư ba hồi lâu không dứt trong không gian tĩnh mịch.
"Chuẩn thứ hai: Ký ức được lưu giữ," Lam Nhi tiếp tục cất lời, ánh mắt cô chuyển dịch sang bên cạnh, đón lấy chiếc tráp gỗ lê vàng thơm mùi tinh dầu thông từ đôi bàn tay gầy guộc của Tùng Lâm.
Bên trong chiếc tráp lót lụa mềm là bản in dập mộc bản trên lá giấy chống ẩm cổ truyền—công trình mà Diệp Thanh đã thức trắng nhiều đêm để hoàn thiện tại buồng số ba mươi bảy của Thư Viện Phi Diệp trước khi hòn đảo học thuật ấy chìm sâu vào Tầng Mù vĩnh cửu. Trên tờ giấy lá mỏng tang như cánh chuồn chuồn nhưng dẻo dai lạ lùng, từng dòng chữ Canh Neo cổ ngữ “Nơi rễ nghe tiếng trời” cùng đồ thị dao động sóng nhựa rễ ngân sương hiện lên sắc nét dưới lớp mực mộc lan đen tuyền bóng bẩy.
Lam Nhi cung kính đặt bản dập lá này xuống góc dưới bên phải của bàn đá, đè chuẩn xác lên dấu khắc biểu tượng của các luồng đối lưu tầng sâu. Khi thớ giấy lá chạm vào bề mặt đá lạnh, những sợi xơ thực vật dường như lập tức hút lấy hơi ẩm vi khí hậu đặc thù trong gian phòng, khẽ cựa quậy, hơi cong nhẹ rìa giấy như một sinh thể vừa choàng tỉnh sau một giấc ngủ say kéo dài nghìn năm.
Cuối cùng, ánh mắt kiên định của Lam Nhi hướng về phía Mai Khuê.
Học viên xuất sắc nhất của Phường Giữ Bản Đồ khẽ gật đầu đáp lại. Vẻ mặt Mai Khuê lúc này trang nghiêm và thuần khiết, không còn vương lại chút nào nét kiêu ngạo lạnh lùng của một thanh tra hàn lâm quen soi xét lỗi lầm người khác, mà thay vào đó là sự cẩn trọng, kính cẩn đầy tôn nghiêm của một người đo đạc thực địa chân chính trước sự thật hiển hiện. Mai Khuê dùng cả hai bàn tay nâng bộ máy chiếu sao lưu động bằng đồng thau—khối cơ khí lồng nhiều tầng tinh xảo vừa lưu giữ trọn vẹn góc khúc xạ tuyệt đối của ngôi sao Dẫn Lộ sau khi trục ngắm được căn chỉnh về vạch chuẩn.
"Chuẩn thứ ba: Điểm sao cố định," Mai Khuê cất lời, từng từ ngữ phát ra dứt khoát và đanh thép như lời thề danh dự khắc trên bảng đồng của phường hội. "Trục ngắm không vướng bụi trần, phương vị tuyệt đối không còn sai số một phần sáu độ. Tọa độ của bầu trời vĩnh cửu."
Với những động tác chuẩn xác như một cỗ máy đồng hồ, Mai Khuê hạ thấp thân mình, cẩn trọng đặt cỗ máy chiếu sao xuống góc trên bên phải của bàn đá hoa cương. Ba mảnh ghép chuẩn đã an vị tại ba góc bàn, tạo thành một tam giác cân hoàn hảo, khép kín và bao bọc trọn vẹn lấy tấm Bản Đồ Mây đang nằm phẳng lặng ở vị trí trung tâm.
Một khoảnh khắc im ắng đến ngột ngạt bao trùm toàn bộ gian tháp bát giác. Tiếng gió gầm gào quen thuộc ngoài vách đá dường như lùi xa xăm. Tứ Hải đứng tựa lưng vào mép cột đá, nín thở đến mức hai bên thái dương giật giật, hai bàn tay thô ráp chai sạn tỳ chặt lên chuôi dao găm bên hông, đôi mắt mở to không dám chớp dù chỉ một giây để dõi theo từng biến chuyển nhỏ nhất. Cô Tùng Lâm lùi lại nửa bước để tà áo choàng của mình không che khuất nguồn sáng tự nhiên, bàn tay bà cầm sẵn chiếc ống nghiệm thủy tinh chứa dịch chiết xuất từ rễ sương cổ thụ, những khớp ngón tay run nhẹ vì nỗi căng thẳng nghề nghiệp tột cùng sau hàng thập kỷ nghiên cứu lý thuyết.
Tia sáng bạc từ sao Dẫn Lộ rọi qua thấu kính hội tụ đỉnh tháp, chạm vào lăng kính quang học của cỗ máy chiếu sao lưu động, lập tức bị bẻ cong thành một luồng quang tuyến hẹp sáng rực rỡ, quét xiên một góc bốn mươi lăm độ qua mặt phẳng bản đồ.
Cùng lúc đó, các rãnh đồng tinh vi trên phiến phù điêu Thiên Phong bắt đầu dẫn truyền tĩnh điện tự nhiên tích tụ từ không khí loãng của Tầng Sáng, phát ra những tiếng vo ve trầm đục, rung rinh như cánh ong rừng. Hơi ẩm mỏng manh bốc lên từ bản dập lá cây của Thư Viện Phi Diệp gặp luồng sáng quang học bị kích hoạt nhiệt, tạo thành một màng sương vi khí hậu mỏng manh như cánh ve lượn lờ cách mặt da mây chưa đầy nửa đốt ngón tay.
"Nhiệt lượng sinh học," Tùng Lâm thì thầm qua kẽ răng, nhanh chóng dùng ngón tay bật mở chiếc chốt đồng của hộp gỗ cách điện đặt bên cạnh bàn.
Bên trong lớp nỉ giữ nhiệt, đoạn mẫu rễ Neo cổ mà bà đã mang theo suốt từ Rừng Sương Quang bắt đầu cựa quậy một cách kỳ dị. Khi tiếp nhận ánh sáng quang học thuần khiết từ các vì sao và sóng tĩnh điện đồng bộ truyền qua phiến đá từ hai góc bàn, các vi mạch dẫn khí màu xanh nhạt trong đoạn rễ lập tức bừng sáng lên một ánh hổ phách ấm áp. Một làn nhiệt lượng êm dịu, mang theo mùi ngai ngái nồng nàn của đất rừng ẩm ướt và hương bách mù the cay dịu nhẹ, bắt đầu lan tỏa đều khắp phiến đá hoa cương, sưởi ấm bề mặt tấm da mây vốn được dệt từ chính những sợi rễ đồng loại của nó hàng trăm năm trước.
Dưới sự tác động đồng thời của ba yếu tố bất khả phân ly: quang học chuẩn xác từ thiên văn học, độ ẩm vi khí hậu chuẩn hóa từ thực vật thư viện, và nhiệt lượng kích hoạt sinh học từ rễ sương, điều kỳ diệu được mong chờ suốt một thế kỷ đã thực sự xảy ra.
Lớp mực phong vũ cổ xưa—thứ mực huyền thoại được tiền nhân chiết xuất từ nhựa rễ Neo nghiền mịn với các khoáng chất dẫn từ tính của lõi đá trời—vốn nằm im lìm dưới dạng những vết ố xám mờ xỉn trên thớ da mây suốt hàng chục năm qua, bỗng nhiên bắt đầu sôi lăn tăn.
Từng bọt khí li ti như những hạt kê nổi lên san sát trên bề mặt các nét vẽ cổ xưa. Sắc tím ngắt đục ngầu—dấu hiệu đáng sợ của sự tắc nghẽn dòng khí và rạn nứt áp suất tầng sâu vốn từng đánh lừa biết bao thế hệ hoa tiêu—từ từ nhạt dần đi. Nó biến chuyển kỳ ảo qua từng gam màu dưới ánh mắt sững sờ của bốn con người: từ sắc tím sẫm u uất chuyển sang sắc lam khói lãng đãng, rồi ngả sang sắc xanh biếc mượt mà của ngọc bích, và cuối cùng, bừng nở thành một màu quang ngân rực rỡ, lấp lánh như hàng vạn vảy cá bạc đang bơi lội tung tăng dưới ánh trăng rằm.
"Nhìn kìa!" Tứ Hải không kìm nén được lồng ngực đang căng nghẹn, khẽ thốt lên bằng một giọng khàn đặc, ngón tay thô ráp của kẻ kéo buồm run rẩy chỉ thẳng về phía trung tâm bản đồ. "Mực... mực đang tự bò ra ngoài ranh giới cũ!"
Những vệt mực lỏng không hề chảy tràn ngẫu nhiên theo độ dốc của mặt đá hay thớ sợi dệt tự nhiên của tấm da. Chúng chuyển động theo một trật tự kỷ luật phi thường và đầy mê hoặc, như thể có một bàn tay hoa tiêu vô hình mang quyền năng tối thượng đang cầm ngọn bút lông ngỗng tẩm mực bạc vẽ trực tiếp lên tấm da ngay trước mắt họ.
Từ điểm định vị thân thuộc của Đảo Lam Bến với những rặng mây dệt quen mắt, vệt mực bò ngoằn ngoèo vượt qua Đảo Tiêu Sa nứt nẻ đầy gió cát, lướt qua những bánh răng cơ khí đồ sộ của Đảo Đồng Hồ Thiên Phong, rẽ một đường cong hoàn mỹ qua Thư Viện Phi Diệp và Rừng Sương Quang xanh ngắt. Những đường nét cũ vốn đứt quãng, mờ mịt và rời rạc nay được nối liền mạch lạc bằng một mạng lưới đường bay vô hình trước nay chưa từng xuất hiện trên bất kỳ hải đồ hàng hải quy chuẩn nào của Phường Giữ Bản Đồ hay hạm đội thương thuyền Hội Kim Phong.
Đó tuyệt nhiên không phải là những đường thẳng tắp cứng nhắc và lạnh lùng mà các viện hàn lâm kinh viện vẫn quen dùng thước đồng khắc vạch trên giấy kẻ ô. Chúng là những đường cong khí động học uốn lượn mềm mại và sống động vô cùng, nương tựa một cách tài tình theo từng túi khí ấm bốc lên từ lòng đại dương mây, khéo léo tránh né các họng hút chân không chết người và lượn lờ uốn quanh những rạn đá kim loại chìm giấu mình dưới màn sương đặc.
Đặc biệt, tại khu vực tận cùng phía tây nam của tấm bản đồ—nơi mà mọi hải đồ hàng hải thông thường của Vân Quốc chỉ để lại một khoảng trống kinh hoàng mang tên Cửa Gió Ngủ cùng lời cảnh báo truyền đời về cái chết không tiếng động—lớp mực phong vũ bắt đầu cuộn xoáy mãnh liệt.
Một hành lang hẹp cong vút như chiếc sừng linh dương dần dần hiện rõ từng đường nét sắc sảo. Nó uốn éo lách qua một cách thần kỳ giữa hai khối mây nén màu tro tàn khổng lồ, vẽ nên một lối đi tinh vi xuyên thẳng qua tâm điểm của vành đai tử thần. Tại điểm cuối cùng của hành lang huyền thoại ấy, dòng mực bạc tụ lại thành một xoáy nước đồng tâm rực rỡ, bao bọc lấy một chấm tròn sáng ngời khắc biểu tượng mỏ neo ba ngấn hoàn chỉnh: Đảo Neo.
"Hành lang gió trượt tầng ba..." Mai Khuê ghé sát mặt kính phóng đại thạch anh xuống cách mặt bản đồ chỉ vài phân, giọng nói run rẩy nghẹn ngào vì kinh ngạc tột độ. "Không thể tin được... Suốt một trăm năm qua, mọi hoa tiêu lỗi lạc nhất của Phường đều đồng thuận rằng Cửa Gió Ngủ là một bức tường khí nén đồng nhất không thể xuyên phá bằng bất cứ giá nào. Hóa ra ở đó luôn tồn tại một khe trượt áp suất vi mô, nhưng nó chỉ mở ra khi góc nghiêng của luồng khí đối lưu khớp hoàn toàn với phương vị sao Dẫn Lộ!"
"Bởi vì họ chỉ nhìn bầu trời bằng mắt thường và những chiếc thước kẻ kim loại vô tri," Tùng Lâm tiếp lời, ánh mắt bà lấp lánh sau cặp kính bảo hộ dính bụi đá. "Họ đã quên mất một điều cốt tử: bầu trời là một cơ thể sống. Rễ cây thở, gió chuyển mùa là nhịp tim đập, còn các hòn đảo nổi của chúng ta chỉ là những chiếc lá bồng bềnh nương tựa trên hơi thở vĩ đại ấy mà thôi."
Đúng vào khoảnh khắc luồng mực bạc đạt đến độ sáng chói lọi và rực rỡ nhất, một bóng trắng nhỏ bé từ trên giàn xà gỗ đỉnh tháp bất ngờ lao vút qua không trung.
*Phạch! Phạch!*
Chim cánh mây Bông đập cánh đáp phịch xuống mép bàn đá hoa cương. Đôi móng vuốt màu hổ phách sắc nhọn bám chặt lấy gờ đá xám, chiếc mỏ nhọn hơi quặp xuống chúi sát vào mặt bản đồ ướt mực. Bộ lông ngực màu tuyết mịn màng của nó phập phồng gấp gáp; dưới lớp lông vũ tơ mượt, chiếc vòng cổ bằng đá bọt Mạch Neo xám tro—ấn ký thiêng liêng truyền đời của loài chim Hộ Mạch—bỗng rực lên một quầng sáng xanh biếc đồng điệu đến kỳ lạ với ánh bạc của lớp mực phong vũ đang phát quang.
Bông nghiêng đầu sang một bên, đôi mắt tròn đen láy sáng ngời phản chiếu lại hình ảnh dải hành lang cong uốn lượn. Nó không hề tỏ ra sợ hãi hay xù lông phòng thủ như những ngày còn ở Vườn Hạt Bay hoang dã. Ngược lại, con chim khẽ rướn cao chiếc cổ mảnh dẻ, xòe rộng đôi cánh mang những viền lông bạc lấp lánh rồi cất tiếng hót vang lừng.
*Khang... khang... linh... vút!*
Đó là một chuỗi âm thanh cao vút, trong trẻo và thanh thoát phi thường, dội vang vào các vách đá vòm. Tiếng hót không hề ngẫu hứng như tiếng chim rừng thông thường, mà lặp lại tuần hoàn theo một tiết tấu vô cùng nghiêm ngặt: ba nhịp ngắn, dồn dập và dứt khoát, theo sau là một khoảng lặng ngắn chừng nửa giây, rồi kết thúc bằng một nhịp ngân dài êm ái như tiếng gió lướt qua miệng một ống sáo đá cổ xưa.
*Tích... tích... tích... toang...*
Cả căn phòng rộng lớn lại rơi vào một khoảng lặng phắc như tờ. Tứ Hải sững sờ há hốc mồm, chiếc khăn quàng cổ buông lơi, còn Mai Khuê thì bất giác lùi lại một bước, bàn tay run rẩy chạm nhẹ vào gáy cuốn sổ nhật trình bọc da thú.
Bởi vì ngay trên mặt phẳng của tấm Bản Đồ Mây, vệt mực phong vũ ánh bạc tại điểm cuối hành lang Cửa Gió Ngủ cũng đang chớp tắt theo một nhịp điệu tương ứng. Nó nhấp nháy theo đúng chu kỳ kinh ngạc ấy: ba lần lóe sáng ngắn ngủi, tắt phụt trong chốc lát, rồi bùng lên một dải sáng dài ấm áp lan tỏa.
Nhịp chớp của lớp mực ẩn và tiếng hót của Bông ăn khớp với nhau đến từng phần nhỏ nhất của một khắc gió, như thể chúng được điều khiển bởi cùng một cỗ máy đếm nhịp vô hình giấu kín dưới đáy vực thẳm.
"Bông..." Lam Nhi khẽ gọi, cổ họng cô nghẹn ứ một cảm xúc trào dâng.
Cô quỳ hẳn một bên gối xuống nền đá lạnh buốt cạnh bàn, đưa ngón tay trỏ run rẩy về phía trước.
Từ thuở còn là một đứa trẻ lên bảy ngồi lọt thỏm bên chiếc bàn vẽ bụi bặm ngập tràn xơ giấy ở Đảo Lam Bến, Lam Nhi đã sở hữu một trực giác kỳ lạ mà cô luôn phải cẩn thận giấu kín trước ánh mắt soi mói của các viên thanh tra học viện: cô có thể nghe thấy "hơi thở" của giấy da và cảm nhận được sự sống rạo rực của những giọt mực phong vũ khi chúng gặp độ ẩm. Khi ông nội Vân Kính còn ở nhà, mỗi lần ông mài mực rễ Neo trong cối đá, ông thường đặt bàn tay thô ráp ấm áp lên bờ vai nhỏ bé của cô và ôn tồn căn dặn: *“Bản đồ thật không nằm ở mắt nhìn đâu, Lam Nhi à. Nó nằm ở đầu ngón tay chạm vào dòng chảy.”*
Đầu ngón tay trỏ mềm mại của Lam Nhi nhẹ nhàng chạm vào vệt mực phong vũ đang sôi lăn tăn ngay cửa ngõ Cửa Gió Ngủ.
*Bùm... bùm... bùm... xoang...*
Một luồng xung động cơ học cực nhỏ nhưng rõ ràng như một nhịp búa gõ xuyên thẳng qua da thịt, truyền ngược vào các đầu mút dây thần kinh nơi cánh tay cô. Đó tuyệt đối không phải là dao động hỗn loạn ngẫu nhiên của một phản ứng hóa học tự nhiên khi tiếp xúc với nhiệt độ. Đó là một áp lực cơ học tuần hoàn, đều đặn, nhịp nhàng và mang đầy ý chí sắt đá của một con người.
Một luồng khí nén đang được giải phóng có kiểm soát qua các tầng địa chất.
Một chiếc van xả áp lực khổng lồ đang được đóng mở bằng tay quay cơ học từ một khoảng cách xa xôi muôn dặm giữa biển mây.
"Đây không phải là hiện tượng tự nhiên..." Lam Nhi bàng hoàng ngẩng phắt đầu lên, hai mắt mở to, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu bỗng trào ra lăn dài trên đôi gò má tái nhợt vì lạnh. "Đây là tín hiệu điều áp! Có người... có người đang dùng một đòn bẩy cơ khí khổng lồ để nhả từng túi khí nén qua khe đá ngầm! Nhịp ba ngắn một dài... đó là ký hiệu xả van khẩn cấp của Xưởng Vân Kính!"
Cô quay sang nhìn Tứ Hải, nhìn Tùng Lâm và Mai Khuê, giọng nói dù run rẩy vì xúc động nhưng vang lên chắc nịch như đanh đóng vào cột buồm giữa bão lớn:
"Ông nội! Là ông nội Vân Kính! Ông vẫn còn sống! Ông đang ở bên kia dải mây lặng của Cửa Gió Ngủ, đang trực tiếp vận hành cơ cấu xả khí của Điện Điều Hòa tại Đảo Neo để phát tín hiệu định vị cho chúng ta!"
"Để tôi kiểm tra đồ thị chấn động ngay lập tức!"
Tùng Lâm lập tức hành động. Tính cách lập dị và sự lạnh lùng mang đậm chất khoa học thường ngày của bà nhường chỗ cho một sự khẩn trương tột độ. Bà rút phắt từ trong túi áo khoác ra một cuộn giấy biểu đồ chấn động mỏng dính, trải dài song song với phiến đá thạch anh gắn dưới bệ kính thiên văn—nơi vừa tiếp nhận chuỗi xung lực truyền qua các tầng mây từ hướng 225 độ tây nam. Bà dùng một chiếc compa hai mũi nhọn bằng bạc cẩn thận đo đạc khoảng cách giữa các đỉnh sóng chấn động li ti vừa được kim than ghi lại.
"Tần số dao động đáy: đúng 0,42 chu kỳ mỗi khắc," Tùng Lâm đọc to các thông số kỹ thuật, ngón tay thoăn thoắt lật mở cuốn sổ ghi chép dày cộp. "Biên độ áp suất nén: mười hai cân trên mỗi tấc vuông. Khoảng lặng giữa hai chu kỳ đúng mười tám giây—con số này trùng khớp hoàn toàn với khoảng lặng co thắt của Mạch Neo mà chúng ta từng đo đạc được tại rễ cây đại thụ ở Rừng Sương Quang!"
Mai Khuê nhanh chóng cúi rạp người xuống bên cạnh Tùng Lâm, cây bút chì trắc đạc kẹp trong tay cô vạch những đường kẻ giao thoa sắc lẹm trên tờ giấy nháp đặt vội trên gối:
"Nếu đây là một vụ sụp đổ địa tầng tự nhiên hay nứt vỡ vách đá thông thường, các đỉnh sóng cơ học sẽ phân rã theo hàm số mũ giảm dần do lực ma sát nhớt của các tầng mây đệm bao quanh. Nhưng nhìn vào đồ thị này xem! Mỗi đỉnh sóng đều có một vết gờ phẳng lì ở đỉnh—đó là dấu vết vật lý không thể chối cãi của van hãm áp lực hai chiều bằng đồng thau! Chỉ có cơ cấu điều hòa khí quyển do con người trực tiếp ghìm giữ bằng tay mới có thể tạo ra được dạng sóng triệt tiêu phản chấn hoàn hảo như thế này."
Mai Khuê ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Lam Nhi, ánh mắt của cô gái Phường Giữ Bản Đồ ánh lên sự thán phục chân thành không chút dè dặt:
"Ông nội cậu không chỉ còn sống. Bậc thầy Vân Kính đang một mình ghìm chặt cánh tay đòn của Điện Điều Hòa để ngăn toàn bộ hệ thống phân phối lực nâng của Vân Quốc sụp đổ vào vực thẳm. Chuỗi xung lực này chính là một ngọn hải đăng bằng áp suất mà ông phát ra xuyên qua lòng mây đặc để dẫn lối cho con thuyền nào mang theo tấm Bản Đồ Mây hoàn chỉnh!"
Tứ Hải đấm mạnh một cú vào lòng bàn tay mình kêu bốp một tiếng giòn giã, miệng nở một nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả khuôn mặt phong sương dãi dầu của cậu thủy thủ trẻ:
"Tôi đã bảo từ đầu rồi mà! Cụ Vân Kính là ai chứ? Một hoa tiêu huyền thoại đã từng tự tay hoán cải cả con tàu Hải Âu Xám nặng nề thành một chiếc thuyền cói siêu nhẹ để bay ngược lên Tầng Sáng mười năm trước thì làm sao có thể dễ dàng bị nuốt chửng bởi mấy đám mây mù chết tiệt được! Cụ vẫn đang đứng vững ở đó, đang đợi chúng ta mang bản đồ đến!"
Niềm vui vỡ òa như một dòng nước ấm lan tỏa khắp gian đài quan trắc cổ kính ngập tràn ánh sáng. Bông bay lượn một vòng tròn rộng quanh đỉnh giếng trời, đôi cánh lấp lánh bụi bạc của nó vỗ phần phật trong luồng gió lạnh, phát ra những tiếng kêu ríu rít đầy phấn khích như chào mừng người thân trở về.
Gánh nặng tội lỗi vô căn cứ đè nặng lên đôi vai Lam Nhi suốt bao ngày tháng kể từ khi rời Đảo Lam Bến—nỗi ân hận xé lòng rằng chính lời phàn nàn trẻ con vô tâm của mình mười năm trước đã đẩy ông nội vào chỗ chết—giờ đây hoàn toàn tan biến thành mây khói hư vô. Ông cô không hề bỏ đi vì giận dỗi hay chán nản. Ông đã dấn thân vào cõi hiểm nguy tột cùng để tìm kiếm sự thật cứu vãn quê hương, để sửa chữa sai số nghìn năm cho toàn thể biển mây, và ông vẫn đang kiên cường bám trụ ở đích đến cuối cùng, bền bỉ chờ đợi người kế tục xứng đáng mang bản đồ hoàn chỉnh tới ráp nối vào hệ thống vận hành của trời đất.
Thế nhưng, giữa bầu không khí hân hoan đang dâng trào ấy, Lam Nhi không hề đánh mất đi sự cẩn trọng bẩm sinh của một người thợ vẽ bản đồ thực địa.
Khi ngón tay trỏ của cô lướt chậm rãi theo hành lang cong vừa hiện rõ trên tấm da mây, nụ cười rạng rỡ trên môi cô gái dần dần thu lại. Ánh mắt cô nheo lại sau thấu kính hội tụ, chăm chú quan sát một điểm bất thường vừa lộ ra dưới ánh sáng sao.
"Khoan đã..." Lam Nhi trầm giọng xuống, thanh âm đột ngột chùng xuống khiến cả căn phòng lập tức im bặt. "Mọi người nhìn kỹ chỗ này đi."
Tứ Hải, Mai Khuê và Tùng Lâm lập tức vây lại quanh mép bàn đá, nín thở nhìn theo hướng chỉ của ngón tay Lam Nhi.
Tại đoạn thắt hẹp nhất của hành lang dẫn vào Cửa Gió Ngủ—chỉ cách tâm điểm của Đảo Neo chừng năm hải lý ngắn ngủi—lớp mực phong vũ không còn duy trì được màu xanh ngọc bích êm dịu hay màu quang ngân rực rỡ nữa.
Ở rìa ngoài của hai dải khí đối lưu bao bọc lấy hành lang, lớp mực bắt đầu kết tinh lại thành những vệt gợn sóng màu xám tro kỳ quái và u ám. Những đường sóng này không hề chuyển động hay sôi sục như các luồng gió thông thường; chúng đứng im bất động một cách ma quái, tạo thành hai bức tường sắc lạnh ép chặt lấy khe hẹp duy nhất ở chính giữa.
Đặc biệt hơn cả, ngay bên trong khe hẹp hiểm trở ấy, bề mặt tấm da mây dường như bị một lực hút vô hình cực mạnh kéo lõm sâu xuống, tạo thành một rãnh sâu hun hút, trơn lỳ, nơi không có lấy một hạt bụi mây hay một vệt mực lỏng nào có thể bám trụ lại được.
"Vệt gợn sóng màu xám tro..." Mai Khuê tái mặt, sắc môi cô gái Phường Giữ Bản Đồ nhợt nhạt hẳn đi, giọng cô hạ thấp xuống như sợ rằng một âm thanh lớn có thể đánh thức một con quái thú đang ngủ say dưới đáy vực. "Trong toàn bộ thư tịch cổ và các cuộn hải đồ niêm phong của Phường Giữ Bản Đồ, dấu hiệu này chỉ xuất hiện duy nhất một lần... trong ghi chép tang thương về thảm họa Vực Xoáy Năm Ba mươi Mốt."
"Đó rốt cuộc là cái gì?" Tứ Hải sốt ruột hỏi dồn, bàn tay cậu bất giác siết chặt lấy chuôi dao găm bên hông đến mức các đốt ngón tay trắng bệch.
"Bão Im," Tùng Lâm đáp lời, thanh âm của nhà thực vật học khô khốc như tiếng một cành cây mục gãy đôi giữa mùa đông giá rét. "Một hiện tượng khí tượng cực đoan và tàn khốc bậc nhất của biển mây, thứ không hề tạo ra bất kỳ âm thanh gầm rú nào để cảnh báo hoa tiêu. Khi một luồng đối lưu ấm mang nhiệt lượng khổng lồ từ Tầng Sáng và một khối khí nén âm độ cực lạnh từ đáy Tầng Mù bị cưỡng ép ép sát vào nhau ở vận tốc cao mà không thể hòa trộn, chúng sẽ triệt tiêu hoàn toàn động năng tự nhiên của không khí xung quanh. Toàn bộ khu vực giao thoa đó sẽ biến thành một vành đai chân không nghịch lưu tuyệt đối."
Lam Nhi dùng ngòi bút trắc đạc bằng đồng rà nhẹ dọc theo rãnh lõm màu tro tàn trên mặt bản đồ:
"Đúng như những lời cảnh báo nghiêm khắc của Đội trưởng Hạ Vũ trước khi chúng ta xuất phát từ Cảng Cánh Diều. Tại vành đai chân không này, toàn bộ cánh buồm của một con thuyền sẽ mất sạch lực nâng khí động học vì không còn một phân tử gió nào để đón nhận và chuyển hóa thành lực đẩy. Nhưng điều nguy hiểm hơn gấp bội phần chính là hai bức tường khí nghịch lưu đang cuộn siết ở hai bên mạn. Một bên là gió xoáy giật ngược hướng đông bắc với vận tốc đủ sức xé rách mọi loại vải buồm kiên cố nhất, một bên là luồng gió trượt thẳng đứng kéo tụt mọi vật thể xuống đáy vực Tầng Mù. Khe hẹp an toàn ở chính giữa chỉ rộng chưa đầy mười trượng!"
"Mười trượng..." Tứ Hải lẩm bẩm nhắc lại con số định mệnh, trán cậu rịn ra những giọt mồ hôi lạnh ngắt dù gió Tầng Sáng đang thổi buốt qua các khe cửa. "Chiều rộng sải buồm chính của thuyền *Mầm Gió* khi bung hết các thanh giằng phụ đã là bảy trượng rồi. Điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ có một khoảng dung sai an toàn chưa đầy một trượng rưỡi ở mỗi bên mạn thuyền! Nếu bánh lái chỉ cần chệch sang mạn tả nửa thân tàu, luồng gió nghịch sẽ xé toạc túi nâng tơ mây ngay lập tức. Còn nếu thuyền chao sang mạn hữu, phễu hút chân không sẽ nuốt chửng chúng ta xuống đáy vực trước khi hoa tiêu kịp chạm tay vào cần gạt vây lái!"
"Và tai hại hơn nữa là con thuyền sẽ hoàn toàn mất lái khi trôi vào khoảng chân không ở tâm điểm," Mai Khuê bổ sung thêm, ngón tay cô run run chỉ vào điểm mù màu tro kéo dài suốt hai hải lý trên bản đồ. "Không có gió thì buồm lái chỉ là những tấm vải vụn vô dụng trôi dạt. Động cơ nén khí thông thường của chúng ta cũng sẽ bị sặc và chết máy tức khắc vì thiếu dưỡng khí và áp suất tối thiểu để kích hoạt buồng đốt van đôi."
Không gian trong đài quan trắc một lần nữa lại rơi vào sự im lặng nặng nề và u uất.
Tấm Bản Đồ Mây huyền thoại đã chỉ ra con đường duy nhất dẫn tới Đảo Neo, đã mang lại bằng chứng sống động không thể chối cãi rằng ông nội Vân Kính vẫn còn sống và đang kiên cường chờ đợi, nhưng đồng thời, nó cũng phơi bày một cánh cổng tử thần nghiệt ngã mà ngay cả những hạm đội tàu bọc thép kiên cố nhất của Hội Kim Phong cũng chưa từng dám mơ tưởng bén mảng tới gần.
"Chúng ta không thể dùng buồm thường, và cũng không thể dùng kỹ thuật lái hàng hải thông thường để vượt qua Cửa Gió Ngủ," Lam Nhi ngước mắt lên, ánh nhìn kiên định và trong sáng của cô gái mười lăm tuổi quét qua từng gương mặt của những người đồng đội đã cùng cô vào sinh ra tử. "Nhưng Những Người Canh Neo tiền nhân đã dày công xây dựng nên Đảo Neo, họ đã tạo ra hành lang khí động này thì chắc chắn phải để lại một phương thức để hậu thế vượt qua nó mà không cần dùng đến bạo lực cơ học thô bạo."
"Chênh lệch nhiệt lượng sinh học," Tùng Lâm khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi và ấm áp nở bừng trên gương mặt khắc khổ đầy nếp nhăn của nhà thực vật học.
Bà đưa bàn tay gầy guộc vỗ nhẹ lên chiếc túi da đeo bên hông—nơi cất giữ những quả nang căng tròn của Cây Túi Khí và chiếc tráp đựng hạt chuông gió mà họ đã thu lượm được từ Vườn Hạt Bay sau bao gian nan.
"Những Người Làm Vườn cổ xưa không trao những hạt giống diệu kỳ này cho chúng ta một cách vô ích. Khí hydro sinh học tích tụ bên trong các quả nang có khả năng tự co giãn thể tích cực mạnh khi gặp sự thay đổi nhiệt độ đột ngột giữa hai bức tường khí nén nóng và lạnh. Nếu chúng ta biết cách kết hợp nhiệt lượng tự nhiên tỏa ra từ rễ sương cổ thụ với hệ thống lăng kính của bộ máy chiếu sao lưu động mà Mai Khuê đang giữ để tạo ra một luồng phản lực nhiệt tầng cao, con thuyền *Mầm Gió* sẽ có thể tự lướt đi êm ru như một hạt mầm bay giữa khoảng chân không mà không cần đến bất kỳ một ngọn gió nào trợ lực!"
"Và tôi đã có cỗ máy chiếu sao lưu động này trong tay," Mai Khuê tự tin gõ nhẹ đầu ngón tay lên thân máy bằng đồng thau sáng bóng. "Khi các cậu tiến vào vùng mù hoàn toàn không có âm thanh của Bão Im, nơi mà mọi la bàn từ thạch thông thường đều sẽ quay cuồng vô định vì từ trường hỗn loạn, chùm sáng song song chuẩn xác từ cỗ máy này sẽ chiếu thẳng góc khúc xạ của sao Dẫn Lộ lên đỉnh buồm chính. Chỉ cần hoa tiêu giữ cho bóng của cột buồm luôn trùng khít tuyệt đối với vệt sáng bạc ấy, con thuyền sẽ không bao giờ có thể đi lệch ra khỏi hành lang mười trượng!"
Tứ Hải nắm chặt hai bàn tay thành nắm đấm rắn chắc, đôi mắt cậu rực sáng lên ngọn lửa quyết tâm mãnh liệt của một thuyền trưởng thực thụ:
"Vậy thì việc còn lại là trách nhiệm của tôi và con thuyền *Mầm Gió*! Với túi nâng mười sáu lõi khí độc lập và hệ vây lái kép bằng gỗ sồi ngàn năm mà Thợ cả Thiết cùng anh em thợ thuyền Bãi Thuyền Lạc đã dồn hết tâm huyết trang bị cho chúng ta, tôi xin lấy danh dự của một người con xứ biển mây cam đoan sẽ giữ cho con tàu trượt thẳng băng trên sợi chỉ áp suất mỏng manh ấy, dù cho trời đất có sụp đổ nghiêng ngả ở hai bên mạn thuyền!"
Lam Nhi nhìn ba người họ, lồng ngực cô trào dâng một cảm xúc ấm áp vô bờ bến.
Đây không còn là cuộc hành trình đơn độc trong sợ hãi và nước mắt của một đứa trẻ học việc non nớt đi tìm người thân mất tích. Đây là sự hội tụ vĩ đại của tri thức, khoa học thực nghiệm, lòng quả cảm vô song và tình bạn chân thành sâu sắc—sự kết hợp hoàn hảo giữa trực giác tự nhiên hoang dã của chim cánh mây Bông, bản lĩnh hàng hải kiên cường của Tứ Hải, sự chuẩn xác tuyệt đối mang tính hàn lâm của Mai Khuê, hiểu biết sinh thái sâu rộng của Tùng Lâm, và trên hết, là lương tâm cùng đạo đức nghề nghiệp của một Người Giữ Bản Đồ chân chính.
Cô cẩn thận dùng chiếc kẹp bạc mỏng nâng mép tấm Bản Đồ Mây lên khỏi mặt bàn đá hoa cương. Lớp mực phong vũ ánh bạc kỳ ảo nay đã khô se lại dưới làn gió lạnh, in sâu vào từng thớ sợi dệt từ rễ Neo như thể nó đã là một phần máu thịt vĩnh cửu của tấm hải đồ từ ngàn năm trước. Tấm bản đồ giờ đây đã hoàn chỉnh tới chín phần mười, chỉ còn chờ đợi nét vẽ định vị cuối cùng khi mũi con thuyền *Mầm Gió* chạm vào bờ đá thiêng liêng của Đảo Neo.
Lam Nhi cẩn trọng cuộn tấm bản đồ lại thành một ống tròn hoàn hảo, lồng nó vào trong chiếc ống đồng gia truyền của dòng họ Vân Kính, rồi dùng ngón tay ấn mạnh chiếc chốt cơ khí ba khấc, khóa chặt nắp đậy lại bằng một tiếng *cạch* dứt khoát.
"Đi thôi mọi người," Lam Nhi nói, giọng cô vang lên đầy dứt khoát và đĩnh đạc giữa không gian tháp vòm. "Chúng ta phải trở về thuyền chuẩn bị mọi thứ ngay lập tức. Trước khi mùa Gió Lá Xoay kết thúc và cánh cửa Cửa Gió Ngủ khép lại hoàn toàn, chúng ta nhất định phải đưa ông nội trở về nhà."
Cả nhóm khẩn trương thu dọn các dụng cụ trắc đạc, cẩn trọng từng bước chân rời khỏi vòm tháp bát giác cổ kính. Luồng gió lạnh ngút ngàn của Tầng Sáng ùa tới đón chào họ ngay khi bước qua ngưỡng cửa đá, nhưng kỳ lạ thay, không một ai trong số họ còn cảm thấy cái buốt giá cắt da cắt thịt như lúc mới đặt chân lên đài quan trắc nữa. Ánh nắng rực rỡ và ấm áp của giờ Ngọ chiếu rọi rực rỡ con đường lát đá quanh co dẫn xuống bến neo đậu mạn tây, nơi con thuyền *Mầm Gió* đang kiêu hãnh giương cao cánh buồm trắng tinh khôi, bập bềnh uyển chuyển trên biển mây bao la như một cánh chim hải yến kiên cường sẵn sàng cất cánh lao thẳng vào tâm bão.
Khi bước chân của Lam Nhi và các bạn vừa chạm vào những thanh ván gỗ kêu cọt kẹt của cầu cảng treo lơ lửng giữa trời, một âm thanh thanh mảnh, trong trẻo bất ngờ vang lên từ phía mạn thuyền.
*Keng... reng... reng...*
Tiếng chuông gió chế tác từ những vỏ ốc biển hóa thạch treo lủng lẳng ở lan can mạn phải thuyền *Mầm Gió* bỗng rung lên từng hồi rộn rã, báo hiệu có một vật thể lạ đang nương theo luồng đối lưu nhẹ nhàng tiếp cận boong tàu.
Cả nhóm đồng loạt dừng bước chân, đưa mắt nhìn lên bầu trời trong vắt không một gợn mây phía trên mạn thuyền.
Từ hướng đông nam xa xăm—hướng đi thẳng về phía Đảo Lam Bến quê hương—một cánh diều thư tín nhỏ xíu đang chao liệng lướt qua làn mây mỏng. Cánh diều được chế tác vô cùng tinh xảo từ loại vải tơ mây nhuộm màu vỏ hành nhạt, với khung xương uốn bằng tre dẻo vót mỏng hình đôi cánh én đang bay. Phía dưới đuôi diều, một dải lụa xanh biếc bay phấp phới trong gió lộng, mang theo dấu ấn hình hoa cúc biển ba cánh khâu tỉ mỉ bằng chỉ vàng nổi bật—dấu hiệu nhận diện thư tín độc quyền của xưởng dệt mây cảng Lam Bến.
Cánh diều lượn một vòng tròn thanh thoát và duyên dáng trên không trung, rồi từ từ hạ thấp độ cao theo luồng gió đối lưu, đáp êm ru xuống chiếc hòm chứa dây neo trên boong trước của con thuyền *Mầm Gió*.