Lời Mời Cuối Cùng
Mùi trà sấy đượm khói than khinh thạch lan tỏa ấm áp trên boong tàu bọc đồng của Kim Thịnh, đối lập hoàn toàn với cảnh hỗn độn đang được dọn dẹp ngoài sân chợ.
Gió lạnh từ Tầng Mù vẫn rít từng cơn qua những khe sàn gỗ vừa nứt toác, mang theo vị tanh nồng của hơi sương nén và bụi đá vụn. Từng đợt gió xoáy thốc lên từ vực thẳm phía dưới mang theo hơi lạnh buốt thấu xương tủy, cuộn theo những mạt gỗ vỡ nát, những mảnh buồm rách tả tơi cùng những sợi tơ mây đứt đoạn còn vương vãi khắp các bậc thềm của Chợ Gió Bốn Phương. Đâu đó dưới các nhịp dầm chịu lực của bến đậu, tiếng búa sắt nện chan chát vào các cọc neo kim loại rỗng vang lên dồn dập, chen lẫn tiếng thét gọi nhau khản đặc của những toán thợ gia cố dầm sàn. Nhưng ngay bên trong vòng chắn gió bằng đồng thau đánh bóng của soái hạm Kim Phong, không khí tĩnh lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng sôi sủi tăm của ấm nước đặt trên bếp lò dã chiến.
Vách chắn gió bằng đồng dày nửa tấc được tán đinh chữ thập kiên cố, bề mặt phủ lớp dầu cá voi chống bám băng bóng loáng, phản chiếu ánh lửa màu lam nhạt bập bùng phát ra từ buồng đốt khinh thạch nén. Không một ngọn gió lạc nào có thể lọt qua được đường gờ vát cạnh tinh xảo ấy. Sự êm ái đến phi thực của khoang tàu chỉ thỉnh thoảng khẽ gợn lên một rung động cực nhẹ—dấu hiệu cho thấy hệ thống con lắc thăng bằng bằng chì treo ngầm dưới đáy lườn tàu đang tự động triệt tiêu các dao động cộng hưởng từ những luồng xoáy bên ngoài.
Kim Thịnh ngồi xếp bằng trên tấm đệm dạ dày dệt từ lông cừu tuyết xứ lạnh, dáng vẻ khoan thai tự tại như thể trận tai biến vừa xé toạc mạn nam Chợ Gió Bốn Phương chỉ là một đợt sóng gợn thoáng qua mặt hồ thu. Đôi mắt hẹp dài của ông nửa khép nửa mở, giấu kín những tia nhìn sắc bén sau hàng mi rậm đã điểm hoa râm. Phong thái bất biến ấy không phải là sự giả tạo vụng về của kẻ làm bộ, mà là sự trầm ổn được tích tụ qua bốn mươi năm lăn lộn giữa những rãnh nứt tầng mây hiểm trở, nếm trải hàng trăm vụ đắm thuyền và vô số cuộc đấu đá khốc liệt trên thương trường Vân Quốc.
Chiếc áo choàng viền lông chồn của ông gợn nhẹ theo từng luồng nhiệt bốc lên từ lò than. Từng sợi lông thú màu nâu sẫm óng ả lay động khẽ khàng, tựa như một dải cỏ mềm đón gió ấm đầu mùa. Ông nâng chiếc ấm gốm tráng men mỏng với những đường rạn chỉ thiên thanh nhã, chậm rãi rót một dòng nước trà màu hổ phách sóng sánh vào hai chiếc tách đất nung mộc mạc đặt trên chiếc khay gỗ bách xước mép. Dòng nước cong vút như một sợi tơ dẻo, đáp xuống lòng chén mà không để bắn ra dù chỉ một giọt nhỏ, tỏa ra thứ hương thơm thanh khiết, ngai ngái mùi nhựa cây và nồng nàn vị tuyết tan.
"Trà bách tuyết ướp đọt thông non từ sườn bắc Đảo Tiêu Sa đấy," Kim Thịnh khẽ cất giọng, âm vực trầm ấm và đều đặn, không hề có chút phách lối hay thù địch của một kẻ vừa thất thế trong phiên phân xử trước Hội Đồng Chủ Chợ. Giọng nói của ông tựa như tiếng đá mài nhẵn thấu qua lớp sương mù dày đặc, mang một sức nặng vô hình đè ép không gian xung quanh. Ông dùng hai đầu ngón tay khẽ đẩy một tách về phía Lam Nhi. "Uống đi cho ấm phổi, cô bé. Bụi khinh thạch tầng sâu rất độc, hít phải một ngụm là rát buốt cổ họng suốt ba ngày gió. Người của Phường Giữ Bản Đồ các ngươi quanh năm ru rú trong phòng kín đo đạc góc phương vị, phổi mỏng như cánh ve, không quen chịu đựng thứ khí ẩm độc địa bốc lên từ lòng vực đâu."
Lam Nhi ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ bách, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối. Dù cơ bắp toàn thân vẫn còn căng cứng sau màn đu dây tính toán luồng gió cứu chuỗi thuyền buôn, ánh mắt cô gái mười lăm tuổi vẫn không rời khỏi từng cử chỉ của người đàn ông quyền lực nhất Hội Kim Phong. Dưới lớp áo vải gai thô sờn rách ở cùi chỏ, từng thớ thịt bắp tay cô vẫn còn giật nhẹ theo từng nhịp tim dồn dập—dấu vết sót lại của cú ghì dây hãm ngược chiều gió giật suýt nữa xé toạc khớp vai. Chiếc ống đồng bảo vệ tấm Bản Đồ Mây vẫn được cô đeo chéo sau lưng, dây đai tơ mây siết chặt vào bờ vai gầy, chốt khóa then hoa bằng thép sáng bóng tì sát vào xương quai xanh như một lời nhắc nhở thường trực về trách nhiệm thiêng liêng mà cô đang gánh vác.
Cô đón lấy chén trà, khẽ cúi đầu theo phép lịch sự tối thiểu của phường thợ, nhưng không vội uống. Hơi trà nghi ngút bốc lên làm mờ đi một góc gò má lem luốc muội than của cô, phản chiếu trong đáy mắt đen láy một sự cảnh giác sắc lạnh. Những ngón tay của cô, chai sần vì cọ xát với thước gỗ và đá mài mực phong vũ, chỉ khẽ áp vào thành chén bằng đất nung thô ráp để tìm kiếm chút hơi ấm xua đi cái cóng lạnh buốt giá đang gặm nhấm đầu khớp.
"Chủ sự Kim Thịnh mời tôi lên đây hẳn không phải chỉ để thưởng thức trà quý," Lam Nhi điềm tĩnh lên tiếng. Giọng cô trong trẻo nhưng đanh gọn, mang theo sự thận trọng được tôi luyện qua từng thử thách kể từ ngày rời Đảo Lam Bến. Từng âm tiết rơi vào không gian tĩnh mịch của boong tàu tựa như những giọt nước nhỏ đều đặn xuống phiến đá hoa cương, không hề run rẩy, không chút nao núng trước uy thế của người đối diện.
Kim Thịnh khẽ mỉm cười, một nụ cười kín đáo chỉ thoáng hiện nơi khóe môi dày dặn rồi biến mất. Ông nhấp một ngụm nhỏ rồi đặt tách trà xuống chiếc khay gỗ khảm xà cừ phát ra một tiếng "cạch" rất khẽ nhưng dứt khoát. Đôi mắt sắc sảo của ông nhìn thẳng vào mắt cô, ánh lên vẻ suy tư sâu thẳm, như thể đang thẩm định một món hàng cơ khí đắt giá hay một đối thủ cờ gió đầy bất ngờ.
"Biển Mây này quá rộng lớn, Lam Nhi à," ông mở lời, bàn tay khẽ hướng ra khoảng không vô tận phía sau lan can tàu bọc đồng, nơi những tầng mây xám xịt đang cuộn trào dữ dội bên ngoài vách chắn gió. "Rộng lớn, khắc nghiệt và hoàn toàn vô tình. Hàng ngàn hòn đảo trôi nổi bấp bênh như những chiếc lá rụng giữa hồ nước xoáy. Hôm nay một mảng đá ngầm nứt toác vì cạn kiệt Mạch Neo, ngày mai cả một vành đai gió đối lưu đột ngột đổi hướng chôn vùi cả chục làng chài vào biển sương giá buốt. Ngươi có bao giờ tự hỏi, tại sao một thế giới bấp bênh dường ấy lại có thể duy trì được những tuyến buôn bán kéo dài qua hàng chục mùa gió không?"
Không đợi Lam Nhi trả lời, ông tự tiếp lời bằng một giọng ôn tồn, đầy sức thuyết phục của một nhà quản trị lão luyện đã nhìn thấu tận xương tủy cơ chế vận hành của bầu trời:
"Vì trật tự. Biển Mây không thể vận hành bằng lòng tốt bộc phát hay sự lãng mạn ngây thơ của những kẻ thích phiêu lưu. Để duy trì một hành lang gió an toàn từ Đảo Lam Bến đến tận Vườn Hạt Bay, người ta cần hàng vạn dặm cáp thép giằng néo để neo giữ các rạn đá nổi, hàng trăm trạm phao tiêu phát tín hiệu âm thanh ngày đêm không nghỉ để báo hiệu đá ngầm trong sương mù, những đội thuyền kéo túc trực thay ca giữa băng giá buốt xương, và hàng núi khinh thạch làm nhiên liệu đốt cho các trạm hải đăng dẫn lối. Ai sẽ chi trả cho những thứ khổng lồ đó? Phường Giữ Bản Đồ của các ngươi chăng? Hay những hoa tiêu tự do nghèo rớt mồng tơi chỉ chăm chăm lo bữa ăn ngày mai, phó mặc sinh mệnh cho may rủi của những cơn gió thuận?"
Kim Thịnh nghiêng người về phía trước, ánh mắt rực lên niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng của mình—thứ lý tưởng bằng sắt thép và những con số kế toán lạnh lùng:
"Chỉ có Hội Kim Phong. Chỉ có một tổ chức nắm giữ tài lực khổng lồ, sở hữu hệ thống hầm than, xưởng cơ khí và đội tàu công nghiệp như chúng ta mới đủ sức đứng ra gánh vác trách nhiệm rủi ro ấy. Chúng ta khai thác tài nguyên, xây dựng trạm tiêu, bảo dưỡng luồng lạch, và thu phí dịch vụ. Đó là sự trao đổi sòng phẳng và hợp lý nhất để giữ cho cả cái Vân Quốc này không rơi tuột xuống vực thẳm Tầng Mù. Nếu không có những đồng bạc thu phí ấy, lấy đâu ra ba cỗ tàu kéo bọc thép vừa kịp thời ghì giữ chuỗi tám thuyền buôn khỏi miệng hố tử thần cách đây nửa khắc? Nếu không có nguồn lực tập trung, lấy đâu ra những sợi cáp tơ mây chịu lực mười ngàn cân để níu lại mạng sống của hàng trăm con người vừa rồi?"
Lam Nhi khẽ siết nhẹ tách trà trong lòng bàn tay. Sức nóng từ đất nung truyền qua da thịt mang lại cảm giác tê rần nơi đầu ngón tay. Lời lẽ của Kim Thịnh trôi chảy và kín kẽ đến mức nếu là một hoa tiêu non nớt, cô hẳn đã bị cuốn vào cái lý lẽ tưởng chừng vô cùng thực tế ấy. Đó là một logic thép được đúc nên từ lợi ích thực dụng, một tấm lưới bọc nhung che giấu sự tàn nhẫn bên trong bằng vẻ ngoài của sự cứu rỗi trật tự.
"Nhưng cái giá của sự bảo hộ đó," Lam Nhi nhìn thẳng vào mắt ông, giọng cô hạ thấp xuống nửa cung bậc nhưng sắc bén như một lưỡi dao mổ khắc vạch chia độ, "là các ông tự cho mình quyền quyết định ai được sống, ai phải chết trên những tuyến đường gió."
Kim Thịnh không hề nổi giận. Ông không quát tháo, cũng không tỏ vẻ bề trên khinh miệt. Ông chỉ thở dài một tiếng, lắc đầu chầm chậm như thể đang tiếc nuối cho sự bướng bỉnh thơ dại của một đứa trẻ chưa từng nếm trải mùi vị máu và sắt thép của cuộc đời.
"Đó không phải là tước đoạt, mà là kiểm soát rủi ro, cô bé ạ," Kim Thịnh hạ giọng, từng lời nói đanh lại đầy vẻ cảnh báo lạnh lùng. "Ngươi tôn sùng sự tự do chia sẻ tri thức, ngươi muốn bất kỳ ai cũng có thể vẽ và truyền tay nhau những hải trình. Ngươi mơ mộng về một bầu trời nơi người người mở rộng vòng tay trao nhau tọa độ. Nhưng ngươi có biết cái giá của sự tự do vô trách nhiệm là gì không? Thông tin trôi nổi, sai lệch và thiếu kiểm soát còn giết chết nhiều thuyền bè hơn cả những cơn bão mây hung bợn nhất!"
Ông gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn đồng khắc dấu triện của Kim Phong xuống mặt bàn trà bằng gỗ bách, tạo nên những tiếng cộc cộc khô khốc, đanh thép như tiếng đe búa gõ vào sắt lạnh:
"Một hoa tiêu nghèo ky cóp cả đời mới mua được một con thuyền cũ nát, anh ta không đủ tiền mua hải đồ chuẩn có bảo chứng của Kim Phong, liền mua vội một mảnh bản đồ chép tay trôi nổi ngoài chợ trời. Một nét vẽ cẩu thả của một gã học việc dốt nát lệch đi nửa độ góc phương vị, một tọa độ cửa gió ghi sai do áp suất đổi mùa không được hiệu đính... và thế là rầm! Cả con thuyền cùng sinh mạng của năm người lao thẳng vào rạn đá ngầm ngập sét lạnh giữa đêm sương. Máu chảy, thuyền tan, thịt nát xương tan chỉ vì người ta tin vào những nét mực thiếu kiểm chứng được ban phát nhân danh sự 'tự do'!"
Kim Thịnh dừng lại, ánh mắt nhìn Lam Nhi như muốn xuyên thấu tâm can cô, xoáy sâu vào từng ngóc ngách của sự hoài nghi:
"Kiểm soát thông tin chính là cứu mạng họ. Khi Hội Kim Phong nắm quyền vận hành một tuyến gió, chúng ta chịu trách nhiệm bằng tài sản, bằng uy tín và bằng hợp đồng bảo hiểm rủi ro. Ai đi vào luồng của chúng ta sẽ được dẫn đường bằng hoa tiêu có bằng cấp, có phao tiêu định vị chính xác từng trượng gió, có cứu hộ túc trực từng hải lý. Ngươi bảo vệ những kẻ vẽ bản đồ bừa bãi ngoài kia, hay ngươi đang gián tiếp đẩy những người nghèo tin vào họ vào chỗ chết không nhắm mắt?"
Không gian trên boong tàu bỗng chốc chùng xuống nặng trĩu. Gió rít ngoài mạn thuyền như phụ họa thêm cho sự khắc nghiệt trong câu hỏi của Kim Thịnh. Từng luồng gió đập vào vách chắn đồng phát ra tiếng u u rền rĩ, như tiếng than khóc của hàng ngàn linh hồn từng bỏ mạng dưới những tầng mây lạnh buốt.
Lam Nhi im lặng một thoáng. Lồng ngực cô khẽ phập phồng dưới lớp áo vải gai. Ký ức về những đêm ngồi bên bàn vẽ tại xưởng mộc Đảo Lam Bến bỗng ùa về trong tâm trí cô rõ mồn một. Cô nhớ lại hình ảnh ông nội Vân Kính cẩn trọng mài từng thỏi mực phong vũ trong đêm khuya, nắn nót từng vạch chia độ bằng kính lúp thạch anh dưới ánh đèn dầu hạt cải leo lét. Cô nhớ cả nỗi ân hận bỏng rát khi chính cô từng vì cẩu thả mà gạt gãy cây thước đo góc bằng sừng, từng vì tự phụ mà sửa sai một con số áp suất để bài tập đo đạc trông có vẻ trơn tru hoàn hảo, để rồi bị ông phạt quỳ trước bàn thờ tổ nghề suốt một đêm gió bão.
Sai số không phải là trò đùa. Một nét mực lệch là một mạng người chìm vào vực thẳm. Lời Kim Thịnh nói có một phần sự thật tàn nhẫn mà bất kỳ người cầm bút vẽ bản đồ nào cũng phải run rẩy thừa nhận.
Cô hít một hơi thật sâu theo kỹ thuật thở ba nhịp mà Đội trưởng Hạ Vũ đã dạy khi đu mình giữa tâm bão, để luồng khí lạnh tràn ngập buồng phổi rồi chầm chậm thở ra qua kẽ răng, giữ cho tâm trí hoàn toàn tĩnh tại như mặt hồ không gợn sóng. Ánh mắt cô trong trẻo trở lại, không còn một gợn dao động.
"Chủ sự Kim Thịnh nói không sai," Lam Nhi ngẩng đầu lên, ánh mắt trong veo không chút né tránh, nhìn thẳng vào con ngươi hổ phách của vị thương nhân lão luyện. "Sai số trôi nổi là có thật. Sự cẩu thả trong đo đạc và những tấm bản đồ chép tay thiếu kiểm chứng quả thực là lưỡi dao giấu trong sương mù, có thể chém đứt sinh mạng của bất kỳ ai đặt trọn niềm tin vào chúng."
Kim Thịnh khẽ nhướng mày, có phần bất ngờ trước sự thừa nhận thẳng thắn và không chút giảo biện ấy. Đôi mày rậm của ông khẽ giãn ra, nhưng nét mặt ông nhanh chóng chuyển sang vẻ đăm chiêu nặng nề khi nghe những lời tiếp theo của cô bé học việc.
"Nhưng phương thuốc mà Hội Kim Phong đưa ra còn độc hại hơn cả căn bệnh," Lam Nhi dõng dạc nói, từng từ ngữ được phát ra rõ ràng, khúc chiết, mang theo nhịp điệu dứt khoát của một người thợ đóng tàu đang gõ từng chốt then vào khung gỗ. "Để ngăn chặn thông tin sai lệch, các ông lại chọn cách độc chiếm toàn bộ tri thức. Các ông mua đứt các trạm phao tiêu công cộng vốn do tiền thuế của các đảo đóng góp, cố tình dùng mìn khinh thạch nổ sập những hang đá kín gió tự nhiên để triệt tiêu nơi trú ẩn tự do. Các ông bóp nghẹt các hành lang cứu hộ công cộng quanh Cửa Gió Ngủ, giăng xích sắt và đặt trạm kiểm soát để ép mọi con thuyền buôn nhỏ bé phải chui vào cái lồng thu phí cắt cổ của các ông!"
Cô đặt mạnh chén trà xuống bàn, tiếng đất nung va vào mặt gỗ bách vang lên một tiếng "cốp" giòn tan. Nước trà bên trong sóng sánh kịch liệt, tạo thành những vòng xoáy nhỏ phản chiếu ánh lửa lò than, nhưng không hề sánh ra ngoài dù chỉ một giọt:
"Mười một con thuyền mất tích ngoài kia trong tuần trăng vừa qua không phải chết vì tin vào bản đồ giả của chợ trời, Chủ sự Kim Thịnh ạ! Họ chết vì cửa tránh bão duy nhất ở mỏm Đá Cắt đã bị người của các ông gắn biển cấm và niêm phong bằng xích sắt công nghiệp! Họ không đủ tiền mua lệnh bài thông hành của Kim Phong, nên họ buộc phải liều mình lao vào rìa bão Tầng Mù để tìm đường sống, rồi bị gió xoáy nuốt chửng!"
Lam Nhi đứng thẳng người dậy, hai vai mở rộng, bóng cô in nghiêng trên vách đồng dưới ánh lửa bập bùng:
"Bầu trời này không do Hội Kim Phong tạo ra, gió đối lưu cũng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ phường buôn nào. Đường sinh mạng của muôn dân trên Biển Mây tuyệt đối không thể biến thành tài sản tư nhân để các ông mặc cả, ra giá và trục lợi trên nỗi sợ hãi của người khác! Khi các ông biến sự an toàn thành một món hàng xa xỉ phẩm chỉ dành cho kẻ giàu, thì chính sự độc quyền của các ông mới là thứ đẩy người nghèo vào chỗ chết!"
"Vậy ngươi định làm thế nào?" Kim Thịnh cười nhạt, một nụ cười pha lẫn vẻ hoài nghi sâu sắc và sự thách thức ngấm ngầm của một kẻ đã chứng kiến quá nhiều cuộc cải cách thất bại. "Phường Giữ Bản Đồ của các ngươi thì sao? Bảo thủ, cứng nhắc, tôn ti trật tự đến mức mục ruỗng! Họ bưng bít sai số của Đài Sao Dẫn Lộ suốt mười năm ròng chỉ để giữ thể diện cho các bậc trưởng lão, thà để các thuyền thám hiểm lạc lối chứ không chịu thừa nhận trục kinh tuyến trời đã bị lệch hai mươi giây hồ quang! Còn dân hoa tiêu tự do thì hỗn loạn, manh mún, ai biết việc nấy, sẵn sàng chém giết nhau vì một luồng gió xuôi. Nếu không để một tổ chức có thực lực, có kỷ luật thép và nguồn vốn khổng lồ như Kim Phong quản lý, Biển Mây này sẽ chỉ là một bãi tha ma khổng lồ trôi dạt vô định giữa hư không!"
"Sẽ có một cách khác," Lam Nhi đáp, giọng nói cô sáng lên một niềm tin mãnh liệt, thứ niềm tin không hề bắt nguồn từ ảo tưởng viển vông, mà được chắt lọc từ chính những giọt mồ hôi, vết trầy xước và những chặng đường gian nan cô đã đi qua. "Từ những gì tôi đã thấy tại Thư Viện Phi Diệp, từ nghi thức Niêm Phong Mở mà thủ thư Diệp Thanh đã đánh đổi cả đời để gìn giữ, và từ chính sự hợp tác đo đạc vừa qua giữa tôi và học viên Mai Khuê trên quảng trường lộng gió kia."
Lam Nhi vươn tay, ngón trỏ khẽ nhúng vào giọt nước trà sóng sánh trên miệng tách, rồi chậm rãi vạch lên mặt bàn gỗ phẳng lì những đường nét rành mạch:
"Chúng ta không cần một kẻ độc quyền cai trị bầu trời để mua lấy trật tự giả tạo, cũng không thể thả nổi cho sự cẩu thả tự tung tự tác tàn phá sinh mạng. Chúng ta cần một Kho Bản Đồ Mở—một nơi lưu trữ tri thức hàng hải thuộc về toàn thể cư dân Vân Quốc. Bất kỳ hoa tiêu nào, dù giàu hay nghèo, dù sở hữu soái hạm bọc thép triệu lạng bạc hay chỉ chèo chống một con thuyền nan vỏ cói mỏng manh, đều có quyền bình đẳng được tiếp cận các tuyến cứu hộ, các tọa độ phao tiêu và dự báo biến đổi luồng gió."
"Một kho lưu trữ công cộng?" Kim Thịnh nhíu mày, nét hoài nghi trên mặt càng đậm hơn. "Và rồi biến nó thành một cái bãi rác vô chủ, nơi bất kỳ kẻ say rượu nào cũng có thể vẽ bậy lên đó rồi xưng danh hải trình sao?"
"Không hề," Lam Nhi lắc đầu dứt khoát, ngón tay cô vạch một đường thẳng tắp chia đôi giọt nước trà trên mặt bàn. "Đó là một kho bản đồ mở, nhưng phải có quy trình kiểm chứng độc lập nghiêm ngặt trước khi bất kỳ nét vẽ nào được khắc lên mộc bản in ấn. Một tuyến gió mới, một điểm bão mới hay một tọa độ rạn đá ngầm muốn được công nhận và lưu trữ chính thức phải trải qua ba lớp đối chiếu độc lập, không một bên nào được phép vượt quyền bên nào."
Cô chấm ngón tay xuống ba điểm trên mặt gỗ, tạo thành một hình tam giác cân hoàn hảo:
"Thứ nhất là số liệu thực nghiệm từ những hoa tiêu đi thực tế ngoài biển mây như Tứ Hải—những người trực tiếp chạm tay vào bánh lái, cảm nhận độ trĩu của cánh buồm và ngửi thấy mùi mặn của hơi ẩm trước khi bão ập tới. Thứ hai là sự giám sát quy chuẩn, đối chiếu sai số khoa học bằng toán học chính xác từ những người được đào tạo bài bản trong học viện như Mai Khuê và Phường Giữ Bản Đồ—những người có thước đo góc, có bảng tính logarit và hiểu rõ sự trôi dạt của các chòm sao. Và thứ ba, đó là sự chứng thực khí tượng trung lập từ Đội Chuông Bão—những người lính gác bầu trời độc lập, không màng lợi nhuận buôn bán, chỉ chuyên tâm đo áp suất và cảnh báo hiểm nguy."
Lam Nhi vẽ một vòng tròn khép kín bao quanh ba điểm nút trên vệt nước trà, ánh mắt cô rực rỡ một tầm nhìn vượt xa tuổi mười lăm của một cô bé học việc:
"Mọi sai số phát hiện được phải được công khai ghi chú rõ ràng ở mép lề bản đồ chứ không được phép cạo xóa hay che giấu vì bất kỳ lý do thể diện nào. Khi tri thức được kiểm chứng chéo bởi nhiều bên độc lập và được chia sẻ minh bạch cho toàn bộ cộng đồng, không một kẻ nào—dù quyền lực như Kim Phong hay lâu đời như Phường Giữ Bản Đồ—có thể bóp méo thông tin để trục lợi hay che đậy sự yếu kém. Và khi ấy, cũng không một hoa tiêu nghèo nào phải bỏ mạng vì những nét vẽ vu vơ của chợ trời. Sự an toàn thực sự không bao giờ đến từ việc giam cầm tri thức trong két sắt bằng thép của Hội Kim Phong, mà đến từ việc biến mọi người đi biển thành những người cùng bảo vệ, kiểm chứng và hiệu đính sự thật!"
Căn phòng chỉ huy trên soái hạm bỗng rơi vào một khoảng lặng sâu hoắm.
Tiếng xả hơi nước xì xì đều đặn từ buồng động cơ phụ phía dưới đáy tàu vang lên như một nhịp đập cơ khí trầm buồn, nhẫn nại. Mùi than khinh thạch cháy chậm trong lò sưởi tỏa ra một thứ hơi ấm khô khốc. Kim Thịnh ngồi bất động như một bức tượng đồng đen. Tách trà trên tay ông đã nguội ngắt từ lúc nào, mặt nước trà phủ một lớp váng mỏng manh. Đôi mắt sắc lạnh thường ngày của vị chủ sự đầy toan tính giờ đây mở lớn, nhìn chằm chằm vào cô bé học việc trước mặt, rồi nhìn xuống hình tam giác nước đang bốc hơi chầm chậm trên mặt bàn gỗ bách.
Ông thấy ở Lam Nhi không phải là sự ngây thơ bồng bột của một đứa trẻ mới bước chân ra giang hồ, cũng không phải sự cuồng tín mù quáng của những kẻ mộng mơ cách mạng. Ở cô bé này có một tư duy hệ thống sắc sảo đến kinh ngạc, một sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất của nghề giữ bản đồ kết hợp với một trái tim nhân hậu, kiên định lạ thường. Mô hình tam giác kiểm chứng độc lập mà cô vừa phác thảo—sự kết hợp giữa thực chứng hoa tiêu, quy chuẩn học viện và giám sát độc lập—chính là nhát búa bổ thẳng vào điểm nghẽn lịch sử mà cả Vân Quốc đang bế tắc suốt hàng thập kỷ qua giữa hai thái cực: sự độc quyền tham lam của tư bản thương nghiệp và sự suy đồi bảo thủ của các phường hội truyền thống.
Kim Thịnh khẽ thở dài một hơi dài, một tiếng thở như trút bỏ gánh nặng của hàng chục năm toan tính mệt mỏi. Ông chậm rãi đặt tách trà nguội xuống khay. Khóe môi ông khẽ giật giật, lộ ra một nụ cười nửa cay đắng nửa thán phục—thứ cảm xúc hiếm hoi mà suốt hai mươi năm qua chưa một đối thủ thương trường nào có thể khơi gợi được từ ông.
"Kho Bản Đồ Mở có kiểm chứng độc lập..." ông lẩm bẩm, âm điệu như nhấm nháp từng chữ một, ánh mắt nhìn vào vòng tròn nước đang dần tan biến vào thớ gỗ. "Ngươi thực sự... giống hệt như ông nội ngươi năm xưa. Luôn nhìn thấy bầu trời của toàn dân, luôn mơ về một cõi mây nơi cánh buồm không bị trói buộc bởi những trạm thu phí, trong khi những kẻ như ta chỉ nhìn thấy những tuyến đường độc đạo và những đồng bạc thu phí chất đầy khoang."
Kim Thịnh đưa bàn tay thô ráp vào túi áo trong của chiếc áo choàng lông chồn. Các ngón tay ông khẽ chạm nhẹ vào một vật thể hình tròn bằng đồng thau đã mòn vẹt các góc cạnh—chiếc la bàn kỷ vật cũ kỹ thời niên thiếu mà chính tay Vân Kính từng căn chỉnh và trao tặng ông trước chuyến viễn chinh đầu tiên.
"Ba mươi năm trước," giọng Kim Thịnh chùng xuống, mang theo một nỗi niềm hoài niệm xa xăm, đượm màu tro tàn của những năm tháng thanh xuân đã bị chôn vùi dưới băng tuyết, "trên đỉnh Đảo Lạc Lối, giữa cơn bão tuyết xé nát cánh buồm của chuyến thám hiểm khảo sát chung đầu tiên giữa ta và Vân Kính, ta đã trượt chân rơi xuống khe nứt khinh thạch sâu hơn bốn mươi trượng. Nhiệt độ âm sâu làm đông cứng cả máu trong huyết quản, tĩnh điện tầng sâu giật liên hồi làm nổ tung các đồng hồ đo áp suất. Đôi găng tay da của ta đã rách bươm, mười đầu ngón tay dính chặt vào vách đá phủ băng và ta đã buông xuôi chờ chết."
Ông ngước mắt lên nhìn Lam Nhi, ánh nhìn giờ đây không còn sự đối đầu sắc lạnh hay sự tính toán thiệt hơn của một chủ sự phường buôn, mà đượm một vẻ phức tạp khôn lường của ân tình, sự ân hận và niềm tiếc nuối:
"Chính Vân Kính đã liều mạng lao xuống. Ông ấy không thèm tính toán đến tỷ lệ sống sót, dùng chính sợi dây an toàn duy nhất của mình buộc chặt vào người ta, rồi một tay bám đá, một tay cõng ta leo từng bậc đá trơn trượt giữa luồng gió xoáy xé thịt suốt bốn khắc gió dài như cả thế kỷ để đưa ta trở lại boong tàu. Khi lên đến nơi, lưng ông ấy nát bấy vì va đập vào đá nhọn, nhưng miệng vẫn cười bảo rằng bản đồ chưa vẽ xong thì hoa tiêu chưa được phép chết."
Kim Thịnh thở hắt ra, ánh mắt chớp nhẹ:
"Ta nợ ông ấy một mạng sống. Và trong đêm bão tuyết đó, bên cạnh đống lửa cháy dở từ mảnh buồm rách, ta cũng nợ ông ấy một lời hứa danh dự rằng sẽ không bao giờ để ngọn đèn khảo sát của Xưởng Lam Bến bị dập tắt giữa Biển Mây. Đó là lý do tại sao ở Thư Viện Phi Diệp, ta đã để mặc cho các ngươi mang tài liệu rời đi mà không hạ lệnh phong tỏa toàn bộ cầu tàu. Đó cũng là lý do tại sao ta không muốn thấy ngươi—cháu gái duy nhất của người bạn cũ năm nào—phải bỏ mạng một cách mù quáng giữa những dòng xoáy tử thần của Tầng Mù."
Kim Thịnh đứng dậy. Vóc dáng to lớn của ông phủ bóng xuống mặt bàn trà. Ông bước chầm chậm đến bên chiếc bàn hải đồ bằng gỗ lim sẫm màu đặt ở góc phòng chỉ huy. Trên mặt bàn trải rộng những tấm bản đồ thời tiết vi khí hậu phức tạp, được vẽ bằng thứ mực phát quang màu hổ phách lập lòe như đom đóm trong bóng tối. Bằng những ngón tay dứt khoát, ông lật mở một ngăn kéo bí mật có khóa cơ khí ba nấc dưới đáy bàn, rút ra một mảnh giấy da nhỏ.
Mảnh giấy da chỉ bằng bàn tay, được cắt góc tinh xảo theo hình bát giác, mép giấy bọc một viền bạc mỏng để chống ẩm. Trên bề mặt giấy chằng chịt những đường đẳng áp xoắn ốc kỳ dị, co cụm lại với mật độ dày đặc bất thường, bao quanh một khoảng trống trơn nhẵn hình phễu ở chính giữa.
Ông quay lại, bước đến trước mặt Lam Nhi, chậm rãi đặt mảnh giấy da ấy ngay ngắn trước mặt cô.
"Đây là gì?" Lam Nhi thận trọng hỏi. Dù lòng dâng lên một đợt sóng tò mò, cô vẫn không vội vã đưa tay cầm lấy mà chỉ cúi đầu quan sát kỹ lưỡng. Ngay lập tức, xúc giác nhạy bén ở đầu ngón tay cô khi khẽ lướt gần bề mặt đã cảm nhận được độ rung vi mô của lớp mực—đó là loại mực phong vũ thượng hạng pha khoáng chất dẫn từ khai thác từ các thiên thạch tầng cao, có khả năng ghi lại những chấn động khí quyển và từ trường cực kỳ tinh vi mà mắt thường không thể thấy.
"Một bản đồ vi khí hậu ghi lại dải lặng gió bất thường tại Cửa Gió Ngủ," Kim Thịnh trầm giọng đáp, từng chữ phát ra đều nặng trĩu thông tin cơ mật. "Đội tàu khảo sát sâu của Hội Kim Phong đã mất ba tháng gió, tiêu tốn hơn bốn ngàn cân than khinh thạch loại một và hy sinh mất hai khinh khí cầu thăm dò bọc thép mới đo đạc được vùng ranh giới tử thần này. Ở đó, các luồng gió đối lưu ấm áp từ Tầng Hành Trình đổ xuống và luồng khí lạnh cực nén từ Tầng Mù thốc lên triệt tiêu lẫn nhau hoàn toàn. Chúng tạo ra một vành đai chết không có một gợn gió, rộng hơn mười hải lý, nằm vắt ngang họng vực như một cái nắp cống khổng lồ."
Lam Nhi nín thở, đôi mắt dán chặt vào các đường xoắn ốc trên mảnh giấy. Bằng kiến thức hình học không gian và khí động học đã được ông nội rèn giũa suốt mười năm, cô lập tức giải mã được những ký hiệu kỳ lạ:
"Một túi chân không đối lưu... Áp suất hai chiều triệt tiêu nhau khiến cánh buồm mất hoàn toàn lực nâng khí động..."
"Đúng vậy," Kim Thịnh gật đầu xác nhận. "Thuyền buồm thông thường đi vào đó sẽ rơi vào trạng thái 'chết gió' tuyệt đối. Không có lực đẩy, không có dòng chảy tầng, toàn bộ hệ thống vây lái trở thành những khúc gỗ vô dụng. Thuyền sẽ bị mắc kẹt vĩnh viễn giữa tầng mây lơ lửng cho đến khi cạn kiệt lương thực, nước ngọt, và khí ẩm acid của Tầng Mù gặm nhấm làm rỉ sét toàn bộ khung giằng thép, khiến con tàu tự vỡ vụn rồi rơi tự do xuống đáy vực không đáy."
Lam Nhi ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc như gươm nhìn thẳng vào vị chủ sự của Hội Kim Phong:
"Tấm bản đồ này là tài liệu tuyệt mật cấp một của đội khảo sát Kim Phong. Tại sao ông lại đưa thứ này cho tôi?"
Kim Thịnh mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi không mang chút mùi vị kim tiền, mà là sự chân thành đầy kiêu hãnh của một đối thủ học thuật lão luyện:
"Xem như đây là một cử chỉ tôn trọng danh dự dành cho một đối thủ xứng tầm. Ngươi đã chứng minh được bản lĩnh của mình trong phiên phân xử vừa qua, và quan trọng hơn, ngươi đã dùng chính đôi mắt tinh tường cùng khối óc của mình để cứu mạng chuỗi thuyền buôn trong tai nạn vừa rồi. Tấm bản đồ này không phải là một ân huệ bố thí, Lam Nhi ạ. Nó là một sự thách đố."
Ông lùi lại một bước, hai tay chắp sau lưng, phong thái ngạo nghễ của người đứng đầu một đại phường hội lại hiện rõ trên từng đường nét gương mặt:
"Ta muốn xem, một người tôn thờ tri thức mở như ngươi, chỉ với một con thuyền gỗ nhỏ bé rách nát và một gã hoa tiêu ngỗ ngược vừa bị tước bằng lái, làm thế nào để vượt qua được dải lặng gió chết tiệt đó—nơi mà ngay cả hạm đội tàu hơi nước bọc thép hiện đại nhất của Kim Phong với những cỗ máy bốn ngàn mã lực cũng từng phải chùn bước và chịu tổn thất nặng nề."
Ông hất cằm về phía mảnh giấy da bát giác:
"Hãy cầm lấy nó. Mang theo ngọn lửa của Xưởng Lam Bến đi tiếp con đường của ngươi. Tìm cho ra Vân Kính, và hoàn thành cái kho bản đồ mở trong mơ của ngươi đi, Lam Nhi. Đừng để ta phải nghe tin cháu gái duy nhất của người bạn cũ năm nào trở thành một cái xác ướp đóng băng trôi dạt vô định giữa Tầng Mù lạnh giá."
Lam Nhi im lặng nhìn Kim Thịnh trong giây lát. Trong đáy mắt người đàn ông này, cô nhìn thấy một tấm bi kịch quen thuộc của Biển Mây: sự mâu thuẫn giằng xé sâu sắc giữa tham vọng quyền lực cơ giới hóa, những toan tính lạnh lùng của một đế chế thương mại và những tàn dư sót lại của đạo đức hoa tiêu chân chính thời trai trẻ.
Cô không nói thêm lời thừa thãi. Lam Nhi cẩn thận nhấc mảnh giấy da lên, kiểm tra mép viền bạc rồi cuộn tròn lại theo đúng kỹ thuật bảo quản hải đồ. Cô mở chiếc túi đồ nghề gia truyền bằng da cá voi đeo bên hông, cẩn thận đặt cuộn giấy vào ngăn chống ẩm lót nhung đỏ, gài chặt then đồng.
Xong xuôi, cô đứng thẳng người, lùi lại nửa bước, đặt tay phải lên ngực áo ngang vị trí trái tim, rồi cúi đầu chào trang trọng theo đúng nghi lễ cổ xưa nhất của những người thợ đo đạc bản đồ Vân Quốc:
"Cảm ơn Chủ sự Kim Thịnh. Dữ liệu này sẽ được kiểm chứng nghiêm ngặt. Và khi con đường xuyên qua Cửa Gió Ngủ được mở ra, hải trình đó sẽ không thuộc về riêng tôi, cũng không thuộc về Hội Kim Phong, mà nó sẽ được khắc lên mộc bản công khai để thuộc về tất cả những ai dám giương buồm trên Biển Mây này."
Kim Thịnh khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên một tia sáng kỳ lạ. Ông không nói thêm một lời nào nữa, chỉ khẽ phất tà áo choàng viền lông chồn, quay lưng bước về phía bàn hải đồ lim sẫm màu, ra hiệu tiễn khách trong im lặng.
***
Rời khỏi soái hạm bọc đồng của Hội Kim Phong, Lam Nhi rảo bước thật nhanh qua những sàn gỗ còn vương đầy mảnh vụn của bến cảng Chợ Gió Bốn Phương.
Bầu không khí bến bãi vẫn sặc sùi mùi khói than đá, mùi gỗ thông mới cưa và mùi hôi nồng của dầu máy chống rỉ. Tiếng cưa đục ken két vang lên từ khắp các góc sàn, tiếng búa gõ đanh thép của những toán thợ đang khẩn trương đóng đinh gia cố các dầm neo bị nứt sau chấn động. Dòng người buôn bán, phu khuân vác và những gia đình thuyền chài đang hối hả chuyển các kiện hàng lương thực, nước ngọt và các thùng mỡ cá voi lên những con thuyền còn nguyên vẹn. Ai nấy đều tất bật, vẻ mặt căng thẳng trước những hồi chuông báo động áp suất thấp vẫn thỉnh thoảng gióng lên từng hồi trầm đục từ đài quan sát trung tâm.
Khi Lam Nhi rẽ qua góc cầu tàu số chín—nơi sàn gỗ được ghép từ những phiến gỗ lim dày cắm sâu vào các khối đá nổi—hình ảnh con thuyền *Mầm Gió* hiện ra trước mắt khiến lồng ngực cô bỗng chốc nhẹ bẫng, một luồng hơi ấm dịu dàng xua tan đi cái lạnh lẽo của Tầng Mù.
Con thuyền dài ba trượng với túi nâng tơ mây ba lớp thon dài như một quả lê rừng đã được dọn dẹp sạch sẽ tinh tươm. Bụi bặm và các mảng bồ hóng từ vụ nổ lò than ban nãy đã được cọ rửa cẩn thận. Trên boong trước, Tứ Hải đang dùng cánh tay trái lành lặn và những ngón tay của bàn tay phải đang quấn băng trắng toát để kiểm tra lại các khớp xoay đồng trục của hệ thống vây lái kép. Dù mỗi cử động mạnh vẫn khiến cậu nhăn mặt vì cơn đau nhức nhối nơi bắp tay—hậu quả của cú trượt cáp nghẹt thở cứu người lúc nãy—nhưng nét mặt của cậu thiếu niên mười sáu tuổi không còn một chút ủ dột hay mặc cảm tội lỗi nào như lúc đứng trước vành móng ngựa của Hội Đồng Chủ Chợ.
Thay vào đó, đôi mắt Tứ Hải sáng ngời, ngập tràn sự tập trung cao độ và niềm kiêu hãnh của một người vừa tìm lại được danh dự và vị thế của mình không phải bằng những lời van xin, mà bằng chính hành động thực tế và lòng quả cảm phi thường.
Ở mạn thuyền bên kia, cô Tùng Lâm đang lom khom bên các giá gỗ trắc, cẩn thận kiểm tra các giá treo chậu ươm giống hạt chuông gió vừa tiếp nhận từ đại diện của Vườn Hạt Bay. Chiếc áo khoác dã chiến bằng vải bạt của bà lấm lem bùn đất hữu cơ và dính đầy những vệt nhựa cây ngân sương màu trắng sữa, nhưng đôi mắt sau cặp kính bảo hộ tròn xoe lại rực sáng lên niềm say mê học thuật mãnh liệt. Bà dùng một chiếc kẹp đồng nhỏ nhẹ nhàng gạt từng lớp rêu giữ ẩm quanh các mầm rễ Neo cổ, miệng lẩm bẩm tính toán các chỉ số nén khí sinh học với vẻ mặt vô cùng đắc ý.
Trên đỉnh xà buồm chính bằng gỗ bách dẻo dai, chim Bông đang đậu vắt vẻo, chiếc mỏ cứng cáp màu ngà đang chăm chú rỉa lại từng chiếc lông cánh tơ mây mượt mà. Chiếc vòng đá bọt Mạch Neo màu xanh ngọc bích đeo dưới cổ nó khẽ phát ra những xung ánh sáng lân tinh nhè nhẹ, nhấp nháy theo một nhịp điệu kỳ lạ mỗi khi có một luồng gió lạnh từ đáy vực sâu thổi thốc qua các khe hở sàn bến.
Vừa thấy bóng dáng Lam Nhi bước nhanh tới đầu cầu ván, Bông lập tức ngừng rỉa lông, ngẩng cao chiếc đầu tròn xoe rồi cất tiếng kêu "Kroo... kroo!" lảnh lót vang dội khắp cầu tàu. Nó dang rộng đôi cánh tơ mây trắng muốt, lượn một vòng bán nguyệt mềm mại trên không trung rồi sà xuống, đáp nhẹ như một túm bông gòn ngay trên bờ vai bọc giáp da của Lam Nhi. Chiếc mỏ nhọn ấm áp cọ liên hồi vào vành tai cô như một lời chào mừng đầy vẻ hân hoan.
"Thế nào rồi, Bản đồ trưởng của chúng ta?" Tứ Hải ngẩng đầu lên khỏi hộp số lái, dùng mu bàn tay lành lặn quệt ngang vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, nở một nụ cười ranh mãnh quen thuộc nhưng ánh mắt lại chan chứa sự tôn trọng tuyệt đối. "Lão cáo già Kim Thịnh có ép cậu ký vào bản giao kèo bán linh hồn nào nữa không? Hay lão lại đem mấy cái hòm bạc ra để mua đứt cây thước đo góc của cậu đấy?"
Lam Nhi khẽ mỉm cười, bước từng bước vững chãi lên tấm ván gỗ bắc ngang mạn thuyền. Cô tháo chiếc ống đồng đựng Bản Đồ Mây ra khỏi vai, đặt cẩn thận vào giá kẹp an toàn trên bàn định vị trung tâm, rồi vỗ nhẹ vào chiếc túi đồ nghề bên hông:
"Chủ sự Kim Thịnh không ép được chúng ta điều gì cả. Ngược lại, chúng ta vừa có được một mảnh ghép cực kỳ quan trọng cho hải trình sắp tới: tấm bản đồ vi khí hậu ghi lại toàn bộ cấu trúc của dải lặng gió tại Cửa Gió Ngủ."
Nghe thấy ba chữ "dải lặng gió", cô Tùng Lâm lập tức buông chiếc kẹp đồng, ngẩng phắt đầu dậy. Đôi mắt sau tròng kính bảo hộ tròn xoe đầy kinh ngạc:
"Dải lặng gió? Cửa Gió Ngủ thực sự tồn tại hiện tượng triệt tiêu đối lưu sao? Trời đất quỷ thần ơi! Nếu các dòng khí đối lưu ấm và lạnh thực sự triệt tiêu lẫn nhau thành một vùng chân không động học, thì hệ rễ của cây túi khí và các mẫu hạt chuông gió mà chúng ta mang theo từ Vườn Hạt Bay sẽ chính là chìa khóa sống còn duy nhất!"
Bà vội vã kéo chốt kính bảo hộ lên trán, chỉ tay vào những bình thủy tinh chứa đầy chất lỏng màu lục nhạt đang sủi bọt khí li ti:
"Trong một vùng chết hoàn toàn không có gió, các cánh buồm thông thường chỉ là phế phẩm, và ngay cả chân vịt chạy bằng động cơ đốt cũng sẽ bị quá nhiệt vì thiếu dòng tản nhiệt tự nhiên! Nhưng chênh lệch áp suất sinh học bên trong các tế bào túi khí hydro tự nhiên của rễ Neo cổ sẽ tạo ra một lực đẩy phản lực cực nhỏ nhưng vô cùng ổn định. Nó hoạt động như một hệ hô hấp nhân tạo, đủ để đẩy một con thuyền có khung giằng siêu nhẹ như *Mầm Gió* trôi chầm chậm xuyên qua dải lặng gió mười hải lý đó!"
"Chính xác là như vậy," Lam Nhi gật đầu, ánh mắt ánh lên sự phấn chấn và niềm tin mãnh liệt vào khoa học thực nghiệm. "Dữ liệu của Kim Thịnh cung cấp các thông số áp suất ở từng tầng biên, kết hợp với các mẫu vật sinh học của cô Tùng Lâm, chúng ta hoàn toàn có thể vạch ra một đường thoát hiểm an toàn."
Cô quay sang nhìn Tứ Hải, giọng điệu chuyển sang vẻ nghiêm túc của một người chỉ huy hải trình:
"Tình trạng thuyền thế nào rồi, lái phụ Tứ Hải?"
Nghe thấy hai từ 'lái phụ'—danh xưng chính thức theo phán quyết kỷ luật tạm thời của Hội Đồng Chủ Chợ—Tứ Hải không hề tỏ ra bực bội hay tự ái. Ngược lại, cậu thiếu niên ưỡn thẳng ngực, đứng nghiêm trang bên cạnh trục bánh lái:
"Báo cáo người giám sát Lam Nhi! Túi nâng đã nạp đầy khí ấm hydro-khinh thạch từ lò đốt chợ nổi, áp suất đạt mức ba mươi hai pound trên mỗi inch vuông, hoàn toàn cân bằng với tải trọng boong. Khung giằng gỗ thông dát mỏng đã được nẹp gia cố thêm hai thanh nẹp thép tôi dầu chịu lực ở mạn sườn phải. Vây lái đôi phản ứng cực kỳ nhạy bén, các khớp đồng trục đã được bơm đầy mỡ cá voi chống đông. Dù hiện tại tôi chỉ được phép lái bằng một tay rưỡi, nhưng tôi xin đem danh dự của một cựu học viên xuất sắc ra cam đoan: tôi sẽ lướt *Mầm Gió* trượt qua bất kỳ khe hẹp hay rãnh gió hiểm hóc nào mà cậu chỉ điểm trên hải đồ!"
"Rất tốt," Lam Nhi mỉm cười đầy tin cậy. Nụ cười của cô như tiếp thêm một luồng sinh khí mới cho cả con thuyền. "Chúng ta không thể nán lại Chợ Gió Bốn Phương lâu hơn nữa. Những chấn động đứt gãy từ khối đảo vụn ban nãy và sự nhấp nháy bất thường của chiếc vòng Mạch Neo trên cổ chim Bông cho thấy các dòng chảy sâu đang suy thoái ngày càng nhanh. Các biến động rạn nứt có thể kéo sập toàn bộ hệ thống neo bến cảng này trong vòng ba ngày gió tới. Chúng ta phải nhổ neo ngay bây giờ."
"Đã rõ! Chuẩn bị rời bến!" Tứ Hải lập tức chuyển sang trạng thái hành động khẩn trương. Cậu thoăn thoắt dùng đôi chân nhanh nhẹn kẹp chặt cọc tời, phối hợp nhịp nhàng với bàn tay trái lành lặn để mở các nút dây chão tơ mây đang buộc chặt vào cọc bến bằng đá. Tiếng dây thừng bện cọ xát vào bề mặt gỗ thông ken két vang lên giòn giã, dứt khoát.
"Cô Tùng Lâm, khóa chặt các chốt hộp mẫu vật và van xả áp suất sinh học!" Tứ Hải hô lớn qua tiếng gió rít. "Lam Nhi, giữ chắc giá kẹp bàn định vị!"
Cô Tùng Lâm nhanh thoăn thoắt bấm các chốt khóa then đồng trên nắp kính bảo vệ mẫu rễ Neo cổ và các khay hạt giống chuông gió, đảm bảo không một giọt dịch dưỡng chất nào có thể sánh ra ngoài khi thuyền đổi góc nghiêng. Trong khi đó, chim Bông cất tiếng kêu ngắn sắc gọn rồi vỗ cánh bay vút lên đỉnh cột buồm cao nhất. Nó xòe rộng đôi cánh đón lấy những sợi chỉ áp suất vô hình đang đan chéo trong không trung, nghiêng đầu làm chuẩn tiêu phương hướng cho con thuyền.
"Bung buồm phụ! Đón luồng gió lượn!" Lam Nhi ra lệnh, ánh mắt dán chặt vào chiếc địa bàn đo góc phương vị.
Những cánh buồm tơ mây ba lớp màu trắng ngà của thuyền *Mầm Gió* từ từ mở rộng theo các rãnh trượt bằng đồng thau, đón lấy luồng gió xoáy ngược đang tràn qua khoảng sân nước phẳng lặng giữa lòng chiếc nhẫn thuyền khổng lồ của Chợ Gió Bốn Phương.
Thân thuyền khẽ rùng mình một nhịp run rẩy quen thuộc. Lực nâng ấm áp từ túi khí căng phồng nhấc bổng đáy thuyền rời khỏi mặt nước bọt mây trắng xóa đang cuộn sóng bên dưới sàn cảng. Từng thớ gỗ của lườn thuyền kêu cót két khe khẽ—thứ âm thanh sống động của một sinh thể cơ khí đang thức giấc sau cơn ngủ vùi.
"Nhổ neo toàn phần!" Lam Nhi hô vang, thanh âm trong trẻo xé toạc màn sương giá.
Sợi xích đồng cuối cùng được cơ cấu ròng rọc thu hồi gọn gàng lên boong tàu.
*Mầm Gió* nhẹ nhàng lướt đi, trượt êm ru trên lớp đệm không khí dày đặc, mũi thuyền rẽ đôi làn sương mỏng, tách dần khỏi cầu tàu số chín và bỏ lại sau lưng khu chợ nổi khổng lồ đang dần thu nhỏ lại.
Trên các boong tàu buôn, thuyền bè xung quanh, hàng trăm hoa tiêu tự do, tiểu thương và thợ máy đã túa ra đứng chật kín mạn thuyền. Họ vẫy những mảnh khăn màu, những chiếc mũ da cũ kỹ và cất tiếng reo hò tiễn đưa con thuyền nhỏ dũng cảm vừa cứu mạng đồng bào của họ khỏi miệng vực thẳm. Tiếng còi hơi từ các tàu buôn thi nhau rúc lên những hồi dài trầm hùng như một lời chào danh dự của những người đi biển. Từ trên đài chỉ huy cao vút của Đội Chuông Bão, Đội trưởng Hạ Vũ đứng sừng sững trong bộ giáp sắt bọc da cá voi, bàn tay hộ pháp đưa lên ngang trán, khẽ gật đầu từ xa như một lời chúc bình an vô sự gửi theo cánh buồm nhỏ.
*Mầm Gió* lướt nhanh qua hàng rào phao nổi ranh giới của chợ, bỏ lại sau lưng mùi trà sấy, mùi than khói, những tranh chấp pháp lý ngột ngạt và những toan tính quyền lực của các phường hội lớn. Bầu trời Biển Mây lại mở ra mênh mông, thăm thẳm, lạnh lẽo và đầy rẫy hiểm nguy phía trước.
Mũi thuyền vươn thẳng về hướng tây nam, nơi hai vách đá dựng đứng của một hòn đảo kim loại khổng lồ đang hiện ra sừng sững giữa biển sương mây mịt mùng. Đó là một hành lang gió hẹp đến nghẹt thở, nơi các vách đá giàu quặng kim loại rỗng bị gió ngàn năm bào mòn thành những khe rãnh kỳ dị.
Mầm Gió tách khỏi Chợ Gió Bốn Phương, hướng mũi vào khe núi đá kim loại hẹp nơi những âm thanh trầm bổng bắt đầu vọng lại.