Cánh Cửa Của An Thành
Ngôi nhà số 42 phố Bình Lưu chìm vào tĩnh mịch khi chiều muộn buông xuống; tiếng xích xe đạp của Minh Khang khuất dần đầu ngõ sau khi Thu Hà dẫn cậu sang nhà bà ngoại.
Bầu không khí đặc quánh của một chiều đầu thu ẩm ướt trĩu nặng trên từng mái ngói rêu phong, dìm cả khu phố lao động ven cảng vào một thứ ánh sáng nhờ nhờ, nhớp nháp sắc xám chì. Cơn mưa rào bất chợt xối xả trút xuống dải đất Minh Hải lúc giữa trưa vừa dứt hẳn, để lại những vũng nước đục ngầu loang lổ váng dầu mỡ trên mặt đường nhựa lồi lõm, cùng mùi ngai ngái nồng nặc của rác ải, hơi đất ẩm và xú khí bốc lên từ những rãnh thoát nước lộ thiên chạy dọc mép chân tường. An Nhiên đứng bất động bên khung cửa sổ phòng khách tầng trệt, ngón tay mảnh khảnh khẽ vén mép rèm vải hoa đã ngả sang màu cháo lòng ố vàng, dõi mắt qua lớp kính mờ hơi nước theo hai bóng người một lớn một nhỏ vừa rẽ qua khúc quanh dẫn ra đại lộ chính.
Cô đợi thêm đúng năm phút. Chiếc đồng hồ treo tường cũ kỹ nhãn hiệu Poljot gõ nhịp *tắc tích* khô khốc vào khoảng không vắng lặng. Tiếng gầm rú đục ngầu của động cơ xe buýt chạy tuyến ngoại thành từ xa vọng lại, tiếng còi xe inh ỏi ngoài trục đường huyết mạch dần lấn át chút thanh âm sinh hoạt cuối cùng đang lụi tàn trong con ngõ cụt. Mẹ nuôi Thu Hà luôn có thói quen ở lại dùng bữa cơm tối và hàn huyên với bà ngoại mỗi bận đưa Minh Khang sang vào chiều thứ Tư; điều ấy đồng nghĩa với việc Nhiên có ít nhất ba tiếng đồng hồ hoàn toàn cô độc trong khoảng không gian biệt lập này.
Quan trọng hơn tất cả: An Thành vẫn chưa về.
Nhiên buông mép rèm, xoay người lại. Đôi bàn chân trần của cô chạm xuống nền gạch men hoa kiểu Pháp đã mòn vẹt lớp men bóng, không phát ra lấy một tiếng động nhỏ nào. Sự im ắng bao bọc lấy ngôi nhà không mang lại cảm giác bình yên, mà giống như một khối thạch đông lạnh ngắt đang chầm chậm đông kết mọi tri giác. Cô đi thẳng về phía cầu thang gỗ lim dẫn lên tầng hai. Mỗi bậc thang màu nâu sẫm, bóng loáng dấu vết của hàng chục năm ma sát, đều cất giấu những cái bẫy âm thanh tinh quái. Nhiên nhớ chính xác đến từng milimét: bậc thứ tư bị nứt ngầm bên dưới thanh dầm chịu lực, bậc thứ bảy hơi vênh góc ngoài, hễ có trọng lượng giẫm mạnh là lập tức phát ra tiếng cọt kẹt ken két xé toạc không gian. Cô cẩn thận đặt nửa bàn chân chếch sát vào mép tường chịu lực bên phải, nương theo độ lún tự nhiên của thớ gỗ mà bước lên từng nhịp thở.
Ở cuối dãy hành lang hẹp và tối om của tầng hai, nơi ánh hoàng hôn bên ngoài không thể chạm tới, đối diện với căn phòng ngủ chung của cô và Minh Khang, là một cánh cửa bằng gỗ sồi dày cộp luôn cài then đóng kín.
Căn phòng làm việc của An Thành.
Suốt mười hai năm đằng đẵng của kiếp trước, cho đến tận cái ngày ngọn lửa hủy diệt ở Trung tâm Lưu trữ Hải Đăng nuốt chửng toàn bộ xác thịt và ký ức của cô, cánh cửa này luôn là một vùng cấm địa bất khả xâm phạm. Thu Hà chưa từng một lần được phép bước chân qua ngưỡng cửa ấy dù chỉ để quét dọn một nắm bụi. Hai chị em cô từ thuở còn chập chững biết đi đã được nhồi nhét vào đầu một mệnh lệnh thép: nếu bàn tay nào dám chạm vào nắm đấm cửa bằng đồng tiện thô kia, kẻ đó sẽ phải đối mặt với cơn thịnh nộ lạnh lùng và những hình phạt khắc nghiệt nhất từ người cha nuôi vốn dĩ trầm lặng, kiệm lời đến mức kỳ quái.
Khóa ngoài của căn phòng là một ổ khóa đồng dạng con cóc thô kệch, rỉ sét xanh rì bám kín các kẽ nứt, trông như một phế phẩm cơ khí bị bỏ quên. Nhưng Nhiên biết rõ lớp vỏ rỉ sét ấy chỉ là trò ngụy trang vụng về nhằm đánh lừa những ánh mắt tò mò thông thường. Ẩn sâu bên trong khối đồng đúc là hệ thống chốt hãm hai tầng bi kép cực kỳ tinh vi, với các rãnh then hình răng cưa ngược do chính tay An Thành tiện gọt bằng công cụ vi cơ khí chuẩn xác đến từng phần trăm milimét.
Nhiên thò tay vào túi áo khoác đồng phục học sinh trường Chuyên Lê Quang, rút ra một chiếc kẹp tóc bằng thép carbon dẻo mà cô đã cẩn thận dùng kìm bẻ gập, mài nhọn đầu từ giờ nghỉ trưa. Bàn tay mười tám tuổi của cô hơi run rẩy. Đó không phải là sự run rẩy hèn nhát của một đứa trẻ sợ bị người lớn bắt quả tang đang làm chuyện lén lút, mà là một nỗi hoang mang sâu xa, đen đặc đang bóp nghẹt lồng ngực cô như một bàn tay sắt.
Ở dòng thời gian cũ, cô từng ngây thơ tin rằng tính khí khép kín, cô độc của An Thành chỉ đơn thuần là thói lập dị của một cựu kỹ sư cơ khí thất thế thời bao cấp, một trí thức lùi sâu vào bóng tối sau những chấn động vô danh của thời cuộc. Nhưng sau tất cả những gì diễn ra dưới đáy tầng ngầm B-3, sau cái nhìn thấu suốt đến rợn người của ông vào sáng nay khi nhìn thấy chiếc đồng hồ bỏ túi bằng hợp kim titan lấp ló nơi vạt áo cô, Nhiên biết căn phòng này không phải là nơi ẩn náu của một kẻ thất chí.
Nó là tâm chấn của mọi bí mật, là đài quan sát của một kẻ đang âm thầm thao túng những sợi dây rối của định mệnh.
Nhiên quỳ một chân xuống sàn gỗ, áp sát vành tai vào ổ khóa đồng lạnh ngắt. Hơi thở của cô nén lại thành một sợi chỉ mỏng manh. Ngón tay cô khéo léo luồn thanh thép uốn cong vào khe cắm chìa, chiếc kẹp thứ hai đóng vai trò làm đòn bẩy tạo lực xoay ngược chiều kim đồng hồ. Cảm giác kim loại trượt trên kim loại truyền qua đầu ngón tay cô một cách rõ nét, tinh tế như một cuộc phẫu thuật thần kinh.
*Cạch.* Một viên bi trượt vào rãnh hãm.
*Lách cách.* Viên bi thứ hai sập xuống buồng giữ áp suất.
Kỹ năng mở khóa này không phải thứ mà một nữ sinh lớp mười hai chuyên Toán có thể sở hữu; đó là kỹ năng sinh tồn được tôi luyện bằng máu, mồ hôi và nỗi kinh hoàng qua những năm tháng Nhiên phải sống chui lủi như chuột cống, trốn chạy sự truy lùng gắt gao của mạng lưới tay chân Lê Vĩnh Quân khắp các hang cùng ngõ hẻm của Minh Hải ở kiếp trước.
Một tiếng *tách* khô khốc và đanh gọn vang lên trong sự tĩnh lặng của hành lang. Càng khóa bằng thép tôi bật mở, nảy nhẹ ra khỏi ngàm giữ.
Nhiên hít một hơi thật sâu, đón lấy ổ khóa, cẩn thận đặt nó nằm êm ái trên mặt sàn gỗ mà không để kim loại va chạm phát ra tiếng vang. Cô nắm lấy tay nắm tròn bằng đồng, từ từ đẩy cánh cửa gỗ sồi nặng nề vào trong. Bản lề cửa đã được tra dầu bôi trơn công nghiệp cực kỳ kỹ lưỡng, xoay chuyển êm ru, trơn tru như thể đang lướt trên một lớp đệm không khí, tuyệt nhiên không phát ra một tiếng cót két nhỏ nhoi nào.
Không khí bên trong căn phòng ùa ra, đặc quánh, tù đọng và ngột ngạt đến mức khiến lồng ngực cô nhói buốt.
Đó là một mùi hương hỗn tạp mang tính nhận diện tuyệt đối: mùi khói thuốc lá Điện Biên khét lẹt ám vào từng thớ gỗ qua hàng ngàn đêm thức trắng, mùi hăng nồng ngai ngái của dầu bôi trơn máy móc công nghiệp cao cấp, mùi giấy bãi bằng ẩm mốc lâu năm và thoang thoảng đâu đó, len lỏi dưới đáy khứu giác, là thứ mùi ozon ngai ngái, tanh nồng của kim loại bị ion hóa—thứ mùi chết chóc giống hệt như những gì từng tràn ngập khoang lõi của Trung tâm Lưu trữ Hải Đăng ngay trước khi ngọn lửa định mệnh bốc lên thiêu rụi tất cả.
Nhiên lách người vào trong, cẩn thận khép hờ cánh cửa lại sau lưng. Cô không bật công tắc đèn tuýp trên trần nhà; thay vào đó, cô bước nhẹ tới góc phòng, khẽ kéo hé một góc tấm rèm cửa sổ bằng vải bố thô dày dặn để chút ánh sáng hoàng hôn xám xịt, tàn tạ bên ngoài rọi vào bàn làm việc.
Căn phòng bừa bộn một cách có trật tự đến lạnh lùng.
Những chiếc giá sách bằng sắt lắp ghép cao chạm trần nhà xếp kín hai bên vách tường, oằn mình dưới sức nặng của hàng ngàn tập tài liệu kỹ thuật đóng gáy lò xo, các cuốn sổ tay tiêu chuẩn đo lường cơ khí từ thập niên tám mươi của Liên Xô, và hàng chục hộp linh kiện điện tử bằng nhựa mica cũ kỹ bám đầy bụi xám. Dưới sàn nhà ngổn ngang những mô hình bánh răng vi sai dang dở, các trục quay bằng đồng thau bị tiện hỏng vứt lăn lóc, những cuộn dây đồng phủ men cách điện đỏ quạch nằm xen lẫn với các bảng mạch in thủ công bằng dung dịch axit sắt ba.
Ở chính giữa phòng là một chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ to bản, mặt bàn trầy xước chằng chịt những vết khắc sâu hoắm của dao trổ giấy, vết cháy xém tròn vo của mỏ hàn thiếc và những vệt dung môi hòa tan sơn chưa kịp lau sạch.
Nhiên bước nhanh tới bên bàn, nhịp tim đập thình thịch từng hồi dồn dập vào màng nhĩ. Cô bắt đầu lục tìm với sự chuẩn xác và cẩn trọng của một kẻ giải mật mã.
Trên mặt bàn, bên cạnh chiếc gạt tàn bằng thủy tinh dày chất đầy những mẩu đầu lọc thuốc lá đã cháy khô khốc thành tro trắng, là những xấp bản vẽ kỹ thuật khổ A1 được vẽ tỉ mỉ bằng mực tàu đen bóng. Nhiên gạt đống thước kẻ chữ T bằng gỗ dán và compa đo độ bằng thép sang một bên, cẩn thận trải rộng các tờ giấy can dầu đã ngả màu vàng ố vì thời gian.
Hơi thở của cô nghẹn đắng nơi cuống họng. Đôi đồng tử co rút lại trước những gì đang hiện ra dưới ánh sáng tàn tạ của buổi chiều.
Đó hoàn toàn không phải là các bản vẽ thiết kế máy móc công nghiệp thông thường phục vụ cho nhà máy dệt hay xưởng đóng tàu như An Thành vẫn thường nói với mẹ nuôi Thu Hà.
Đó là toàn bộ hệ thống bản vẽ trắc địa ngầm miêu tả chi tiết đến từng milimét mạng lưới cống thoát nước ngầm, các hầm kỹ thuật kiên cố được xây dựng từ thời thuộc địa, và những hành lang cáp quang quân sự chạy ngầm chằng chịt như mạng nhện dưới lòng thành phố Minh Hải. Các tuyến đường ống dẫn xuất phát từ móng của Bệnh viện Đa khoa Từ Minh, luồn lách qua tầng địa chất phù sa của khu dân cư Bình Lưu, đâm xuyên qua vỉa đá ngầm dưới chân cầu Cửa Vịnh và tụ hội về một điểm duy nhất: ngọn đồi đá hiểm trở nơi đặt Trung tâm Lưu trữ Hải Đăng.
Trên bản đồ, có những đoạn hầm kỹ thuật đã bị chính quyền thành phố tuyên bố sụt lún và niêm phong bằng bê tông cốt thép từ hơn hai mươi năm trước. Thế nhưng, dưới nét bút chì đỏ sắc lẹm, dứt khoát của An Thành, chúng lại được đánh dấu bằng các ký hiệu van thông khí bí mật, các bảng ghi chú mực nước triều cường dâng theo từng mùa trong năm, và tọa độ chính xác của những cánh cửa thoát hiểm ngầm bọc thép có chốt khóa thủy lực.
Bất chợt, ánh mắt sắc sảo của Nhiên va phải một vật nằm khuất sâu dưới gầm bàn làm việc, sát vào vách tường ẩm mốc loang lổ vết vôi bong tróc.
Đó là một chiếc hộp sắt quân dụng cũ kỹ, lớp sơn màu xanh ô-liu đã rỉ sét và bong tróc từng mảng lớn như vảy cá. Cô ngồi thụp xuống, vươn tay kéo chiếc hộp nặng trịch ra một khoảng vừa đủ dưới ánh sáng le lói. Khi lớp bụi bặm bị gạt đi, ngón tay cô chạm phải một vết khắc nổi trên nắp hộp.
Đó là hình ảnh một ngọn sóng cách điệu bao quanh ngọn đuốc rực lửa—biểu tượng độc quyền, kiêu hãnh và tàn nhẫn không thể nhầm lẫn của Tập đoàn Vĩnh Lam.
Thế nhưng, điều khiến da gà trên cánh tay Nhiên nổi gai ốc là toàn bộ các đường nét của biểu tượng quyền lực ấy đã bị ai đó dùng dũa thép và giấy ráp thô bạo cạo mài điên cuồng. Từng góc cạnh sắc nhọn bị cày xới nát bấy, cố tình làm mờ đi dấu vết xuất xứ, như thể người sở hữu nó muốn xóa sạch mọi ký ức về một mối liên hệ nhơ bẩn, ô nhục trong quá khứ, nhưng vì một lý do sinh tử nào đó mà không thể nhẫn tâm vứt bỏ chiếc hộp sắt này vào đống phế liệu.
Nhiên cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mằn mặn của máu. Những mảng ghép đen tối, rời rạc suốt hai kiếp sống bắt đầu tự động khớp nối lại thành một bức tranh khủng khiếp. An Thành—người cha nuôi nghèo khó, lam lũ với chiếc áo bảo hộ lao động sờn vai—quả thực từng nắm giữ một vị trí cốt cán, một vai trò đầu não bên trong lòng cấu trúc quyền lực của Tập đoàn Vĩnh Lam trước khi trốn chạy về góc phố Bình Lưu hẻo lánh này để sống cuộc đời của một bóng ma.
Ánh mắt cô lập tức quay trở lại với tấm bản đồ trắc địa ngầm trải rộng trên mặt bàn gỗ gụ. Ở một góc khuất của bản vẽ, nơi thể hiện mặt cắt ngang của phân khu hầm kỹ thuật nối thẳng vào Phòng Số Không dưới chân ngọn hải đăng cổ, có ghi chú chi tiết tọa độ của hệ thống van xả áp suất và mạch dẫn năng lượng dự phòng. Những thông tin này ở kiếp trước chưa từng xuất hiện trên bất kỳ hồ sơ số hóa nào mà Lê Vĩnh Quân cho phép cô tiếp cận.
Không một giây chần chừ, ngón tay Nhiên bấm chuẩn xác vào nếp gấp mép giấy can. Cô dùng lực cổ tay xé rời mảnh bản đồ chứa sơ đồ tọa độ sống còn ấy ra khỏi tờ bản vẽ lớn. Tiếng giấy rách soạt nhẹ vang lên gọn gàng. Cô gấp nhỏ mảnh giấy can lại thành một hình vuông chỉ bằng bao diêm, rồi nhanh chóng luồn tay vào lớp vải lót rách dưới đáy túi áo khoác đồng phục, nhét sâu mảnh giấy vào trong, dùng lòng bàn tay miết phẳng phiu nếp vải bên ngoài để không tạo ra bất kỳ gờ cộm đáng ngờ nào.
Trực giác mách bảo cô rằng căn phòng này vẫn chưa phơi bày hết những gì cốt lõi nhất.
Nhiên quay sang kiểm tra hệ thống ngăn kéo của bàn làm việc. Ba ngăn kéo phía trên chỉ chứa những vật dụng cơ khí quen thuộc: thước kẹp panme bằng thép trắng, các cuộn băng keo cách điện đã ố vàng, mỏ lết mini, vài vỉ thuốc giảm đau an thần loại nặng đã bị bóc dở nham nhở và những mẩu than chì gãy vụn.
Thế nhưng, khi cô thò ngón tay thon dài kiểm tra khoảng không gian rỗng bên dưới đáy ngăn kéo thứ ba, da thịt cô chạm phải một cái gờ gỗ nhỏ bất thường nằm thụt sâu vào khung chịu lực bên trong.
Một ngăn kéo hai đáy.
Nhiên rút chiếc kẹp tóc bằng thép carbon ra, dùng đầu dẹp cẩn thận chọc vào khe hở nhỏ xíu bên cạnh chiếc gờ, dùng sức bẩy nhẹ theo nguyên lý đòn bẩy. Một tiếng *tách* mảnh mai vang lên. Tấm ván ép mỏng manh trượt ra ngoài theo một đường rãnh ngầm xoi mộng gỗ, để lộ một hộc tủ bí mật nằm sâu hun hút bên trong khung gỗ gụ dày dặn.
Hộc tủ này được lót một lớp vải nhung màu đỏ thẫm đã sờn rách và bám đầy mạt gỗ ở các góc. Nằm gọn gàng, trang trọng bên trong lớp nhung êm ái ấy là một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc da màu đen bóng. Cạnh của các trang sổ mạ vàng óng ánh, nhưng lớp kim loại quý giá ấy đã bị mồ hôi từ lòng bàn tay của người sở hữu mài mòn gần hết qua năm tháng.
Đầu ngón tay Nhiên lạnh ngắt khi cô nhấc cuốn sổ ra khỏi bóng tối của hộc tủ. Cuốn sổ không hề bám một hạt bụi nào; điều đó chứng tỏ nó thường xuyên được chủ nhân lấy ra, lật mở và nghiền ngẫm trong những đêm dài thức trắng bên làn khói thuốc mù mịt.
Cô run rẩy lật mở những trang giấy đầu tiên dưới ánh chiều tà đang tắt dần.
Đập vào mắt Nhiên không phải là những dòng nhật ký tâm tình hay những ghi chép sinh hoạt đời thường, mà là hàng ngàn, hàng vạn dòng ký tự mã hóa dày đặc, đều tăm tắp như những hàng quân bước đi trong đêm tối. Toàn bộ nội dung đều được ghi lại bằng hệ thống chữ số thập lục phân (hexadecimal) lạnh lùng, đan xen giữa các chuỗi số vô cảm là những biểu đồ hình sin phức tạp thể hiện sự dao động của sóng tinh thể nhân tạo, tần số cộng hưởng âm học ở dải siêu trầm, và các phương trình vi phân phi tuyến tính miêu tả sự suy giảm entropy trong một trường điện từ kín.
Nhiên nheo mắt lại. Toàn bộ kiến thức chuyên sâu về công nghệ lưu trữ dữ liệu lượng tử và kiến trúc hệ thống mà cô từng tích lũy được qua mười hai năm lao động khổ sai cho dự án Hải Đăng lập tức bị kích hoạt. Ánh mắt cô quét nhanh qua các chuỗi mã hex, bộ não cô hoạt động với công suất tối đa để chuyển dịch các con số thành các hàm toán học tương thích.
Thế nhưng, chỉ sau chưa đầy một phút, trực giác sắc bén của một kỹ sư giải thuật khiến cô giật mình khựng lại. Tim cô lỡ mất một nhịp.
Có điều gì đó hoàn toàn sai lệch.
Một số cụm mã hex ở những trang đầu thoạt nhìn qua trông có vẻ cực kỳ chặt chẽ, tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc đối xứng toán học của vật lý lượng tử, nhưng các hằng số tích phân ở phần đuôi lại bị dịch chuyển đi đúng một bậc giá trị. Sự sai lệch này vô cùng tinh vi, tinh vi đến mức nếu một chuyên gia mã hóa thông thường đọc lướt qua sẽ nghĩ đó chỉ là một biến số làm tròn.
Thế nhưng, Nhiên hiểu quá rõ bản chất của hệ thống này. Nếu bất kỳ ai—kể cả những kỹ sư hàng đầu của tập đoàn—dùng những công thức toán học bị cài cắm này để cố gắng khởi động hoặc giải mã một thiết bị cộng hưởng tinh thể, hệ thống phản hồi sẽ ngay lập tức bị đoản mạch dòng cao tần, dẫn tới một vụ nổ nhiệt lượng cục bộ quét sạch toàn bộ phần cứng trong bán kính ba mét.
Đây là một cái bẫy chết người. Một viên kẹo bọc thuốc độc.
An Thành đã cố tình cài cắm những thông tin sai lệch, những đường dẫn giả tàn khốc vào ngay trong cuốn sổ tay này. Ông làm điều đó để làm gì? Để phòng ngừa trường hợp cuốn sổ lọt vào tay những đội săn lùng của Lê Vĩnh Quân? Hay sâu xa hơn, ông không hề đặt niềm tin vào bất kỳ sinh linh nào có thể chạm tay vào bí mật này?
Nhiên hối hả lật tiếp. Những ngón tay cô lướt nhanh qua các trang giấy mỏng kêu sột soạt gấp gáp trong không gian tĩnh mịch. Cô cần một câu trả lời thực sự, một sợi dây liên kết bản chất chứ không phải những cái bẫy toán học phòng thủ.
Cho đến khi những ngón tay cô lật tới một trang giấy nằm ở khoảng giữa cuốn sổ, toàn bộ cơ thể Nhiên bỗng chốc đông cứng lại như bị dội một gáo nước băng tuyết giữa mùa đông.
Trang giấy này hoàn toàn sạch bóng các chuỗi mã hex. Không có phương trình vi phân, không có biểu đồ sóng tinh thể.
Nó được viết hoàn toàn bằng chữ viết tay thông thường của An Thành—những nét chữ nghiêng sắc sảo, gãy gọn, dứt khoát như những nhát chém cơ khí, được viết bằng thứ mực Cửu Long màu xanh thẫm quen thuộc mà ông vẫn thường dùng để chấm bài tập cho cô thuở nhỏ.
Ở ngay dòng đầu tiên của trang giấy, một mốc thời gian được ghi rõ ràng, mạch lạc, và được gạch chân ba lần bằng mực đỏ thẫm:
**“03/09 - 05:17”**
Bên dưới dòng chữ số ấy là một loạt các ghi chú kỹ thuật ngắn gọn nhưng toát ra một hàn khí thấu xương:
*“Điểm cân bằng sóng sinh học của đối tượng tương thích đạt trạng thái trơ tuyệt đối tại mốc dao động này. Trường thời gian cục bộ sẽ đóng băng trong 12 năm trước khi chu kỳ phân rã tinh thể hoàn tất. Đây là điểm neo ổn định duy nhất có thể tiếp nhận sự ghi đè ý thức mà không làm nứt vỡ vỏ não của vật chủ.”*
Mắt Nhiên nhòe đi. Những con chữ màu xanh thẫm và vệt gạch đỏ như đang bốc cháy, nhảy múa điên cuồng trước võng mạc cô, cào xé tâm trí cô thành trăm nghìn mảnh vụn.
Năm giờ mười bảy phút sáng ngày ba tháng chín.
Đó chính xác, chuẩn xác đến từng giây, từng tích tắc của khoảnh khắc cô mở mắt tỉnh dậy trong căn phòng ngủ cũ kỹ ở tầng hai vào sáng nay, sau khi cơ thể ba mươi tuổi của cô bị thiêu sống thành tro bụi dưới tầng hầm ngầm B-3 mười hai năm sau!
Đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của vũ trụ. Đó càng không phải là một ân huệ nhân từ do số phận ban phát cho một linh hồn oan khuất, hay một sự giải thoát tình cờ trong khoảnh khắc cận kề cái chết sinh học.
An Thành đã biết tất cả.
Ông đã tính toán ra mốc thời gian này, đã vạch sẵn tọa độ của sự sụp đổ này từ rất nhiều năm về trước, từ khi cô còn là một đứa trẻ ngây thơ cắp sách tới trường. Ông đã chuẩn bị sẵn cơ chế hồi quy khẩn cấp tàn nhẫn này, dùng bàn tay cơ khí chuẩn xác của mình để lập trình nó vào bên trong bộ máy phức tạp của chiếc đồng hồ quả quýt bằng hợp kim titan, biến nó thành một chiếc phao cứu sinh chết chóc—một giao thức được cài đặt sẵn chỉ để kích hoạt vào đúng cái giây phút cô ngã xuống trong biển lửa!
Nhưng sự bàng hoàng của Nhiên chưa kịp lắng xuống thì ánh mắt cô đã vô thức trượt xuống dòng ghi chú cuối cùng nằm ở góc dưới cùng của trang giấy. Dòng chữ này được viết vội vã hơn, nét bút ấn sâu vào thớ giấy đến mức làm rách toạc lớp xơ gỗ mỏng manh, như thể người viết đã viết nó trong một cơn hoảng loạn tột cùng:
*“Cảnh báo tối mật: Giao diện Hải Đăng không thể bị phá hủy, nó chỉ chuyển dịch. Một kẻ khác cũng có thể kích hoạt nếu vật chủ nguyên bản không chịu đựng nổi sự xói mòn.”*
Một luồng khí lạnh buốt xông thẳng từ sống lưng lên đỉnh đầu Nhiên, làm dựng đứng từng sợi lông tơ trên cánh tay. Hơi thở cô tắc nghẽn hoàn toàn.
*Một kẻ khác?*
Kẻ nào có thể là vật thay thế? Minh Khang?
Ký ức về bữa sáng nay đột ngột dội về trong tâm trí cô dữ dội như một cơn sóng thần: ánh mắt hoảng loạn của đứa em trai mười tuổi khi kể về giấc mơ nhìn thấy một căn phòng rực lửa đỏ, tiếng nổ chát chúa của pháo hoa và mùi thuốc súng khét lẹt nồng nặc. Đó không phải là một giấc mơ con trẻ bình thường. Đó là sự rò rỉ dữ liệu của một ý thức đang bị xói mòn.
Sự can thiệp sinh học từ Khu C của tập đoàn mười tám năm trước không chỉ nhắm vào một mình cô. Có một kẻ dự phòng. Có một vật chủ thứ hai luôn nằm trong trạng thái chờ kích hoạt nếu vỏ não cô sụp đổ dưới áp lực của trường thời gian!
*Bẹp.*
Một tiếng động lạ lùng, ẩm ướt và nặng nề vang lên ngay sau lưng cô, xé toạc bầu không khí quánh đặc của căn phòng.
Nhiên giật thót mình, toàn bộ cơ bắp trên cơ thể cô lập tức căng cứng như dây đàn bị kéo căng hết mức. Tim cô như ngừng đập trong một khoảnh khắc kinh hoàng.
Sau tiếng động ẩm ướt ấy là âm thanh của những giọt nước nhỏ đều đặn xuống sàn gỗ:
*Tách...*
*Tách...*
*Tách...*
Từng giọt nước rơi xuống mặt sàn gỗ lim khô khốc, vang vọng trong không gian tĩnh mịch như tiếng gõ của một chiếc đồng hồ đếm ngược dẫn tới đoạn đầu đài.
Nhiên từ từ, chậm rãi quay đầu lại.
Ở ngưỡng cửa phòng làm việc, in hằn trên nền ánh sáng mờ mịt của hành lang tầng hai, một bóng người cao lớn đang đứng sừng sững, chắn kín toàn bộ lối thoát duy nhất ra khỏi căn phòng.
An Thành đã đứng tựa vào khung cửa từ lúc nào.
Ông mặc một chiếc áo sơ mi bạc màu sờn rách ở cổ áo, trên tay cầm chiếc áo mưa cánh dơi bằng vải nhựa màu xanh rêu ướt sũng nước mưa. Những giọt nước mưa đục ngầu, lạnh lẽo từ gấu áo mưa đang nhỏ tong tòng xuống sàn nhà, tạo thành một vũng nước nhỏ nhớp nháp quanh gót chân ông.
Khuôn mặt vuông vức, gầy gò với những đường nét khắc khổ của ông chìm sâu trong bóng tối nhá nhem của góc cửa. Mái tóc hoa râm ướt bết vào vầng trán hằn sâu những nếp nhăn nhăn nhó vì sương gió và năm tháng. Đôi mắt sâu hoắm, đùng đục sau cặp kính lão gọng đồi mồi dày cộp đang nhìn xoáy thẳng vào Nhiên—nơi cô đang đứng chết trân bên chiếc bàn làm việc gỗ gụ, hai bàn tay run rẩy vẫn đang nắm chặt cuốn sổ bìa da màu đen mở toang.
Không có tiếng la hét giận dữ. Không có sự lôi đình của một bậc phụ huynh khi phát hiện con cái lục lọi đồ đạc bí mật. Thậm chí, trên gương mặt lạnh tanh như tượng đá hoa cương của người đàn ông ấy, không hề lộ ra một tia bất ngờ hay kinh ngạc nào trước cảnh tượng con gái nuôi vừa phá ổ khóa đồng kiên cố để đột nhập vào căn phòng cấm địa của mình.
Sự im lặng bao trùm lấy không gian giữa hai người, nặng nề, quánh đặc và nghẹt thở đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng kim giây của chiếc đồng hồ quả lắc dưới tầng trệt điểm nhịp đều đặn và tiếng mưa rơi rả rích trở lại trên những mái tôn ngoài phố Bình Lưu.
An Thành khẽ thở dài một hơi. Tiếng thở dài trầm đục, khô khốc như mang theo toàn bộ gánh nặng của hàng chục năm ròng rã chôn giấu những bí mật kinh hoàng dưới đáy mồ sâu.
Ông buông tay. Chiếc áo mưa ướt sũng rơi thẳng xuống sàn gỗ ở góc cửa với một tiếng *bộp* nặng trịch. Sau đó, ông từng bước một tiến vào trong phòng. Tiếng đế giày da ẩm ướt giẫm lên sàn gỗ vang lên những âm thanh lép nhép khô khốc, từng bước chân như nện thẳng vào lồng ngực đang co thắt của Nhiên.
Nhiên đứng chôn chân tại chỗ. Toàn bộ các khớp xương của cô như bị đông cứng. Cô muốn giấu cuốn sổ ra sau lưng, muốn mở miệng thốt lên một lời giải thích vụng về, một lời nói dối nào đó để che đậy tình thế hiện tại, nhưng mọi âm tiết đều nghẹn đắng nơi cuống họng khi bóng đen của ông trùm phủ lên người cô qua mặt bàn gỗ gụ.
An Thành đưa bàn tay thô ráp, gân guốc và đầy những vết sẹo do axit kim loại và tia lửa hàn ăn mòn ra. Bàn tay ông không hề vồ vập, không hề giật lấy cuốn sổ từ tay cô một cách thô bạo. Ông chỉ nhẹ nhàng, từ tốn đặt các đầu ngón tay chai sần lên mép bìa da màu đen, rồi dùng một lực đẩy chậm rãi gập cuốn sổ lại.
Một tiếng *bộp* nhỏ vang lên, dứt khoát khép lại trang giấy định mệnh mang mốc thời gian 03/09 - 05:17 cùng những dòng ghi chú tàn nhẫn.
Sau đó, An Thành từ từ ngước mắt lên, nhìn thẳng vào tận đáy mắt Nhiên.
Ánh nhìn ấy không hề có sự giận dữ hay ý định trừng phạt của một người cha đối với một đứa con ngỗ nghịch dám làm trái lời răn dạy. Trong đôi mắt sâu thẳm, mờ đục của người cựu kỹ sư trưởng ấy chỉ có một sự nghiêm khắc đến tàn nhẫn, nhưng ẩn sâu bên dưới lớp vỏ bọc băng giá ấy là một nỗi bi thương khổng lồ, một sự xót xa cùng cực đến mức khiến khóe mắt ông run rẩy giật nhẹ theo từng nhịp đập của thái dương.
Đó là ánh mắt của một người vừa chứng kiến một kẻ khác tự tay ký vào bản án tử hình không thể đảo ngược của chính mình.
"Con đã thấy những gì cần thấy rồi, đúng không?" Giọng An Thành cất lên, khàn đặc và trầm thấp như tiếng hai thanh kim loại rỉ sét cọ xát vào nhau trong bóng tối.
Nhiên mím chặt môi, cố gắng vận dụng toàn bộ ý chí kiên định của ba mươi năm cuộc đời để giữ cho giọng nói của mình không bị run rẩy:
"Cha... cha đã chuẩn bị chiếc đồng hồ đó cho con từ trước. Cha biết chính xác những gì sẽ xảy ra ở tầng ngầm B-3. Cha biết ngọn lửa đó sẽ bùng lên. Tại sao? Tại sao cha lại làm vậy với con?"
An Thành không trả lời câu hỏi dồn dập của cô.
Ánh mắt sắc lẹm sau cặp kính lão của ông chầm chậm hạ xuống túi áo khoác đồng phục của Nhiên, nơi chiếc đồng hồ Hải Đăng bằng hợp kim titan đang nằm im lìm, lạnh ngắt, rồi lại lướt qua phần vạt áo bên dưới—nơi giấu mảnh bản đồ trắc địa ngầm mà cô vừa xé rời ban nãy. Dù cô đã giấu nó vô cùng cẩn mật dưới lớp vải lót, nhưng cái nhìn của ông sắc bén như một lưỡi dao mổ phẫu thuật, như thể ông có thể nhìn xuyên thấu qua từng thớ vải cotton và đọc vanh vách từng ý nghĩ đang cuộn trào hỗn loạn trong đầu cô.
Ông chống hai bàn tay thô ráp lên mặt bàn gỗ gụ, hơi rướn người về phía trước. Chiều cao vượt trội và bóng tối từ cơ thể ông đổ ập xuống người Nhiên, bao trùm lấy cô trong một áp lực ngột ngạt đến nghẹt thở.
"Nhiên à," ông cất lời, từng thanh âm gằn xuống, chậm rãi và nặng trịch như những khối đá tảng rơi xuống vực sâu, "can thiệp vào dòng chảy nhân quả không phải là một trò chơi xếp hình bằng gỗ mà con có thể tùy tiện tháo rời ra rồi lắp ghép lại cho vừa ý mình. Thế giới này không vận hành bằng lòng trắc ẩn của con, nó vận hành bằng những cái giá phải trả bằng máu và thời gian. Mỗi một mắt xích con bẻ gãy ở hiện tại để mong thay đổi tương lai, nó sẽ không bao giờ biến mất, mà sẽ tự tìm cách nối lại bằng một nút thắt khác tàn bạo hơn gấp mười lần."
Ông chậm rãi đưa tay lên, ngón tay trỏ chai sần chỉ thẳng vào trán cô—nơi đang chứa đựng linh hồn và ký ức của một người phụ nữ ba mươi tuổi bị thiêu cháy bên trong thân xác một thiếu nữ mười tám:
"Con nghĩ rằng con quay lại đây là để làm một vị cứu tinh sao? Con nghĩ việc biết trước những gì sẽ xảy ra cho phép con quyền năng điều khiển số phận của những người xung quanh con? Đừng ngây thơ và kiêu ngạo như thế. Mỗi một nhịp kim đồng hồ quay ngược lại là một lần con đang tự tay đào sâu thêm nấm mồ cho chính những người con muốn bảo vệ."
An Thành thu bàn tay về, khẽ thở hắt ra một hơi dài cay đắng. Ông xoay người, từng bước chậm rãi tiến về phía khung cửa sổ, đứng nhìn ra màn đêm đen đặc đang nuốt chửng từng mái nhà rêu phong ngoài phố Bình Lưu.
Lời thì thầm của An Thành vọng theo sau lưng: 'Thời gian là một món nợ, con càng vội trả thì tiền lãi càng đắt'.