Khế Ước Ba Giai Đoạn
Nguyên mở chiếc phong bì ố vàng tìm thấy dưới đáy hộc bàn làm việc của bà ngoại, bên trong là bức thư ngắn dặn dò phải giữ gìn cái cốt cách của nếp nhà gỗ dẫu đời có xô lệch.
Hộc bàn làm bằng gỗ dẻ gai đã bắt đầu rít mộng sau chuỗi ngày ngậm sương đọng nước. Khi cô rút hẳn ngăn kéo ra ngoài, lớp bụi gỗ mịn như mùn cưa mục lả tả rơi xuống vạt quần, để lộ một góc giấy bị kẹt sâu sát vách ngăn phía sau. Chiếc phong bì không dán nắp, mép giấy xơ tước như tổ kén tằm khô, phủ một lớp bụi mỏng màu lam xám của thời gian và tro tàn củi thông.
Tờ giấy pơ-luya mỏng manh nằm gọn trong lòng bàn tay, đã ngả hẳn sang sắc nâu của lá thông rụng mùa khô, viền giấy sờn rách lởm chởm bởi hơi ẩm cao nguyên ngấm qua không biết bao nhiêu mùa mưa dầm dề rả rích. Từng nét mực tím nghiêng nghiêng, dứt khoát mà mềm mại hiện lên dưới thứ ánh sáng ban mai xám xịt đang chật vật len qua kẽ chớp cửa sổ gỗ:
*“Nguyên thương của bà,*
*Nhà gỗ cũng như người, trải qua sương gió thì thớ thịt mới đanh lại. Nhưng gỗ dẫu già đến mấy, nếu rỗng chân mà cố gánh mái nặng, ắt có ngày đổ gãy. Sống ở đời hay dựng lại một nếp nhà cũng vậy thôi con: đừng ham những nét chạm rỗng hào nhoáng bên ngoài khi bộ giằng bên dưới chưa vững. Giữ lấy cái cốt lõi thật thà, cái dáng dấp khiêm nhường mà che chở được nắng mưa. Đời người ai chẳng có lúc chông chênh, xô lệch; quan trọng là biết nương vào đâu để đứng thẳng lại…”*
Ngón tay Nguyên miết nhẹ lên dòng chữ cuối cùng. Vết xước rướm máu trên mu bàn tay phải từ đêm giông hôm trước khẽ nhói buốt khi cọ vào mép giấy khô ráp. Vết thương rách miệng ngoằn ngoèo, mép thịt viền trắng vì nhiễm lạnh, rỉ ra một vệt dịch mỏng dính bết vào lớp vải dệt thô của chiếc áo len cũ. Cô thở ra một hơi dài, làn khói sương mỏng manh từ khoang miệng bay là là trong không gian rồi tan biến vào cái buốt giá đặc quánh của gian phòng khách.
Căn nhà ba mươi năm tuổi này của bà ngoại dường như đang thở cùng một nhịp thở chậm rãi, mệt mỏi với cô. Từng thanh ván sàn pơ mu co ngót theo nhiệt độ ban sáng, phát ra những tiếng kêu răng rắc rất khẽ dưới chân. Bức thư không có một lời oán trách, không một lời ủy mị ép uổng, chỉ có sự điềm tĩnh thấu suốt của một người đàn bà cả đời gắn bó với đất đai, cây cỏ và từng thớ gỗ thông xứ sương mù.
Giữa mớ bòng bong áp lực từ tối hậu thư ba tháng của mẹ, món nợ bảo lãnh vật tư hơn ba trăm triệu đồng đang treo lơ lửng như một lưỡi dao sắc lẹm trên đầu, và sự xuất hiện đột ngột của Phong sau cả một thập kỷ đằng đẵng, bức thư như một chiếc mỏ neo bằng gang rỉ cắm sâu vào tầng đất bazan ẩm ướt, giữ cho tâm trí Nguyên không bị cuốn phăng theo những cơn hoảng loạn chực chờ bùng nổ.
Tiếng bước chân nện chắc nịch trên những bậc tam cấp bằng đá chẻ ngoài hiên cắt đứt dòng suy tưởng của cô. Âm thanh khô giòn của đế giày cao su miết trên mặt đá ướt xen lẫn tiếng kim loại va chạm leng keng khe khẽ.
Nguyên cẩn thận gấp bức thư lại theo đúng nếp gấp đã hằn sâu từ nhiều năm trước, cất vào túi trong của chiếc áo khoác dạ ấm, rồi đứng dậy bước ra phía cửa chính.
Sương mù buổi sớm còn đọng thành từng giọt trĩu nặng, lóng lánh trên mép tấm bạt xanh công nghiệp mà Phong đã chằng néo tạm thời trên góc mái phía tây đêm qua. Gió sớm quất từng luồng lạnh buốt làm mép bạt phần phật đập vào đầu hồi gỗ. Dưới khoảng sân đất đỏ còn lầy lội bùn non sau cơn mưa đá hung hãn, kỹ sư Trần Gia Bảo đang khoác chiếc áo gi lê chuyên dụng nhiều túi màu xám tro, tay xách chiếc ống đựng bản vẽ kỹ thuật cỡ lớn bằng nhựa đen, tay kia ôm chiếc máy thủy bình bọc cẩn thận trong hộp nhựa chống sốc màu cam nổi bật. Gương mặt Bảo quánh lại vì gió lạnh, chòm râu quai nón lấm tấm những hạt sương li ti.
Theo sát phía sau Bảo là Lê Hoàng Phong. Anh mặc chiếc áo khoác kaki sờn màu xanh rêu, cổ áo dựng đứng để chắn gió thốc từ thung lũng lên. Đôi ủng cao su màu đen của anh bám một lớp đất đỏ bazan dày cộm đã bắt đầu se khô ở phần gót. Phong giữ đúng khoảng cách ba bước chân sau lưng Bảo, vai mang một túi đồ nghề bằng vải bạt nặng trĩu những thước thép và búa thợ mộc. Ánh mắt anh thẳng thắn nhưng trầm lặng đến gai người.
Khi nhìn thấy Nguyên đứng tì tay bên bậu cửa gỗ, ánh nhìn của Phong khẽ dừng lại trên mu bàn tay phải đang dán miếng băng cá nhân xộc xệch của cô. Cơ mặt anh khẽ siết lại một thoáng, các đường gân nổi rõ nơi quai hàm rắn rỏi, nhưng rồi anh lập tức cụp mắt xuống, thu hồi mọi cảm xúc về sau vẻ nghiêm cẩn, câm lặng của một người thợ lành nghề.
"Chào Nguyên," Bảo cất tiếng phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch, giọng nói trầm ấm và vang khỏe của anh xua bớt cái lạnh lẽo đang bao trùm sườn đồi. "Tôi ghé Trung tâm lấy kết quả trắc địa địa hình và số liệu đo vẽ bổ sung đêm qua. Mọi thứ đã có đầy đủ trên giấy trắng mực đen. Chúng ta ngồi làm việc luôn chứ?"
"Em chào anh Bảo," Nguyên gật đầu, kéo rộng cánh cửa gỗ dổi ra hai phía. Bản lề sắt han rỉ rít lên một tiếng khô khốc. Ánh mắt cô lướt qua Phong trong tích tắc, chỉ đủ để trao một cái gật đầu xã giao cẩn trọng đến mức lạnh lùng. "Mời hai anh vào trong. Em đã dọn sẵn bàn làm việc của bà rồi."
Chiếc bàn làm việc bằng gỗ dẻ gai rộng gần hai mét đặt ở gian giữa trở thành bàn họp dã chiến. Chiếc đèn dầu cũ đã được Nguyên thay bằng ngọn đèn bão chạy pin sạc, hắt ra thứ ánh sáng trắng gắt gỏng soi rõ từng vết trầy xước trên mặt gỗ mộc.
Bảo đặt ống bản vẽ lên bàn, cởi bỏ đôi găng tay len đã ướt sương, cẩn thận rút ra và trải rộng tập hồ sơ trắc địa hoàn chỉnh khổ A1 ra giữa mặt gỗ phẳng. Từng góc giấy quăn mép được chèn chặt bằng những cục gọt chì bằng đồng nặng trịch mang hình khối lập phương của bà ngoại. Mùi mực in kỹ thuật mới nồng nặc mùi amoniac quyện chặt lấy mùi tinh dầu thông ẩm mốc và mùi thớ gỗ ngấm nước mưa lâu ngày, tạo nên một bầu không khí đặc quánh sự căng thẳng của một công trường đang đứng trước ngưỡng sụp đổ.
Phong kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông mộc, ngồi đối diện với Bảo, chếch về phía góc bàn bên trái. Anh ngồi ngay ngắn, lưng thẳng tắp, giữ khoảng cách đúng hai mét với Nguyên – không thừa một tấc, không thiếu một phân, đúng như một ranh giới vô hình đã được phân định rạch ròi. Phong mở cuốn sổ tay bìa da bò cũ kỹ đã sờn rách bốn góc, rút chiếc bút chì thợ mộc ngòi dẹt cài trên vành tai đặt ngay ngắn dọc theo mép cuốn sổ. Sự chuẩn mực, lạnh lùng và im lặng tuyệt đối của Phong khiến lồng ngực Nguyên khẽ chùng xuống; ít nhất vào lúc này, cô không phải đối phó với bất kỳ sự xáo trộn cảm xúc cá nhân nào từ quá khứ mười năm trước dội về.
"Đây là toàn bộ hồ sơ đo đạc trắc địa và đánh giá suy thoái kết cấu của Mộc Miên," Bảo bắt đầu, dùng đầu bút bi kim loại gõ nhẹ từng nhịp đanh gọn lên mặt cắt địa hình của sườn đồi dốc ba mươi lăm độ. "Số liệu thực tế tồi tệ hơn nhiều so với những gì chúng ta quan sát bằng mắt thường hôm đầu tiên tôi tới khảo sát."
Bảo lật sang bản vẽ mặt bằng lưới cột từ C-01 đến C-12, trên đó chi chít những ký hiệu khoanh tròn màu đỏ cảnh báo nguy hiểm và các chỉ số đo góc nghiêng lệch tâm:
"Khối chái sau của ngôi nhà nằm trọn trên thềm trượt cục bộ của vách taluy đất bazan. Trận bão kèm mưa lớn đêm qua khiến lượng nước ngầm tích tụ dưới tầng đất mặt tăng đột biến, áp lực thủy tĩnh đẩy mạnh vào vách taluy âm. Toàn bộ khối móng đá hộc chái sau đã trượt nghiêng thêm 0,3 độ chỉ sau một đêm, nâng tổng độ nghiêng hệ khung lên 1,5 độ lệch hẳn về phía thung lũng sâu. Nguy hiểm nhất là bốn chân cột lõi: C-03, C-04, C-07 và C-08."
Bảo đẩy kính lên sống mũi, ngón tay chỉ thẳng vào các mặt cắt chi tiết chân cột:
"Phần tiếp giáp giữa chân cột gỗ pơ mu và mặt thớt của tảng đá kê móng đã bị mục rỗng hoàn toàn từ bên trong do hơi ẩm bốc lên suốt ba mươi năm qua mà không có màng cách ẩm chuẩn quy chuẩn. Lớp vỏ bên ngoài trông vẫn nguyên vẹn nhờ lớp dầu bóng quét ngày xưa, nhưng bên trong ruột gỗ đã hóa thành mùn xốp. Độ chịu nén danh định của chúng hiện chỉ còn dưới bốn mươi phần trăm tải trọng thiết kế ban đầu. Nếu gặp một trận giông kèm lốc xoáy giật ngược từ thung lũng lên như trận bão năm ngoái, bốn điểm tựa này sẽ bị nghiền nát đầu tiên."
Bảo ngẩng lên nhìn thẳng vào Nguyên, ánh mắt không hề giấu giếm vẻ nghiêm khắc và sắt đá của một kỹ sư kết cấu đã chứng kiến quá nhiều công trình sập đổ vì sự chủ quan:
"Cảnh báo đầu tiên của tôi: việc thay thế toàn bộ hệ khung gỗ mục và nâng toàn bộ móng nhà bằng giải pháp dầm bê tông cốt thép truyền thống là điều hoàn toàn bất khả thi. Nếu làm theo quy chuẩn thông thường của các dự án thương mại ngoài kia, chi phí bóc tách hệ bao che, chống đỡ thủy lực toàn phần, nhấc bổng khung nhà, thay cột mới và đổ móng giằng mới sẽ ngốn không dưới bốn trăm triệu đồng. Ngân sách của Nguyên hiện tại không cho phép chúng ta mơ mộng về phương án đó. Nói thẳng ra, nếu cố đâm đầu vào hướng đó, chúng ta sẽ đứt vốn ngay từ tuần thứ hai."
Nguyên siết chặt hai bàn tay đặt trên đùi dưới gầm bàn. Các khớp ngón tay cô trắng bệch ra vì dùng lực. Con số bốn trăm triệu đập thẳng vào màng nhĩ cô như một nhát búa tạ giáng xuống đe thép.
Bốn trăm triệu. Trong khi đó, toàn bộ hạn mức tiền mặt cô còn có thể xoay xở được sau khi gom góp hết các khoản tiết kiệm, bán sạch một số đồ dùng cá nhân ở Sài Gòn chỉ vỏn vẹn gần sáu mươi triệu đồng. Món nợ bảo lãnh vật tư hơn ba trăm triệu đồng từ công trình dang dở của văn phòng cũ vẫn đang đếm lùi từng ngày từng giờ. Thực tế nghiệt ngã đang bóp nghẹt từng tấc không khí chung quanh cô.
Bảo lật tiếp một bản vẽ khác, ngón tay anh gõ mạnh vào các nét vẽ chi tiết trang trí mà Nguyên từng phác thảo đầy tâm huyết trong tập tài liệu ý tưởng sơ bộ:
"Điều thứ hai, và tôi nói điều này với tư cách một đồng nghiệp đi trước: Nguyên phải lập tức cắt bỏ toàn bộ những ý tưởng duy mỹ viển vông này. Nhìn vào đây: dải diềm mái chạm khắc hoa văn lá cúc rủ ở mặt tiền, hệ vách ngăn đục lọng thông phong giữa các phòng, lan can ban công tiện tròn kiểu biệt thự Pháp cổ… Tất cả những thứ đó là xa xỉ phẩm nguy hiểm trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc hiện tại."
Giọng Bảo trầm xuống, dứt khoát và không khoan nhượng:
"Những chi tiết đó tiêu tốn hàng trăm giờ công tỉ mỉ của thợ đục, ngốn gỗ thịt loại một đắt đỏ, nhưng hoàn toàn vô dụng đối với sự an toàn của kết cấu chịu lực. Giữ lại những chi tiết đó chỉ làm phân tán nguồn lực tài chính vốn đã chạm đáy đáy của cô, và tệ hơn cả, nó tạo thêm tải trọng bản thân không cần thiết cho một hệ khung đang oằn mình sắp gãy. Chúng ta đang chữa bệnh nan y cho một người sắp chết đuối, không phải lúc trang điểm cho xác ướp."
Căn phòng rơi vào một khoảng tĩnh lặng buốt giá. Tiếng gió luồn qua khe hở của lớp kính chớp kêu u u từng chặp, nghe thê lương như tiếng thở dài của thung lũng bên dưới.
Nguyên nhìn chằm chằm vào bản vẽ phác thảo của chính mình trải trên mặt bàn. Những nét chì 2B mềm mại, bay bổng, những đường cong hoa văn tinh xảo mà cô từng thức trắng ba đêm liền ở Sài Gòn để vẽ với tất cả niềm kiêu hãnh của một kiến trúc sư trẻ – thứ thẩm mỹ đô thị bóng bẩy, duy mỹ mà cô mang về từ các đồ án giải thưởng hào nhoáng – bỗng chốc hiện nguyên hình là sự ngây thơ tột cùng, thậm chí là một sự vô trách nhiệm tàn nhẫn trước thực tế trần trụi của công trình.
Cô nhớ lại ánh mắt lạnh lùng, dứt khoát của mẹ khi bước lên xe taxi rời đi sáng hôm qua, nhớ lại bản hợp đồng đặt cọc một tỷ rưỡi cùng bóng dáng sặc mùi kim tiền của Khải Minh. Mẹ cô đã nói đúng: đời này không có chỗ cho những kẻ lãng mạn rỗng túi. Nếu cô tiếp tục bám víu vào cái tôi thẩm mỹ mù quáng đó, chính tay cô sẽ ký bản án tử hình cho Mộc Miên, dâng mảnh đất của bà ngoại cho máy xúc và bê tông thương phẩm san phẳng.
Lời dặn trong bức thư của bà ngoại bỗng vang vọng trong tâm trí cô: *“Đừng ham những nét chạm rỗng hào nhoáng bên ngoài khi bộ giằng bên dưới chưa vững. Giữ lấy cái cốt lõi thật thà…”*
Nguyên ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô không còn vẻ bàng hoàng, hoang mang của một kẻ bị dồn vào chân tường, mà phẳng lặng, lạnh tanh và dứt khoát đến mức khiến cả Bảo và Phong đều khẽ giật mình:
"Em hiểu rồi, anh Bảo. Em hoàn toàn thừa nhận sai lầm trong việc định hướng thẩm mỹ ban đầu. Em đồng ý cắt bỏ một trăm phần trăm các chi tiết chạm trổ, diềm mái hoa lá và vách ngăn trang trí ngoài mặt tiền. Chúng ta sẽ quy mọi thứ về hình khối mộc mạc nguyên bản nhất của kiến trúc nhà sàn gỗ Tây Nguyên lai tạp kiểu thuộc địa thời kỳ đầu: thẳng thớm, tỉ lệ chuẩn xác và công năng thuần túy."
Nguyên với tay kéo một tờ giấy phác thảo A3 trắng tinh về phía mình. Cô cầm lấy cây bút chì bấm ngòi 0.5, vạch ba đường ngang dứt khoát, chia tờ giấy thành ba phần rõ rệt, nét chì lún sâu vào mặt giấy:
"Để đối phó với khoản ngân sách hạn hẹp đến mức cùng cực này và tối hậu thư ba tháng của mẹ em, em đề xuất tái cấu trúc toàn bộ dự án Mộc Miên thành một lộ trình ba giai đoạn sinh tồn rõ ràng. Chúng ta không làm dàn trải, không tô vẽ, mà đi từng bước sống còn."
Cả Bảo và Phong đều đổ dồn ánh mắt về phía đầu ngòi chì sắc nhọn của cô.
"Giai đoạn một: Sinh tồn kết cấu," Nguyên gõ mạnh đầu bút chì lên ô đầu tiên, viết hoa chữ CẤP THIẾT. "Mục tiêu duy nhất và tối thượng là giữ cho ngôi nhà không sập và không dột. Xử lý triệt để việc chống thấm mái áp mái bằng cách thay thế thanh xà gồ bị gãy gập ở nhịp ba, lợp lại toàn bộ ngói liệt cũ còn tận dụng được, và phủ bạt chuyên dụng lớp lót chống thấm bên dưới. Đồng thời, xử lý khẩn cấp hệ khung chịu lực: gia cố bốn chân cột mục C-03, C-04, C-07, C-08 và nẹp giằng lại thanh dầm D-02 đang bị vặn xoắn ở góc tây nam. Về phần đất nền, chúng ta không đổ kè bê tông tốn kém, mà chỉ đào rãnh thoát nước sơ bộ cắt ngang sườn dốc ở chân taluy để hướng dòng nước mặt chảy tràn ra mương tự nhiên xa móng đá. Toàn bộ giai đoạn này bắt buộc phải hoàn thành dứt điểm trong vòng mười lăm ngày tới."
Bảo khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ ngạc nhiên xen lẫn thán phục trước sự chuyển hướng tâm lý và tư duy chiến lược cực nhanh của cô gái trẻ.
"Giai đoạn hai: Tạo dòng tiền cục bộ," Nguyên tiếp tục lia ngòi bút chì vẽ một mũi tên lớn sang ô thứ hai. "Sau khi khung nhà đã đứng vững và an toàn tuyệt đối, chúng ta không lao vào cải tạo toàn bộ sáu phòng ngủ như dự tính ban đầu. Chúng ta chỉ tập trung toàn bộ vật lực hoàn thiện tạm thời ba phòng ngủ ở tầng trệt – nơi có kết cấu ổn định nhất, ít chịu rung chấn nhất và dễ tiếp cận nhất từ cổng vào. Tận dụng toàn bộ giường, tủ, bàn ghế cũ của bà ngoại để làm sạch, bào ráp và lau dầu lại. Ba phòng này sẽ mở đón khách lưu trú nhỏ lẻ ngay lập tức: nhóm khách đi phượt, các nghệ sĩ hoặc những người cần không gian yên tĩnh làm việc dài ngày. Mục tiêu của giai đoạn hai không phải là thu lãi lớn, mà là tạo ra dòng tiền dương ngay từ tháng thứ hai để trang trải chi phí nhân công tại chỗ và có tiền trả lãi xoay vòng cho các khoản nợ vật tư."
Đầu ngòi chì của Nguyên di chuyển dứt khoát sang ô cuối cùng ở đáy trang giấy:
"Giai đoạn ba: Cảnh quan sinh thái và trải nghiệm bền vững. Chỉ khi Mộc Miên đã tự nuôi sống được chính nó qua dòng tiền của giai đoạn hai, chúng ta mới bắt tay vào đào hồ thu gom nước ngầm để hoàn thiện vườn mưa sân sau theo đúng nguyên lý cảnh quan bản địa, biến khu trũng ngập úng thành một hồ sinh thái tự thấm, giữ ổn định chân đồi lâu dài. Đồng thời, lúc đó mới dùng tiền thặng dư sửa sang lại chái nhà kho phía đông thành xưởng trải nghiệm làm mộc thủ công để thu hút khách lưu trú dài hạn và bán sản phẩm lưu niệm. Nếu không vượt qua được giai đoạn một và không có dòng tiền từ giai đoạn hai, giai đoạn ba tuyệt đối không được phép động tới một viên đá hay một tấc gỗ nào."
Nguyên buông chiếc bút chì xuống mặt bàn. Cây bút lăn tròn một vòng rồi dừng lại ngay cạnh thước thép của Phong. Cô ngước lên nhìn hai người đàn ông:
"Ý kiến của hai anh thế nào về khung phân kỳ này?"
Một nụ cười hiếm hoi xuất hiện trên gương mặt góc cạnh, nghiêm nghị của Trần Gia Bảo. Anh khoanh hai tay trước ngực, nhìn Nguyên với ánh mắt của một kỹ sư đàn anh nhìn một đồng nghiệp thực thụ:
"Tư duy rất sắc bén, thực tế và lạnh lùng. Đây chính là cách tiếp cận phân kỳ rủi ro chuẩn xác nhất của dân công trình chuyên nghiệp khi rơi vào khủng hoảng vốn. Việc chia nhỏ dự án thành ba giai đoạn độc lập giúp chúng ta kiểm soát dòng vốn đến từng đồng lẻ, không bị dàn trải nguồn lực, đồng thời tạo ra các cột mốc nghiệm thu kỹ thuật rõ ràng để kiểm tra tính an toàn. Tôi hoàn toàn ủng hộ khung sườn này mà không có bất kỳ phản đối nào."
Bảo quay sang nhìn người đàn ông nãy giờ vẫn ngồi im lặng như một pho tượng đá ở góc bàn:
"Còn Phong? Về mặt thi công mộc thực địa cho giai đoạn một, cậu thấy thế nào? Ngân sách giai đoạn một cho toàn bộ phần việc mộc chỉ có thể gói gọn trong khoảng ba mươi lăm đến tối đa bốn mươi triệu đồng tiền mua vật tư, chưa tính chi phí công thợ của xưởng cậu."
Phong không vội vàng cất tiếng. Sự im lặng của anh có sức nặng của một người thợ quen giao tiếp bằng sức nặng của búa và độ bén của lưỡi đục hơn là lời nói suông. Anh từ tốn mở cuốn sổ tay bìa da bò, lật giở từng trang vẽ phác các mặt cắt chi tiết chân cột C-03 đến C-08 mà anh đã tự tay bò sát sàn đất, dùng dao rọc giấy gọt thử từng thớ gỗ mục để đo đạc suốt mấy ngày qua.
Bàn tay Phong – bàn tay to bản với những khớp xương gồ ghề, lớp chai dày cộp ở lòng bàn tay và vết sẹo mổ dài mười lăm phân co rút chằng chịt nơi cổ tay phải – lướt qua những thông số kích thước mi-li-mét một cách cẩn trọng. Vết sẹo ấy hơi giật giật nhẹ khi các ngón tay anh co duỗi.
"Tôi đồng tình với phương án phân kỳ ba giai đoạn của Nguyên và anh Bảo," Phong cất giọng trầm thấp, đều đặn, âm lượng vừa đủ nghe nhưng tròn vành rõ chữ. "Và để giải quyết bài toán ngân sách bốn mươi triệu cho giai đoạn một mà vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối, tôi đề xuất giải pháp kỹ thuật: chúng ta không mua một mét khối gỗ mới nào từ các bãi gỗ thương phẩm."
Nguyên hơi nhướn mày, ánh mắt nghi ngại:
"Không mua gỗ mới? Bốn chân cột lõi đã mục ruột tới sáu mươi phần trăm. Nếu không thay bằng gỗ mới, lấy gì để chịu tải cho toàn bộ mái ngói nặng hàng chục tấn phía trên?"
"Tận dụng gỗ thông cũ xử lý nhiệt," Phong nhìn thẳng vào bản vẽ mặt cắt, bắt đầu giải thích cặn kẽ từng chi tiết cấu tạo. "Ở xưởng Gió Thông, tôi hiện lưu giữ một khối lượng lớn dầm gỗ thông ba lá tháo dỡ từ các biệt thự cổ thời Pháp ở khu Trại Mát năm ngoái. Đó là loại thông già nguyên sinh được khai thác từ đầu thế kỷ trước, vòng năm rất khít, hàm lượng dầu nhựa tự nhiên cực cao đã ngấu đanh lại qua hơn nửa thế kỷ. Tôi sẽ đưa số phôi gỗ này vào buồng xử lý gia nhiệt bề mặt ở nhiệt độ hai trăm độ C để triệt tiêu toàn bộ độ ẩm tàn dư và nấm mốc, sau đó quét ba lớp dầu lanh thẩm thấu sâu. Lớp gỗ thông xử lý này có khả năng kháng ẩm, chống mối mọt và chịu nén tự nhiên tốt hơn rất nhiều so với các loại gỗ xẻ tươi bán ngoài bãi hiện nay."
Phong lật sang trang sổ tiếp theo, nơi anh đã dùng bút chì thợ mộc vẽ phối cảnh ba chiều của một khớp nối gỗ phức tạp đến kinh ngạc:
"Quan trọng hơn cả là phương pháp thi công. Chúng ta không cần và tuyệt đối không nên cẩu kích nâng toàn bộ khung nhà lên để thay toàn bộ thân cột cao bốn mét rưỡi."
Bảo nhíu mày hứng thú: "Cậu không kích nâng toàn phần? Vậy làm thế nào để thay thế phần chân mục nát sát mặt đá?"
"Giải pháp là cắt lọc và ghép mộng cục bộ," Phong chỉ đầu bút chì vào bản vẽ. "Nếu dùng giàn giáo thủy lực nhấc bổng cả ngôi nhà, rung chấn sẽ làm vặn xoắn toàn bộ hệ liên kết ngàm mộng kèo mái pơ mu bên trên – điều mà trước khi mất, bà ngoại đã dặn đi dặn lại là bằng mọi giá phải bảo tồn nguyên vẹn. Hơn nữa, thuê hệ thống kích thủy lực đồng bộ sẽ ngốn đứt ba mươi triệu tiền máy móc. Giải pháp của tôi: chúng ta dùng kích phụ tạm thời chống đỡ từng điểm chịu lực cục bộ, cưa cắt bỏ phần chân cột pơ mu bị mục rỗng cách mặt thớt đá tảng đúng sáu mươi phân. Sau đó, dùng kỹ thuật ghép mộng giằng cổ truyền – cụ thể là kỹ thuật *mộng chân vịt có chốt then nêm âm dương* – để nối một khối chân đế mới bằng gỗ thông già xử lý nhiệt vào thân cột pơ mu cũ."
Phong dùng đầu ngón tay cái thô ráp vạch rõ đường cắt mộng đan xen trên bản vẽ:
"Thân cột pơ mu nguyên bản vẫn được giữ nguyên vị trí chịu lực dọc trục chính. Mộng chân vịt với bốn ngàm khóa bốn phía sẽ triệt tiêu hoàn toàn lực xô ngang và mô men uốn do rung lắc gây ra. Khi tải trọng bên trên nén xuống, hai nêm then bằng gỗ trắc đóng ngược chiều từ hai bên sẽ tự động siết chặt mối ghép lại, biến thân cột cũ và chân đế mới thành một khối đồng nhất truyền thẳng lực nén xuống tảng đá kê. Bằng cách này, chúng ta bảo tồn được tới tám mươi phần trăm cấu kiện gỗ gốc theo đúng di nguyện của bà, tiết kiệm bảy mươi phần trăm chi phí vật liệu vì dùng gỗ tận dụng, và thời gian thi công chỉ mất đúng bốn ngày cho cả bốn chân cột."
Bảo cúi rạp người xuống mặt bàn, dí sát mắt vào bản vẽ tay tỉ mỉ đến từng đường gạch bóng của Phong. Đôi mắt người kỹ sư kết cấu lóe lên sự kinh ngạc tột độ xen lẫn niềm thán phục không giấu giếm. Anh cầm cuốn sổ tay của Phong lên, đưa ra sát ánh sáng đèn bão soi kỹ từng góc vát, rồi khẽ thốt lên:
"Mộng chân vịt có then nêm âm dương... Kỹ thuật ghép nối gián đoạn này là đỉnh cao của nghề mộc cổ truyền phương Đông. Nhưng Phong này, độ dung sai cho phép giữa ngàm đực và rãnh cái của mối nối này không được vượt quá một mi-li-mét. Nếu người thợ đục chệch chỉ một nhát đục, hoặc góc vát nghiêng lệch nửa độ, khi nẹp then đóng vào, tải trọng dồn xuống sẽ không truyền đều mà gây ứng suất cục bộ, làm toác toác thớ gỗ pơ mu ngay tại điểm giáp ranh!"
Bảo đặt cuốn sổ xuống, nhìn thẳng vào Phong với ánh mắt vừa dò xét vừa nể trọng:
"Thú thật với hai người, ở khắp cái đất Đà Lạt và vùng phụ cận bây giờ, số thợ trẻ còn đủ trình độ, sự kiên nhẫn và tay nghề để xẻ rãnh, gọt mộng thủ công chuẩn xác đến từng mi-li-mét như thế này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đa phần các nhà thầu thi công nhanh bây giờ chỉ biết dùng giải pháp thực dụng: áp hai tấm bản mã thép dày mười ly vào hai bên rồi khoan bu-lông xuyên tâm. Cách đó vừa phá nát thớ gỗ, vừa làm đọng nước mưa rỉ sét bên trong bu-lông, chỉ sau ba mùa mưa là lõi gỗ quanh lỗ khoan sẽ mục nát gấp đôi."
Bảo gõ gõ ngón tay lên mặt bàn:
"Về mặt cơ học kết cấu, giải pháp của Phong là một phương án cứu sinh tuyệt hảo cho giai đoạn một. Nó không chỉ bẻ gãy gánh nặng chi phí bốn trăm triệu xuống còn chưa đầy bốn mươi triệu, mà còn giữ được linh hồn của hệ khung pơ mu. Tuy nhiên, tôi phải tuyên bố một cảnh báo kỹ thuật tối hậu: chất lượng của các khớp mộng này chính là lằn ranh sinh tử duy nhất của Mộc Miên. Chúng sẽ trực tiếp quyết định việc ngôi nhà này có thể trụ vững qua mùa bão tháng Tám hay không, khi những cơn gió giật cấp tám, cấp chín thốc ngược từ lòng thung lũng lên vách đồi. Nếu mộng trượt, cả căn nhà sẽ sụp đổ dây chuyền."
"Tôi hiểu rõ điều đó," Phong đáp lại, giọng nói không hề có một gợn sóng lay chuyển. Đó là sự điềm tĩnh tuyệt đối của một người thợ mộc đã dành cả đời để thấu hiểu từng thớ gỗ, xem danh dự và lương tâm nghề nghiệp là thứ quý giá hơn tính mạng. "Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn bằng danh dự và pháp nhân xưởng mộc của mình về độ bền cơ học của từng khớp mộng ghép."
Nguyên ngồi bất động giữa luồng tranh luận kỹ thuật của hai người đàn ông. Trái tim cô đập thình thịch từng nhịp nặng nề sau lồng ngực. Lời khẳng định đanh thép của Bảo và giải pháp mộc tài tình của Phong giống như một dòng nước mát rót vào cổ họng đang khô cháy của kẻ lữ hành trên sa mạc. Tảng đá ngàn cân đè nặng lên tâm trí cô suốt từ hôm qua dường như đã được nhấc bớt một phần.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc sự nhẹ nhõm vừa le lói xuất hiện, bản năng phòng vệ của cô lập tức kéo giật cô trở về với thực tại nghiệt ngã.
Cô nhìn chằm chằm vào vết sẹo mổ dài ngoằng trên cổ tay phải của Phong. Mười năm trước, con người này cũng từng đứng trước mặt cô với đôi mắt đầy đam mê, nói về những bản vẽ, về những giấc mơ dựng nhà trên đồi thông, rồi sau đó biến mất không một lời từ biệt, để lại cô vật lộn giữa sự hoang mang và đổ vỡ. Mười năm trôi qua, anh quay lại với một bàn tay mang sẹo và tay nghề thợ mộc thượng thặng, cứu cô thoát khỏi thế cờ tàn. Nhưng cuộc đời này không có bữa trưa nào miễn phí, và vết thương cũ đã dạy cho Nguyên một bài học xương máu: không bao giờ được phép đem sự ủy mị, niềm tin cảm tính hay những hoài niệm đã chết ra để thế chấp cho tương lai.
Cô không thể để sự cảm kích biến thành sự thỏa hiệp. Mọi thứ phải được đặt dưới ánh sáng lạnh lùng của quy tắc và pháp lý.
Nguyên hít một hơi thật sâu, nén chặt mọi xao động xuống đáy lòng. Cô với tay lấy tập hồ sơ dự thảo hợp đồng gồm ba bản mà cô đã thức suốt nửa đêm qua để soạn thảo và in sẵn trên máy in văn phòng cũ, đặt ngay ngắn ra giữa mặt bàn.
"Cảm ơn giải pháp mang tính đột phá của anh Phong và những phân tích phản biện quý báu của anh Bảo," Nguyên cất lời, tông giọng của cô chuyển dịch hoàn toàn sang sự phẳng lặng, cách biệt và trang trọng của một chủ đầu tư đang làm việc với các nhà thầu độc lập. "Để đảm bảo lộ trình ba giai đoạn được thực thi một cách tuyệt đối nghiêm túc, không chệch hướng và tránh mọi tranh chấp hay xung đột cá nhân có thể phát sinh, chúng ta cần xác lập một cơ chế làm việc minh bạch bằng văn bản ngay từ giờ phút này."
Nguyên lật mở tập tài liệu dày cộp, đẩy một bản sang phía Phong, một bản sang phía Bảo:
"Đây là Biên bản Thỏa thuận Làm việc và Phân kỳ Thi công giai đoạn một giữa Homestay Mộc Miên và Xưởng mộc Gió Thông, với anh Trần Gia Bảo giữ vai trò kỹ sư tư vấn giám sát độc lập đại diện quyền lợi kỹ thuật. Trong văn bản này, ngoài các điều khoản chung về an toàn lao động, em đã quy định rõ ba điều khoản bắt buộc mang tính nguyên tắc sống còn:"
Nguyên giơ ngón tay trỏ có dán băng cá nhân, chỉ thẳng vào từng điều khoản đã được in đậm và gạch chân trên mặt giấy A4:
"Thứ nhất: Tính minh bạch tài chính tuyệt đối. Toàn bộ tiền mua vật tư giai đoạn một phải được hạch toán chi tiết. Xưởng Gió Thông có trách nhiệm cung cấp báo cáo chi phí bằng văn bản kèm toàn bộ hóa đơn, chứng từ mua bán vật tư thực tế cho từng đợt mua sắm dầm gỗ thông cũ, dầu lanh và phụ kiện nêm then. Nguyên tắc giải ngân là: tiền ứng theo tiến độ thực địa. Em sẽ chỉ giải ngân từng đợt tiếp theo sau khi anh Bảo đã trực tiếp kiểm tra, đo đạc và ký vào biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho từng hạng mục chân cột đã hoàn thành."
Phong nhìn vào dòng chữ in đậm, ánh mắt phẳng lặng không hề dao động:
"Hoàn toàn hợp lý. Tôi sẽ nộp đầy đủ chứng từ xuất kho của xưởng và hóa đơn mua vật liệu phụ."
"Thứ hai: Ranh giới công việc và đời sống riêng tư," Nguyên nhìn thẳng vào mắt Phong, không hề né tránh, từng từ thốt ra đều được gọt giũa sắc bén và lạnh lùng. "Chúng ta làm việc ở đây thuần túy trên tư cách đối tác chuyên môn bình đẳng. Thời gian làm việc tại hiện trường công trình Mộc Miên được cố định nghiêm ngặt từ 7 giờ 30 sáng đến đúng 17 giờ chiều mỗi ngày. Tuyệt đối không thảo luận chuyện riêng, không nhắc lại quá khứ, không can thiệp vào đời sống cá nhân của nhau, và không có bất kỳ một ngoại lệ nào nằm ngoài phạm vi công việc phục chế kỹ thuật cho ngôi nhà."
Một thoáng im lặng bao trùm gian phòng. Ánh mắt Phong khẽ chùng xuống trong tíc tắc, sâu thẳm trong đáy mắt anh có một tia sáng đau đớn nhói lên rồi nhanh chóng lặn mất tăm sau vẻ ngoài sắt đá. Bàn tay anh đặt trên bàn khẽ siết chặt lấy chiếc bút chì thợ mộc, nhưng giọng anh cất lên vẫn giữ được độ trầm tĩnh đến kinh ngạc:
"Tôi hoàn toàn đồng ý và cam kết tuân thủ."
"Và thứ ba," Nguyên tiếp tục, ánh mắt chuyển sang vẻ kiên định, uy quyền của một kiến trúc sư chủ trì nắm toàn quyền quyết định dự án. "Kỷ luật kết cấu tuyệt đối. Không một ai – kể cả anh Phong với tư cách thợ cả hay anh Bảo với tư cách kỹ sư giám sát – được phép tự ý thay đổi kết cấu, quy cách vật liệu, chủng loại gỗ hoặc cấu tạo mộng nối ngoài bản vẽ kỹ thuật đã được ba bên cùng ký duyệt trong tập hồ sơ ngày hôm nay. Bất kỳ một sự điều chỉnh phát sinh nào tại hiện trường, dù là nhỏ nhất như một đường cắt hay một mũi khoan, đều bắt buộc phải lập phụ lục biên bản hiện trường và phải có đủ chữ ký xác nhận của cả ba người mới được phép thi công."
Bảo nhìn Nguyên, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười tán thưởng thực lòng:
"Rất chặt chẽ. Đây là sự rành mạch chuẩn mực của một hợp đồng thi công chuyên nghiệp. Chỉ có sự minh bạch và kỷ luật sắt đá này mới bảo vệ được cả công trình lẫn mối quan hệ làm việc của chúng ta trong những ngày áp lực sắp tới."
Không chần chừ, Bảo rút chiếc bút dạ bi từ túi áo gi lê, đặt bút ký dứt khoát vào vị trí Kỹ sư Giám sát Độc lập, rồi chuyền tập hồ sơ sang trước mặt Phong.
Phong cầm lấy chiếc bút bi kim loại màu đen. Bàn tay to bản của anh đặt vững vàng trên mép trang giấy trắng. Không một giây do dự, không một câu hỏi thừa thãi, anh ký tên mình bằng một nét chữ vuông vức, góc cạnh và dứt khoát: *Lê Hoàng Phong*, rồi lấy từ trong túi áo ra con dấu tròn bằng đồng của Xưởng mộc Gió Thông, ấn một vết mực đỏ tươi sắc nét ngay bên cạnh chữ ký.
Cuối cùng, tập biên bản ba bên được đẩy ngược trở lại về phía Nguyên.
Nguyên cúi đầu, nhìn hai chữ ký nằm cạnh nhau trên trang giấy trắng tinh. Mười năm trước, họ từng ngồi bên bờ hồ Tuyền Lâm, chụm đầu trên cùng một cuốn sổ phác thảo, mơ mộng về một ngày sẽ cùng nhau thiết kế những ngôi nhà gỗ mộc mạc ẩn hiện giữa rừng thông Đà Lạt. Mười năm sau, họ lại ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ cũ kỹ ngấm nước của bà ngoại, nhưng được gắn kết với nhau bằng một bản thỏa thuận lao động lạnh lùng với những điều khoản ranh giới nghiêm ngặt như một bức tường thành bằng thép.
Cuộc đời quả thực đã xô lệch quá nhiều, nhưng đúng như lời bà ngoại đã viết trong bức thư: quan trọng là cái cốt lõi thật thà. Bằng bản hợp đồng này, họ bắt đầu cuộc chiến giữ lại Mộc Miên không phải bằng ảo tưởng, mà bằng sự tỉnh táo và trách nhiệm cao nhất.
Nguyên cầm cây bút của mình, đặt ngòi bút xuống ô Chủ đầu tư, ký một nét chữ mềm mại nhưng dứt khoát: *Vũ Thảo Nguyên*.
Tiếng ngòi bút ma sát trên mặt giấy xốp sột soạt vang lên đanh gọn trong gian phòng khách tĩnh mịch, khép lại giai đoạn chuẩn bị đầy giông bão. Lộ trình ba giai đoạn phục hồi Mộc Miên chính thức có hiệu lực pháp lý giữa ba người.
Bảo đứng dậy khỏi ghế, vươn vai một cái thật mạnh khiến các khớp xương kêu răng rắc. Anh thu dọn thước đo và máy móc vào hộp nhựa:
"Xong xuôi phần thủ tục pháp lý và định hình kỹ thuật. Bây giờ tôi phải chạy xe về Trung tâm trên phố để nộp bản báo cáo quy hoạch thoát nước khu vực cho kịp giờ hành chính. Sáng mai, đúng 7 giờ 30, tôi sẽ có mặt ở đây để kiểm tra, nghiệm thu lô phôi gỗ thông xử lý nhiệt đầu tiên mà xưởng Phong chuyển tới công trường. Chúng ta sẽ bắt đầu kích nâng phụ và xử lý từ chân cột C-03 ở góc chái sau trước tiên."
"Cảm ơn anh Bảo rất nhiều vì sự hỗ trợ kịp thời này," Nguyên đứng dậy, đưa hai tay bắt lấy bàn tay thô ráp của người kỹ sư đàn anh.
Bảo gật đầu chào hai người, xách chiếc hộp máy thủy bình màu cam bước nhanh ra ngoài hiên. Tiếng ủng cao su của anh nện đều đặn trên những bậc tam cấp rồi xa dần, để lại một khoảng không gian im ắng đến ngột ngạt giữa Nguyên và Phong trong gian phòng khách mờ tối.
Sương mù buổi chiều bắt đầu từ phía đáy thung lũng dâng ngược lên sườn đồi, bảng lảng tràn qua những rặng thông già, phủ một lớp hơi nước mờ đục, buốt lạnh lên khung cửa kính chớp. Gió Đà Lạt mang theo mùi ngai ngái nồng nặc của đất đỏ ngậm nước và hương cỏ dại ẩm ướt lùa qua những kẽ hở của ván thông, làm ngọn lửa trong chiếc đèn bão khẽ chao đảo.
Phong đứng dậy. Động tác của anh chậm rãi và chuẩn xác như mọi khi. Anh cẩn thận cuộn bản vẽ phân kỳ đợt một – bản vẽ chi tiết các mặt cắt cấu tạo hệ mộng chân vịt và kích thước gia cố chân cột – đút gọn gàng vào chiếc ống bảo quản bằng da bò thô mộc của mình. Anh kéo khóa ống bản vẽ, cài lại quai đeo qua vai.
"Tôi sẽ về xưởng Gió Thông ngay bây giờ," Phong nói, ánh mắt nhìn thẳng vào chiếc ống bản vẽ trên tay chứ không hề nhìn vào cô, duy trì khoảng cách quy ước một cách tuyệt đối chuẩn mực. "Số phôi dầm thông cũ đã được tôi đưa vào lò sấy nhiệt từ tuần trước để chuẩn bị sẵn. Tối nay tôi và thợ phụ của xưởng sẽ bắt đầu xẻ rãnh, đục các ngàm mộng âm dương theo đúng kích thước dung sai mi-li-mét trên bản vẽ này. Sáng mai xe tải nhẹ sẽ chở toàn bộ gỗ đã xử lý cùng kích phụ thủy lực và đồ nghề chuyên dụng lên dốc sớm."
"Được rồi," Nguyên đáp, hai tay cô đút sâu vào túi áo khoác dạ để giấu đi sự run rẩy vì cái lạnh đang thấm qua lớp vải. "Cổng ngoài em sẽ mở sẵn từ bảy giờ sáng."
Phong gật đầu ngắn gọn. Anh xoay người, bước từng bước nặng nề, chắc nịch ra phía cửa chính. Chiếc áo khoác kaki rêu sờn bạc màu mưa nắng khẽ lay động theo từng nhịp bước chân vững chãi.
Khi bước chân của anh chạm tới mép bậc tam cấp ngoài hiên, nơi bãi bùn đỏ non vẫn còn in dấu những vết giày lầy lội từ sáng, Phong bỗng dừng lại nửa giây. Bóng lưng cao gầy, hơi đổ về phía trước của anh in một vệt sẫm màu lên màn sương trắng đục. Anh không quay đầu lại, hai tay vẫn nắm chặt quai túi đồ nghề trên vai, nhưng cất giọng nói trầm trầm, hòa lẫn vào tiếng gió chiều đang rít qua đầu hồi:
"Bàn tay phải của Nguyên... nhớ bôi cồn đỏ sát trùng và thay băng gạc thường xuyên. Mùn gỗ mục ở Đà Lạt ẩm lắm, ngấm vào vết rách rất dễ nhiễm trùng uốn ván."
Dứt lời, không đợi một lời đáp lại, Phong sải bước dứt khoát đi thẳng xuống con dốc đất đỏ trơn trượt. Bóng dáng anh cô độc, lầm lũi nhưng vững chãi chìm dần vào màn sương mù dày đặc đang cuồn cuộn dâng lên từ thung lũng, nuốt chửng lấy rặng thông ven đường.
Nguyên đứng chết lặng bên khung cửa gỗ, ngón tay vô thức chạm nhẹ vào lớp băng cá nhân đã sờn mép trên mu bàn tay phải. Một cảm giác nhói buốt lan tỏa theo từng mạch máu, vừa tê dại vì gió lạnh, vừa âm ỉ một hơi ấm kỳ lạ mà lý trí cô cố sức chối bỏ. Cô thở hắt ra một hơi dài, lắc mạnh đầu để xua tan những xao động nguy hiểm vừa chớm nở trong lồng ngực. Cô không được phép mềm lòng. Cô chỉ có đúng ba tháng để cứu lấy mảnh đất này.
Nguyên quay trở vào trong nhà, dùng hết sức khép chặt hai cánh cửa gỗ dổi dày cộp, cài then sắt nặng trịch lại để ngăn bớt từng luồng gió lạnh cắt da cắt thịt đang chực ùa vào gian phòng.
Cô bước lại gần chiếc bàn làm việc dã chiến, bắt đầu thu dọn những tập hồ sơ kỹ thuật rải rác trên mặt gỗ dẻ gai.
Đúng lúc bàn tay cô vừa chạm vào tập bản vẽ, chiếc điện thoại thông minh đặt úp trên mặt bàn bỗng rung lên bần bật. Âm thanh rung cộng hưởng với mặt gỗ rỗng phát ra tiếng rè rè chói tai, phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng.
Màn hình điện thoại phát sáng xanh lét giữa không gian nhập nhoạng tối của buổi hoàng hôn cao nguyên.
Một thông báo tin nhắn từ ứng dụng ngân hàng hiện lên trên nền đen:
*“TB: Hạn mức tín dụng thẻ Platinum số đuôi 4821 của quý khách đã sử dụng: 98,5% (chạm ngưỡng báo động đỏ). Đề nghị quý khách thanh toán số dư tối thiểu trước ngày 20/06 để tránh bị khóa thẻ toàn phần và chuyển nhóm nợ xấu trên hệ thống CIC…”*
Và ngay bên dưới dòng thông báo ấy là một tin nhắn SMS gửi đến từ một số máy lạ có mã vùng Sài Gòn – số điện thoại của tay đại diện pháp lý cho nhà cung cấp đá ốp lát và thép công trình của dự án cũ:
*“Chào cô Nguyên. Chúng tôi nhắc lại lần cuối: khoản nợ bảo lãnh vật tư đợt một trị giá 120 triệu đồng bắt buộc phải được giải ngân vào tài khoản công ty trước 17 giờ ngày 20/6 theo đúng cam kết bảo lãnh cá nhân của cô. Nếu đến hết ngày 20 chúng tôi không nhận được tiền, văn phòng luật sư đại diện sẽ chính thức nộp đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân và yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa toàn bộ tài sản thừa kế của cô tại Đà Lạt.”*
Nguyên đứng sững sờ giữa gian phòng khách lạnh ngắt. Ánh sáng xanh lét, ma quái từ màn hình điện thoại rọi thẳng vào gương mặt hốc hác, tái nhợt không còn một giọt máu của cô.
Hạn chót ngày 20 tháng 6.
Hôm nay đã là ngày 8 tháng 6.
Chỉ còn đúng mười hai ngày nữa. Lưỡi dao pháp lý đã kề sát cổ, và ngôi nhà gỗ dưới chân cô thì vẫn đang nghiêng dần về phía vực sâu.