Ly Cà Phê Đầu TiênCh.40 / 45
Chapter 40

Đấu trường hương vị

Tiếng ồn ào của hàng ngàn khách tham quan và mùi hương cà phê nồng nặc tràn ngập sảnh Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC) ngay từ chín giờ sáng.

Không khí bên trong nhà triển lãm rộng hàng chục nghìn mét vuông đặc quánh hơi lạnh từ hệ thống điều hòa công nghiệp công suất lớn, quyện lẫn tạp âm chát chúa của máy xay hạt công nghiệp, tiếng hơi nước rít lên chói tai từ những cỗ máy pha espresso bóng loáng mạ crôm và tiếng nhạc điện tử dập dồn, dội thình thịch phát ra từ các sân khấu quảng bá thương hiệu. Ngay lối đi trung tâm dẫn thẳng vào sảnh A – trục giao thông huyết mạch của toàn bộ sự kiện hội chợ triển lãm thường niên này – các tập đoàn cà phê đa quốc gia và những chuỗi thương hiệu nhượng quyền khổng lồ chiếm lĩnh những vị trí mặt tiền đắc địa nhất.

Ở đó, những gian hàng tiền tỷ được dựng bằng khung thép tiền chế đồ sộ, ốp kính cường lực uốn cong không tì vết, màn hình LED ma trận khổng lồ cao vút tới tận trần nhà liên tục phát những đoạn phim quảng cáo 4K bóng bẩy với hình ảnh người mẫu ngoại quốc nâng niu tách cà phê bốc khói mờ ảo giữa khung cảnh đồn điền mù sương được chỉnh màu kỹ lưỡng. Đội ngũ nhân viên của họ mặc âu phục là ủi phẳng phiu, cà vạt tơ tằm thắt nút chỉnh tề, đứng sau những quầy bar lát đá thạch anh nhân tạo trị giá bằng cả một căn nhà phố ngoại ô, tươi cười phát tờ rơi in nổi kim nhũ dập chữ vàng kim cho dòng khách tham quan nườm nượp qua lại như mắc cửi. Khắp không gian trung tâm ấy sực nức mùi hương liệu tổng hợp, mùi bơ béo ngậy được gia nhiệt quá độ và mùi cà phê rang đậm cháy khét được ngụy trang cẩn thận dưới những lớp si-rô ngọt lịm.

Nằm lọt thỏm ở góc hành lang phụ của Khu vực Đổi mới Sáng tạo Nông sản Việt Nam – vị trí B-12 khuất sâu sau một dãy cột bê tông chịu lực – gian hàng của Bản Đỏ Coffee trông như một nét chấm phá kỳ lạ, có phần lạc lõng giữa đại tiệc công nghệ xa hoa và hào nhoáng ấy.

Không có lấy một tấm kính cường lực, không màn hình LED tiền tỷ hay hệ thống đèn rọi thông minh đổi màu theo nhịp điệu âm thanh, gian hàng chỉ vỏn vẹn chín mét vuông do chính tay Khôi, Lâm và anh em trong đội ngũ kỹ thuật xưởng rang dựng thâu đêm trước giờ khai mạc chính thức. Mặt quầy phục vụ và các vách ngăn phía sau được đóng ghép tỉ mỉ từ những thanh gỗ thông pallet thô mộc được tận dụng lại từ những kiện hàng thiết bị cũ, bề mặt gỗ được chà nhám thủ công bằng giấy ráp thô để loại bỏ dằm sắc nhưng vẫn giữ nguyên từng thớ vân gỗ sần sùi, những vệt xước xát của thời gian và những mắt gỗ tròn sẫm màu tự nhiên. Bọc quanh chân quầy là những tấm bao đay thô ráp, sờn mép – chính là những tấm bao đay từng thấm đẫm mồ hôi của người công nhân bốc vác trên các chuyến xe tải chở cà phê nhân vượt đèo dốc từ Buôn Ma Thuột xuống Sài Gòn, bên trên in đậm dòng chữ mộc đỏ bằng mực chiết xuất từ vỏ hạt điều: *Bản Đỏ Coffee – Thung lũng Cư M'Rao*.

Trên mặt bàn gỗ thô ráp, một chiếc bình gốm đất nung mộc mạc không tráng men cắm những cành hoa cà phê khô màu trắng ngà. Đó là những cành hoa được hái cẩn thận từ rẫy của anh Tư vào đợt nở muộn cuối mùa, được bọc trong giấy bồi xốp mang từ Buôn Ma Thuột xuống, tỏa ra một làn hương cỏ cây thanh khiết, khô ráo và vương vấn chút mùi nắng cháy đặc trưng của đất đỏ bazan. Bên cạnh bình hoa là ba chiếc khay gỗ tròn đựng mẫu hạt: một khay nhân xanh căng tròn đều tăm tắp với sắc xanh ngọc bích của mẻ sơ chế ướt được kiểm soát nghiêm ngặt; một khay quả khô nguyên vỏ màu nâu sẫm, quánh lại như mứt của mẻ chế biến mật ong Yellow Honey; và một khay hạt vừa mới rang xong cách đó ba mươi sáu tiếng, hạt ánh lên màu nâu quế mịn màng với lớp dầu tự nhiên vừa chớm xuất hiện trên bề mặt. Không một chi tiết phô trương, không ánh đèn trang trí rực rỡ, góc nhỏ của Bản Đỏ toát lên cái chân chất, gan góc, mộc mạc mà kiêu hãnh của núi rừng Tây Nguyên đại ngàn.

Khôi đứng bên góc quầy, bàn tay ram ráp dính nhiều vết chai sần khẽ miết lên mép gỗ pallet mát lạnh. Đôi mắt anh hơi trũng sâu, viền mi thâm quầng sau ba đêm liền thức trắng rà soát từng trang hồ sơ kỹ thuật, kiểm tra lại chỉ số độ ẩm của từng bao hạt mẫu và cùng anh em thợ vận hành máy rang thử nghiệm tại xưởng vệ tinh, nhưng ánh nhìn toát ra từ đôi mắt ấy thì sáng quắc và tập trung tuyệt đối. Anh khẽ nghiêng đầu đưa mắt nhìn sang Lâm. Cậu bạn thân từ thời đại học của anh lúc này đang cẩn thận dùng thước gạt phẳng từng tập hồ sơ năng lực in trên giấy kraft tái chế màu nâu nhạt, sắp xếp chúng ngay ngắn bên cạnh chiếc máy tính xách tay cũ kỹ trầy xước bốn góc đang mở sẵn bảng cân đối dòng tiền, sơ đồ chuỗi cung ứng và biểu đồ độ ẩm thời gian thực của trạm phơi Cư M'Rao.

"Mặt tiền bên kia của Tập đoàn Đại Nguyên tốn không dưới tám trăm triệu tiền gia công khung nhôm và màn hình tương tác," Lâm khẽ nghiêng đầu thì thầm, ngón tay trỏ kín đáo chỉ sang gian hàng hoành tráng nằm ngay ngã tư đường luân chuyển chính cách đó chừng ba mươi mét. "Còn toàn bộ gian hàng này của chúng ta, tính từ tiền đinh vít, giấy ráp, tiền xe chở mấy chục thanh pallet từ xưởng gỗ phế liệu ngã ba Buôn Ma Thuột xuống tận cửa SECC này, tổng chi phí đóng hết đúng sáu triệu bốn trăm ngàn đồng. Nếu hôm nay không kiếm được ít nhất ba đơn hàng B2B tử tế hoặc bắt được một mối xuất khẩu nghiêm túc, tôi sẽ thẳng tay ghi toàn bộ khoản tiền này vào mục chi phí tổn thất tiếp thị đấy, thưa Giám đốc Nông trường."

Bảo Ngọc từ phía góc trong bước tới, hai tay đang thắt chặt mối dây của chiếc tạp dề bằng vải thô màu nâu sẫm có thêu biểu tượng ngọn đồi và hạt cà phê Bản Đỏ nhỏ nhắn, sắc sảo bên ngực trái. Cô dùng chiếc khăn sợi nhỏ màu xám tro lau khô từng chiếc phễu sứ Origami màu trắng tinh khôi và những chiếc bình thủy tinh chia vạch chịu nhiệt Borosilicate, giọng nói của cô phát ra bình thản, trầm tĩnh nhưng đanh thép lạ kỳ:

"Tiền dựng rạp với đèn màu không làm cho hạt cà phê ngon hơn một phần mười điểm SCA nào cả, Lâm ạ. Khách đến hội chợ này về cơ bản chỉ chia làm hai loại: loại thứ nhất là người đi xem hội cho vui, chen chúc nhau để chụp ảnh và lấy túi quà tặng miễn phí; loại thứ hai là những người cầm sổ tay, lặng lẽ đi tìm hương vị thật giữa một rừng hương liệu công nghiệp. Chúng ta chỉ cần loại khách thứ hai. Một người hiểu hạt cà phê là đủ để cứu sống cả một mùa vụ."

Đúng chín giờ ba mươi phút sáng, các cánh cửa sảnh chính mở toang, luồng khách tham quan sau khi lướt qua những gian hàng ồn ào ở trục lộ chính bắt đầu tản dần ra các nhánh hành lang phụ. Quầy bar trải nghiệm của Bản Đỏ chính thức đỏ lửa theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Thảo My – cô quản lý ca trẻ tuổi vừa được tôi luyện qua những đợt sóng gió dồn dập ở không gian quán Tú Xương – đứng vững chãi ở vị trí nhạc trưởng điều phối toàn bộ mặt quầy. Động tác của My thoăn thoắt, dứt khoát và nhịp nhàng như một cỗ máy đã được lập trình chính xác đến từng mili-giây. Dưới sự phân làn quầy bar mà cô cùng Bảo Ngọc đã dày công thiết lập trên bản vẽ kỹ thuật từ tuần trước, quầy trải nghiệm vỏn vẹn hai mét chiều dài được chia làm hai nửa phục vụ liên tục: một bên là trạm pour-over thủ công với ba phễu lọc Origami bằng gốm sứ đặt ngay ngắn trên ba chiếc cân điện tử chống nước hiển thị thời gian thực; một bên là trạm chiết xuất nhanh phục vụ dòng cà phê sữa mộc thanh thoát kết hợp giữa bình ủ lạnh đậm đặc và máy pha espresso mini dùng áp suất thấp.

"Xin chào anh chị! Mời anh chị dừng chân dùng thử mẫu Robusta Cư M'Rao sơ chế Yellow Honey vụ thu hoạch mới nhất của nông trại chúng em," tiếng Thảo My trong trẻo, tự tin và truyền cảm cất lên giữa những tạp âm râm ran xung quanh.

Tay cô cầm chiếc ấm rót cổ ngỗng mạ đen nhám, cổ tay khẽ nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, đưa dòng nước nóng chín mươi ba độ C chảy đều đặn, chuẩn xác theo hình xoắn ốc đồng tâm từ tâm phễu ra mép ngoài rồi quay ngược vào trong, thấm đẫm lớp bột cà phê xay thô vừa phải. Bột cà phê tiếp xúc với nước nóng lập tức nở bung mạnh mẽ trong giai đoạn blooming, giải phóng ra những bóng khí CO2 óng ánh cùng một làn khói mỏng mang theo mùi hương nồng đượm ngạt ngào: mùi của đường mía sém cạnh trên chảo gang, mùi mật ong rừng tự nhiên và nốt hương quả mơ chín mọng phơi nắng.

Ngay bên cạnh cô, một barista trẻ khác dưới sự chỉ đạo nhịp nhàng của My liên tục lắc những ly cà phê sữa mộc trong bình shaker kim loại. Đó là sự kết hợp hoàn hảo giữa cốt cà phê chiết xuất chậm từ hạt Robusta sẻ và nền sữa tươi thanh trùng kết hợp kem béo tự nhiên được gia nhiệt chuẩn xác ở mức sáu mươi mốt độ C – công thức nhiệt độ tối ưu mà Bảo Ngọc đã phải đổ bỏ hàng chục lít sữa trong phòng thí nghiệm để tìm ra nhằm giữ trọn độ ngọt tự nhiên của đường lactose mà không làm biến tính protein sữa.

Vị thanh thoát, ngậy béo êm dịu nhưng hậu vị cà phê cacao nguyên bản đậm đà, sâu lắng đọng lại nơi cuống họng của ly cà phê sữa mộc ngay lập tức tạo nên một hiệu ứng dây chuyền đầy bất ngờ. Ban đầu chỉ là vài bạn trẻ đi ngang qua, bị níu chân bởi mùi thơm hoa quả chín lạ lùng không giống bất kỳ gian hàng cà phê nào khác. Nhưng chỉ sau mười lăm phút ngắn ngủi, nhóm khách đầu tiên này đã kéo theo bạn bè của họ.

Các barista trẻ của những quán specialty coffee độc lập đang nổi danh tại Sài Gòn, các giảng viên chuyên ngành đào tạo pha chế, rồi đến những chủ chuỗi nhà hàng F&B có thâm niên bắt đầu dồn về, vây kín lấy gian hàng B-12. Họ không chen lấn xô đẩy, mà đứng sát vào nhau, chăm chú quan sát từng cử chỉ rót nước và đưa mũi lại gần miệng bình thủy tinh để cảm nhận tầng hương.

"Robusta mà sao lại có hương hoa quả nhiệt đới rõ nét và thanh sạch thế này?" Một barista trẻ đeo kính tròn, ngực áo cài huy hiệu quán quân cuộc thi Barista Championship cấp thành phố cất tiếng hỏi đầy kinh ngạc sau khi nhấp một ngụm pour-over từ chiếc ly giấy nếm thử. Anh ta đảo nhẹ chất lỏng trong miệng, mắt mở to nhìn vào phễu lọc: "Không hề có mùi cao su cháy, không có mùi gỗ ẩm hay vị ngái đất thường thấy ở Robusta thương phẩm. Thể chất hạt rất dày, đậm đà, nhưng nước rót ra lại trong vắt, hậu vị ngọt lịm như mật mía kéo dài tận cuống họng. Các bạn dùng giống gì và sơ chế thế nào mà triệt tiêu được hoàn toàn vị chát gắt vậy?"

"Dạ, đây là giống Robusta sẻ thuần chủng cổ thụ được bà con đồng bào Ê-đê trồng phân tán dưới tán rừng ở thung lũng Cư M'Rao, thu hái chín tay một trăm phần trăm và phơi trên giàn đối lưu cưỡng bức trong hệ thống nhà vòm nilon, thưa anh," Thảo My thoăn thoắt tráng một phễu lọc mới, nở nụ cười rạng rỡ và tự hào. "Tỷ lệ quả chín đỏ được kiểm soát gắt gao ngay từ lúc cân tại rẫy, bóc vỏ giữ nguyên toàn bộ lớp chất nhầy chứa hàm lượng đường Brix đo được luôn trên hai mươi mốt phần trăm."

Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, lối đi nhỏ hẹp trước gian hàng B-12 đã bị nghẽn lại bởi dòng người xếp thành một hàng dài dằng dặc, kiên nhẫn đứng chờ đến lượt nếm thử từng giọt cà phê chiết xuất thủ công. Tiếng lách cách của ly tách sứ va chạm, tiếng xì xào thảo luận rôm rả của các chuyên gia về độ ngọt tự nhiên, về thể chất hạt (body) và những nốt hương hoa quả lan tỏa khắp một góc hành lang. Không gian vốn tĩnh lặng, heo hút của phân khu đổi mới sáng tạo bỗng chốc trở thành tâm điểm chú ý của cả khu nhà B, thu hút sự tò mò của những ánh mắt từ trục đường chính nhìn vào.

Đúng lúc dòng người đang đông đúc và náo nhiệt nhất, một nhóm người mặc âu phục đắt tiền xuất hiện từ phía khúc quanh hành lang chính. Đi đầu đoàn người là Vũ Thành Đạt. Phó Tổng giám đốc phụ trách vùng nguyên liệu của Tập đoàn Cà phê Đại Nguyên sải bước tự tin, vạt áo vest màu xanh navy bay nhẹ theo từng bước chân vội vã. Cổ áo anh ta đeo tấm thẻ khách VIP mạ vàng lấp lánh có dải ruy-băng đỏ thắm, tháp tùng phía sau là bốn chuyên gia thu mua quốc tế người ngoại quốc và hai trợ lý trẻ xách cặp da sang trọng, dáng vẻ bận rộn như những yếu nhân vừa bước ra từ một cuộc đàm phán triệu đô.

Đạt vừa đi vừa thao thao bất tuyệt bằng tiếng Anh với giọng điệu hùng hồn về quy mô vùng trồng hàng chục ngàn héc-ta, về năng lực chế biến công nghiệp triệu đô và các hợp đồng xuất khẩu hàng vạn tấn của Đại Nguyên sang các thị trường Đông Á. Nhưng khi bước tới khúc quanh dẫn vào khu vực B, bước chân Đạt bất giác khựng lại. Đôi lông mày rậm của anh ta nhíu chặt khi nhìn thấy đám đông đang chen chúc, vây kín lấy gian hàng pallet mộc mạc mang tấm biển hiệu Bản Đỏ treo lủng lẳng bằng dây thừng.

Đôi mắt Đạt nheo lại sau gọng kính titan sáng bóng. Nhận ra Khôi đang đứng kiểm tra độ ẩm của khay mẫu sau quầy, khóe môi Đạt nhếch lên một nụ cười mỉa mai quen thuộc – nụ cười của một kẻ bề trên luôn nhìn những nỗ lực của người khác qua lăng kính của tiền bạc và quy mô. Anh ta khẽ khoát tay ra hiệu cho đoàn chuyên gia dừng bước vài giây rồi thong thả tiến về phía quầy bar của Bản Đỏ, hai tay đút hờ vào túi quần tây, ánh mắt đảo một vòng soi mói từ những thanh gỗ pallet cũ kỹ, những tấm bao đay sờn rách đến bình hoa cà phê khô cắm trong chiếc lọ gốm thô kệch.

"Ồ, cậu Khôi," giọng Đạt cất lên, cố ý cao giọng vừa đủ để át đi tiếng trò chuyện xung quanh và lôi kéo sự chú ý của mọi người, mang theo sự trịch thượng không thèm che giấu. "Tôi cứ ngỡ Bản Đỏ sau vụ áp thấp nhiệt đới và vụ liều lĩnh đầu tư máy móc vượt tầm tay vừa rồi đã phải co cụm về buôn lo gõ cửa từng nhà dân để xin hoãn nợ ngân hàng chứ. Hóa ra vẫn còn xoay xở, chắp vá được một góc hạt tiêu này ở hội chợ quốc tế à? Nhìn gian hàng mộc mạc thế này... quả thực rất mang tính 'hoài niệm nông thôn', rất thích hợp cho những người thích làm thơ về nông nghiệp."

Đạt dừng lại một nhịp, liếc mắt nhìn sang mấy chuyên gia nước ngoài đang đứng phía sau, rồi quay lại nhìn Khôi bằng ánh mắt sắc lạnh:

"Nhưng Khôi này, thương trường quốc tế là cuộc chơi khốc liệt của hàng ngàn tấn container tiêu chuẩn, của dây chuyền tự động hóa khép kín và năng lực tài chính hàng chục triệu đô la, chứ không phải chỗ cho mấy trò thủ công nghiệp dư dựng lều bán vài lạng cà phê cho sinh viên và mấy tay mơ chụp ảnh check-in sống ảo đâu. Cà phê không cứu được bằng sự lãng mạn rẻ tiền đâu, người anh em ạ."

Mấy chuyên gia đi sau Đạt liếc nhìn gian hàng bằng ánh mắt tò mò xen lẫn chút nghi ngại trước lời giới thiệu đầy ác ý của anh ta. Thảo My thoáng khựng tay rót nước, gương mặt trẻ tuổi thoáng đỏ bừng vì giận dữ, đôi mày thanh tú chau lại định bước lên đáp trả, nhưng Khôi đã khẽ đặt một bàn tay dày dặn lên mép bàn gỗ pallet, khẽ lắc đầu ra hiệu trấn an cô.

Khôi ngẩng cao đầu, ánh mắt anh nhìn thẳng vào đôi mắt ẩn sau tròng kính titan của Vũ Thành Đạt. Ánh mắt Khôi phẳng lặng như mặt hồ trên cao nguyên buổi sớm, không một gợn sóng giận dữ, toát lên phong thái đĩnh đạc, vững chãi của một người đã từng nếm trải những đêm thức trắng dầm mưa cứu từng giàn phơi, từng đối mặt với sinh tử trên những triền đồi sạt lở và từng bước qua những phiên họp nghiệt ngã trên bàn đàm phán tài chính:

"Cảm ơn anh Đạt đã bớt chút thời gian quý báu ghé thăm gian hàng của chúng tôi. Đại Nguyên có con đường của Đại Nguyên – các anh làm cà phê bằng quy mô bạt ngàn, bằng tốc độ thu mua và đòn bẩy vốn khổng lồ. Còn Bản Đỏ có con đường riêng của mình: chúng tôi đi từ giá trị thật của từng gốc cây già cỗi, từng giọt mồ hôi của những hộ nông dân liên kết và phẩm cấp thực sự nằm trong từng mẻ hạt. Dù là một góc hạt tiêu chín mét vuông hay một gian hàng nghìn mét vuông dát đá hoa cương, cái giữ chân người uống cuối cùng và quyết định số phận của một thương hiệu vẫn là chất lượng nước cà phê trong ly, chứ không phải độ dày của kính cường lực hay ánh sáng của bóng đèn LED ma trận, anh Đạt ạ."

Lời nói điềm tĩnh, khúc chiết và đanh thép của Khôi vang lên rành rọt giữa không gian. Xung quanh quầy, nhiều bạn trẻ, các barista độc lập và các nhà thẩm định F&B đang xếp hàng khẽ đưa mắt nhìn nhau rồi gật đầu tán đồng. Đúng lúc đó, ánh mắt Vũ Thành Đạt vô tình quét qua hàng người dài gần hai mươi mét đang kiên nhẫn đứng đợi tới lượt thử nước cà phê của Bản Đỏ.

Cách đó không xa, gian hàng tráng lệ bề thế của Đại Nguyên dù nhân viên liên tục phát túi quà lưu niệm đắt tiền và bật nhạc sôi động nhưng khách tham quan chỉ ghé lấy quà lưu niệm rồi nhanh chóng tản đi, không mấy ai mặn mà nán lại quầy bar nếm thử thứ cà phê công nghiệp tẩm hương liệu nồng nặc đang nguội ngắt trong những chiếc bình giữ nhiệt inox.

Cơ mặt Đạt giật nhẹ một cái, nụ cười mỉa mai trên môi cứng đờ rồi biến sắc chuyển sang màu xám tro. Cảm giác bẽ bàng len lỏi dưới lớp vỏ bọc tự tin, sang cả. Anh ta siết chặt quai cặp da trong tay, gượng gạo cười khẩy một tiếng để che giấu sự lúng túng đang dâng lên:

"Được lắm, lý lẽ rất hùng hồn. Để xem các cậu giữ được cái quầy hạt tiêu này sống sót qua chín mươi ngày nữa trước áp lực đáo hạn ngân hàng và chi phí vận hành hay không. Thị trường sẽ sớm dạy cho các cậu biết thế nào là thực tế nghiệt ngã của cuộc chơi tiền tệ."

Nói đoạn, Đạt hậm hực xoay người, vẫy tay ra hiệu cho đoàn tùy tùng rảo bước thật nhanh rời đi về phía sảnh VIP, không dám ngoái đầu nhìn lại hàng người đang râm ran bàn tán và những nụ cười kín đáo phía sau lưng.

Khôi không hề để tâm đến cái bóng lưng vội vã của đối thủ cạnh tranh. Anh quay lại, với tay lấy chiếc bình thủy tinh lớn, lặng lẽ hỗ trợ Thảo My châm thêm nước sôi tinh khiết vào các ấm rót để duy trì dòng chảy phục vụ khách đang chờ đợi.

Ngay khi đám đông vừa vơi bớt một nhịp sau đợt phục vụ cao điểm giữa trưa, một bóng dáng cao ráo, thanh lịch lặng lẽ dừng lại trước mép quầy gỗ pallet.

Đó là một người phụ nữ trạc ngoài bốn mươi tuổi, dáng người mảnh khảnh nhưng toát lên vẻ quyền uy nội hàm đầy sắc sảo và điềm đạm. Bà mặc một bộ vest màu xám tro cắt may đo đạc tinh tế theo phong cách tối giản của Bắc Âu, mái tóc màu vàng cát được búi gọn gàng sau gáy để lộ vầng trán cao và đôi mắt xanh thẳm, sâu thẳm như mặt nước hồ mùa đông. Trên ve áo vest của bà không đeo thẻ khách tham quan thông thường bằng giấy cán màng nhựa, mà là một chiếc thẻ đại biểu đặc biệt bằng kim loại dành riêng cho ban giám khảo quốc tế và các nhà thu mua nguyên liệu cấp cao (Green Coffee Buyer) của Liên đoàn Cà phê Đặc sản châu Âu (SCAE). Dòng chữ trên thẻ được in dập nổi sắc nét: *Elena Fischer – Trưởng bộ phận Thu mua Nguyên liệu Đặc sản Toàn cầu, Tổ chức Hàng hải Nông sản Hamburg*.

Elena Fischer đã dành trọn cả buổi sáng để đi rảo khắp các gian hàng quy mô lớn nhất của hội chợ triển lãm, và sự thất vọng hiện rõ trên khóe mắt hơi cau lại của bà. Đi đến đâu bà cũng chỉ bắt gặp những lời chào mời sáo rỗng về "năng lực cung ứng hàng chục container mỗi tháng", những bảng báo giá cạnh tranh khốc liệt bằng cách bóp nghẹt phẩm cấp, những mẫu Robusta thương phẩm xù xì, lép kẹp vỡ vụn được che đậy vụng về bằng lớp rang cháy đen ngòm ngập dầu khét lẹt, hoặc những mẫu Arabica lai căng nhạt nhẽo cố bắt chước thổ nhưỡng của Colombia hay Ethiopia một cách vô vọng.

Bà đã cảm thấy ngột ngạt và đang định rời khỏi sảnh A để quay về phòng nghỉ dành cho đại biểu quốc tế thì một làn hương bất ngờ xộc thẳng vào khứu giác nhạy bén của bà khi vừa bước ngang qua lối rẽ khu B.

Đó hoàn toàn không phải mùi khét lẹt của cà phê rang cháy công nghiệp, cũng không phải thứ mùi hương liệu vani rẻ tiền tổng hợp từ hóa chất. Đó là một làn hương quả chín nồng nàn, ngọt lịm và thanh khiết đến kỳ lạ – mùi của quả đào mọng nước vừa chín tới, mùi mận sấy khô hòa quyện với hương mật ong rừng lên men dịu nhẹ của một mẻ rượu vang trái cây lâu năm. Làn hương tự nhiên, sâu lắng và vô cùng sạch sẽ ấy đã kéo giật bước chân sành sỏi của Elena dừng lại ngay trước khay hạt mẫu của Bản Đỏ.

Đôi mắt xanh biếc của Elena đảo qua những tấm bao đay Cư M'Rao bạc màu, rồi dừng lại trên chiếc phễu sứ Origami mà Hứa Bảo Ngọc đang trực tiếp thao tác.

Bảo Ngọc vừa kết thúc quá trình xay mười lăm gam hạt cà phê bằng chiếc cối xay tay chuyên dụng sử dụng lưỡi thép hình nón phủ titan. Từng hạt cà phê vỡ vụn dưới vòng quay chậm rãi, chuẩn xác, giải phóng ra một luồng khí thơm ngào ngạt cuộn xoáy trong không gian chật hẹp quanh quầy. Nhận thấy người phụ nữ ngoại quốc với chiếc thẻ giám khảo quốc tế đang chăm chú quan sát từng cử chỉ của mình – ánh mắt bà sắc bén như thể đang giải phẫu từng góc cạnh của quy trình thao tác – Bảo Ngọc không hề tỏ ra nao núng hay bối rối. Ngược lại, bản năng của một barista từng đứng trên đấu trường thử nếm quốc tế bừng tỉnh mạnh mẽ trong huyết quản cô.

Bảo Ngọc khẽ ngẩng đầu, mỉm cười nhẹ và cất tiếng chào bằng thứ tiếng Anh chuẩn xác, phát âm tròn vành rõ chữ:

"Chào buổi sáng, thưa bà. Đây là mẫu Robusta sẻ Cư M'Rao sơ chế yếm khí nhiệt độ thấp (anaerobic slow-dry) vụ thu hoạch muộn của chúng tôi. Nhiệt độ chiết xuất nước là chín mươi hai độ C, tỷ lệ pha chuẩn một trên mười lăm. Mời bà cùng trải nghiệm."

Elena không đáp lời ngay bằng lời nói. Bà chỉ khẽ nghiêng người về phía trước, đưa gương mặt lại gần sát miệng phễu sứ trắng muốt, nhắm hờ đôi mắt lại để hít sâu làn hương khô (dry fragrance) vừa bốc lên từ lớp bột cà phê mịn màng. Đôi mày thanh tú của bà khẽ giật nhẹ lên một nhịp kinh ngạc khó giấu. Mùi hương quả chín nhiệt đới lên men tự nhiên cực kỳ sạch sẽ, hoàn toàn không có dù chỉ một thoáng mùi giấm chua axetic khó chịu hay mùi ẩm mốc thối rữa của việc lên men mất kiểm soát – điều mà bà thường xuyên bắt gặp ở các mẫu cà phê thử nghiệm thất bại tại châu Á.

Bảo Ngọc bắt đầu rót nước. Động tác của cô đạt đến độ chuẩn xác tuyệt đối của một nghệ nhân: dòng nước nóng chảy ra từ đầu vòi ấm rót thẳng đứng một góc chín mươi độ, đều đặn và êm ru không một gợn sóng rung lắc, tạo nên một vòng xoáy đối lưu hoàn hảo bên trong lòng phễu Origami. Dòng nước nhẹ nhàng đẩy lớp bọt khí màu vàng caramel óng ánh nở phồng đều đặn lên tận mép gốm sứ. Khi giọt cà phê cuối cùng rơi xuống chiếc bình thủy tinh trong suốt đặt trên cân điện tử, chất lỏng bên trong mang một màu hổ phách đậm đà, sánh mịn và trong vắt dưới ánh đèn trần.

Bảo Ngọc nâng bình thủy tinh lên, lắc nhẹ ba vòng theo chiều kim đồng hồ để oxy hòa tan đều vào chất lỏng, rồi rót một lượng nhỏ chừng ba mươi mililit vào chiếc ly cupping bằng gốm sứ trắng men mờ, nhẹ nhàng đẩy sang phía người phụ nữ:

"Mời bà đánh giá."

Elena Fischer đón lấy chiếc ly sứ bằng đôi bàn tay thon dài. Ngón tay bà khẽ áp vào thân ly để cảm nhận nhiệt độ tỏa ra từ chất lỏng. Bà đưa miệng ly lên ngang cánh mũi, xoay nhẹ cổ tay để luồng khí thơm cuộn tròn vào khoang mũi nhằm đánh giá hương ướt (wet aroma). Lần này, nốt hương cacao nguyên chất bảy mươi phần trăm quyện cùng hạt phỉ nướng giòn và quả mọng chín sẫm bung tỏa mạnh mẽ hơn gấp bội, lấn át hoàn toàn những tạp âm và mùi khói bụi của hội trường triển lãm.

Bà nhấp ngụm đầu tiên theo đúng kỹ thuật thử nếm chuyên nghiệp của một chuyên gia Q-Grader quốc tế: một cú rít mạnh bằng miệng tạo ra âm thanh xì xụp dứt khoát, đưa chất lỏng hòa quyện cùng luồng không khí tốc độ cao, phun thành một màn sương mịn phủ đều lên toàn bộ bề mặt gai vị giác của vòm miệng và gốc lưỡi.

Chất lỏng vừa chạm vào niêm mạc vòm họng, toàn bộ cơ thể Elena Fischer như khựng lại trong tích tắc. Đôi mắt xanh thẳm của bà mở to đầy bàng hoàng.

Không có bất kỳ sự thô ráp nào. Hoàn toàn không có vị đắng gắt chát chúa, cảm giác khô khốc nơi cổ họng hay mùi ngái nồng của cao su vốn là "nhãn dán" định kiến cố hữu mà giới chuyên môn phương Tây luôn gán cho giống Robusta thương phẩm thông thường. Thay vào đó, một thể chất dày dặn (body) tròn trịa, mượt mà và êm ái như một lớp kem bơ hảo hạng bao bọc lấy toàn bộ khoang miệng. Tầng hương đầu tiên bùng nổ là vị đắng thanh nhã, quý phái của sô-cô-la đen nguyên bản, nhưng ngay sau đó, nó lập tức chuyển hóa một cách diệu kỳ thành vị bùi béo ngậy của hạt phỉ nướng thơm lừng.

Nhưng điều thực sự khiến một chuyên gia thu mua lão luyện từng đi khắp các nông trường trứ danh từ Cerrado của Brazil, vùng Yirgacheffe của Ethiopia cho đến đảo Sumatra của Indonesia như Elena phải sững sờ chính là hậu vị. Một độ ngọt sâu thẳm, dai dẳng và thanh sạch như đường phèn nấu mật mía, kèm theo độ chua malic tinh tế, mọng nước của những trái táo chín giòn tan kéo dài miên man nơi cuống họng suốt nhiều phút sau khi nuốt.

Đó là một bản giao hưởng hoàn hảo của Fine Robusta – thứ phẩm cấp đỉnh cao mà cả thị trường châu Âu và các nhà rang xay đặc sản độc lập đang đỏ mắt kiếm tìm suốt nhiều năm qua để giải bài toán hóc búa về việc nguồn cung Arabica đang ngày càng suy thoái nghiêm trọng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu.

Elena lặng lẽ đứng yên, chờ đợi thêm gần hai phút cho chất lỏng trong ly sứ nguội bớt xuống nhiệt độ phòng nhằm kiểm tra các khuyết tật tiềm ẩn khi nhiệt độ hạ thấp. Bà nhấp ngụm thứ hai, khẽ đảo lưỡi. Càng nguội, vị ngọt của ly cà phê lại càng cô đặc lại, trong trẻo, mượt mà và sạch sẽ đến mức kinh ngạc. Không hề xuất hiện vị se thắt của tannin hay vị chua gắt khó chịu.

Bà đặt chiếc ly sứ xuống mặt bàn gỗ pallet một cách dứt khoát, phát ra một tiếng "cộc" khẽ khàng. Ánh mắt bà ngẩng lên, nhìn thẳng vào Bảo Ngọc, không còn vẻ thờ ơ của một khách vãng lai tò mò dạo chợ, mà là ánh nhìn sắc lạnh, căng thẳng và tập trung cao độ của một nhà buôn sừng sỏ đang đứng trước một phát hiện mang tính chiến lược có thể làm thay đổi cục diện chuỗi cung ứng của mình:

"Robusta thuần khiết không hề pha trộn dù chỉ một tỷ lệ nhỏ Arabica?" Elena hỏi bằng chất giọng Anh ngữ chuẩn mực của vùng Bắc Âu, giọng trầm, gọn gàng và dứt khoát.

"Một trăm phần trăm Robusta sẻ bản địa thu hoạch tại thung lũng Cư M'Rao, thưa bà," Bảo Ngọc điềm tĩnh đáp, hai bàn tay đan nhẹ vào nhau trước tạp dề. "Thu hái chọn lọc thủ công từng quả chín mọng trên cành, hàm lượng đường Brix đo bằng khúc xạ kế tại cuống đạt từ hai mươi mốt đến hai mươi hai độ. Sơ chế lên men kỵ khí có kiểm soát nhiệt độ dưới hai mươi lăm độ C trong các thùng kín chuyên dụng có van thoát khí một chiều, sau đó phơi chậm trên giàn cao trong nhà vòm thông gió cưỡng bức suốt hai mươi mốt ngày liên tục."

Elena khẽ nheo mắt lại, ánh nhìn sắc bén quét qua mặt quầy rồi dừng lại trên người Khôi – người đàn ông với nước da ngăm đen vì nắng gió bazan, đôi bàn tay thô ráp của một kỹ sư nông nghiệp thực địa đang đứng cầm xấp tài liệu kỹ thuật bên cạnh chiếc máy tính xách tay.

"Ai là người trực tiếp phụ trách kỹ thuật nông học và quy trình sơ chế của lô hạt này?" Elena hỏi, giọng bà vang lên đầy sức nặng, át đi những tiếng ồn ào xung quanh. "Tôi muốn làm việc trực tiếp với người đại diện kỹ thuật ngay bây giờ."

"Tôi là Đoàn Minh Khôi, người sáng lập kiêm phụ trách kỹ thuật nông trại và trạm sơ chế của Bản Đỏ," Khôi bước tới một bước, đưa bàn tay dạn dày sương gió ra phía trước với phong thái đĩnh đạc, vững chãi.

Elena bắt tay Khôi. Cái siết tay của bà ngắn gọn, chặt chẽ và lạnh lùng theo đúng phong cách đàm phán thương mại phương Tây. Bà rút từ trong túi áo vest ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa da màu đen cùng cây bút máy bằng bạc, lật mở một trang giấy trắng tinh, ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt kiên định của Khôi:

"Tôi là Elena Fischer, đại diện thu mua cao cấp của Tổ chức Hàng hải Nông sản Hamburg. Chúng tôi nhập khẩu hàng trăm ngàn tấn cà phê mỗi năm để cung ứng cho thị trường Đức, Thụy Sĩ và các quốc gia Bắc Âu. Mẫu thử này của các anh... thực sự rất ấn tượng. Về mặt cảm quan cá nhân, tôi đánh giá nó đạt ít nhất tám mươi lăm điểm theo thang chuẩn Fine Robusta của Viện Chất lượng Cà phê Quốc tế (CQI). Nhưng anh Khôi này, tôi đã ở trong ngành công nghiệp này đủ lâu để hiểu một nguyên tắc: không bao giờ được phép ký hợp đồng chỉ vì một ly cà phê biểu diễn được chuẩn bị hoàn hảo trong điều kiện lý tưởng tại một gian hàng triển lãm."

Bà khẽ nghiêng đầu, đầu ngòi bút máy bằng bạc gõ nhẹ từng nhịp đều đặn lên trang sổ da, ánh mắt sắc như dao mổ bắt đầu phóng ra những câu hỏi kỹ thuật dồn dập, không một chút khoan nhượng:

"Câu hỏi thứ nhất: Độ ẩm cuối cùng của lô nhân xanh này là bao nhiêu, và các anh kiểm soát chỉ số hoạt độ của nước (Water Activity) như thế nào để đảm bảo hạt không bị tái ẩm, không bị biến tính enzym và tuyệt đối không sinh nấm mốc Ochratoxin A trong suốt bốn mươi lăm ngày vận chuyển đường biển qua vùng xích đạo nóng ẩm để về tới cảng Hamburg?"

Khôi không hề lộ ra một thoáng lúng túng hay bối rối nào. Anh mỉm cười nhẹ, kéo chiếc máy tính xách tay của Lâm xoay một góc bốn mươi lăm độ về phía Elena, đồng thời mở chiếc cặp tài liệu bằng da thô, rút ra ba bản kết quả kiểm nghiệm độc lập có đóng dấu mộc đỏ của các trung tâm giám định quốc tế:

"Độ ẩm xuất xưởng của toàn bộ các lô hạt Bản Đỏ được khống chế nghiêm ngặt ở mức mười một phẩy không phần trăm, dung sai cho phép không vượt quá không phẩy hai phần trăm. Hoạt độ nước (aw) của hạt luôn duy trì ổn định ở mức không phẩy năm mươi hai đến không phẩy năm mươi lăm – thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng an toàn quốc tế là không phẩy sáu mươi. Chúng tôi không bao giờ dùng sân phơi xi măng sát đất truyền thống – nơi nhiệt độ mặt sàn có thể lên tới năm mươi lăm độ C làm chết phôi hạt và hút ẩm ngược vào ban đêm. Toàn bộ hạt được phơi trên hệ thống giàn lưới cước y tế cách mặt đất tám mươi phân, đặt bên trong hệ thống nhà vòm nilon khép kín có quạt thông gió cưỡng bức liên tục đảo khí để rút ẩm từ từ từ lõi hạt ra ngoài với tốc độ ổn định không quá không phẩy bảy phần trăm độ ẩm mỗi ngày."

Khôi chỉ ngón tay vào màn hình máy tính, nơi hiển thị biểu đồ sấy khô (drying curve) chi tiết:

"Sau khi đạt chuẩn mười một phần trăm, hạt được đóng ngay vào bao GrainPro chuyên dụng hai lớp có van xả khí một chiều, xếp trên pallet gỗ trong kho đệm có máy hút ẩm công nghiệp kiểm soát độ ẩm không khí luôn dưới sáu mươi phần trăm tại Buôn Ma Thuột trước khi vận chuyển xuống cảng. Chúng tôi có gắn kèm thiết bị cảm biến nhiệt – ẩm tự ghi (data logger) bên trong từng kiện hàng mẫu để các đối tác có thể kiểm tra lịch sử biến động môi trường trong suốt hành trình vận tải biển."

Elena chăm chú nhìn vào từng đường cong biểu diễn nhiệt độ và độ ẩm tương đối được ghi chép khoa học, chuẩn xác đến từng giờ trên màn hình máy tính của Khôi. Những thông số kỹ thuật khô khốc nhưng minh bạch ấy khiến đôi lông mày của bà khẽ giãn ra một chút. Tuy nhiên, sự sắc lạnh và tính cảnh giác trong ánh mắt người phụ nữ Bắc Âu vẫn không hề suy giảm.

"Tốt. Về mặt kỹ thuật sơ chế và bảo quản sau thu hoạch, anh có số liệu thực nghiệm chứng minh," Elena lật sang một trang giấy mới trong cuốn sổ tay, ngòi bút máy lướt nhanh ghi lại vài con số then chốt. "Bây giờ là câu hỏi thứ hai: Vấn đề truy xuất nguồn gốc. Liên minh châu Âu vừa chính thức thông qua Quy định Chống Phá rừng (EUDR) cùng các tiêu chuẩn ngặt nghèo về chuỗi cung ứng minh bạch và trách nhiệm xã hội. Các anh tuyên bố cà phê của mình đi thẳng từ nông trại đến ly nước. Vậy các anh lấy gì để chứng minh với các cơ quan kiểm định tại cảng đến rằng từng bao cà phê xuất khẩu của Bản Đỏ không phải là hàng thu gom trôi nổi từ các khu vực xâm lấn rừng phòng hộ sau năm 2020, hoặc tệ hơn là có sự tham gia của lao động trẻ em?"

Lâm từ tốn bước lên nửa bước, chỉnh lại gọng kính cận rồi đưa cho Elena một tập hồ sơ liên kết nông hộ dày dặn đóng gáy lò xo, bên ngoài bìa in một mã QR động sắc nét:

"Mời bà quét mã này bằng điện thoại của mình," Lâm nói bằng giọng tiếng Anh thương mại lưu loát, trầm tĩnh và mạch lạc. "Đây là hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa vùng nguyên liệu Cư M'Rao do chính đội ngũ Bản Đỏ tự phát triển và tích hợp trên nền tảng bản đồ số."

Elena rút chiếc điện thoại thông minh từ túi xách, hướng ống kính quét qua mã QR trên tập hồ sơ. Màn hình lập tức tải về bản đồ tọa độ địa lý không gian (GPS polygon) chi tiết của toàn bộ bốn mươi mốt phẩy hai héc-ta cà phê liên kết tại thung lũng Cư M'Rao.

Trên bản đồ trực quan ấy, từng khoảnh đất, từng lô rẫy của mười hai hộ gia đình nông dân đồng bào Ê-đê – từ hộ anh Y Bih Niê, già Ama H'Rin đến ông Ma BLao – đều hiển thị rõ ràng thông tin thổ nhưỡng bazan tầng dày, độ cao trung bình tám trăm mét so với mực nước biển, năm trồng cây, lịch sử nhật ký bón phân hữu cơ vi sinh, thời điểm tưới nước tiết kiệm và lịch sử các đợt thu hái từng ngày kèm chữ ký số nghiệm thu tỷ lệ quả chín trên chín mươi phần trăm của ban giám sát chất lượng Bản Đỏ.

"Mỗi bao nhân xanh xuất xưởng của chúng tôi đều được gắn một mã tem định danh duy nhất (Unique Lot ID)," Khôi tiếp lời Lâm, giọng anh vang lên đầy tự hào và xúc động. "Người tiêu dùng tại Hamburg hay bất kỳ thành phố nào ở châu Âu chỉ cần quét mã trên bao bì là có thể biết chính xác bao cà phê đó được thu hái bởi gia đình nào ở buôn Cư M'Rao, ngày hái là ngày nào, độ đường Brix khi hái đạt bao nhiêu và ai là kỹ thuật viên trực tiếp chịu trách nhiệm giám sát mẻ phơi đó. Chúng tôi vận hành theo cơ chế tài khoản ba bên: ký hợp đồng bao tiêu dài hạn, trả giá công bằng cao hơn ba mươi phần trăm so với giá thị trường và trích thưởng chất lượng trực tiếp cho nông dân dựa trên tỷ lệ quả chín thực tế. Chúng tôi cam kết tuyệt đối: không phá rừng, không lạm dụng hóa chất cấm, và toàn bộ con em của các hộ liên kết đều được hỗ trợ sách vở để đến trường đầy đủ."

Elena lướt ngón tay trên màn hình điện thoại, mắt bà dừng lại rất lâu ở bức ảnh chụp anh Tư đang cùng Y Bih cúi đầu đo độ Brix của quả cà phê dưới bóng râm mát rượi của những cây muồng đen che bóng. Cơ mặt nghiêm nghị của người phụ nữ Đức dường như mềm lại đôi chút trước tính xác thực, sự chân thành và tính hệ thống tỉ mỉ đến từng chi tiết của chuỗi dữ liệu.

Tuy nhiên, người phụ nữ từng đứng đầu các thương vụ thu mua hàng triệu đô la vẫn chưa dừng lại ở đó. Bà gấp cuốn sổ tay lại với một tiếng "tách" dứt khoát và khô khốc. Bà ngẩng đầu lên, khoanh hai tay trước ngực, nhìn thẳng vào mắt Khôi và tung ra đòn cân não mang tính quyết định – câu hỏi sinh tử đối với bất kỳ doanh nghiệp khởi nghiệp nông nghiệp non trẻ nào:

"Dữ liệu của các anh rất đẹp, câu chuyện liên kết nông hộ rất nhân văn và cảm động. Nhưng tôi là một nhà nhập khẩu thương mại quốc tế, không phải một tổ chức cứu trợ từ thiện. Tôi không bao giờ bay nửa vòng trái đất đến đây để mua vài trăm ký hay vài tạ cà phê về làm mẫu trưng bày trong tủ kính. Nếu chúng tôi quyết định đưa dòng Fine Robusta Cư M'Rao này vào hệ thống phân phối của mình tại thị trường Bắc Âu, nhu cầu tối thiểu cho đợt giao dịch đầu tiên là mười tấn nhân xanh (green coffee) mỗi đợt, và chúng tôi yêu cầu lịch giao hàng ổn định định kỳ ba tháng một lần qua nhiều mùa vụ liên tiếp."

Elena tiến thêm nửa bước, ánh mắt bà sắc bén như xoáy sâu vào tâm can đối phương:

"Các anh là một đơn vị quá non trẻ, vừa trải qua thiên tai bão lũ, cơ sở vật chất còn hạn hẹp, dòng vốn mỏng manh. Lấy gì để các anh bảo đảm rằng mười tấn cà phê giao lên tàu container tại cảng Cát Lái vào vụ tới sẽ có chất lượng đồng nhất một trăm phần trăm như cái ly nước mà tôi vừa uống ở đây? Nếu gặp thêm một cơn bão nữa quét qua Tây Nguyên, hoặc nông dân của các anh phá vỡ hợp đồng chạy theo thương lái địa phương khi họ trả tiền mặt cao hơn vài giá, Bản Đỏ sẽ lấy gì để đền bù tổn thất hàng triệu euro cho chuỗi cung ứng của chúng tôi?"

Không gian quanh gian hàng B-12 bỗng chốc chùng hẳn xuống, ngột ngạt và căng thẳng như trước một cơn giông bão. Tiếng trò chuyện râm ran của những người xung quanh dường như biến mất. Thảo My nín thở, hai bàn tay siết chặt chiếc khăn lau mềm đến trắng bệch các đầu ngón tay. Lâm khẽ đẩy gọng kính cận, ánh mắt đầy lo âu và căng thẳng hướng về phía Khôi.

Đây chính là tử huyệt, là bài toán hóc búa nhất mà bất kỳ nhà sản xuất nhỏ nào của Việt Nam cũng từng vấp ngã khi bước chân ra biển lớn: bài toán về năng lực mở rộng quy mô (scalability) và tính nhất quán sống còn của chất lượng (consistency).

Khôi nhìn thẳng vào đôi mắt xanh thẳm đầy dò xét, không một chút chớp mi của Elena Fischer. Lồng ngực anh phập phồng nhẹ. Anh hít một hơi thật sâu lồng lộng khí trời của gian phòng, không hề né tránh ánh nhìn, cũng không dùng những lời hứa hẹn sáo rỗng hay những thuật ngữ hoa mỹ để lấp liếm sự non trẻ của mình. Giọng anh vang lên, trầm tĩnh, rành rọt, mang trọn sức nặng của sự thật và những trải nghiệm thực tế:

"Thưa bà Fischer, nếu bà đặt câu hỏi này cho tôi vào sáu tháng trước, tôi sẽ thẳng thắn nói rằng tôi không dám trả lời bà. Nhưng hôm nay, tôi đứng đây trước mặt bà để trả lời bằng chính những bài học xương máu mà Bản Đỏ đã phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt và cả những tổn thất tài chính đau đớn."

Khôi giơ một ngón tay lên, giọng điệu vững vàng:

"Thứ nhất, về năng lực vùng trồng và bài toán sản lượng: Bốn mươi mốt phẩy hai héc-ta cà phê liên kết hiện tại của chúng tôi tại Cư M'Rao cho sản lượng nhân xanh tối thiểu từ bảy mươi đến tám mươi tấn mỗi năm. Mười tấn mỗi quý hoàn toàn nằm trong ngưỡng kiểm soát an toàn năm mươi phần trăm công suất của chúng tôi, nghĩa là chúng tôi chỉ chọn lọc mười tấn hạt đạt phẩm cấp cao nhất trong tổng sản lượng để xuất khẩu cho bà, phần còn lại được phân cấp cho các dòng sản phẩm nội địa. Chúng tôi không bao giờ mở rộng diện tích một cách ồ ạt vô tội vạ để làm loãng chất lượng."

Khôi giơ ngón tay thứ hai, ánh mắt rực sáng:

"Thứ hai, về tính ổn định và lòng trung thành của nông dân: Chúng tôi không bao giờ trói buộc bà con đồng bào bằng những bản hợp đồng pháp lý vô hồn trên giấy tờ – thứ mà bất kỳ thương lái nhiều tiền nào cũng có thể phá vỡ bằng một cọc tiền mặt. Chúng tôi liên kết với họ bằng sinh kế thực tế và sự đồng hành sinh tử. Mô hình giá sàn bảo hiểm kết hợp quỹ thưởng lũy tiến của Bản Đỏ đã giúp thu nhập thực nhận của mỗi hộ gia đình tăng gấp gần ba lần so với việc bán cà xô truyền thống cho thương lái. Khi cơn bão số bốn vừa qua quét qua thung lũng làm hư hại một phần diện tích, chúng tôi không quay lưng, không ép giá. Chúng tôi trích quỹ dự phòng khẩn cấp chi trả toàn bộ tiền công hái quả cho bà con để cùng chia sẻ rủi ro mất mát. Nông dân Cư M'Rao bảo vệ hợp đồng với Bản Đỏ không phải vì họ sợ những điều khoản phạt vi phạm, mà vì họ hiểu sâu sắc rằng Bản Đỏ là con đường duy nhất giúp họ giữ được mảnh đất rẫy của tổ tiên và sống đàng hoàng, ngẩng cao đầu bằng chính hạt cà phê của mình."

Khôi nhìn sang Bảo Ngọc, rồi quay lại đối diện với Elena, giọng anh đanh lại đầy kiên định:

"Và thứ ba, về năng lực kỹ thuật và kiểm soát rủi ro: Chúng tôi vừa hoàn thiện trung tâm chế biến và rang xay đạt chuẩn xuất khẩu với dây chuyền phân loại màu quang học CCD độ chính xác cao và hệ thống máy rang sáu mươi cân nhập khẩu đồng bộ từ Đức. Chúng tôi kiểm soát rủi ro thời tiết bằng quy trình nhà vòm đối lưu nhiệt khép kín chứ không phụ thuộc vào sự may rủi của nắng trời. Và quan trọng nhất, chúng tôi có Giám đốc Chất lượng Hứa Bảo Ngọc – người nắm quyền phủ quyết tuyệt đối bằng văn bản trong quy trình xuất xưởng, sẵn sàng loại bỏ bất kỳ bao cà phê nào không đạt chuẩn tám mươi tư điểm SCA trước khi bốc lên xe container, bất kể áp lực tiến độ có lớn đến đâu."

Khôi dừng lại một nhịp ngắn, ánh mắt kiên định, chân thành nhìn thẳng vào người phụ nữ quyền lực của ngành cà phê châu Âu:

"Chúng tôi không cam kết một mức giá rẻ mạt để cạnh tranh số lượng với các tập đoàn công nghiệp. Nhưng chúng tôi cam kết một sự minh bạch và trung thực tuyệt đối: mười tấn nhân xanh giao cho bà tại cảng Cát Lái sẽ là mười tấn hạt sạch lỗi, đúng độ ẩm mười một phần trăm, mang trọn vẹn hương vị bản địa độc bản của thung lũng Cư M'Rao qua từng mùa vụ. Nếu có bất kỳ sự sai lệch nào về phẩm cấp vượt quá ngưỡng dung sai cho phép trong hợp đồng, Bản Đỏ cam kết chịu phạt tài chính toàn bộ chi phí kiểm định và kích hoạt cơ chế bồi hoàn độc lập theo đúng luật thương mại quốc tế."

Sự im lặng tuyệt đối bao trùm lấy góc quầy B-12 trong suốt vài giây dài như cả thế kỷ. Xung quanh, tiếng máy xay hạt của các gian hàng bạn và tiếng nhạc sôi động từ sân khấu lớn vẫn dập dồn dội lại, nhưng giữa Khôi và Elena Fischer, không gian dường như ngưng đọng lại chỉ còn cuộc đối thoại bằng ánh mắt đầy căng thẳng và thử thách.

Elena nhìn sâu vào đôi mắt đen láy, cương nghị và không chút dao động của người kỹ sư nông nghiệp trẻ tuổi người Việt Nam. Trong suốt hơn hai mươi năm làm nghề thu mua quốc tế, bà đã từng gặp hàng trăm giám đốc nông trường, hàng ngàn nhà buôn nông sản trên khắp thế giới – những kẻ sẵn sàng thề thốt bất cứ điều gì, sẵn sàng ký vào những bản ghi nhớ hợp đồng (MOU) hào nhoáng chỉ để lấy được tiền cọc, rồi sau đó tráo hàng kém chất lượng vào các container xuất khẩu.

Nhưng ở người thanh niên này, bà nhìn thấy một sự điềm tĩnh và vững chãi rất khác thường. Đó là sự tự tin không hề đến từ sự ngạo mạn hay ảo tưởng, mà được đúc kết từ những va đập thực tế ngoài đồng ruộng, từ sự thấu hiểu sâu sắc từng tấc đất đỏ bazan và sự trung thực đến tận cùng của một con người dám nhận trách nhiệm về từng sản phẩm mình làm ra.

Một nụ cười rất khẽ, gần như không thể nhận ra nếu không quan sát thật kỹ, lướt qua khóe môi Elena Fischer.

Bà từ tốn mở chiếc túi xách da màu đen, rút ra một chiếc hộp đựng danh thiếp bằng bạc chạm khắc hoa văn tinh xảo. Những ngón tay thon dài của bà rút ra một tấm danh thiếp dập chữ nổi màu xanh thẫm mạ bạc sang trọng, đặt nhẹ nhàng lên mặt bàn gỗ pallet thô mộc, ngay bên cạnh chiếc ly cà phê sứ đã cạn đáy.

Bà ngước nhìn Khôi, rồi chuyển ánh mắt sắc bén sang Hứa Bảo Ngọc:

"Câu trả lời của anh rất thuyết phục, anh Khôi. Nhưng một nhà thu mua chuyên nghiệp không bao giờ ký thác vận mệnh của mình vào những lời đàm phán tại hội chợ thương mại."

Elena chỉ tay vào tấm danh thiếp, giọng bà đanh lại, mang theo một tối hậu thư đầy thách thức nhưng cũng mở toang ra một cánh cửa cơ hội nghìn vàng:

"Ngày mai, tôi muốn chính barista của anh thực hiện phiên thử nếm đối chứng tại phòng thí nghiệm độc lập."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories