Uy tín trên bàn cân
Sương sớm còn đọng dày như một lớp màn bông ướt sũng trên những tán lá cà phê Cư M’Rao khi Khôi xách đôi ủng cao su lội bộ vào rẫy của Y Bih. Trong túi ngực chiếc áo khoác gió sờn rách, biên bản kiểm định chất lượng lập từ chiều muộn hôm qua vẫn chưa ráo hẳn mùi mực xanh.
Hơi lạnh từ đáy thung lũng bốc lên bảng lảng, trườn qua những bờ đất dốc đứng rồi quấn chặt lấy từng gốc muồng đen chắn gió sừng sững dọc ranh đất. Đất đỏ bazan sau trận mưa rào rạng sáng dẻo quánh lại như sáp, dính chặt vào từng rãnh khía dưới đế ủng, biến mỗi bước nhấc chân thành một cuộc vật lộn nặng nhọc. Mỗi bước đi, bùn non lại đắp thêm một lớp dày cộm, kéo trĩu đôi chân người kỹ sư trẻ xuống mặt đường gồ ghề đầy sỏi vụn. Khôi đưa bàn tay tê cóng kéo cao cổ áo khoác, ngón tay vô thức ấn chặt mép túi áo ngực. Dưới lớp vải dù mỏng, góc tờ giấy gấp tư như một miếng dằm cắm vào da thịt: hai mươi lăm phẩy ba phần trăm quả xanh non và cành lá vụn; gần bốn trăm năm mươi ký cà phê bị gạt ra khỏi chuẩn mua tươi, phải đổ riêng lên bạt xô dưới nắng quái để xử lý theo giá sàn gạt nợ.
Nhưng thứ làm lồng ngực Khôi nghẹn thắt lại trong buổi sớm mai hoang vắng này không phải là tỷ lệ tạp chất của một tấn tám cà phê tươi hôm qua. Thứ đang đè nặng lên từng nhịp thở của anh là sự hấp tấp của chính bản thân mình. Lời hứa ứng trước ba mươi phần trăm tiền hàng đưa ra hai ngày trước—chỉ vì xót xa khi thấy người nông dân nghèo bị đám tay chân của lão thương lái Phạm Đức Sang dồn ép siết nợ—đã vô tình đẩy trạm sơ chế Bản Đỏ non trẻ vào thế ngàn cân treo sợi tóc.
Lâm đã nói không sai một lời nào trong cuộc họp căng thẳng dưới ánh đèn dầu đêm qua. Sự hào phóng không dựa trên số liệu thực chứng và sự kiểm soát dòng tiền nghiêm ngặt không phải là lòng trắc ẩn, mà là một thứ đạo đức giả vô trách nhiệm tự sát. Một công ty khởi nghiệp nông nghiệp sống bằng từng đồng vốn chắt bóp từ túi cá nhân không thể vận hành như một tổ chức từ thiện vô điều kiện.
Qua hàng rào dâm bụt lấm tấm những đóa hoa đỏ còn ngậm nước, ngôi nhà sàn vách ván bằng gỗ tạp của Y Bih hiện ra mờ ảo trong làn sương xám đục. Khói bếp ban mai đã bắt đầu len lỏi bay lên từ chái bếp sau nhà, mang theo mùi khói củi cà phê khô ngai ngái, nồng đượm, hòa cùng mùi đất ẩm và hơi sương núi lạnh căm căm.
Chiếc đồng hồ đeo tay cũ kỹ của Khôi chỉ đúng năm giờ mười lăm phút sáng. Tiếng gà rừng le te gáy vọng lại từ vách núi phía sau rẫy. Tốp thợ hái khoán người trong buôn vẫn chưa tới.
Khôi dừng lại dưới bóng một cây bơ già đầu ngõ, hít sâu một hơi dưỡng khí buốt rát cuống họng để xua đi cơn đau đầu sau một đêm dài trằn trọc không chợp mắt. Anh gõ mạnh hai chiếc ủng vào một phiến đá ven đường để gạt bớt lớp bùn dẻo quánh, rồi bước quả quyết lên mấy bậc cầu thang gỗ đẽo thô dẫn thẳng vào gian hiên trước nhà.
Y Bih đang ngồi thu mình trên tấm phản gỗ bìa kê sát cửa chính, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì nhựa đất ôm chặt lấy chiếc ca nhựa cáu bẩn bốc khói nước chè xanh nghi ngút. Bộ quần áo lao động sờn rách ở hai bên bả vai còn vương đầy những mảnh vụn lá cà phê khô giòn từ buổi chiều vật lộn lựa hàng hôm trước. Nghe tiếng bước chân bước lên bậc thang gỗ, người đàn ông Ê-đê giật mình ngước lên. Đôi mắt trũng sâu, đỏ hoe vì thiếu ngủ của anh chớp liên hồi trong ánh sáng nhờ nhợ của buổi bình minh.
"Ủa, anh Khôi? Mới tờ mờ sáng thế này... sao anh không gọi điện trước mà lại lội bộ qua đây sớm dữ vậy?" Y Bih lúng túng đặt vội ca nước chè xuống mặt phản, hai tay bám vào gối toan đứng dậy đón khách.
Khôi không bước thẳng lên sàn gỗ. Anh dừng lại ở bậc thang trên cùng, cúi người tháo đôi ủng lấm lem bùn đất đặt ngay ngắn sang một góc hiên, chỉ bước vào với đôi tất len dày đã sờn gót. Từ túi áo ngực, Khôi rút tờ biên bản kiểm định chất lượng còn phẳng phiu, hai tay cầm ngay ngắn.
"Tôi sang gặp riêng anh trước khi tốp thợ hái vào rẫy," Khôi nhìn thẳng vào đôi mắt mệt mỏi của người nông dân, giọng trầm xuống nhưng từng âm sắc đều rành rọt. "Có một việc tối qua tôi thức trắng cả đêm, không thể nào nhắm mắt nổi. Nếu sáng nay không trực tiếp đứng trước mặt anh nói một lời xin lỗi cho đàng hoàng, tôi thấy mình không còn tư cách để tiếp tục bước chân vào rẫy của anh nữa."
Y Bih thoáng sững sờ. Đôi chân mày rậm rì nhíu chặt lại, ánh mắt lộ rõ vẻ bối rối xen lẫn nét phòng thủ quen thuộc—thứ phản xạ tự nhiên của một người nông dân nghèo đã trải qua quá nhiều biến cố và những lời hứa tráo trở từ những kẻ dưới phố lên: "Xin lỗi chuyện gì anh? Chẳng phải hôm qua... hôm qua anh Lâm đã tạm ứng bốn triệu mốt cho tôi trả tiền xe tải với trả bớt một phần tiền công thợ rồi sao?"
"Tôi xin lỗi vì đã hứa ẩu," Khôi nói, giọng dứt khoát, không hề né tránh. "Hai hôm trước, vì sốt ruột khi thấy anh bị lão Sang đè nợ phân bón ngay trước mắt, tôi đã tự ý cam kết sẽ cho anh ứng trước ba mươi phần trăm tổng giá trị dự kiến ngay khi xe vừa tới bến Bản Đỏ, dù chưa hề có kết quả kiểm định chất lượng thực tế. Tôi đã làm việc hoàn toàn bằng cảm tính cá nhân, nói trước khi bàn bạc thấu đáo với thủ quỹ và người chịu trách nhiệm kỹ thuật của mình. Chính vì lời hứa suông vô căn cứ đó của tôi mà chiều qua anh rơi vào thế bị động khi cô Ngọc phát hiện tỷ lệ quả xanh quá lớn, còn Bản Đỏ suýt nữa thì vỡ trận ngân sách ngay ngày đầu tiên thu mua."
Y Bih lặng đi. Bàn tay đang đặt trên mép phản gỗ khẽ co lại. Trong không gian tĩnh mịch của buổi sớm Tây Nguyên, chỉ còn lại tiếng gió thông thốc rít qua từng khe nứa hở trên vách nhà và tiếng nước chè sôi reo tí tách từ nồi đồng phía chái bếp.
Khôi tiến lại gần một bước, nhẹ nhàng đặt tờ biên bản phân loại lên mặt phản gỗ, ngay trước mặt người nông dân: "Hôm qua chúng ta đã thống nhất phương án xử lý do Lâm đưa ra: bốn trăm năm mươi ký quả xanh mua theo giá sàn sáu ngàn tám trăm đồng, một tấn ba trăm năm mươi ký quả chín chuẩn mua giá tám ngàn đồng. Tổng tiền hàng của chuyến đầu là mười ba triệu tám trăm sáu mươi ngàn. Chúng tôi đã xuất két tạm ứng bốn triệu một trăm năm mươi ngàn. Khoản còn lại chín triệu bảy trăm mười ngàn đồng, theo hợp đồng Lâm tính là sẽ thanh toán dứt điểm trong vòng bảy ngày."
Khôi ngập ngừng một thoáng, cổ họng khô khốc. Anh nuốt khan một ngụm nước bọt rồi nói tiếp sự thật trần trụi nhất: "Nhưng sáng nay, tôi phải sang đây để xin anh cho Bản Đỏ gia hạn thêm đúng ba ngày so với lịch ban đầu. Nghĩa là tròn mười ngày kể từ hôm qua, chúng tôi mới có thể thanh toán dứt điểm khoản tiền chín triệu bảy trăm mười ngàn đó. Ba ngày gia hạn đó là khoảng thời gian tối thiểu để mẻ bốn trăm năm mươi ký quả xanh kia se khô lớp vỏ trên bạt xô, giúp chúng tôi xác định chính xác tỷ lệ hao hụt tạp chất và đưa vào kho cà xô cấn trừ rủi ro an toàn tài chính. Tôi không muốn quanh co giấu giếm, cũng không muốn hứa hẹn thêm một điều gì nằm ngoài khả năng chi trả thực tế của két sắt công ty lúc này."
Sự im lặng bao trùm lấy gian nhà sàn như một khối đá nặng. Y Bih cúi gằm mặt xuống, nhìn chăm chăm vào những con số chi tiết và nét chữ ký bằng mực xanh ngay ngắn trên tờ giấy trắng. Những ngón tay chai sạn, nứt toác từng kẽ móng của anh siết chặt lấy quai chiếc ca nhựa đến mức gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay.
Khôi nín thở chờ đợi. Từng giây trôi qua dài như cả một năm. Anh hiểu rất rõ rằng một lời xin gia hạn nợ vào lúc này là một đòn giáng nặng nề vào niềm tin vốn dĩ vô cùng mong manh giữa người nông dân bản địa và một nhóm thanh niên trẻ mới về lập nghiệp. Ở cái đất Cư M’Rao này, người nông dân sợ nhất là cảnh thương lái khất nợ gối đầu: hẹn lần lừa từ ba ngày sang một tuần, từ một tuần sang nửa tháng, rồi dần dần trừ lùi đủ loại chi phí vô lý hoặc xù luôn khi mùa vụ kết thúc. Nếu bây giờ Y Bih nổi giận, nếu Y Bih xua tay đuổi anh xuống cầu thang và gọi điện cho máy cày của lão Sang vào tuốt cành bán sạch cả rẫy, Khôi sẽ hoàn toàn bất lực. Anh không có quyền oán trách nửa lời. Đó là cái giá đắt phải trả cho một lời hứa vượt quá năng lực thực thi.
Một tiếng thở dài thật sâu trút ra từ lồng ngực Y Bih, nặng trĩu, làm gợn sóng cả mặt nước chè xanh trong chiếc ca nhựa.
Người đàn ông Ê-đê từ từ ngẩng đầu lên. Khác hẳn với vẻ mặt hằn học, giận dữ và bất cần khi bị Bảo Ngọc chặn xe ở cổng trạm hôm qua, đôi mắt của Y Bih lúc này phẳng lặng như mặt hồ nước mùa đông. Đôi mắt ấy đọng lại chút mệt mỏi rã rời của một kiếp người lam lũ, nhưng tuyệt nhiên không hề có sự ngờ vực hay tị hiềm.
"Anh Khôi à," Y Bih cất tiếng, giọng khàn đặc như có sạn. "Chiều hôm qua lúc cô Ngọc lấy cái khay nhôm múc từng nắm cà phê trên xe tôi ra đếm, thấy toàn quả xanh non với cành lá gãy nát, mặt tôi nóng bừng bừng vì giận. Tôi giận các anh trí thức dưới phố về đây mà soi mói từng hạt, làm khó làm dễ người nghèo. Nhưng tối qua, nằm vắt tay lên trán nhìn lên mái nhà, tôi biết tôi giận mình nhiều hơn. Tôi biết đám thợ hái ẩu, họ giật cành rồi tuốt cả chùm non giấu xuống đáy bao tải mà tôi không dám mở miệng quát mắng, vì tôi sợ họ tự ái, họ bỏ rẫy chạy sang hái khoán cho mấy đám nhà giàu bên kia đồi."
Y Bih đưa một ngón tay thô ráp quệt nhẹ qua dòng chữ ký của Khôi dưới góc tờ biên bản: "Mười lăm năm tôi tự tay làm rẫy ở cái đồi Cư M’Rao này, chưa từng có một thằng thương lái nào chịu lội bộ qua mấy cây số bùn lầy lên tận nhà tôi lúc gà chưa gáy chỉ để xin lỗi vì đã lỡ lời hứa ẩu. Bọn lái buôn chỉ biết ép giá lúc hàng vừa tới bến, trừ độ ẩm khống, trừ tạp chất cào bằng, rồi quẳng cho mấy cọc tiền rách bớt đầu xén đuôi kèm theo mấy câu đe dọa nợ lãi phân bón. Anh dám nhận sai sòng phẳng, dám nói thật trong két còn bao nhiêu tiền và xin hẹn đúng ba ngày để phơi se vỏ, cái đó tôi tin. Tôi tin anh là người tử tế, không phải phường lừa đảo."
Khôi cảm thấy một luồng hơi ấm đột ngột dâng lên từ ngực, làm cay xè khóe mắt, nhưng anh vẫn đứng yên, không vội vàng thở phào nhẹ nhõm.
"Tôi đồng ý cho Bản Đỏ thêm ba ngày để chốt tiền dứt điểm chuyến trước," Y Bih nhìn thẳng vào Khôi, ánh mắt bỗng trở nên nghiêm nghị và cứng cỏi lạ thường. "Nhưng tôi có một điều kiện."
"Anh cứ nói, bất cứ điều kiện gì về mặt kỹ thuật hay công sức, tôi và anh Tư cũng sẽ đáp ứng hết mình," Khôi đáp ngay, không một giây chần chừ.
"Hôm nay thợ sẽ hái đợt hai ở khoảnh sườn đồi phía Tây rẫy nhà tôi," Y Bih nói, giọng rành rọt. "Khoảnh đó cây cà Robusta sẻ cổ thụ trồng từ đời cha tôi, cây già nên quả chín mọng và ngọt nước hơn nhiều, nhưng tán lá rậm rạp, cành đan vào nhau rất khó hái. Nhóm thợ nhà tôi toàn bà con họ hàng trong buôn, quen tay giật cành tuốt xô bao nhiêu năm nay rồi. Nếu để tôi tự ra lệnh bắt họ hái tỉa từng hạt, họ sẽ cằn nhằn đòi tăng giá công rồi lại lén lút tuốt trộm cả chùm non. Cho nên, điều kiện của tôi là: anh Khôi, và cả anh Tư nữa, phải trực tiếp xuống từng luống cây, đứng cạnh từng người thợ để chỉ tận tay day tận mặt. Các anh phải hướng dẫn họ hái làm sao cho nhanh mà không phạm quả xanh, không làm toác cành làm hỏng mắt mầm. Làm được như thế, tôi mới dám bảo đảm chuyến xe chiều nay đạt chuẩn chín mươi phần trăm cho cô Ngọc kiểm tra!"
Khôi mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ, nhẹ nhõm và tràn đầy sinh khí xua tan toàn bộ cảm giác lạnh buốt của buổi sớm: "Tưởng điều kiện gì khó khăn, chứ chuyện lội rẫy bám luống thì anh Tư với tôi đã chuẩn bị sẵn đồ nghề từ đêm qua rồi!"
Vừa dứt lời, tiếng máy nổ pành pành khô khốc đặc trưng của chiếc xe máy Honda Win cũ vang lên từ dưới dốc đường liên thôn. Chiếc xe lướt qua màn sương mỏng, rẽ ngoặt vào khoảng sân đất trước nhà Y Bih. Anh Tư gạt chân chống, tắt máy. Trên vai ông khoác lỉnh kỉnh mấy chiếc đai vải dù bạt tự may đính kèm dây thắt lưng da, bên hông lủng lẳng hai đôi găng tay dệt kim sợi dày đã giặt sạch.
"Sao? Bàn tính xong chưa hai cậu em?" Anh Tư bước những bước dài lên bậc thang gỗ, nhe hàm răng ám khói thuốc lào cười khà khà. "Tôi đứng dưới ngã ba thấy bóng thằng Khôi lầm lũi xách ủng đi bộ là tôi biết tỏng thể nào nó cũng mò sang đây quỳ gối xin lỗi chú mày rồi. Thôi, sương bắt đầu tan, cà phê chín đỏ rực cả sườn đồi rồi, không nhanh tay thì trưa nắng gắt nó bốc hơi tóp hết vỏ bây giờ!"
Sáu giờ ba mươi phút sáng, nhóm thợ hái gồm tám người của Y Bih tập trung đông đủ ở đầu con dốc dẫn xuống khoảnh rẫy phía Tây. Đó là những người phụ nữ và thanh niên người Ê-đê trong buôn, khoác trên mình những chiếc áo bảo hộ sờn cũ vá chằng vá đụp, lưng đeo gùi tre đan thô hoặc những chiếc bao dứa gai đã cắt miệng, đôi bàn tay ai nấy đều mang vẻ thô ráp, chai sần của những năm tháng làm nông nhọc nhằn. Họ nhìn Khôi và anh Tư bằng ánh mắt vừa tò mò, vừa lộ rõ vẻ e dè, đề phòng.
Anh Tư không dài dòng lý thuyết sách vở. Ông bước thoăn thoắt tới gốc Robusta sẻ đầu tiên ở đầu luống—một cây cà phê cổ thụ thân to bằng bắp đùi người lớn, cành lá sum suê đan cài chằng chịt, trĩu trịt những chùm quả căng tròn đang chuyển sắc đồng loạt từ vàng cam sang đỏ thẫm như những quả sơ ri chín mọng.
"Bà con bu lại đây coi tôi làm một lần cho rõ," anh Tư cất giọng rổn rảng, thu hút toàn bộ sự chú ý của nhóm thợ. Ông giơ bàn tay gân guốc nắm lấy một nhánh cà phê trĩu quả đang sà xuống ngang ngực. "Bình thường bà con quen tay đeo bao tay bố, chụp nguyên bàn tay từ trong nách cành rồi giật ngược một phát thật mạnh ra ngoài ngọn đúng không? Làm kiểu đó thì nhanh thật đấy, một ngày một người khỏe tay có thể tuốt được hai ba tạ cà tươi. Nhưng quả non xanh lè nó rụng theo, lá non rụng theo, và quan trọng nhất là cái lớp vỏ lụa mỏng bảo vệ mắt mầm nách lá bị tước sạch trơn không còn một mống!"
Anh Tư vạch một nhánh cành bị tuốt ẩu từ hôm trước cho mọi người nhìn thấy vết xước trắng hếu, tưa xơ như xơ mướp: "Cái mắt mầm này chính là chỗ để mùa mưa năm sau nó đâm hoa kết trái. Tuốt cành bạo lực như thế là mình tự tay bẻ gãy chén cơm của chính mình vào năm sau! Cây cà phê nó biết đau, nó chảy hết nhựa rồi kiệt sức, vụ tới chỉ có nước ăn phân mà không ra nổi một chùm quả."
Đám thợ im bặt. Mấy người phụ nữ lớn tuổi khẽ nhìn nhau, gật đầu công nhận điều anh Tư vừa nói trúng vào nỗi xót xa bao năm của người trồng cà.
Khôi bước lên đứng cạnh anh Tư, trên tay cầm chiếc giỏ vải bạt có quai đeo chéo qua hông mà anh và anh Tư đã ngồi cặm cụi may gia cố lại suốt đêm qua: "Hôm nay, Bản Đỏ và anh Y Bih tha thiết nhờ bà con hái theo cách mới: thao tác xoay nhẹ cuống quả."
Khôi đưa hai ngón tay cái và ngón trỏ kẹp nhẹ vào cuống của một chùm quả chín thẫm: "Bà con nhìn kỹ ngón tay tôi nhé: tuyệt đối không dùng sức giật thẳng hay kéo giật ngược về phía trước, mà ngón tay hơi áp sát vào phần đế cuống, xoay cổ tay một góc khoảng ba mươi độ theo chiều kim đồng hồ. Quả cà phê khi đã chín mọng thì lớp tầng rời ở cuống quả rất giòn và xốp. Mình chỉ cần xoay nhẹ một cái là cuống quả tự tách ra ngọt xớt, rơi gọn ghẽ vào lòng bàn tay. Còn quả xanh bên cạnh cuống vẫn dai, mình không tác động lực vặn vào nó thì nó vẫn bám nguyên vẹn trên cành để tuần sau tiếp tục hút nhựa chín tiếp."
Khôi làm mẫu liên tiếp ba lần. Từng chùm ba bốn quả đỏ au ngoan ngoãn rời cành lách tách rơi vào giỏ vải mà không hề làm rụng lấy một chiếc lá non, cũng không hề kéo theo những quả xanh non nhỏ bằng hạt ngô nằm kề sát bên cạnh. Cành cà phê sau khi Khôi hái tỉa chỉ còn lại những quả xanh đang độ ngậm sữa và lớp vỏ gỗ màu nâu xám hoàn toàn nguyên vẹn, không một vết trầy xước.
"Hái tỉa khó thế này thì biết chừng nào mới đầy được một gùi?" Một thanh niên trẻ có bắp tay vạm vỡ trong nhóm thợ lên tiếng, giọng đầy hoài nghi và bất mãn. "Hái kiểu này chắc một ngày còng lưng chưa nổi nửa tạ cà xô. Chủ rẫy mà trả tiền công theo ký như mọi khi thì cả nhà chúng tôi chết đói à?"
Y Bih lập tức bước lên phía trước, khoát tay dõng dạc nói một tràng dài bằng tiếng mẹ đẻ với giọng điệu vô cùng cương quyết, rồi quay sang nhìn Khôi, dịch lại bằng tiếng Kinh: "Tôi đã tuyên bố rõ ràng với bà con rồi! Hôm nay không tính công theo số ký cà xô tuốt bừa bãi nữa. Tôi trả tiền công nhật nâng lên hai trăm tám mươi ngàn một ngày, cộng thêm năm mươi ngàn tiền thưởng nếu tỷ lệ quả chín trong gùi của ai đạt trên chín mươi lăm phần trăm khi trút vào bao. Số tiền thưởng đó là do anh Khôi và Bản Đỏ trích từ khoản chênh lệch chất lượng bù thẳng vào cho bà con. Ai làm kỹ, làm đúng, cuối ngày cầm tiền tươi nhiều hơn đi tuốt khoán cho người ta ngoài kia!"
Đám thợ hái ồ lên một tiếng đầy ngạc nhiên và hào hứng. Rào cản tâm lý lớn nhất về sản lượng và thu nhập đã được dỡ bỏ hoàn toàn bằng một cam kết tài chính minh bạch, sòng phẳng ngay tại bờ rẫy.
"Nào, chia luống!" Anh Tư vỗ đét hai bàn tay vào nhau, tiếng vỗ giòn tan phá tan bầu không khí ngần ngại. "Hai người một hàng cà phê. Tôi phụ trách luống bên trái sườn đồi, thằng Khôi đi luống bên phải. Ai chưa quen tay cứ réo thật to, tụi tôi đứng ngay sau lưng sửa từng ngón tay một!"
Mặt trời bắt đầu xua tan màn sương mù dày đặc, rải những vạt nắng vàng hanh như mật ong non lên khắp triền đồi Cư M’Rao. Tiếng lách tách của những cuống cà phê chín gãy giòn tan dần dần thay thế hoàn toàn cho tiếng rào rào thô bạo của những đợt tuốt cành truyền thống.
Khôi khom lưng lội giữa hai hàng cà phê cao quá đầu người. Những nhánh cành khô cào xước qua lớp áo gió, mồ hôi bắt đầu túa ra như tắm, chảy ròng ròng xuống trán rồi làm cay xè nơi khóe mắt. Nhưng anh không hề để tâm. Khôi kiên nhẫn đi chậm rãi phía sau một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình, nhẹ nhàng đỡ lấy bàn tay nứt nẻ của bà: "Bác ơi, ngón tay cái của bác hơi lùi lại một chút xíu, áp sát vào sát đế cuống quả. Đúng rồi, đừng bóp mạnh vào thân quả sẽ làm dập lớp thịt hạt bên trong. Chỉ cần lắc nhẹ cổ tay... tách! Bác thấy không, nhẹ tênh mà vỏ quả không hề trầy một vết nào."
"Ừ há, làm thế này cái cuống nó rời ngọt xớt thật mày ơi," người phụ nữ cười để lộ hàm răng nhuộm màu lá trầu đen nhánh, đôi mắt lấp lánh niềm vui thích ngây thơ. "Không bị rát buốt mấy đầu ngón tay như lúc cầm bao tay bố tuốt cành rào rào."
Ở luống bên kia rãnh nước, tiếng anh Tư cũng liên tục vang lên nhắc nhở nhóm thanh niên: "Cái chùm đó còn hai quả mới ửng vàng cam thôi, để lại! Màu vàng chanh chưa đủ lượng đường tự nhiên đâu, phải đợi nó tích nhựa lên màu đỏ thẫm như huyết bò mới được bứt. Đừng có tham số lượng vặt bừa vào gùi, chỉ cần một nắm quả xanh lọt vào là hỏng cả khay kiểm định của trạm người ta đấy!"
Không khí lao động trên sườn đồi Cư M’Rao cứ thế nhịp nhàng trôi qua dưới ánh nắng ấm dần của buổi trưa cao nguyên. Dưới những tán lá xanh thẫm, những chiếc giỏ vải bạt đeo bên hông người thợ dần dần đầy ắp những quả Robusta sẻ tròn lẳn, bóng bẩy, đỏ rực một màu đồng nhất như những chuỗi hạt ngọc bích nhuộm son. Dưới chân các gốc cây, không có cành lá nào bị gãy gập vương vãi, không có những chùm quả non xanh lép bị giẫm nát bẹp dí trong bùn. Rẫy cà phê sau đợt hái tỉa kỹ lưỡng vẫn giữ nguyên được vẻ tràn trề nhựa sống, những quả xanh còn lại trên cành như vừa được giải phóng không gian để tiếp tục đón nắng, đón gió Tây Nguyên, thong thả tích lũy lượng đường tự nhiên cho đợt thu hoạch kế tiếp sau mười ngày nữa.
Đến ba giờ chiều, chiếc xe tải nhẹ lại ì ạch bò lên dốc, dừng lại ở khoảng đất trống đầu rẫy. Từng bao tải đay được chuyển ra, cân cẩn thận bằng chiếc cân đồng hồ đặt ngay tại bờ lô trước khi bốc lên thùng xe.
Lần này, tuyệt nhiên không còn cảnh những miệng bao phồng rộp, lởm chởm cành lá và cuống gãy như chuyến xe hôm trước. Tám người thợ hái thu hoạch được tổng cộng một tấn hai trăm ký quả tươi. Mỗi một miệng bao khi mở ra đều là một sắc đỏ thắm rực rỡ, tỏa ra một mùi hương thanh khiết, ngòn ngọt của trái cây chín mọng tự nhiên dưới nắng trời.
"Xong xuôi rồi anh Khôi ơi!" Y Bih đứng trên thùng xe tải, đưa mu bàn tay quệt vệt bùn khô trên gò má, miệng cười rạng rỡ để lộ hàm răng trắng bóng. "Chuyến này mà cô Ngọc còn chê tỷ lệ quả xanh nữa là tôi... tôi xin tự chịu phạt luôn đấy!"
"Đi thôi!" Khôi đập mạnh vào thành xe bằng sắt gỉ, lòng dâng lên một niềm hy vọng mãnh liệt. "Về trạm sơ chế!"
***
Chiếc xe tải chở một tấn hai trăm ký cà phê quả tươi đợt hai lăn bánh vào sân trạm sơ chế Bản Đỏ lúc bốn giờ chiều. Ánh nắng chiều tà rọi xiên qua những rặng muồng đen chắn gió, dát một lớp vàng rực như mật ong lên ba giàn phơi lưới cước cao ráo vừa được dựng hoàn thiện trong khuôn viên kho nông cụ cũ.
Hứa Bảo Ngọc đã đứng đợi sẵn bên chiếc bàn thẩm định bằng gỗ mộc kê dưới mái hiên kho. Trên bàn, chiếc khay inox nông lòng sáng loáng, chiếc cân tiểu ly điện tử có độ chính xác hai số thập phân và chiếc khúc xạ kế quang học đo độ đường Brix đã được cô lau chùi sạch bóng, sẵn sàng cho cuộc sát hạch nghiệt ngã thứ hai.
Bên cạnh cô, Lâm ngồi ngay ngắn trên một chiếc ghế đẩu, cuốn sổ cái tài chính bọc da màu đen mở sẵn trên trang mới, chiếc máy tính bỏ túi nằm cạnh tập phiếu chi in sẵn dấu mộc vuông đỏ chót của Bản Đỏ. Gương mặt Lâm vẫn giữ nguyên nét nghiêm cẩn, đôi mắt sau tròng kính trắng chăm chú quan sát từng cử động của chiếc xe tải đang từ từ lùi đuôi vào cửa kho.
"Dỡ hàng xuống!" Khôi nhảy phắt từ cabin xe tải xuống đất, cất tiếng hô vang.
Anh Tư cùng Y Bih và hai thanh niên thợ hái lực lưỡng nhanh chóng ghé vai chuyển những bao tải đầu tiên xuống mặt sàn ximăng sạch sẽ. Không khí trong kho bỗng chốc như đặc quánh lại khi sợi dây gai buộc miệng của ba bao tải nằm ở ba vị trí khác nhau—đầu xe, giữa xe và cuối xe—được cởi bỏ.
Một mùi thơm dịu ngọt, thanh khiết như mật mía hòa cùng hương hoa quả nhiệt đới bốc lên ngào ngạt từ những khối quả đỏ au. Từng quả Robusta sẻ căng mọng, bóng bẩy dưới ánh nắng chiều, cuống quả tròn trịa, nguyên vẹn, không hề có dấu vết xơ rách hay dập nát thịt vỏ.
Bảo Ngọc không nói một lời nào. Sự chuyên nghiệp lạnh lùng của một chuyên gia thử nếm từng trải qua những kỳ sát hạch quốc tế khắt khe khiến cô tuyệt đối không để bất kỳ cảm xúc quen biết hay sự thương cảm nào chi phối đôi tay mình. Cô cầm chiếc xẻng lấy mẫu bằng thép không gỉ, đâm sâu vào đáy của bao tải thứ nhất, múc ra một vốc lớn đổ vào chiếc khay nhôm. Rồi bao thứ hai, bao thứ ba.
Khôi, Y Bih và những người thợ hái đứng quây kín quanh chiếc bàn gỗ, nín thở theo dõi từng cử động của Bảo Ngọc. Không gian tĩnh lặng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng kim loại sột soạt khi những hạt cà phê va vào thành khay.
Bảo Ngọc kéo chiếc đèn chụp công suất lớn rọi thẳng luồng ánh sáng trắng xuống mặt khay nhôm. Bằng những ngón tay thon dài, chuẩn xác và thoăn thoắt như một cỗ máy phân loại tự động, cô bắt đầu gạt riêng từng nhóm quả: quả chín thẫm hoàn hảo sang một bên, quả chín vừa sang một bên, và những quả còn vệt xanh hoặc khuyết tật sâu bệnh sang một góc nhỏ ở rìa khay.
Khay mẫu chuẩn một ngàn gram được phân loại xong xuôi trong vòng chưa đầy mười phút.
Bảo Ngọc cẩn thận gạt toàn bộ phần quả xanh và khuyết tật lên đĩa cân điện tử. Màn hình tinh thể lỏng màu xanh nhấp nháy vài giây rồi dừng lại ở một con số duy nhất:
*48,5 gram.*
Tỷ lệ quả chưa đạt chuẩn chỉ chiếm đúng bốn phẩy tám mươi lăm phần trăm! Đồng nghĩa với việc tỷ lệ quả chín đồng đều, đạt chuẩn chế biến cà phê đặc sản của đợt hàng này lên tới chín mươi lăm phẩy mười lăm phần trăm!
Chưa dừng lại ở đó, Bảo Ngọc chọn ngẫu nhiên ba quả cà phê chín mọng nhất trong nhóm đạt chuẩn, dùng lưỡi dao trích nhẹ lấy một giọt dịch nhờn bên trong lớp vỏ thịt rồi nhỏ thẳng lên mặt lăng kính của chiếc khúc xạ kế Brix. Cô áp ống ngắm vào mắt, hướng ống kính về phía luồng ánh sáng mặt trời rực rỡ ngoài hiên kho.
Một giây... hai giây... ba giây trôi qua trong sự im lặng căng thẳng dài như cả một thế kỷ.
Khôi nhìn thấy rất rõ khóe môi của Bảo Ngọc khẽ giật giật. Rồi đột nhiên, một nụ cười rạng rỡ, chân thành và vô cùng hiếm hoi bừng nở trên khuôn mặt sắc sảo, nghiêm nghị của cô gái trẻ.
"Brix hai mươi mốt phẩy tám," Bảo Ngọc hạ chiếc khúc xạ kế xuống, ngẩng đầu nhìn thẳng vào Y Bih và Khôi. "Lượng đường tự nhiên tích lũy trong hạt đạt mức tuyệt vời. Phần thịt hạt hoàn toàn nguyên vẹn, tầng rời cuống quả được ngắt cực kỳ chuẩn xác, không có dấu vết của nấm men thối hay mốc hỏng do để lưu cành quá ngày. Tỷ lệ quả chín thực tế đạt chín mươi lăm phần trăm!"
"Tuyệt vời quá rồi Yàng ơi!" Y Bih không kìm nén nổi cơn xúc động, reo lên một tiếng bằng tiếng mẹ đẻ, hai nắm tay siết chặt giơ thẳng lên trời. Nhóm thợ hái đứng phía sau anh vỗ tay rào rào, những nụ cười lấp lóa hàm răng trắng bóng trên những khuôn mặt sạm đen vì nắng gió bazan.
Bảo Ngọc cầm lấy cây bút bi đặt trên bàn, dứt khoát ký tên vào tờ lệnh duyệt nhập kho:
*Chấp thuận nghiệm thu toàn bộ lô hàng 1.200 kg quả tươi của nông hộ Y Bih Niê. Đạt chuẩn phân hạng A: Giá sàn cộng mức thưởng chất lượng tối đa.*
"Anh Lâm," Bảo Ngọc xoay tờ lệnh về phía người quản trị tài chính, ánh mắt ánh lên vẻ khích lệ rõ rệt. "Lệnh nghiệm thu kỹ thuật đã ký xong. Quyền phán quyết thanh toán bây giờ thuộc về anh."
Lâm không nói nhiều lời. Anh đón lấy tờ lệnh từ tay Bảo Ngọc, những ngón tay dài thoăn thoắt gõ dồn dập lên bàn phím của chiếc máy tính Casio. Tiếng lách cách của các phím bấm cơ học vang lên đanh gọn giữa gian kho:
"Một tấn hai trăm ký quả tươi," Lâm cất giọng điềm tĩnh, đọc to từng con số cho toàn thể mọi người trong kho cùng nghe. "Theo đúng cơ chế Giá Sàn Bảo Hiểm cộng Thưởng Lũy Tiến mà Bản Đỏ đã niêm yết công khai: Tỷ lệ quả chín thực tế trên chín mươi phần trăm được áp dụng mức giá thưởng kịch trần là chín ngàn năm trăm đồng cho một ký. Tổng giá trị thanh toán của chuyến xe chiều nay là: mười một triệu bốn trăm ngàn đồng chẵn."
Lâm cúi người xuống gầm bàn, tra chiếc chìa khóa đồng vào ổ khóa của chiếc két sắt mini màu xanh rêu. Tiếng *cạch* vang lên khô khốc và dứt khoát.
Cánh cửa thép dày mở ra. Trước sự chứng kiến chăm chú, nghẹt thở của Y Bih và toàn bộ những người thợ hái Cư M’Rao, Lâm cẩn thận rút ra hai cọc tiền polyme mệnh giá năm trăm nghìn đồng và một xấp tiền mệnh giá hai trăm nghìn đồng còn nguyên đai niêm phong bằng giấy của ngân hàng.
Lâm đặt các cọc tiền lên mặt bàn gỗ, dùng ngón tay vuốt phẳng mép từng tờ, đếm từng cọc một cách chậm rãi, rành mạch và hoàn toàn công khai trước mắt mọi người.
"Mười một triệu bốn trăm ngàn đồng tiền mặt," Lâm đẩy toàn bộ số tiền về phía trước mặt Y Bih, rồi đẩy tiếp tờ biên nhận chi tiền cùng cây bút bi. "Bản Đỏ thanh toán sòng phẳng dứt điểm tại cửa kho, đúng như cam kết chất lượng đã đưa ra. Mời anh đếm lại tiền và ký nhận vào sổ."
Y Bih bước từng bước chậm rãi tới mép bàn, đôi bàn tay run rẩy chạm vào những cọc tiền polyme mới cứng. Những ngón tay thô ráp, nứt nẻ vì bám đầy nhựa cà phê của người nông dân trẻ như nóng ran lên khi ôm trọn số tiền mười một triệu bốn trăm ngàn đồng vào lòng bàn tay.
Một tấn hai trăm ký cà phê được hái tỉa cẩn thận đã mang về số tiền vượt hơn hai mươi lăm phần trăm so với mức giá sáu ngàn tám trăm đồng mà lão thương lái Phạm Đức Sang thu mua cà xô ép uổng ngoài ngã ba. Nếu mang bán xô cho Sang, với một tấn hai này, sau khi bị lão trừ lùi năm phần trăm độ ẩm khống và trừ bảy phần trăm tạp chất cào bằng, Y Bih chỉ có thể nhận về chưa đầy bảy triệu rưỡi, mà số tiền còm cõi đó lại bị lão cấn trừ sạch vào cuốn sổ nợ phân bón mịt mù không bao giờ có hồi kết.
Còn ở đây, giữa gian kho nông cụ thô sơ của Bản Đỏ, từng đồng tiền tươi được đếm công khai ngay trước mắt những người lao động. Tiền công nhật của thợ hái được đảm bảo trọn vẹn, tiền túi của người làm rẫy có dư dả để trang trải sinh hoạt, và quan trọng hơn tất cả: phẩm giá cùng từng giọt mồ hôi của họ đã được đo đếm bằng một công thức công bằng đến từng gram ranh giới!
"Ký... tôi ký chứ!" Y Bih cầm lấy cây bút, ngón tay run rẩy ký nguệch ngoạc tên mình vào góc tờ biên nhận chi tiền. Nước mắt của người đàn ông Ê-đê chực trào ra nơi khóe mắt đỏ hoe vì xúc động.
Y Bih quay người lại, giơ cao cọc tiền trong tay về phía nhóm thợ hái của mình: "Bà con thấy tận mắt rồi đó! Mình làm đúng, mình chịu khó hái quả chín mọng, người ta trả tiền thật, thưởng thật cho mình sòng phẳng! Tối nay về buôn, tôi thanh toán đủ hai trăm tám mươi ngàn một ngày công cho từng người, cộng thêm năm mươi ngàn tiền thưởng hái chuẩn như đã hứa!"
Tiếng reo hò của những người thợ hái vang dội khắp cả gian kho. Một người phụ nữ lớn tuổi bước tới nắm chặt lấy bàn tay Khôi lắc mạnh, miệng lẩm bẩm những lời cảm ơn chân tình bằng tiếng Ê-đê mà anh Tư phải đứng bên cạnh dịch lại: "Bà ấy bảo, mấy chục năm nay làm rẫy ở xứ này, chưa từng thấy ai trả tiền hái cà phê sòng phẳng mà tôn trọng người nghèo như tụi bay. Ngày mai cả cái buôn này sẽ biết chuyện Bản Đỏ làm ăn tử tế!"
Y Bih cất cẩn thận số tiền vào túi áo trong, kéo khóa lại cẩn thận rồi bước đến đứng đối diện với Khôi. Người nông dân trẻ siết chặt lấy bả vai Khôi, giọng nghẹn ngào nhưng tràn đầy một sự quả quyết sắt đá:
"Anh Khôi! Khoảnh rẫy năm sào của tôi còn ít nhất hơn năm tấn quả tươi nữa. Tuần sau, đợt thu hoạch rộ nhất của cả vụ sẽ bắt đầu. Tôi xin cam kết danh dự với anh, với cô Ngọc và anh Lâm: tôi không thèm nói chuyện hay nhìn mặt lão Sang một lần nào nữa! Toàn bộ năm tấn quả chín rộ của rẫy nhà tôi, tôi dành trọn vẹn một trăm phần trăm cho Bản Đỏ! Tôi sẽ tự tay đứng canh từng gốc cây từ sáng tới chiều, đứa nào lén tuốt ẩu một quả xanh tôi đuổi việc ngay tại chỗ!"
Y Bih dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn ra con đường đất đỏ ngoài ngõ, nơi những người hàng xóm trong buôn đang lục tục chở nhau đi làm rẫy về ngang qua: "Không chỉ riêng rẫy nhà tôi đâu. Thằng Ama H'Rin ở lô đất bên cạnh, rẫy nó bốn sào cà Robusta sẻ đẹp không kém gì rẫy tôi, mấy hôm nay đang bị lão Sang kéo người vào dọa siết nợ cái máy bơm nước. Tối nay tôi sẽ qua tận nhà nó, lôi cổ nó sang trạm sơ chế của các anh. Nông dân Cư M’Rao chúng tôi chịu khổ quen rồi, chỉ cần có người mua đối xử công bằng, đàng hoàng và giữ chữ tín như các anh, chúng tôi sẵn sàng bán mạng giữ chất lượng cho các anh làm ăn lâu dài!"
Khôi nhìn sâu vào mắt Y Bih, cảm nhận được trọn vẹn sức nặng ngàn cân của một lời thề son sắt giữa những con người cùng bám lấy mảnh đất bazan này mà sống. Niềm tin, một khi đã được đặt đúng chỗ trên chiếc bàn cân của sự minh bạch và chân thành, sẽ lan tỏa với một sức mạnh tự nhiên không gì có thể ngăn cản nổi.
***
Bóng hoàng hôn buông xuống rất nhanh trên cao nguyên Cư M’Rao. Chiếc xe tải của Y Bih đã nổ máy rời đi trong tiếng cười nói rộn rã của tốp thợ hái, để lại sau lưng làn bụi đất đỏ mờ ảo tan dần vào rặng thông già ven đồi.
Trong kho nông cụ, Khôi cùng anh Tư và Lâm hối hả dùng xẻng xúc từng khối cà phê chín mọng đổ vào bể nước rửa nổi. Bằng những chiếc rổ mắt cáo lớn, họ thoăn thoắt vớt sạch những quả khô lép và cành rác trôi dạt trên mặt nước, rồi cẩn thận vác từng xô quả chìm chắc nịch rải đều thành từng lớp mỏng lên ba khung giàn phơi lưới cước. Gió Tây Nguyên cuối ngày lùa qua hai vách kho được đục thông đối lưu, cuốn đi hơi ẩm bốc lên từ lớp vỏ quả ướt, làm dậy lên khắp không gian một mùi hương hoa quả ngọt lịm, đậm đặc và mê đắm lòng người.
Bảo Ngọc từ góc phòng kiểm định bước ra. Cô đã cởi chiếc tạp dề bảo hộ dính đầy nhựa quả, trên tay ôm ba chiếc túi nhôm chuyên dụng màu bạc đã được hàn kín miệng bằng máy ép nhiệt. Bên trong ba chiếc túi đó là những hạt nhân xanh Robusta sẻ sơ chế theo phương pháp Yellow Honey của mẻ thử nghiệm số 02—mẻ hạt xuất sắc đạt 84.5 điểm SCA từng khiến cha của Khôi xúc động đến mức tự tay xé bỏ tờ giao kèo bán rẫy cách đây không lâu.
Bảo Ngọc bước tới, đặt ba gói mẫu hạt hút chân không thẳng thớm lên mặt bàn làm việc của Lâm, ngay cạnh chiếc máy tính bỏ túi còn ấm nhiệt tay người.
Cô ngước mắt nhìn thẳng vào Khôi. Ánh mắt cô sắc sảo, kiên định và chứa đựng một ngọn lửa hối thúc không thể chối từ:
"Cà phê tốt trên cây đã có anh Tư với Y Bih lo liệu. Giàn phơi và tiền mặt trong két đã có Lâm kiểm soát chặt chẽ từng đồng. Nhưng nguyên liệu chất lượng cao nằm im lìm trong góc kho này thì không thể nào tự nó sinh ra dòng tiền để nuôi sống nông dân và vận hành cỗ máy của chúng ta."
Bảo Ngọc gõ nhẹ đầu ngón tay lên tập mẫu hạt óng ánh sắc bạc: "Bản Đỏ chỉ còn vỏn vẹn vài ngày trước khi những chuyến xe chở năm tấn quả tươi của Y Bih và bà con trong buôn đổ dồn về đây. Anh Khôi, chuẩn bị hành lý ngay đêm nay đi. Sáng mai, tôi với anh phải có mặt ở Sài Gòn để tìm đầu ra cho những hạt cà phê này!"