Không mang hết được
Tiếng còi hơi rít chói tai dội dọc đường ống kim loại, theo sau là tiếng chốt sắt rầm rập sập xuống từng khoang ngăn khí độc từ miệng giếng Mặc.
Âm thanh đanh gắt của sắt nguội nện thẳng vào ngàm đá không đơn thuần là tiếng va đập cơ học thông thường; nó mang theo một độ rung chấn giật cục xé toang không gian ngột ngạt dưới đáy sâu. Từng mối tán rive dọc thân ống gang rung lên bần bật, trút xuống từng mảng rỉ sét xốp vụn và lớp vôi vữa khô mục bám từ nhiều năm trước. Trong các rãnh xả áp chạy ngoằn ngoèo trên trần vòm, lớp toan khí cô đọng lâu ngày bị luồng hơi nén cực đại từ các lò thổi trên mặt đất thúc mạnh, cuộn trào thành những dải khói xám tro đặc quánh, mang theo mùi lưu huỳnh nồng nặc và vị tanh tưởi rợn người của máu quặng bị thiêu rụi dưới áp lực cao.
Toán tuần tra đặc nhiệm của phủ Quan Tế ở mặt đất đã phát hiện biến động dưới đáy giếng. Không cần phái người lội xuống bùn lầy thăm dò, cũng chẳng cần buông một lời cảnh cáo, biện pháp trấn áp tiêu chuẩn của bộ máy cai quản Huyền Khuyết đối với bất kỳ kẻ nào xâm nhập khu vực cấm luôn tàn bạo, chuẩn xác và triệt để đến mức lạnh lùng: cô lập các khoang áp suất, khóa chết van thoát hiểm và xả thẳng luồng tro độc nồng độ cao vào tầng hầm Cửu Giá hòng bóp nghẹt mọi sinh linh bên dưới trước khi họ kịp nhận ra mình đang hít phải thứ gì.
Những tia khói độc xì ra từ các mép đệm cao su lưu hóa đã mủn rách, rít lên như bầy rắn độc bị giẫm đuôi trong bóng tối. Ninh Chiêu chỉ vô tình hít phải một ngụm hơi loãng tản ra từ mép cửa xả, cuống họng cô lập tức bỏng rát như bị ai cầm một mảnh dao cùn nạo dọc lớp niêm mạc. Không khí khô khốc cào xé lồng ngực. Bàn tay trái vừa mới tháo nẹp chưa lành hẳn của cô nhói buốt dữ dội, các dải gân cơ co rút giật từng cơn theo nhịp tim đập loạn xạ dưới lớp da còn non nớt.
“Chúng khóa đường ống xả cặn rồi!” Lê Vãn áp tai vào vách thép dày của cụm van số Ba, hét lên giữa tiếng rít chói óc đang dội qua từng tấm vách kim loại. Gương mặt chị tái mét dưới ánh đèn mỡ le lói, những sợi tóc ướt sũng bết chặt vào vầng trán đầy mồ hôi và bụi than xám. “Áp suất ở buồng nạp đang tăng vọt theo từng nhịp pít-tông! Nếu toàn bộ van xả tràn mở hết, trong vòng nửa khắc nữa không khí ở đây sẽ đậm đặc tro ăn mòn, phổi chúng ta sẽ rữa nát thành nước trước khi kịp trèo lên ba bậc thang!”
“Bình tĩnh.”
Giọng Tống Hoài trầm và lạnh, như một mũi đột thép cắm phập vào nền đá tảng, chặt đứt sự hoảng loạn đang nhen nhóm trong bóng tối. Anh đứng tựa lưng vào bờ tường đá vôi loang lổ vết ố toan, chiếc gậy gỗ mun kẹp chặt dưới nách trái làm điểm tựa cho nửa thân người tàn phế, tay phải rút phắt một thanh sắt dẹp dùng để nạy khớp nối cơ khí.
“Cửa ngách dẫn ngược lên đáy giếng đã bị then khóa ngoài đè chết,” Tống Hoài nói nhanh, hơi thở nén sâu trong vòm họng để ngăn tro độc lọt vào phế quản. “Lính tuần tra của Đỗ Kính không tự tay đóng chốt bằng sức người; chúng dùng áp lực hơi nước ép con đội tự khóa theo cơ chế một chiều. Muốn sống thì phải làm chúng mở nhầm đường thoát. Lê Vãn, sơ đồ áp suất!”
Lê Vãn giật mình, ngón tay run rẩy nhưng lập tức lấy lại sự thấu đáo của một người từng làm việc với hàng ngàn bản vẽ địa mạch. Mắt chị đảo nhanh qua sơ đồ mạch dẫn dập vội bằng than củi đang cuộn trong ống đồng, rồi dừng phắt lại ở cụm đường ống phụ chạy dọc mép tường phía đông—nhánh ống rỉ sét chìm lỉm dưới lớp rêu khoáng nhớp nhúa. Là một trắc lượng sư từng thuộc Cục Địa Mạch, sự am hiểu sâu sắc của chị về hệ thống van cân áp và mạng lưới khí động học của Huyền Khuyết lập tức bắt nhịp với phán đoán sắc lẹm của Tống Hoài.
“Đường van số hai!” Lê Vãn lao đến bên vách ngách, nơi có một đường ống thứ cấp bọc chì dẫn sang nhánh thông gió cũ đã bỏ hoang nhiều năm. “Đường này nối thẳng về trạm gác phía đông thung lũng, nơi đặt các bể lắng bùn than. Bảng đo chênh áp thủy ngân của bọn lính trên đài quan sát nối trực tiếp với buồng nén của nhánh này. Chúng theo dõi sự sụt áp trên bảng đo mặt đất để xác định vị trí chúng ta!”
Chị không chút do dự, quỳ thụp xuống vũng nước toan sủi bọt, rút phắt hai chiếc chốt định vị cơ khí bằng thép gió từ trong túi đồ nghề đeo ngang hông ra. Bàn tay trầy xước rướm máu của chị lách sâu vào khe hở hẹp của con đội giảm chấn, dùng búa con gõ dồn dập ba nhát ngắn, dứt khoát và chuẩn xác đến từng ly, chêm chặt chiếc chốt sắt vào miệng xả phụ. Thao tác chuẩn xác của một người làm nghề trắc lượng cả đời đo đạc sai số cơ khí đã biến chiếc chốt thép gió thành một vật cản nhân tạo làm nghẽn dòng thoát tự nhiên, ép ngược cột thủy ngân trong ống đo áp lực trở lại buồng phụ.
Chỉ sau ba nhịp thở dồn dập, một tiếng “ục” trầm đục và nặng nề vang lên từ sâu bên trong đường ống kim loại dày cộp. Áp suất giả tạo lập tức làm rung chuyển màng đo của đường van số hai.
Phía trên mặt đất, toán lính kiểm soát đang dán mắt vào mặt kính đo áp chắc chắn sẽ nhìn thấy kim chỉ áp lực ở nhánh phía đông tụt dốc không phanh, kim rung bần bật tạo nên ảo giác quang học hoàn hảo: như thể có một nhóm người đang dùng xà beng và búa tạ phá cửa thoát hiểm phụ hướng về bìa rừng Lạc Hạc.
Quả nhiên, qua thành ống truyền âm bằng đồng thau chạy dọc vách hầm, tiếng bước chân rầm rập của toán giáp binh đặc nhiệm lập tức đổi hướng. Những tiếng thét hiệu lệnh gắt gỏng, tiếng kim khí va đập dồn dập kéo về phía cửa hầm đông bắc xa xôi. Luồng tro độc đang xả xối xả vào buồng Cửu Giá hơi khựng lại một nhịp ngắn khi các van phân nhánh trên mặt đất bị người điều khiển vội vã vặn xoay để bịt kín ngách phía đông hòng đón lõng kẻ xâm nhập.
“Chỉ lừa được chúng non nửa tuần trà thôi!” Lê Vãn thở dốc, lồng ngực phập phồng dữ dội, hai bàn tay run rẩy cài vội nắp túi da đựng dụng cụ đo. “Khi chúng kéo đến ngách đông và nhận ra đó là cửa chết không bóng người, van tổng áp lực cao sẽ xả sạch toàn bộ bể chứa tro đặc vào đây! Lúc đó cả căn hầm này sẽ biến thành lò vôi sống!”
“Đủ rồi.” Tống Hoài gằn giọng qua kẽ răng. Chiếc gậy mun trong tay anh gõ cộc một tiếng dứt khoát xuống mặt sàn đá ngập ngụa bùn nhờn. “Không quay lại đáy giếng Mặc được nữa. Đi theo đường ống dẫn nước làm mát cũ. Nhanh!”
Đó là một đường cống tròn đúc bằng gang pha xỉ khoáng từ thời lập tông sơ khai, đường kính chỉ vừa vặn một người khom lưng đi lọt, vốn dùng để xả dòng nước ngâm làm nguội các khối thiên thạch điều hòa địa mạch cổ xưa. Sau ba mươi năm bị phủ Quan Tế bỏ hoang để nhường chỗ cho các rãnh rút tủy cơ học nén áp lực cao, đường ống đã sụt lở nhiều đoạn nghiêm trọng. Lòng cống ngập đầy thứ bùn khoáng rỉ sét màu nâu sẫm, quánh đặc như keo dán và bốc lên mùi tanh lợm đặc trưng của toan kim loại bốc hơi trong không gian kín.
Tống Hoài đi đầu. Dáng người anh nghiêng hẳn sang một bên, bờ vai bên phải tì chặt vào vách ống gang trơn trượt để giảm bớt tải trọng đè nặng lên đốt sống lưng thứ tư—nơi những vết nứt cũ đang âm ỉ phát tác từng cơn đau buốt buốt tận óc sau cú vận sức ban nãy. Ninh Chiêu ghì chặt cán búa tạ bên hông, tay kia ôm chặt chiếc rương đá nặng trịch được buộc giằng bằng ba vòng dây thừng gai thô ráp.
Bên trong chiếc rương đá nhỏ ấy là những phiến đá lưu trữ số liệu vận hành thô chưa kịp sao chép, cùng các mẫu hợp kim nẹp xương bị ăn mòn rỗ tổ ong mà cô và Lê Vãn vừa dùng đục cạy ra từ chân giá số ba—những vật chứng nguyên bản duy nhất có thể đối chứng vật lý với chất thép của thanh kiếm Hàn Tủy trứ danh. Chiếc rương đá nặng trĩu đè nghiến lên bả vai khiến vết thương cũ ở cánh tay trái của Ninh Chiêu nhói buốt như có hàng trăm mũi dằm lửa cắm sâu vào màng xương.
Bùn khoáng ngập đến tận đầu gối. Mỗi lần nhấc chân bước tới là một lần phải chiến đấu với lực hút sụt sùi, nặng nhọc của lớp bùn rỉ sét đang muốn nuốt chửng ống chân người đi. Lớp bùn quánh dính bám chặt vào vải quần thô, biến mỗi bước tiến thành một cực hình vắt kiệt thể lực. Vách cống gang nham nhở những mảng vảy sắt rỉ sét nhọn hoắt như răng cưa, tua tủa đâm ra từ các mối hàn cũ kỹ; chỉ cần sơ sẩy trượt chân quẹt phải là da thịt toạc ra từng mảng sâu hoắm. Không ai dám thắp đuốc lớn vì sợ làm bùng cháy khí mê-tan tích tụ trong cống rãnh, Ninh Chiêu chỉ dám kẹp một mẩu đá phát quang bọc trong lớp vải thưa nơi vạt áo, rọi những vệt sáng nhờ nhờ xanh xám hắt lên mặt bùn đen đúa, lạnh lẽo.
Mùi bùn ở đây không giống mùi bùn đất phù sa đồng ruộng, mà mang nồng độ kim loại nặng gắt mũi, cay xè và buốt lạnh. Từng mảng rêu nhờn màu xanh đen bám trên thành cống cọ vào da thịt trần gây ra cảm giác ngứa ngáy râm ran, dấu hiệu rõ ràng của nước thải axít ngấm ra từ các mỏ tro khoáng thượng nguồn chưa qua xử lý. Tống Hoài vừa dò dẫm từng bước bằng mũi gậy bọc đồng thau, vừa ngưng thần lắng nghe tiếng nước róc rách vọng lại từ khoảng không hun hút phía trước.
“Dòng chảy xuôi về phía nam,” Tống Hoài nói khẽ, giọng anh khàn đặc, từng hơi thở phả ra nặng nề và đứt quãng theo nhịp bước tập tễnh. “Đường ống này cắt ngang qua tầng địa chất ngậm quặng than bùn, dẫn thẳng ra bãi sỏi ven biển tro. Nếu giữ được tốc độ này, chúng ta sẽ thoát ra ngoài bãi cạn trước khi toán tuần tra khép vòng vây quanh làng.”
Ninh Chiêu cắn chặt môi dưới đến rướm máu, mồ hôi mặn chát túa ra từ chân tóc chảy tràn vào khóe mắt cay xè. Cổ chân cô bắt đầu tê dại vì cái lạnh thấu xương của nước ngầm pha toan. Phía sau, Lê Vãn vừa thở dốc từng cơn vừa dùng hai tay ôm khư khư ống đồng chứa bản dập sơ đồ mạch cải tạo trước ngực, bước chân loạng choạng chao đảo nhưng kiên quyết không để chiếc ống da chạm vào mặt bùn ướt. Cả ba lầm lũi tiến bước như những bóng ma lội dưới đáy địa ngục, chỉ dựa vào từng nhịp gõ khô khốc của mũi gậy gỗ mun để định hướng phương vị.
Đi được chừng ba trăm trượng trong lòng ống ngột ngạt, đường cống gang đột ngột mở rộng ra thành một khoảng vòm đá tự nhiên bị xói mòn bởi dòng ngầm qua hàng vạn năm. Đây là ngã ba cống ngầm—nơi giao nhau đầy hiểm trở giữa tuyến xả làm mát cũ của giếng Mặc và cống thoát lũ phụ của hồ chứa quặng tro phía trên sườn núi. Tiếng nước xả đổ ầm ầm vang dội từ vách đá cheo leo phía trên cao, bọt nước đen ngòm bắn tung tóe mù mịt vào không khí, phủ lên mặt người một lớp màng ẩm ướt nhớp nháp.
Nhưng ngay tại cửa van xả lũ bằng sắt rỉ chắn ngang ngã ba, một cảnh tượng tàn nhẫn đập vào mắt họ khiến bước chân của cả ba người lập tức khựng lại như bị đóng đinh xuống nền bùn.
Dưới ánh sáng chập chờn, vàng vọt của ba ngọn đuốc dầu thông cắm trên khe vách đá, bốn tên lính tuần phủ Quan Tế mặc giáp da đen viền kim loại đang đứng đón lõng tự bao giờ. Trên tay chúng là kích dài sắc nhọn đúc bằng thép xám và những cuộn xích sắt có ngạnh chuyên dùng để bắt giữ tù nhân vượt ngục. Đứng chắn ngay trước cửa van xả lũ, bị xích trói gập hai cánh tay ra sau lưng bằng khóa sắt có ngạnh, là Từ Bách—người giữ giếng già nua của thôn Giếng Mặc.
Mặt Từ Bách bê bết máu đặc và tro xám, một bên mắt sưng húp tím bầm không mở ra nổi, chiếc áo vải thô rách nát để lộ những vết lằn roi sắt tứa máu tươi đầm đìa dọc bả vai gầy guộc. Tên chỉ huy tuần tra—một kẻ có vết sẹo dài vắt ngang sống mũi kéo dài xuống tận khóe môi, mang giáp hộ tâm bằng đồng thau khắc hình hoa sen ba cánh lồng thanh kiếm cụt—đang dùng một bàn tay bọc giáp sắt túm chặt lấy búi tóc bạc của Từ Bách, tay kia dí thẳng mũi kích lạnh ngắt vào yết hầu ông lão. Lưng của Từ Bách bị ấn chặt vào cần gạt đối trọng của cánh cổng sắt van xả lũ; chỉ cần tên chỉ huy buông tay hoặc giật mạnh chiếc ngàm sắt, dòng nước lũ bùn khoáng đang ứ đọng từ ngăn trên sẽ lập tức tràn xuống, cuốn phăng mọi thứ vào vực xoáy ngầm hun hút không đáy.
Trong tay áo giáp của tên chỉ huy, thò ra một góc cuộn giấy da dê màu vàng sẫm có đóng dấu triện son đỏ tươi hình tròn ba vòng răng cưa—lệnh truy nã đặc biệt khẩn cấp do chính tay Quan Tế Đỗ Kính ấn triện, ban bố quyền bắt giết tại chỗ không cần qua thẩm tra xét xử đối với bất kỳ kẻ nào dám bén mảng xâm nhập khu vực di tích Cửu Giá.
“Khá khen cho mấy con chuột cống ranh mãnh,” tên chỉ huy nhếch mép cười gằn, giọng hắn vang lên sắc lạnh lấn át cả tiếng nước đổ ầm ầm giữa vòm đá. “Các ngươi nghĩ lừa được van áp suất số hai là thoát được cặp mắt cú vọ của phủ Quan Tế sao? Lão già giữ giếng này lén lút canh cửa cho các ngươi, vừa ngửi thấy tiếng động dưới đáy giếng đã định liều mạng đập vỡ then khẩn cấp để báo động. Đáng tiếc, xương cốt mục nát của lão quá già để chạy nhanh hơn roi sắt của bọn ta.”
Từ Bách ho sặc sụa, lồng ngực gầy trơ xương giật lên từng cơn dữ dội, phun ra một búng nước bọt lẫn máu đỏ thẫm xuống dòng nước siết đang chảy xiết dưới chân. Dù hai cánh tay bị trói ngược ra sau đến mức khớp vai đã trật kêu lạo xạo, ông lão vẫn cố hết sức ngước đôi mắt đục ngầu, hằn đầy tia máu lên nhìn về phía Ninh Chiêu, nghiến chặt hàm răng lung lay rít qua kẽ môi dập nát:
“Chạy... chạy đi Chiêu nha đầu! Đừng... đừng bận tâm đến thân già này... Bọn chúng... bọn chúng muốn đoạt lại mấy phiến đá trong rương của cháu... Thả van ra là cả lũ cùng chìm đáy cống... Mau chạy ra biển tro! Đừng để công sức cha cháu... uổng phí!”
“Câm mồm, đồ phu mỏ mạt hạng!”
Tên lính tuần tra đứng cạnh vung cán kích bọc sắt nện thẳng vào mạng sườn Từ Bách một cú trời giáng. Tiếng xương sườn rạn rắc khô khốc vang lên rợn người giữa tiếng nước gầm réo, khiến ông lão cắn chặt môi đến bật máu tươi, toàn thân run rẩy quỵ gối xuống mép bệ đá trơn trượt đầy rêu trơn.
Tình thế trong chớp mắt lập tức rơi vào thế bế tắc tột cùng.
Ngã ba cống ngầm bị chia cắt bởi một hào nước sâu chảy xiết, mực nước ngập đến ngang ngực người lớn, đáy hào rải đầy đá dăm nhọn hoắt và bùn quặng trơn như mỡ. Muốn vượt qua hào nước hung hiểm này để tiếp cận cửa ngách duy nhất thoát ra bãi sỏi ven biển tro, người ta bắt buộc phải bám vào một gờ đá hoa cương hẹp chỉ vừa vặn một bàn chân đặt nghiêng, vách đá dựng đứng trơn nhẫy không có điểm tựa tay. Nhưng lúc này, chiếc rương đá chứa đầy đủ các phiến lưu ghi số liệu vận hành thô và các mẫu hợp kim nguyên bản đang nằm trĩu nặng trên vai Ninh Chiêu.
Chiếc rương đá nặng hơn năm mươi cân. Những vòng dây thừng gai thô ráp thấm đẫm nước toan cứa sâu vào da thịt bả vai đang bỏng rát của cô, từng thớ thịt như bị xé toạc dưới sức nặng nghiền ngẫm. Một người mang theo khối đá nặng dường ấy tuyệt đối không thể nào giữ được thăng bằng trên gờ đá trơn trượt giữa dòng nước siết hung hãn, càng không thể rảnh tay để rút vũ khí giao chiến sinh tử với bốn tên lính giáp trụ đầy mình đang lăm lăm kích dài và xích sắt đón lõng bên kia bờ.
Nếu giữ chiếc rương đá, họ buộc phải tiến lùi chậm chạp, biến thành những tấm bia sống bất động cho kích nhọn đâm xuyên hoặc tên bắn lén từ bóng tối. Nhưng nếu muốn cứu Từ Bách—người thợ già đã mạo hiểm cả tính mạng tàn tạ để giữ cửa hầm và trao cho họ manh mối sống còn về hành tung của Ninh Trác mười bốn năm trước—họ phải vượt qua hào nước ngay tức khắc với tốc độ nhanh nhất có thể, trước khi tên chỉ huy kịp giật tung then hãm xả lũ.
Lê Vãn đứng chết lặng bên cạnh Ninh Chiêu trong làn hơi nước mù mịt. Đôi mắt người khảo cứu trận pháp trừng trừng nhìn chằm chằm vào chiếc rương đá xám xịt, rồi lại run rẩy nhìn sang Từ Bách đang quằn quại trong vũng máu dưới mũi kích thép.
Trong chiếc rương đá ấy là toàn bộ bằng chứng vật chất đanh thép nhất mà chị đã đánh đổi cả tuổi thanh xuân để tìm kiếm: những phiến đá lưu trữ nguyên bản ghi lại chu kỳ nạp tủy người sống, những mẫu kim loại biến tính chứng minh cỗ máy Huyền Khuyết đã nghiền nát kiếm tu Du Hành mười bốn năm trước để duy trì vận hành địa mạch. Đó là sinh mệnh học thuật của chị, là bằng chứng duy nhất đủ sức nặng để giải oan cho cái chết oan khuất của người thầy Phạm Duy trước hội đồng tông môn Thanh Lư!
“Không thể bỏ rương...” Giọng Lê Vãn nghẹn đắng lại nơi cuống họng, hai bàn tay gầy gò của chị bấu chặt vào mép đá ẩm ướt đến mức móng tay bật máu. “Ninh Chiêu... không có những mẫu hợp kim gốc đó... chúng ta lấy gì để đối chứng vật lý? Lấy gì để chứng minh với các viện chủ rằng Đỗ Kính đã dùng người sống làm tải cho cỗ máy? Bọn họ sẽ nói bản dập than củi là nét vẽ giả mạo! Mười năm điều tra... mạng sống của thầy tôi... tất cả nằm trọn ở chiếc rương này...”
Đó là sự thật tàn khốc và cay đắng của một người làm khoa học trắc lượng: mất đi chứng cứ vật lý gốc, mọi suy luận, mọi tính toán trên giấy tờ chỉ là những lời nói gió thoảng vô nghĩa trước uy quyền ngập trời và miệng lưỡi xảo quyệt của phủ Quan Tế.
Nhưng Ninh Chiêu không nhìn chiếc rương đá dưới chân.
Ánh mắt cô dừng lại trên những giọt máu tươi của Từ Bách đang nhỏ tong tòng xuống dòng bùn khoáng đen ngòm, và dừng lại nơi ánh mắt tuyệt vọng nhưng quật cường của người thợ già giữ giếng. Trong tâm khảm cô, lời giao ước ba người bên bếp than tàn ở trạm nghỉ Lò Khê lại dội về vang dội như từng nhát búa nện trên đe sắt: *Ưu tiên mạng sống người vô tội trước chứng cứ. Tuyệt đối không đánh đổi sinh mạng lấy những mảnh giấy tờ vô tri.*
Cha cô—Ninh Trác—từng chấp nhận mài khuyết then chốt mười bảy độ, chấp nhận mang danh một kẻ làm hỏng máy móc để chừa lại một khe hở sinh tồn cho những kẻ yếu thế dưới đáy giếng sâu. Nếu hôm nay cô vì mấy tảng đá câm lặng, vì những khối kim loại rỉ sét mà trơ mắt nhìn người giữ giếng chết ngạt dưới dòng bùn toan của van xả lũ, thì chiếc chốt gãy ngầm mà cha cô lưu lại nơi đáy Cửu Giá sẽ trở thành một trò hề trơ trẽn, nhơ nhuốc không hơn không kém.
“Lê Vãn, ôm chặt lấy bản dập!” Ninh Chiêu quát lên một tiếng đanh gọn, âm thanh vang dội cắt ngang tiếng nước chảy réo rắt.
Không một tích tắc do dự, không một thoáng ngập ngừng tiếc nuối, bàn tay phải đầy vết chai sần của một thợ rèn quai búa giật phăng nút thắt dây thừng gai đang thít chặt trên vai. Bằng một động tác dứt khoát đến tàn nhẫn, cô vung mạnh hai cánh tay, hất bổng chiếc rương đá nặng năm mươi cân xuống lòng hào nước ngầm sâu thẳm.
‘TÙM!’
Khối đá nặng nề lao thẳng xuống dòng nước siết, bọt nước đen ngòm sủi lên sùng sục rồi chìm nghỉm vào đáy bùn sâu hoắm. Dòng nước toan cuồn cuộn chảy xiết lập tức xóa sạch mọi dấu vết của chiếc rương trong nháy mắt.
Hành động dứt khoát đến lạnh lùng của Ninh Chiêu làm cả bốn tên lính tuần tra lẫn Lê Vãn sững sờ trong một nhịp thở ngắn ngủi. Bọn lính không ngờ một kẻ liều mạng đột nhập cấm địa lại có thể vứt bỏ thứ vật chứng quý giá nhất một cách không thương tiếc như vậy. Nhưng chính cái nhịp thở sững sờ ấy là khe hở sinh tử duy nhất mà Ninh Chiêu đã tôi luyện được qua hàng vạn lần vung búa rèn thép.
Thoát khỏi gánh nặng năm mươi cân đè nén, trọng tâm cơ thể Ninh Chiêu lập tức hạ xuống đan điền theo đúng bộ pháp hạ bàn vững chãi mà Tống Hoài đã nghiêm khắc gậy phạt rèn giũa cho cô trên ba mươi viên gạch nghiêng trơn trượt. Bàn chân cô giẫm mạnh lên gờ đá hoa cương hẹp, thân hình không hề trượt ngã dù chỉ một phân, lao vút qua mép nước siết như một con thoi sắt xé gió.
Tay phải cô rút phắt thanh gậy sắt ngắn bọc da giắt sau lưng—thứ vũ khí tự vệ tầm gần duy nhất cô mang theo bên mình.
Tên lính áp giải Từ Bách vừa kịp bừng tỉnh khỏi cơn kinh ngạc, lập tức gầm lên một tiếng man rợ. Hắn vung lưỡi kích nhọn hoắt đâm thẳng vào ngực Ninh Chiêu nhằm găm chặt cô vào vách đá ngầm. Mũi kích xé gió rít lên tanh tách, mang theo toàn bộ kình lực sắc bén của một kẻ đã đạt tầng thứ hai Luyện Thân trong quân đội phủ Quan Tế.
Nhưng Ninh Chiêu không hề nhìn vào mũi kích sáng loáng đang lao tới.
Ánh mắt sắc bén của người thợ rèn khóa chặt vào khớp bả vai và góc khuỷu tay của tên lính—đúng như bài học xương máu mà Tống Hoài từng dùng đầu gậy chỉ dạy cô trên khoảng sân Bạch Thạch lộng gió. Nhìn chuyển động của trục vai để đoán trước hướng đi của lực!
Ngay khi mũi kích chỉ còn cách ngực áo ba tấc gang tấc, Ninh Chiêu không lùi nửa bước mà thực hiện một bước trượt chéo chân trái sang mạn sườn đối phương. Bả vai cô thả lỏng hoàn toàn, vận hành như một bản lề linh hoạt điều hướng lực thay vì gồng cứng cơ bắp để đối đầu trực diện. Thanh gậy sắt ngắn trong tay phải cô vung lên theo một góc xiên bốn mươi lăm độ, không đánh vào thân kích thép đặc dày cộp mà gõ chuẩn xác như một nhát búa điểm huyệt vào đúng chốt hãm ngạnh sắt nơi điểm yếu nhất của cán vũ khí.
‘KENG!’
Một tiếng kim loại va chạm đanh gọn, chói tai vang lên giữa lòng cống ngầm. Kình lực đâm tới hung hãn của tên lính bị đòn gạt ngắn của Ninh Chiêu mượn đà hất văng sang một bên mép đá. Mũi kích cắm phập vào khe đá vôi tóe lửa ngút trời. Cổ tay tên lính bị chấn động giật ngược làm rách toạc bao cổ tay bằng da, chấn lực truyền thẳng vào khớp xương khiến thanh kích tuột khỏi tay hắn rơi choang xuống nước.
Không để đối phương kịp có nửa nhịp thở rút dao găm bên hông, Ninh Chiêu dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào cú giậm chân kế tiếp, xoay mạnh trục hông tống thẳng một cú thúc cùi chỏ sắt vào chấn thủy tên lính tuần. Tên giáp binh ộc ra một ngụm khí đục ngầu, hai mắt trợn ngược ngã ngửa về phía sau bệ đá.
Bàn tay trái đang co rút gân của Ninh Chiêu—dù đau buốt đến tận chân tủy như bị kẹp vào bễ rèn—vẫn nghiến chặt răng chộp lấy cổ áo rách nát của Từ Bách. Bằng sức mạnh bắp tay cuồn cuộn của một người thợ rèn quai búa nặng suốt mười năm ròng, cô giật mạnh ông lão lùi lại phía sau lưng mình!
“Khốn kiếp! Chém chết cả lũ cho ta!”
Tên chỉ huy tuần tra gầm lên điên cuồng. Nhận thấy con tin đã vuột khỏi tay, hắn không màng bắt sống nữa, bàn tay hộ giáp bọc sắt giật mạnh chiếc cần gạt xả lũ trên vách đá xuống nấc cuối cùng.
‘RẦM... RẦM... RẦM!’
Hệ thống then hãm đối trọng của cánh cửa van sập bằng gang khổng lồ bị giật đứt phựt. Khối sắt đúc đặc nặng hàng ngàn cân từ đỉnh vòm cống bắt đầu trượt dọc theo hai rãnh trượt bằng đá hoa cương, lao ầm ầm xuống như một lưỡi máy chém khổng lồ của tử thần. Đồng thời, dòng nước bùn toan từ khoang chứa khổng lồ phía trên tràn qua khe hở, dội xuống như thác đổ cuồng bạo, cuốn theo đất đá rào rào làm mù mịt cả tầm nhìn.
Cửa van sập đang hạ xuống với tốc độ chóng mặt. Nếu khối gang chạm đáy sàn đá, lối ngách duy nhất dẫn ra bãi sỏi ven biển tro sẽ bị hàn kín vĩnh viễn, biến toàn bộ lòng cống ngầm thành một nấm mồ ngập đầy nước toan chết chóc!
Hai tên lính tuần còn lại vung kích dài lao tới chắn ngang đường rút duy nhất dưới chân cửa van, trong khi tên chỉ huy rút phắt thanh đoản đao sáng quắc chém xéo một đường hiểm hóc xuống đầu Ninh Chiêu khi cô đang phải cúi gập người che chắn cho Từ Bách dưới chân.
“Lùi lại!”
Một tiếng quát sắc lạnh như băng tuyết ngàn năm đột ngột nổ vang phía sau lưng Ninh Chiêu.
Tống Hoài đã tới.
Chiếc gậy gỗ mun trong tay anh không còn là vật chống đỡ cho những bước chân tập tễnh, tàn phế nữa. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, khi nhìn thấy cánh cửa gang khổng lồ đang rầm rập lao xuống nghiền nát mọi hy vọng và lưỡi đao độc địa đang bổ về phía Ninh Chiêu, toàn bộ phong thái kiêu dũng của người từng đứng đầu bảng Minh Kiếm Thanh Lư Tông bừng tỉnh mãnh liệt trong cơ thể tàn tạ.
Anh không rút kiếm—bởi suốt sáu năm qua anh chẳng còn giữ thanh kiếm nào bên mình. Nhưng cánh tay phải gầy guộc của anh quét ngang thân gậy mun, vẽ nên một đường cung hẹp, chuẩn xác và lạnh lẽo đến mức mắt thường của phàm nhân khó lòng phân biệt nổi đâu là bóng gậy, đâu là lằn ranh sinh tử.
Đó tuyệt đối không phải là một chiêu thức kiếm pháp hoa mỹ của đệ tử tông môn biểu diễn nơi võ đài. Đó là một đòn kiếm ý cô đọng đến tột cùng của sự giản lược, một tia sáng xám lạnh lẽo bộc phát từ sâu thẳm tủy sống đã vỡ vụn của anh. Kiếm ý Minh Kiếm—thứ sức mạnh hủy diệt từng giúp anh đứng trên đỉnh cao sáu năm trước—bị cưỡng bức đánh thức trong tích tắc, chảy rần rật dọc theo những đường kinh mạch khô héo, truyền thẳng vào lõi thanh gậy mun bọc đồng thau.
‘RẮC!’
Một âm thanh chói tai rợn người phát ra từ chính lồng ngực và sống lưng của Tống Hoài. Đó là tiếng rạn nứt tàn nhẫn của cấu trúc kiếm cốt đã vỡ vụn tại đốt sống thứ tư. Cơn đau dữ dội vượt quá mọi giới hạn chịu đựng của thể xác khiến toàn bộ cơ bắp trên gương mặt anh co giật méo mó, khóe mắt và chân răng anh ứa ra những dòng máu đỏ thẫm.
Nhưng đòn kiếm ý bộc phát ấy không hề lệch đi dù chỉ nửa phân!
Đầu gậy mun không nhắm vào yết hầu tên chỉ huy, cũng không chạm vào lưỡi kích của hai tên lính tuần tra. Mũi gậy bọc đồng mang theo toàn bộ kình lực bộc phát ngắn điểm thẳng vào bản lề then chắn bằng thép non của cánh cửa gang đang lao xuống vun vút.
‘BOONG——!’
Âm thanh kim loại va đập vang lên chấn động màng nhĩ, như tiếng một chiếc đại hồng chung khổng lồ bị đập vỡ toang giữa hư không. Bản lề thép non chịu một lực xoắn cực đại vượt xa ngưỡng đàn hồi cơ học, lập tức biến dạng dữ dội, vặn xoắn một góc mười lăm độ và gãy gập ngàm hãm đối trọng. Khối cửa gang nặng hàng ngàn cân đang lao xuống vun vút bỗng khựng lại giữa chừng, mép dưới của nó bị kẹt cứng vào gờ đá hoa cương bị gãy nát, tạo thành một khe hở chéo chỉ cao chừng hai thước rưỡi bên trên dòng nước bùn đang cuồn cuộn tràn qua.
Đòn phản chấn khủng khiếp của khối gang nặng nề nện ngược lại thân gậy mun, truyền thẳng vào cột sống rạn nứt của Tống Hoài. Anh rên lên một tiếng nghẹn ngào trong cổ họng, toàn thân lảo đảo như một thân cây mục sắp đổ sụp xuống mặt bùn toan, nhưng chiếc gậy trong tay anh vẫn găm chặt như đóng đinh vào khe đá nứt, dùng chính xương tủy của mình làm điểm tựa chống giữ cánh cửa sập trong gang tấc sinh tử.
“Chui qua! Mau lên!” Tống Hoài gầm lên qua kẽ răng bê bết máu tươi, từng giọt máu ròng ròng rơi xuống mặt nước xám xịt.
Ninh Chiêu hiểu rằng mỗi một cái chớp mắt chậm trễ lúc này đều được đánh đổi bằng chính tủy sống và sinh mệnh đang cạn kiệt của Tống Hoài. Cô không ngoái đầu nhìn lại, túm chặt lấy thắt lưng của Từ Bách, dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh ông lão trườn qua khe hở hẹp bên dưới khối gang đang rung lên bần bật.
“Lê Vãn! Bò qua ngay!” Ninh Chiêu quát lớn.
Lê Vãn cắn chặt răng đến bật máu, áp sát toàn bộ thân người xuống lớp bùn khoáng lạnh ngắt, hai tay ôm chặt ống đồng bảo hộ bản vẽ trước ngực rồi trườn thục mạng qua khe hẹp ngay sát mép nước siết. Ninh Chiêu là người tiếp theo. Cô nghiêng người, ép sát bờ vai trầy trụa rách nát xuống mặt đá dăm lởm chởm, trượt vụt qua ngay dưới gờ sắt nham nhở của cánh cửa gang đang phát ra những tiếng rít ken két rợn người dưới áp lực hàng vạn cân đè nặng từ trên trần vòm.
Ngay khi mũi giày vừa chạm sang bờ đá bên kia khe hở, Ninh Chiêu lập tức quay phắt người lại, thò cánh tay phải qua khe hở gang, nắm chặt lấy vạt áo giáp gai của Tống Hoài giật mạnh bằng tất cả sức lực: “Buông gậy! Ra đây mau!”
Tống Hoài buông tay.
‘RẦM——!’
Mũi gậy mun bọc đồng gãy vụn làm ba khúc dưới sức nặng kinh hoàng của khối kim loại. Cánh cửa gang khổng lồ mất đi điểm tựa gượng gạo lập tức sập nghiến xuống nền đá hoa cương, chém phập vào lớp bùn sâu ngập nửa thước, bọt nước toan và mạt đá bắn tung tóe mù mịt khắp không gian. Vách đá cống ngầm phía sau bắt đầu sụp lở liên hoàn theo phản ứng dây chuyền; những khối đá hộc nặng hàng trăm cân từ trần vòm thi nhau đổ ập xuống rầm rập, chôn vùi vĩnh viễn toán lính tuần tra của phủ Quan Tế cùng chiếc rương đá chứa các mẫu kim loại nguyên bản dưới đáy vực sâu thăm thẳm.
Một luồng gió ẩm mặn nồng nặc mùi biển tro thốc thẳng vào mặt họ từ phía trước.
Cả nhóm lết từng bước nặng nề qua một đoạn ngách đá tự nhiên ẩm ướt, dốc dần lên trên nền đá sỏi. Hai chân Từ Bách đã hoàn toàn mất đi cảm giác cơ học, ông lão mềm nhũn như một tàu lá chuối héo, phải để Ninh Chiêu và Lê Vãn xốc hai bên nách kéo lê từng bước trên nền đá sỏi sắc nhọn. Tống Hoài đi sau cùng, một bàn tay gầy trơ xương bám chặt vào vách đá ẩm ướt để giữ cho cơ thể tàn phế không đổ ụp xuống, từng bước chân kéo lê của anh để lại một vệt máu thẫm loang lổ trên mặt đá xám xịt.
Khoảng tối mịt mùng của đường hầm ngầm đột ngột kết thúc khi họ vượt qua một vòm hang nứt toác bởi chấn động địa chất.
Hiện ra trước mắt họ không phải là ánh mặt trời rực rỡ ấm áp, mà là một bầu trời u ám, đục ngầu một màu xám chì của vùng duyên hải Hạ Lĩnh. Gió từ biển tro thổi vào rít từng hồi lạnh buốt thấu xương, cuốn theo những đám bụi tro khoáng mịn như bột bay là là sát mặt đất, tạo nên một tấm màn sương mù mịt mờ, ảm đạm.
Đây là bãi sỏi ven biển tro.
Những hòn sỏi đen nhánh, nhẵn thín vì bị sóng tro mài mòn qua hàng thế kỷ trải dài tít tắp đến tận mép nước tối tăm. Phía xa xa, mặt biển tro không hề có những con sóng trắng bạc đầu như biển nước thông thường, mà phẳng lặng đến ghê người, quánh đặc và đen thẫm như một vũng mực khổng lồ của trời đất, thỉnh thoảng lại nổi lên những đốm lân tinh lập lòe màu xanh lục của khoáng chất biến tính trôi dạt từ các lò luyện kim ngoài khơi xa.
Ninh Chiêu buông Từ Bách ngồi dựa lưng vào một tảng đá cuội lớn ven bờ. Ông lão thở hắt ra từng hơi run rẩy, đôi bàn tay gầy guộc co quắp run bần bật khi nhìn thấy ánh sáng ban ngày mờ mịt sau bao năm tháng bị giam cầm dưới đáy giếng tối. Lê Vãn ngồi bệt xuống lớp cát đen mịn, hai bàn tay rớm máu run rẩy mở nắp ống đồng để kiểm tra thứ tài liệu duy nhất còn giữ được.
Họ đã sống sót thoát khỏi cuộc bao vây tàn bạo trong lòng đất. Nhưng cái giá phải trả cho sự sống sót ấy hiện rõ mồn một trên từng món đồ còn sót lại sau chuyến thoát hiểm sinh tử.
Chiếc rương đá chứa đầy đủ các phiến lưu ghi số liệu vận hành thô và các mẫu hợp kim nguyên bản đã vĩnh viễn nằm lại dưới hào nước ngầm ngập toan của Cửu Giá, bị vùi lấp dưới hàng tấn đất đá sụp đổ.
Toàn bộ chứng cứ mà họ mang ra được khỏi nanh vuốt của phủ Quan Tế chỉ còn lại ba thứ mong manh:
Thứ nhất là tập giấy bản dập bằng than củi do Lê Vãn vội vã miết trên bức phù điêu cổ nơi chân đài. Dù được cất cẩn thận trong ống đồng bọc da gai, mép giấy vẫn bị ngấm một vệt nước bùn rỉ sét sẫm màu, lớp than củi lem luốc làm nhòe mất một phần sơ đồ các tuyến ống sắt nối vào hốc thiên thạch, nhưng chín thạch trụ bát giác và những vết đục bắt bu-lông của hệ thống Cửu Giá cải tạo vẫn còn nhận diện được hình hài cơ học.
Thứ hai là chiếc then chốt rèn chữ U bằng thép non do Ninh Trác đích thân chế tạo—với ba nhát đục song song và góc mài khuyết ngầm mười bảy độ mang tính triệt tiêu lực—đang nằm lạnh ngắt trong túi đồ nghề của Ninh Chiêu. Lớp sơn chống rỉ màu xám tro pha kẽm trắng mới ba năm tuổi hơi trầy xước vì va đập nhưng cấu trúc cơ học của then chốt vẫn hoàn toàn nguyên vẹn, chứng minh rõ ràng bàn tay con người đã can thiệp vào cỗ máy.
Và cuối cùng, là vài mảnh nhật ký vận hành rách nát mà Tống Hoài đã giấu kỹ trong lớp lót ngực áo giáp gai trước khi tháo chạy. Lớp giấy bản tẩm dầu gai đã cứu những mảnh giấy mỏng manh này khỏi bị nước toan hòa tan hoàn toàn, nhưng mực nho đã nhòe nhoẹt loang lổ như những vết chàm đen đúa. Chỉ còn sót lại duy nhất một dòng chữ đứt quãng ghi nhận chu kỳ nạp tủy năm Thiên Hưng thứ 32, cùng ký hiệu thanh lý phế liệu của thanh kiếm Hàn Tủy từng thuộc về đệ tử Minh Kiếm.
Không có mẫu quặng gốc. Không có khối đá lưu trữ trọn vẹn với các số liệu nén tủy chưa bị can thiệp.
Bằng chứng mà họ có trong tay quá mong manh, lem luốc và đầy những khoảng trống có thể bị bộ máy tuyên truyền và quyền lực ngút trời của phủ Quan Tế dùng miệng lưỡi bẻ gãy bất cứ lúc nào trước công chúng tông môn. Nhưng họ đã mang được một con người bằng xương bằng thịt—người giữ giếng Từ Bách—thoát khỏi lưỡi hái tử thần của cỗ máy rút tủy cơ học.
Ninh Chiêu thở dốc từng hơi mệt nhọc, lồng ngực cô đau nhói như có đá đè. Cô quỳ xuống bên mép nước, vốc một vốc nước biển tro lạnh ngắt rửa sạch lớp bùn toan bám trên vết bỏng rát ở mu bàn tay trái. Cơn đau buốt của nước biển pha khoáng chất xộc thẳng vào da thịt làm đầu óc cô tỉnh táo lại đôi chút. Cô quay đầu nhìn lại Tống Hoài, định cất tiếng nói lời cảm ơn vì đòn kiếm ngắn liều mạng đã cứu lấy mạng sống của ba người ban nãy.
Nhưng lời chưa kịp thốt ra khỏi bờ môi khô nẻ, đồng tử của Ninh Chiêu đã co thắt lại vì kinh hoàng tột độ.
Tống Hoài đang đứng sừng sững giữa bãi sỏi đen bỗng khựng lại như một pho tượng đá nứt toác. Đoạn gậy mun gãy dở trên tay anh tuột khỏi những ngón tay co quắp, rơi cộc một tiếng khô khốc xuống nền cát đen ẩm ướt. Toàn bộ sắc mặt anh trong chớp mắt chuyển sang màu xám ngoét như tro tàn của lò luyện nguội ngắt, hai bờ vai run lên bần bật trong một cơn co thắt dữ dội của lồng ngực. Anh giơ một bàn tay run rẩy lên ôm chặt lấy sống lưng, những ngón tay gầy guộc cào rách cả lớp áo giáp thô gai, móng tay cắm sâu vào da thịt như muốn bóp nát đốt xương tủy đang vỡ vụn bên trong.
Đòn kiếm ý Minh Kiếm vừa rồi—dù chỉ bộc phát trong non nửa nhịp thở ngắn ngủi để ép gãy then sắt cứu nguy—đã triệt để phá hủy sự cân bằng mong manh cuối cùng trong cơ thể tàn phế của anh. Cấu trúc kiếm cốt đã vỡ vụn từ sáu năm trước không thể nào chịu nổi tải trọng khủng khiếp của kiếm ý cưỡng bộc, nay rạn nứt thêm một đoạn dài dọc theo tủy sống, xé toạc các đường kinh mạch vốn đã khô héo.
Tống Hoài ngã gục xuống lớp cát đen lạnh ngắt, hai đầu gối đập mạnh vào sỏi nhọn, miệng hộc ra một búng máu đen đặc quánh do vận lực quá giới hạn sinh mệnh.
Lê Vãn hét lên một tiếng thất thanh, buông rơi ống đồng lao tới. Ninh Chiêu bật dậy, lảo đảo lao qua bãi sỏi, hai cánh tay cô run rẩy đỡ lấy bờ vai đang co giật từng hồi của Tống Hoài.
Bàn tay cô chạm vào lưng áo anh, nơi lớp vải thô đã ướt đẫm máu tươi và mồ hôi lạnh toát. Qua lớp áo giáp gai mỏng manh, Ninh Chiêu có thể cảm nhận rõ ràng độ rung giật bất thường của đốt sống thứ tư—nơi kiếm cốt đã rạn vỡ, đang phát ra những luồng nhiệt nóng rực như một thanh thép non bị nung cháy dở trong lò rèn rồi đột ngột bị dập gãy bằng búa tạ.
Máu từ khóe miệng Tống Hoài tiếp tục trào ra, đen thẫm và đặc quánh, nhỏ từng giọt nặng nề xuống những hòn sỏi biển tro. Đôi mắt anh mờ đục đi, hơi thở đứt quãng như tiếng bễ rèn rách nát, nhưng bàn tay gầy guộc rướm máu của anh vẫn cố sức nắm chặt lấy cổ tay Ninh Chiêu, các ngón tay siết chặt đến mức móng tay hằn sâu vào da thịt cô.
“Giữ... lấy... then chốt...” Tống Hoài thì thào qua kẽ răng đầy máu, giọng anh yếu ớt như tiếng gió rít qua khe đá nứt, nhưng ánh mắt vẫn lóe lên một tia sáng quật cường đến rợn người. “Đừng... để... gãy...”
Gió biển tro lại rít lên từng hồi buốt giá, cuốn theo lớp bụi khoáng mù mịt bay qua bãi sỏi hoang tàn, phủ một lớp tro xám lạnh lẽo lên bốn con người vừa thoát ra từ cõi chết.