Kẻ Giữ Ký Ức — Phần 1: Bản Chép Của Người Đã QuênCh.7 / 36
Chapter 7

Phiên chợ của những điều đã mất

Khói than mù mịt quyện cùng mùi tanh nồng của bùn sông đón lấy Lục An và Tạ Thanh Nghi khi hai người khoác áo tơi thô bước vào khu chợ bến cạn Hà Phường, nơi những bình gốm chứa mảnh vụn dư vang được bày bán công khai dưới danh nghĩa phế liệu luyện khí.

Dòng sông Ngọa Hổ cuộn đỏ phù sa sau cơn mưa rào đầu mùa, vỗ bì bõm vào những cọc cừ tràm cắm xiêu vẹo dọc mép nước. Tiếng mái chèo va vào mạn thuyền gõ nhịp chan chát giữa tiếng mặc cả gay gắt của giới thương hồ. Bến cạn vào giờ Mão chưa tỏ mặt người, sương mù từ lòng sông bốc lên xám đục, lẫn với khói lò than sấy bột giấy và mùi dầu trẩu hăng nồng bốc ra từ các xưởng mộc ven bờ. Hơi nước đặc quánh mang theo vị mặn chát của rác rưởi mục rữa, quẩn quanh nơi đầu mũi, bám vào da thịt như một lớp mỡ lạnh ngắt không thể gột sạch.

Lục An siết chặt vạt áo tơi bằng lá cọ thô ráp. Cánh tay phải của hắn vẫn bị kẹp cứng giữa hai thanh nẹp tre ngâm dầu trẩu, quấn chặt lớp băng vải tẩm bột dịch hồ tiêu cay sè để giữ ấm các khớp xương nứt rạn. Mỗi nhịp bước gập ghềnh trên lớp đá cuội trơn trượt ven bến đều dội một luồng chấn động âm ỉ từ cổ chân lên tận bả vai, khiến hắn phải cắn chặt quai hàm để không bật ra tiếng rên. Dược tính nóng rát của hồ tiêu cắn sâu vào da thịt, xung đột với cái lạnh thấu xương của gió sông sớm, tạo thành một cảm giác ngứa ngáy nhức nhối tận tủy xương. Hắn phải dùng toàn bộ ý chí để giữ cho vai phải xuôi tự nhiên, không để lộ ra sự tàn tật đang hành hạ từng thớ cơ.

Bên cạnh hắn, Tạ Thanh Nghi đã tháo bỏ trâm bạc và ngọc bội của Giám Ký Viện, giấu mái tóc dưới chiếc nón lá rách và khoác một tấm áo vải thô nhuộm vỏ dà bạc phếch. Nàng cúi thấp đầu, bàn tay giấu dưới tay áo rộng nắm hờ lấy chuôi đoản kiếm giấu trong cạp quần, dáng đi hơi khom lưng phỏng theo cử chỉ rụt rè của một thợ chế tác ngoại môn đi mua vật liệu lậu. Đôi ủng da mỏng vốn quen lướt trên sàn đá cẩm thạch của Giám Ký Viện nay lún sâu trong bùn lầy nhão nhoét, nhưng bước chân nàng vẫn giữ được sự thăng bằng tuyệt đối, từng động tác nhấc chân đặt gót đều chuẩn xác đến mức bùn đất hầu như không bắn lên gấu quần.

Chợ Hà Phường không phải chốn dành cho thanh quy tông môn. Nơi đây là vùng trũng pháp lý nằm ngoài ranh giới tuần tra của Chấp Pháp Viện, nơi rác rưởi của giới tu hành và mồ hôi của phàm nhân hòa lẫn vào nhau thành một dòng chảy kinh tế ngầm. Dọc theo con lạch cạn, hàng chục lều bạt che bằng cói rách mọc san sát, xiêu vẹo tựa vào nhau trên nền đất bồi ngập ngụa vỏ ốc và xỉ than. Trên những tấm liếp tre mục nát, người ta bày la liệt các loại phế phẩm thu gom từ các đợt tiến cảnh hoặc khai quật phế tích: những thỏi linh thạch đã hút cạn linh khí mòn vẹt mép, những mảnh vụn la bàn rỉ sét, những cuộn dây thừng đan bằng gân thú đã mục đứt từng đoạn, và đặc biệt là hàng dãy bình gốm thô trét đất sét niêm phong sơ sài.

Những chiếc bình ấy nằm chen chúc bên cạnh đống sắt vụn, vỏ ngoài bám đầy rong rêu khô khốc. Trên mỗi nắp bình đều dán một mẩu giấy bổi đề vài chữ nguệch ngoạc: *Dư vang đao ý tàn khuyết — loại ba*, *Cảm giác khai mạch tạp chất — bán theo cân*, hay mỉa mai hơn là *Dư vang giấc ngủ sâu — dùng cho lò luyện đan*. Đó là những mảnh tàn dư tinh thần rớt lại từ các đan điền vỡ nát, những đoạn cảm xúc tuyệt vọng hay hưng phấn cực độ bị tước đoạt trong khoảnh khắc người tu hành thất bại dưới lôi kiếp hoặc tẩu hỏa nhập ma. Khi linh lực tiêu tán, chỉ còn lại những xung động hỗn loạn này lắng đọng trong vật dẫn, được đám thợ lặn bến sông vớt lên, đóng vào bình gốm rẻ tiền đem bán cho phàm nhân.

Tạ Thanh Nghi khẽ liếc mắt nhìn một cái bình men xám đang rỉ ra những đốm lân tinh nhợt nhạt, giọng nàng hạ thấp đến mức chỉ lọt vào tai người bên cạnh: "Ký ức bị thiên luật tước bỏ của những kẻ thất bại hoặc phàm nhân tu tiên bước hụt cảnh giới... rơi xuống đây đều thành thứ phụ gia gia nhiệt cho thợ rèn."

"Không chỉ thợ rèn," Lục An đáp khẽ, hơi thở phả ra làn khói mỏng dưới vành nón sụp. "Thợ thuộc da dùng dư vang sợ hãi để làm săn da thú. Thợ làm pháo hoa dùng dư vang kinh ngạc để tạo ánh sáng xanh. Thứ gì tông môn chối bỏ, dân bến cạn đều tìm ra cách đổi lấy nửa đấu gạo. Ký ức ở đây không có tôn nghiêm, nó là nhiên liệu."

Hắn khịt mũi một cái, tập trung khứu giác vốn được trui rèn qua nhiều năm phân biệt các loại keo dán và dung môi đóng sách. Giữa biển mùi hỗn tạp của rác rưởi, cá ươn và lưu huỳnh, có một vệt mùi rất mỏng nhưng dai dẳng: mùi tanh lợ của mỡ cá biển sâu quyện với mùi chua nồng của rễ cây lưu ly bị ủ men chua, kèm theo một thoáng ngai ngái như đất ướt sau sét đánh — mùi khoáng chất đặc thù của thứ keo dán dùng dời ấn huyết. Mùi hương này không lẫn vào đâu được; nó là thứ dung môi được pha chế theo tỷ lệ nghiêm ngặt để hòa tan lớp huyết sắc tố trên màng tế phân mà không làm tổn hại cấu trúc sợi cellulose của bản thảo.

"Hướng đông nam," Lục An thì thầm, dùng đầu mũi giày chỉ về phía một dãy sạp cất bằng ván thuyền cũ nhô hẳn ra mép bùn lầy. "Mùi bong bóng cá ủ giấm thanh. Đi theo ta."

Hai người lách qua một đám phu khuân vác đang trần lưng kéo những kiện hòm nặng trịch từ thuyền đỗ bến cạn lên bờ. Tiếng dây thừng siết vào gỗ ướt ken két, tiếng chửi thề thô lậu vang lên bằng đủ thứ giọng địa phương của vùng hạ lưu sông Ngọa Hổ. Càng đi sâu vào cuối chợ, mặt đất càng lầy lội, bùn xám ngập đến mắt cá chân. Nước cống từ các xưởng mộc rỉ ra đen ngòm, sủi bọt trắng xóa quanh những gốc cọc mục.

Sạp hàng bọn họ nhắm tới nằm nép dưới một gốc đa cụt rễ mọc chìa ra sông, bên trên treo lủng lẳng một tấm biển gỗ mốc meo chỉ khắc hai chữ mờ nhạt: *Đào Ký — Vật tư thô*. Những nhánh rễ đa cắm sâu vào bùn đen như những móng vuốt khẳng khiu của một con thủy quái, giữ cho mái lều rách nát không bị gió sông cuốn phăng.

Phía sau quầy hàng ghép bằng ba phiến ván mục là một người đàn ông trạc ngũ tuần, thân hình gầy guộc như que củi, khoác chiếc áo cộc tay bằng da rái cá mòn vẹt mép. Da dẻ gã xám ngoét vì ngâm nước lâu năm, hai cánh tay chằng chịt những vết sẹo do mảnh lưu ly cào xước. Gã ngồi co một chân lên chiếc ghế đẩu ba chân khập khiễng, tay cầm chiếc cân tiểu ly bằng đồng thau, đang thoăn thoắt gắp từng mảnh vỏ sò lân tinh bỏ vào một chiếc cối đá nhỏ. Đôi mắt gã trũng sâu, vành mắt thâm quầng nhưng con ngươi đảo liên tục với vẻ cảnh giác đặc trưng của kẻ quen sống giữa lằn ranh bị bắt bớ.

Đó chính là Đào Khuê — tay môi giới vật liệu ngầm khét tiếng nhất bến cạn, kẻ sở hữu mã triện [HP-BC-709/ĐK] in trên mảnh lụa rách trong tay Lục An.

Lục An bước tới trước sạp, dùng bàn tay trái lành lặn rút từ trong túi áo ra một cuộn giấy dầu đã ngả màu ố, đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ. Hắn làm đúng điệu bộ của một thợ sửa sách ngoại môn nghèo túng, giọng khàn đặc vì gió lạnh: "Chưởng quầy, tìm chút phụ gia gắn kết bản ghi loại mỏng. Cần loại màng chịu được hơi ẩm núi cao, bắt mực lưu ngân nhưng không làm giòn thớ giấy trúc vàng."

Đào Khuê không ngẩng đầu lên, tay vẫn đều đặn gõ chày nghiền đá. Tiếng chày đá nện vào cối phát ra âm thanh *lục cục* khô khốc, bụi vỏ sò bay lên mù mịt quanh chòm râu dê lơ thơ của gã: "Bến cạn chỉ có keo da trâu và sáp ong pha mỡ lợn. Muốn thứ giữ được thớ giấy trúc vàng thì lên phố nội môn mà mua của phòng chế tác tông môn. Chỗ ta không chứa hàng cho đệ tử chính quy."

"Hàng của nội môn dùng dầu trẩu tráng mặt ngoài, viết lên bị trượt nét," Lục An bình thản tiếp lời, ngữ điệu không nhanh không chậm, viện dẫn đúng thuật ngữ nhà nghề của giới đóng sách cổ truyền. "Ta cần loại màng ngâm dịch rễ lưu ly, mỏng như cánh ve, bóc nguội được sau ba khắc. Nghe nói chỉ có thuyền buôn số bảy trăm lẻ chín của Đào lão bản mới dám chở thứ mỡ tanh này qua trạm số ba."

Động tác giã chày của Đào Khuê khựng lại tức thì.

Tiếng chày đá gõ xuống cối ngưng bặt giữa chừng. Một hạt bụi lân tinh rơi xuống mặt cân đồng, phát ra tiếng *tách* nhỏ nhoi. Gã từ từ ngẩng đầu lên, đôi mắt ti hí quét dọc từ chiếc nón lá rách rưới của Lục An xuống cánh tay phải đang nẹp tre bó chặt, rồi dừng lại trên người Tạ Thanh Nghi đang đứng im lìm như một cái bóng sau lưng hắn. Ánh mắt gã lóe lên một tia sắc lạnh, ngón tay khẳng khiu đặt trên cán cân tiểu ly hơi co lại, gõ nhịp ba tiếng lên mặt bàn: *cộc, cộc, cộc*. Đó là ám hiệu thăm dò của đám dân buôn hàng lậu trên sông Ngọa Hổ.

"Khách quen hay là người dẫn đường?" Đào Khuê gằn giọng, thanh âm the the như cọ hai mảnh sắt tây vào nhau. "Mã luồng bảy trăm lẻ chín đã không chạy nửa tháng nay. Ai chỉ cho các ngươi tới đây?"

Tạ Thanh Nghi bước lên nửa bước, không rút vũ khí, chỉ khẽ mở vạt áo thô để lộ góc mảnh nhãn vải niêm phong lụa thô dán triện son đỏ sẫm mà Lục An xé được từ móng tháp Tĩnh Chuông, cùng dòng mã [HP-BC-709/ĐK] đen đặc bằng mực chống bay hơi.

Con ngươi của Đào Khuê co rút kịch liệt như mắt mèo gặp nắng gắt. Gã đẩy phắt chiếc cối đá sang một bên, đứng bật dậy, tấm áo da rái cá rung lên bần bật: "Các ngươi từ Tàng Ký Các xuống? Hay là người của ả đàn bà họ Hàn?"

"Không phải người của Hàn Tố, cũng chẳng đại diện cho Tàng Ký Các," Lục An hạ giọng, ánh mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt nhăn nheo của gã môi giới. "Chúng ta chỉ muốn biết nguồn gốc của lô keo chuyển ấn dời màng bong bóng cá tuyết. Ai đặt hàng, ai giao nhận, và tại sao nó lại được chở thẳng vào kho ngầm dưới tháp Tĩnh Chuông."

Đào Khuê nở một nụ cười nhạt thếch, khóe môi giật giật để lộ hàm răng ám khói thuốc đen sì, chiếc lưỡi đỏ lòm liếm qua mép: "Hỏi nguồn gốc? Ở cái bến cạn này, mở mồm hỏi gốc gác hàng hóa là chuẩn bị sẵn hai tấm ván đóng hòm rồi đấy. Hai mươi khối trung phẩm linh thạch. Trả nổi thì ta nói nửa câu. Không trả nổi thì cút trước khi đám phu thuyền bẻ gãy nốt cánh tay còn lại của ngươi."

"Hai mươi khối trung phẩm?" Tạ Thanh Nghi lạnh lùng cất tiếng, khí tức Tụ Mạch trung kỳ dù bị áp chế gắt gao vẫn tỏa ra một luồng áp lực lạnh lẽo khiến ngọn đèn dầu lưu ly trên sạp chao đảo, ngọn lửa vàng vọt co cụm lại thành một đốm xanh lè. "Ngươi buôn bán dư vang chưa qua lọc, tàng trữ vật tư cấm chuyển ấn huyết dời khế ước. Từng đó đủ để Giám Ký Viện phối hợp Chấp Pháp Viện cào bằng toàn bộ cái sạp này của ngươi xuống đáy sông Ngọa Hổ, bắt cả họ nhà ngươi sung vào trại lao dịch khoáng mạch phía bắc."

Đào Khuê không hề sợ hãi trước uy áp của tu sĩ Tụ Mạch, ngược lại còn cười khẩy, vỗ mạnh bàn tay khẳng khiu đầy vết cáu bẩn xuống mặt gỗ: "Giám Ký Viện? Các người tưởng dọa được Đào Khuê này à? Cứ việc cào bằng! Bến cạn này có ba ngàn miệng ăn sống nhờ những mảnh vụn trôi nổi từ trên núi xuống. Nhưng trước khi các người kịp phong tỏa bến, toàn bộ sổ sách ghi nhận nợ ngoài kho của năm mươi phường thợ thủ công nghèo dưới chân núi sẽ tự bốc cháy. Ngươi có biết trên những cuốn sổ đó có dấu điểm chỉ của bao nhiêu người không?"

Gã rướn người qua quầy hàng, đôi mắt vằn tia máu trừng trừng nhìn Tạ Thanh Nghi: "Đám thợ mộc đóng hòm, thợ rèn cuốc, phu kéo thuyền từng mua nhầm màng keo dỏm của ta để chắp vá chứng từ thuế, trốn bớt nửa phần hoa lợi nộp cho nội môn... Họ làm thế để nuôi con! Nếu đống hồ sơ này lọt ra ngoài, Chấp Pháp Viện sẽ treo cổ hết cả đám vì tội đồng lõa giả mạo! Các người muốn bắt ta, hay muốn dồn một đám phàm nhân không có linh căn vào chỗ chết? Nào, bắt đi! Giám Ký Viện các người thanh cao lắm cơ mà!"

Không khí bên bờ sạp lập tức đông cứng lại. Gió sông thổi thốc qua tấm bạt rách, phát ra tiếng phần phật khô khốc. Lời đe dọa của Đào Khuê không phải nói suông. Gã hiểu rõ bản chất của cái gọi là trật tự tông môn hơn bất kỳ kẻ nào: kẻ có quyền luôn tìm một tầng đệm thấp nhất để giáng tội, và đám thợ thuyền nghèo kiết xác chính là tầng đệm đó. Một khi vụ án gian lận vật tư bị phanh phui theo quy trình hành chính thô bạo, chiếc búa thép của Chấp Pháp Viện sẽ nghiền nát những kẻ yếu thế nhất trước khi chạm tới được ngón tay của đám sâu mọt trên đỉnh núi.

Tạ Thanh Nghi nhíu chặt đôi mày thanh tú, bàn tay giấu dưới tay áo siết chặt lấy chuôi đoản kiếm đến trắng bệch các đốt ngón tay. Nàng là kiểm chứng sư, chức trách tối thượng là tìm kiếm sự thật và chuỗi bàn giao hợp pháp, nhưng quy tắc của Giám Ký Viện lại cứng nhắc và tàn nhẫn — luật pháp không có chỗ cho lòng trắc ẩn, và quy chế vật tư không cho phép nàng bảo đảm miễn trừ tội trạng cho những kẻ đã vi phạm, dù là vì miếng cơm manh áo.

Đúng lúc thế bế tắc như muốn bóp nghẹt bầu không khí, Lục An bước lên một bước, thân hình gầy gò chắn giữa Tạ Thanh Nghi và Đào Khuê. Hắn dùng bàn tay trái lành lặn rút từ túi áo ngực ra một tờ giấy bản trắng ngà, phẳng phiu, không tì vết, cùng một thỏi mực lưu ngân khô và một chiếc bút lông thỏ cán ngắn đã mòn vẹt đuôi.

"Ngươi lo cho đám thợ ngoại môn từng mua keo dỏm để lách thuế xưởng mộc?" Lục An nhìn thẳng vào mắt Đào Khuê, giọng nói điềm tĩnh một cách lạ thường, không mang theo nửa phần uy áp tu sĩ nhưng lại có sức nặng của một kẻ thấu triệt luật chơi. "Ta không phải kiểm chứng sư của viện. Ta là Lục An, người lưu ký độc lập của xưởng đóng sách Phùng Nghiêu."

Đào Khuê nheo mắt nhìn hắn, vẻ ngờ vực hiện rõ trên gương mặt nhăn nheo: "Lưu ký thì làm được gì? Một tên chép thuê mạt hạng mà đòi xen vào chuyện sinh tử của bến cạn?"

"Lưu ký có thanh quy riêng," Lục An đặt tờ giấy bản lên mặt bàn gỗ ẩm ướt, dùng bàn tay trái vụng về nhưng dứt khoát mài nhẹ thỏi mực lên mặt nghiên đá nhỏ gắn trên quầy. Tiếng mực ma sát trên đá phát ra âm thanh *sột soạt* đều đặn. "Theo điều mười hai thanh quy ngoại môn: Bản thỏa ước lưu ký độc lập được bảo mật vô điều kiện đối với danh tính của bên thứ ba không thuộc diện thụ lý án mạng. Ta sẽ lập một bản khế ước lưu ký ngay tại đây, có điểm chỉ của ta và Tạ kiểm chứng sư."

Ngòi bút lông thỏ chấm vào vệt mực lưu ngân ánh xanh bạc. Lục An cúi người, cổ tay trái chuyển động linh hoạt một cách đáng kinh ngạc: "Ta cam kết toàn bộ hồ sơ điều tra chuyển ấn huyết này chỉ truy cứu nguồn cung cấp màng keo gốc dẫn vào Tàng Ký Các, tuyệt đối niêm phong và bóc tách danh tính của nhóm thợ thủ công nghèo từng giao dịch hàng dỏm với ngươi. Nếu tông môn đòi truy thu danh sách khách lẻ, ta sẽ tuyên bố bản lưu bị hủy do rò rỉ nhiệt trong quá trình bảo quản. Mạng lưới làm ăn nhỏ của ngươi được giữ kín, dân nghèo không bị lôi ra làm bia đỡ đạn. Đổi lại, ngươi đưa chứng từ gốc của chuyến hàng bảy trăm lẻ chín."

Đào Khuê trố mắt nhìn từng nét chữ Lục An đang viết bằng tay trái. Dù viết bằng tay nghịch, từng nét bút mực lưu ngân ánh lên sắc xanh bạc vẫn ngay ngắn, góc cạnh sắc sảo, cấu trúc văn bản phân bổ theo đúng thể thức thư tịch thượng tầng. Từng điều khoản bảo mật danh tính bên thứ ba được cài cắm bằng ngôn từ chuẩn xác của giới hành chính tông môn, viện dẫn khéo léo các tiền lệ pháp lý của Ngoại vụ sảnh, không để hở một kẽ hở nào cho Chấp Pháp Viện bắt bẻ hay lật lại hồ sơ.

Gã môi giới nuốt một ngụm nước bọt cái *ực*, yết hầu nhấp nhô dữ dội. Gã không sợ chết bằng việc mất đi mạng lưới khách hàng bến cạn — chén cơm nuôi sống gã và đám tay chân suốt hai mươi năm qua. Nhưng tờ giấy này, với chữ ký của một nhân chứng Giám Ký Viện, chính là một lá bùa hộ mệnh bằng văn tự.

"Còn tiền?" Đào Khuê hậm hực lẩm bẩm, giọng điệu đã chùng xuống rõ rệt.

"Năm khối trung phẩm linh thạch. Đây là toàn bộ tiền bổng lưu ký ba tháng của ta," Lục An móc từ túi trong ra năm viên đá hình lục lăng sáng mờ mờ, đặt nhẹ nhàng cạnh mép tờ giấy. "Không có thêm một hạt nào nữa. Đổi lại, ngươi cho ta phiếu xuất kho và nguồn nhập thực sự."

Tạ Thanh Nghi liếc nhìn Lục An, trong mắt nàng thoáng hiện lên một tia phức tạp khó tả. Nàng hiểu rõ giá trị của năm khối trung phẩm linh thạch đối với một thợ đóng sách ngoại môn — đó là mồ hôi, là máu, là từng đêm thức trắng cạo giấy lau bản khắc. Nàng không phản đối bản thỏa ước, lặng lẽ bước tới, ngón tay trỏ điểm một giọt mực tím chuyên dụng của Giám Ký Viện rồi ấn mạnh vào góc dưới văn bản như một nhân chứng độc lập có thẩm quyền.

Đào Khuê thở dài một hơi sặc mùi rượu rẻ tiền, đưa ngón tay cái thô ráp dính đầy bùn đất ấn mạnh vào bản khế ước lưu ký, để lại một dấu vân tay đen nhẻm bên cạnh dấu mực tím thanh nhã của Tạ Thanh Nghi. Đoạn, gã vồ lấy năm viên linh thạch nhét tọt vào cạp quần, động tác nhanh như chớp.

"Được rồi, coi như ta xui xẻo gặp phải đồ thợ giấy cứng đầu," Đào Khuê lầm bầm, quay người bước vào phía sau bức màn rách che cửa sau sạp hàng. "Đợi đấy. Ta không giữ chứng từ trên mặt bàn. Hàng này nhạy cảm lắm, phải giấu dưới hầm chứa đồ phế thải."

Gã quỳ rạp người xuống nền đất ẩm, dùng một chiếc móc sắt gỉ cạy tấm ván sàn ngập bùn lên. Tiếng cọt kẹt khô khốc vang lên giữa không gian ẩm ướt. Dưới gầm sàn là một khoang chứa tối om, ẩm mốc, chất đầy những bọc rơm mục và các chum vại sứt mẻ bốc mùi giấm chua nồng nặc.

Cùng lúc đó, từ phía bờ sông, hai tên phu khuân vác cao lớn vạm vỡ đang ì ạch khênh một chiếc sọt tre lớn đựng đầy những bình gốm và ve chai phế liệu vừa dỡ từ một chiếc thuyền buồm đáy bằng đi ngang qua cửa sạp. Bùn dưới chân bọn chúng lún sâu, phát ra những tiếng *bẹp, bẹp* nặng nề.

"Tránh đường! Tránh đường cho hàng chuyển vào kho!" Tên đi trước gầm gừ, đôi chân trần bấm chặt trên lớp bùn trơn, bắp thịt trên lưng gã cuộn lên như những con trăn đất dưới làn mưa bụi.

"Cẩn thận cái chân mày, đồ ngu!" Tên đi sau quát với lên, hơi thở hổn hển. "Hàng này là đồ thải loại từ lò gốm sứ Thanh Sơn, có mấy bình lưu ly tồn đọng dư vang nặng của thương đội Bạch Sa đấy, vỡ ra là dính chướng khí bây giờ!"

Lục An nghe thấy hai chữ "Bạch Sa", trong lòng bỗng giật thót một cái. Thương đội Bạch Sa — đó là đoàn buôn từng bị xóa sổ bí ẩn ngoài biên cảnh tây nam cách đây bốn năm, vụ việc mà hồ sơ lưu trữ tại xưởng Phùng Nghiêu từng bị niêm phong tuyệt mật. Hắn vừa toan ngoái đầu nhìn thì tai họa ập đến trong chớp mắt.

Một tên phu bốc vác trượt chân trên lớp rêu trơn nhẫy bám quanh một cọc gỗ cừ tràm mục rỗng. Cả thân hình hộ pháp của gã nghiêng ngả dữ dội, chiếc đòn khiêng bằng tre đực gãy đôi với một tiếng *rắc* chói tai. Chiếc sọt tre lật nhào.

Một tiếng *choảng* chát chúa vang lên khi chiếc sọt va đập cực mạnh vào cột chống bằng gỗ lim của sạp hàng Đào Khuê. Mười mấy chiếc bình gốm văng ra ngoài, lăn lóc trên bùn. Nhưng nguy hiểm nhất là một chiếc bình lưu ly cổ hẹp, sắc xám như chì, bên ngoài bọc lưới dây gai vụn, văng thẳng về phía phiến đá kê góc quầy hàng và đập nát vụn.

*Choang!*

Mảnh lưu ly văng tung tóe như những hạt mưa thép. Nhưng không hề có nước hay bột khoáng chảy ra từ bên trong.

Từ trong lòng chiếc bình vỡ nát, một làn sương mù màu xám tro, quánh đặc và lạnh buốt như băng tuyết lập tức bùng lên. Không khí ẩm ướt của bến sông dường như bị một lực hút vô hình kéo giật lại, co cụm về phía tâm điểm nổ. Làn sương xám ấy không hề bay tản lên trời cao mà cuộn tròn lại thành những gợn sóng dao động hữu hình, tỏa ra tiếng vo ve trầm đục như hàng ngàn con ong đang đập cánh điên cuồng ngay trong lồng ngực người nghe.

"Chết tiệt! Bình chứa dư vang loại nặng chưa qua tinh chế!" Đào Khuê từ dưới gầm sàn vừa thò đầu lên, thấy cảnh tượng đó liền hét toáng lên đầy kinh hoàng rồi lập tức thụt đầu xuống như rùa rụt cổ, kéo sập tấm ván sàn lại nghe *rầm* một tiếng.

Hai tên phu khuân vác mặt cắt không còn hột máu, vứt cả đòn gánh ôm đầu tháo chạy thục mạng ra phía bờ sông, vừa chạy vừa la hét thất thanh: "Vỡ bình oán khí rồi! Chạy mau!"

Lục An đứng cách nơi chiếc bình vỡ chưa đầy năm bước chân. Luồng sóng xung kích vô hình của làn sương xám quét qua người hắn như một ngọn gió độc từ cõi âm.

Đó không phải là đòn tấn công vật lý, cũng chẳng phải linh lực áp bức thông thường. Đó là một đợt sóng dư vang ký ức thô sơ, mang theo toàn bộ những xung động tinh thần tột cùng của một kẻ hấp hối, chưa từng được gạn lọc qua các màng cách ly hay trận pháp thanh tẩy của đài thu ký. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi ngủi, thần thức của Lục An như bị một chiếc búa tạ bọc nhung nện thẳng vào giữa trán, chấn động truyền thẳng vào sâu trong linh hồn.

Toàn bộ thế giới xung quanh hắn sụp đổ hoàn toàn.

Mùi bùn sông biến mất. Tiếng nước Ngọa Hổ vỗ vào cọc tràm biến mất. Tiếng mặc cả của chợ bến cạn vụt tắt như một ngọn nến trước gió bão.

Trước mắt hắn không còn là sạp hàng tồi tàn của Đào Khuê, mà là một không gian hình bát giác khổng lồ xây hoàn toàn bằng đá hoa cương xám đen lạnh lẽo. Không gian ấy rộng lớn vô cùng, trần vòm cao vút chìm trong bóng tối dày đặc, nơi những ngọn đèn trường minh cháy bằng mỡ cá voi khổng lồ tỏa ra ánh sáng vàng vọt, tù mù và buốt giá. Hàng chục dãy giá gỗ lim cao ngất ngưởng chạm trần nhà, trên đó xếp ngay ngắn hàng vạn tráp đồng niêm phong bằng chì xám. Mùi sáp ong cổ xưa, mùi mực lưu ngân cô đặc và mùi đá ẩm mục tràn ngập khoang mũi hắn.

Và trong đầu hắn, vang lên một giọng nói.

Không phải tiếng của ai khác xa lạ. Đó chính là thanh âm của hắn.

Vẫn là chất giọng trầm, hơi khàn ở những âm cuối do khói mực hun nhiều năm, nhưng khẩu khí lại mang một uy quyền sắc lạnh, dứt khoát và xa lạ đến rợn người — thứ ngữ điệu của một kẻ quen đứng trên đài cao ra lệnh, định đoạt số phận của hàng ngàn cuộn thư tịch và sinh mạng:

*... "Niêm phong cửa van số mười hai. Dẫn dòng hồi lưu về kho rỗng phía tây bắc. Toàn bộ khế ước chu kỳ sáu phải được đối chiếu trước giờ Tý đêm nay. Bất kỳ ai rời vị trí kiểm tra an toàn... đều xử theo luật phản môn."*

Từng câu, từng chữ vang lên vang dội giữa các vách đá hoa cương trong tâm trí hắn. Cùng với chuỗi âm thanh đứt đoạn ấy, cánh tay trái của Lục An bỗng co giật dữ dội. Các ngón tay hắn vô thức uốn cong theo một thế bấm kỳ dị, bàn tay khẽ miết vào khoảng không như thể đang cầm một con dao trổ đầu vát bằng ngọc bích, thực hiện một thao tác luồn chỉ khâu năm lỗ lồng khóa mép — một kỹ thuật đóng sách cổ truyền cao cấp dành riêng cho văn bản mật cấp tông môn, thứ mà suốt bốn năm qua tại xưởng Phùng Nghiêu, hắn chưa từng được học, chưa từng được chạm tới hay nhìn thấy trên bất kỳ trang sách nào!

Cơn đau ập đến như búa bổ. Đầu Lục An đau như muốn nứt toác ra làm đôi, từng mạch máu trên thái dương giật phập phồng như muốn nổ tung. Huyết khí trong lồng ngực cuộn trào dữ dội, cổ họng ngập tràn vị tanh ngọt của máu tươi.

Ký ức ấy chân thật đến mức đáng sợ. Cảm giác kim loại lạnh ngắt của con dao ngọc trong tay, sức căng của sợi chỉ tơ tằm ngâm sáp, tiếng thở của những người đứng dưới trướng... tất cả ùa về như một cơn hồng thủy cuốn phăng mọi rào cản. Hắn tưởng chừng như mình sắp chạm tay vào được bức màn đen tối tăm đã phong tỏa tám năm ký ức bị xóa sạch của cuộc đời mình...

"Lục An! Tỉnh lại!"

Một tiếng quát sắc lẹm xé tan không gian bát giác ảo ảnh. Một bàn tay thon nhỏ nhưng cứng như thép nguội chộp mạnh lấy cổ áo tơi của hắn, giật mạnh về phía sau bằng một lực đạo kinh người.

*Vút!*

Một luồng kiếm quang màu lam nhạt bùng lên rực rỡ giữa màn sương xám. Tạ Thanh Nghi đứng chắn sừng sững trước mặt hắn, hai ngón tay trỏ và giữa của bàn tay trái khép lại thành kiếm quyết, mũi đoản kiếm bên tay phải phóng ra ba tấc kiếm khí sắc lẹm, vẽ thành một vòng tròn phong tỏa linh lực hoàn mỹ trước ngực. Luồng kiếm khí xoay tròn vù vù như một chiếc quạt gió bằng băng tuyết, ép chặt làn sương xám dư vang dội ngược trở lại mặt đất bùn lầy, ngăn không cho những hạt lân tinh độc hại tiếp tục xâm nhập vào khiếu huyệt Phong Phủ sau gáy Lục An.

Nàng dùng sức bình sinh, mượn đà xoay của kiếm thế kéo giật Lục An lùi lại năm trượng, đẩy hắn tựa lưng vào thân cây đa cụt xù xì bên mép sông.

Lục An ngã quỵ xuống lớp bùn nhão, một tay ôm chặt lấy đầu, ngực phập phồng thở dốc từng cơn kịch liệt. Mồ hôi lạnh vã ra như tắm, ướt đẫm trán rồi nhỏ ròng ròng từ cằm xuống vạt áo tơi rách rưới. Cánh tay phải bị thương bị chấn động dội vào đau buốt thấu tận tim gan, nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với sự hỗn loạn điên cuồng đang giằng xé trong tâm thức.

"Ta... ta vừa nghe thấy..." Lục An run rẩy nói, giọng đứt quãng, đôi mắt dại đi vì chấn động thần thức chưa tan. "Giọng của ta... Đóng sách năm lỗ khóa mép... Quy trình niêm phong kho ngầm... Ký ức của ta... nó đang quay lại... Ta từng ở đó... căn phòng bát giác..."

"Câm miệng!"

Tạ Thanh Nghi quát khẽ một tiếng, giọng nói sắc như lưỡi dao cạo ghim thẳng vào màng nhĩ của hắn. Nàng cúi thấp người xuống, một tay vẫn giữ chặt chuôi kiếm cảnh giới, tay kia nắm lấy bả vai trái của hắn lắc mạnh một cái thật mạnh, đôi mắt phượng trừng lên đầy vẻ nghiêm khắc, lạnh lùng và tàn nhẫn đến tột cùng:

"Nhìn thẳng vào mắt ta! Ngươi là người lưu ký, chẳng lẽ ngươi quên sạch quy tắc căn bản nhất của giới thư tịch rồi sao?"

Lục An run lên bần bật, khó khăn lắm mới ngước được ánh mắt đục ngầu nhìn vào đôi đồng tử đen lánh, sâu thẳm và kiên định như mặt hồ mùa đông của nữ kiểm chứng sư.

"Dư vang ký ức trôi nổi là rác rưởi cảm xúc!" Tạ Thanh Nghi gằn từng chữ một, hơi thở nàng phả ra hơi lạnh buốt giá giữa làn gió sông ẩm ướt. "Khi một cái bình chứa vỡ ra, sóng dao động hỗn loạn của nó sẽ va chạm vào bất kỳ thần thức nào chưa kịp phòng bị, kích phát những ảo giác đồng điệu dựa trên chính nỗi ám ảnh sâu kín nhất, đau đớn nhất của ngươi! Nó không mang lại sự thật; nó chỉ nhặt nhạnh những mảnh vụn ký ức của kẻ khác rồi nhào nặn, đánh lừa tiềm thức của ngươi để bám rễ sinh tồn!"

Nàng siết chặt lấy vai hắn, lực ngón tay mạnh đến mức in hằn qua lớp áo vải thô, khiến vết thương cũ trên bả vai hắn nhói buốt dữ dội: "Nghe thấy giọng mình không có nghĩa đó là quá khứ của ngươi! Đọc được một quy trình không có nghĩa là thiên luật đã trả lại trải nghiệm cho ngươi! Ngươi có hiểu thiên luật là gì không?"

Giọng nàng trầm xuống, chứa đựng một sự thấu thị nghiệt ngã: "Thiên luật một khi đã tước bỏ, kinh mạch ký ức đã bị chặt đứt, thì dù ngươi có đọc lại mười vạn bản chép của chính mình trong quá khứ, nó cũng chỉ là việc nạp vào một khối tri thức mới hoàn toàn xa lạ! Ngươi sẽ không bao giờ 'nhớ lại' theo cách một người bình thường hồi tưởng! Nếu ngươi để cho thứ dư vang tạp nham này dẫn dắt, ngươi sẽ trở thành một kẻ điên loạn tự chắp vá cuộc đời mình bằng những mảnh hồn rách nát của những kẻ đã chết dưới đáy sông Ngọa Hổ này! Ngươi muốn tìm ra chân tướng, hay muốn biến thành một con rối vô hồn của những làn sương xám này?"

Từng lời cảnh báo đanh thép của Tạ Thanh Nghi như một gáo nước băng tạt thẳng vào cơn mê muội đang bốc hỏa trong đầu Lục An.

Hắn run rẩy nhắm nghiền mắt lại. Hắn hít một hơi thật sâu làn không khí ẩm ướt nồng nặc mùi bùn tanh, mùi than cháy và vị mặn mòi của phù sa sông Ngọa Hổ. Vị chát của bùn bám trên môi, cơn đau buốt nhói chạy dọc từ các thanh nẹp tre bó chặt ngón tay phải, cảm giác nham nhám ráp ngứa của lớp áo tơi lá cọ cọ sát vào da cổ... Tất cả những cảm giác hữu hình, đau đớn và thô ráp của thực tại kéo giật thần thức hắn ra khỏi căn phòng bát giác đá hoa cương lạnh lẽo kia.

Ảo ảnh tan biến. Tiếng ra lệnh đầy uy quyền trong đầu hắn tắt ngấm, chỉ còn lại tiếng gió sông rít qua rặng cọc tràm xơ xác.

Hắn từ từ mở mắt ra. Ánh mắt đục ngầu ban nãy dần dần lấy lại vẻ tỉnh táo, trầm tĩnh và sắc bén vốn có của một người lưu ký cả đời chỉ tin vào sự thật trên mặt giấy. Hắn đưa mu bàn tay trái quẹt mạnh vệt máu tươi đang rỉ ra nơi khóe môi, hít một hơi thở sâu để ổn định lại nhịp tim đang đập loạn xạ.

"Ta hiểu rồi," Lục An thì thầm, giọng nói đã lấy lại được sự bình thản dù vẫn còn hơi khàn đặc. "Ảo giác cảm ứng cộng hưởng. Không phải khôi phục ký ức. Đa tạ Tạ kiểm chứng sư."

Tạ Thanh Nghi thấy ánh mắt hắn đã hoàn toàn lấy lại sự tỉnh táo, liền khẽ thở phào một hơi không thể nhận ra, buông lỏng bàn tay đang bóp vai hắn, thu hồi kiếm quyết về vỏ đoản kiếm giấu trong cạp quần. Đôi mắt nàng quét qua khoảng đất trống trước sạp hàng.

Trên mặt đất, làn sương xám sau khi bị kiếm khí phong tỏa và áp chế đã dần dần mất đi động lực xoay tròn, tan rã thành những vệt khí mỏng rồi ngấm thẳng vào các kẽ bùn lầy nhão nhoét. Nơi chiếc bình lưu ly vỡ tan tành chỉ còn lại một đống mảnh vụn xỉn màu như chì rỉ, xung quanh đọng lại một bãi dịch nhầy màu đen bốc lên làn khói khét lẹt như mùi tóc cháy. Hai tên phu khuân vác ban nãy đã biến mất tăm dạng vào sâu trong chợ, để lại chiếc sọt tre gãy nát nằm chỏng trơ giữa lối đi.

Tấm ván sàn dưới sạp hàng khẽ nhích mở một khe nhỏ. Một đôi mắt ti hí đảo quanh quất, rồi chiếc mũi khoằm của Đào Khuê thò lên hít hà. Sau khi xác nhận luồng dư vang nguy hiểm đã bị dập tắt hoàn toàn, gã mới run rẩy đẩy hẳn tấm ván ra, lồm cồm bò từ dưới hầm tối lên mặt đất. Toàn thân gã dính đầy bụi bặm, mạng nhện và bùn đen, chiếc áo da rái cá xộc xệch, hai hàm răng va vào nhau cầm cập.

"Mẹ kiếp... suýt nữa thì đứt mạch linh hồn," Đào Khuê vừa phủi bụi trên người vừa lầm bầm chửi rủa bằng giọng run rẩy. Gã ngước mắt nhìn Tạ Thanh Nghi, trong ánh mắt đã hoàn toàn biến mất vẻ xấc xược, trịch thượng ban nãy, thay vào đó là một sự kiêng dè và sợ hãi sâu sắc.

Sống ở bến cạn Hà Phường ngần ấy năm, gã lạ gì thứ kiếm khí lam nhạt vừa rồi. Đó là kiếm pháp chính tông của Giám Ký Viện, thứ kiếm ý chuyên dùng để phong ấn và áp chế các dị tượng tinh thần. Nếu ban nãy không có nhát kiếm quyết đoán của nàng kịp thời lập trận phong tỏa, đợt bùng nổ của bình dư vang loại nặng kia không chỉ thổi bay thần thức của tên thợ giấy tàn tật, mà còn có thể làm nổ tung kinh mạch của chính gã khi đang trốn dưới gầm sàn.

Đào Khuê lấm lét nhìn quanh quất ra phía lối đi lầy lội, xác nhận không có tai mắt nào của các bang phái bến sông đang rình rập, rồi run rẩy thò bàn tay khẳng khiu vào sâu trong túi ngực áo da rái cá. Sau một hồi lục lọi, gã rút ra một tờ giấy gấp tư màu vàng xỉn, mép giấy đã bị sờn rách, ố đen vì khói than và dính vài giọt mỡ động vật khô cứng.

"Đây... cầm lấy thứ này đi rồi biến khỏi sạp của ta mau!" Đào Khuê ném mạnh tờ giấy về phía Lục An như thể đang tống khứ một khối than hồng cháy dở. "Coi như ta trả nợ nhát kiếm phong ấn ban nãy của cô nương. Đừng bao giờ quay lại cái sạp này nữa!"

Lục An đưa bàn tay trái đón gọn lấy tờ giấy trên không trung. Dù các ngón tay còn hơi run rẩy do dư chấn thần thức, hắn vẫn cẩn thận trải rộng tờ giấy lên đầu gối của mình, cúi đầu xem xét tỉ mỉ từng chi tiết dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm sông Ngọa Hổ.

Đó là một tờ phiếu xuất kho vật tư khổ hẹp, dài chừng một gang tay, làm bằng loại giấy sợi đay rẻ tiền và thô ráp chuyên dùng trong giới buôn bán đường thủy của phàm nhân. Chất giấy dai nhưng ngả màu vàng ố, thớ giấy nổi cộm những sợi xơ chưa được nghiền kỹ. Phía trên cùng góc trái có đóng một dấu triện vuông khía răng cưa bằng mực đỏ đã phai màu — chính là mã triện của Đào Khuê, ghi rõ ngày tháng xuất bến: ngày hai mươi tháng sáu, tức là chỉ cách thời điểm hiện tại chưa đầy một tháng.

Tạ Thanh Nghi bước lại gần, cúi đầu xuống nhìn qua bờ vai Lục An. Ánh mắt sắc sảo của hai người đồng thời dừng lại ở phần nội dung kê khai danh mục hàng hóa được viết bằng thứ chữ thảo ngoằn ngoèo:

*Xuất kho bến cạn Hà Phường:* *— Ba mươi hũ gốm trát sáp: Keo màng cá tuyết ngâm dịch rễ lưu ly (loại thượng hạng bóc nguội, tinh chế tầng sâu).* *— Danh mục kê khai ngụy trang kiểm dịch: Dược liệu phụ trợ — Cao rễ hoàng liên và mỡ hải cẩu dùng ngoài da.* *— Nơi tiếp nhận chỉ định: Trạm chuyển giao Dược liệu số hai — Y đường Vọng Sinh, núi Thanh Khê.* *— Người ký xác nhận áp tải lâm thời: Thư lại phụ trách tiếp liệu Ngoại y vụ.*

Dưới cùng của tờ phiếu là một chữ ký tắt hình móc câu sắc nhọn kèm theo một vết dấu móng tay bấm chìm vào thớ giấy — thủ pháp xác thực riêng biệt của hệ thống hậu cần nội môn để tránh bị làm giả.

Lục An nín thở. Lồng ngực hắn như bị một tảng đá ngàn cân đè nặng. Đầu ngón tay trỏ của bàn tay trái chầm chậm miết nhẹ lên dòng chữ *Y đường Vọng Sinh*, cảm nhận độ gồ ghề của vết mực đay ngấm sâu vào sợi giấy.

Y đường Vọng Sinh.

Cái tên ấy dội vào tâm trí hắn như một hồi chuông báo tử. Đó là nơi điều trị, điều dưỡng và cấp phát đan dược duy nhất dành riêng cho các đệ tử ngoại môn sau những đợt đột phá cảnh giới bị tổn thương kinh lạc hoặc tẩu hỏa nhập ma. Một nơi tưởng chừng như chỉ toàn mùi thảo dược, bông băng và lòng từ bi của những y sư cứu người.

Nhưng trong đầu Lục An, từng mắt xích của chuỗi sự kiện đen tối bỗng chốc khớp chặt vào nhau một cách hoàn hảo đến rợn người.

Đó chính là nơi mà Mạnh Du đã nằm mê man bất tỉnh suốt ba ngày ba đêm sau khi cố gắng phá vỡ khiếu huyệt Phong Phủ để bước vào Tụ Mạch sơ kỳ. Trong suốt ba ngày đó, thân thể của Mạnh Du hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát tuyệt đối của các y sư Vọng Sinh Đường.

Đó cũng chính là nơi mà quản sự Chu Kính — người đứng đầu Tàng Ký Các đang nắm trọn quyền thao túng văn thư — từng lấy cớ "chờ kết quả giám định thương tật và y tế từ Vọng Sinh Đường" để giữ bộ hồ sơ Canh-Chín trên bàn làm việc của mình suốt ba ngày ròng rã, tạo ra một khoảng trống thời gian hoàn hảo để đánh tráo nội dung.

Và quan trọng hơn cả, Y đường Vọng Sinh nằm dưới sự cai quản trực tiếp của Trưởng lão Diệp Trầm — nhân vật quyền cao chức trọng của Ngoại vụ sảnh, người nắm giữ toàn bộ hệ thống phân phối đan dược và chứng nhận tư cách đệ tử tiến cảnh.

Toàn bộ lớp màn sương mù dày đặc bao phủ lấy vụ án dời ấn huyết bỗng chốc rách toạc ra một mảng lớn, phơi bày một sự thật tàn nhẫn và trần trụi. Thứ keo dính chuyển ấn chết người kia chưa từng phải vượt qua những bức tường thành kiên cố hay những đợt rà soát gắt gao của Chấp Pháp Viện và Tàng Ký Các bằng con đường lén lút. Nó không cần phải chui lủi qua các cấm chế trận pháp. Nó đi thẳng vào tông môn một cách hoàn toàn công khai, hợp pháp, đàng hoàng ngự trên những cỗ xe ngựa có cờ hiệu của tông môn, dưới danh nghĩa dược liệu cứu người để xoa dịu nỗi đau thể xác cho các đệ tử bị phế bỏ!

"Y đường Vọng Sinh tiếp nhận thứ màng cá tuyết này để làm gì?" Tạ Thanh Nghi lạnh lùng cất tiếng hỏi Đào Khuê, thanh âm của nàng đã đanh lại như băng kết trên mặt nước, mang theo sát khí sắc bén của một kiểm chứng sư vừa chạm tay vào đầu mối của một đại án phản nghịch. "Một cơ sở y tế cứu người cần ba mươi hũ keo bóc nguội chuyên dùng để sao chép văn tự mật làm thuốc đắp ngoài da từ bao giờ?"

Đào Khuê vừa lúi húi thu dọn những mảnh lưu ly vỡ và tro bụi dưới đất vừa lắc đầu nguầy nguậy, lưng còng rạp xuống như muốn chui tọt vào trong đống rác: "Ta chỉ là một con rận kiếm ăn ven sông Ngọa Hổ, làm sao biết được các vị tiên nhân trên núi dùng mỡ cá tuyết để chữa bệnh cứu người hay để dán giấy nợ, đổi khế ước? Bọn họ đưa tiền, đưa lệnh bài vận chuyển của Ngoại y vụ thì ta giao hàng. Bến cạn này hỏi nhiều là mất đầu!"

Gã dừng tay lại một nhịp, liếc mắt nhìn quanh quất lần nữa rồi ngước nhìn hai người bằng ánh mắt đầy vẻ giễu cợt xen lẫn một nỗi sợ hãi tột cùng từ sâu trong đáy mắt: "Nhưng ta biết một điều... chuyến hàng này vốn dĩ không phải là một chuyến giao dịch bình thường."

Lục An ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như dao găm: "Ngươi biết điều gì nữa?"

Đào Khuê cười gằn một tiếng, hạ thấp giọng xuống đến mức chỉ còn như tiếng gió rít qua rặng cọc tràm mục nát ven bến cạn: "Chuyến hàng ba mươi hũ đó vốn dĩ không đi lẻ loi. Ba hôm trước — đúng vào cái đêm mưa như trút nước khiến nước sông dâng ngập cả sàn sạp này — có một kẻ từ trên núi xuống bến cạn. Hắn khoác áo choàng đen trùm kín đầu, nhưng dưới vạt áo lộ ra một chiếc lệnh bài nội môn đúc bằng đồng đen, khắc hình mây cuộn của Chấp Sự Đường."

Lục An và Tạ Thanh Nghi đưa mắt nhìn nhau, đồng tử hai người đều khẽ co lại. Lệnh bài đồng đen mây cuộn — đó là phù hiệu của thân tín thuộc quyền quản lý trực tiếp từ các Trưởng lão nội vụ.

"Hắn tìm đến ta," Đào Khuê thì thào, khóe môi giật giật vì căng thẳng, "đưa ra một túi nặng trĩu toàn trung phẩm linh thạch, trả giá cao gấp mười lần giá trị của toàn bộ lô hàng năm đó. Hắn đòi mua lại toàn bộ các bản lưu phiếu xuất kho gốc của chuyến hàng mang mã số bảy trăm lẻ chín giao cho Y đường Vọng Sinh."

Lục An siết chặt tờ phiếu xuất kho trong bàn tay trái đến mức mép giấy sợi đay nhăn nhúm lại: "Kẻ đó muốn tiêu hủy chứng từ gốc?"

"Không chỉ tiêu hủy," Đào Khuê cười khẩy, để lộ hàm răng đen sì đầy vẻ ma mãnh. "Hắn muốn ta ký tên, điểm chỉ vào một tờ khai man viết sẵn. Bản khai đó ghi rằng toàn bộ ba mươi hũ keo màng cá tuyết ngâm dịch rễ lưu ly của chuyến hàng bảy trăm lẻ chín... đã bị rơi xuống đáy sông Ngọa Hổ và vỡ nát hoàn toàn do thuyền buôn bị đắm giữa dòng trong một cơn lốc xoáy vào đêm hai mươi tháng sáu. Một vụ tai nạn đường thủy không tì vết. Không có hàng hóa nào từng cập bến, không có thứ gì từng được chuyển lên núi Thanh Khê."

Gã ngước nhìn Lục An, giọng nói rợn người như tiếng ma thì thầm giữa bãi tha ma: "Có kẻ trên núi đang phát điên lên để mua cho bằng được một lời khai giả về chuyến hàng này. Hắn muốn xóa sạch mọi dấu vết chứng minh thứ keo dán dời ấn huyết đó từng tồn tại trên cõi đời. Ta ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc từ cái túi linh thạch của hắn, nên ta đã lén giấu lại tờ phiếu kho thật này dưới đáy hầm phế liệu, chỉ giao cho hắn một bản sao chép sơ sài."

Đào Khuê lùi lại một bước, chỉ tay vào tờ giấy ố vàng trong tay Lục An, ánh mắt đầy vẻ đe dọa và cảnh tỉnh: "Cầm lấy nó tức là các ngươi đang cầm lấy một ngọn lửa thiêu thân. Kẻ sai phái người mang lệnh bài đồng đen xuống đây... sẵn sàng giết sạch bất kỳ ai cầm tờ phiếu kho thật trên tay để giữ cho bí mật dưới chân tháp Tĩnh Chuông mãi mãi chìm trong bóng tối."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories