Dưới nền tháp
Lối vào hầm ngầm chân tháp Tĩnh Chuông tỏa ra luồng khí ẩm mốc ngột ngạt cùng ánh lân tinh xanh lét bám trên các trụ đá chịu lực nứt nẻ.
Từ cửa cống xả bùn của rãnh thoát nước ngầm ngoài chân thành phía tây luồn vào, mùi lưu huỳnh lẫn với bùn khoáng thối rữa xộc thẳng vào cánh mũi, đặc quánh đến mức khiến cuống họng người ta nghẹn đắng. Nước ngầm đen ngòm ngập ngang bắp chân, lạnh buốt thấu xương qua lớp ủng da sờn rách, mỗi bước nhấc chân lên đều kéo theo tiếng lép bép nặng nề của bùn quánh và vụn than xỉ cọ xát vào đế sắt. Cứ cách vài trượng, dòng nước tù đọng lại cuộn lên từng xoáy tăm sủi bọt xám nhờ nhợt, bốc khói mỏng liu riu — dấu hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy các van xả áp tầng trên của đài thu nhận linh khí vẫn đang rỉ dịch rác linh khí chưa qua xử lý xuống hệ thống tiêu thoát đổ nát này.
Tạ Thanh Nghi dừng lại ở chiếu nghỉ bằng đá phiến, nơi đường ống thoát nước giao nhau với vòm cửa ngách kỹ thuật mang mã hiệu Đo đạc Bính-Ba. Nàng đứng tựa vào gờ đá ẩm ướt, không buồn lau vệt bùn khô bết ngang gò má tái nhợt vì cạn kiệt linh lực sau chuyến vượt thoát khỏi hẻm núi Tử Hà. Đôi bàn tay thon dài của nàng thoăn thoắt bấm quyết, mười ngón đan cài tạo thành những ấn quyết phức tạp đến hoa mắt. Ba lá phù lục bằng lụa tím viền chỉ bạc, mặt trên vẽ đầy chu sa đỏ thắm đan xen ký tự phong bế âm thanh cổ xưa, được nàng ghim chuẩn xác vào ba kẽ nứt sâu nhất trên vòm cửa đá hình cánh cung.
"Trận pháp Tỏa Âm ba lớp," Thanh Nghi hạ giọng, thanh âm bị nén lại trong một vòng tròn vô hình quanh ba người, tuyệt đối không lọt ra ngoài lấy nửa tấc. Ngón tay nàng khẽ miết lên mép lụa tím, truyền vào đó một tia linh lực mảnh như sợi tơ nhện để kích hoạt tầng liên kết cuối cùng. "Ta chỉ có thể duy trì kết giới này trong khoảng hai canh giờ. Nếu đệ tử tuần tra của Chấp Sự Đường đi qua đỉnh cống phía trên, phù trận sẽ giấu được tiếng bước chân và tiếng va đập kim loại, nhưng không che được dao động nếu bên dưới xảy ra nổ linh áp. Bất kỳ một xung động cưỡng bức nào vượt ngưỡng sơ cấp cũng sẽ xé toạc các đạo phù này trong chớp mắt."
Nàng quay sang nhìn Mạnh Du.
Gã thanh niên ngoại môn đứng tựa lưng vào bờ vách trơn nhẫy rêu nhớt, hai cánh tay cuồn cuộn gân xanh siết chặt một cuộn dây tời bện bằng gân trâu pha sợi huyền đồng dày bằng cổ tay trẻ con. Đầu dây móc vào một chiếc nêm sắt lớn cắm ngập vào khe nứt của tảng đá định vị dưới chân, rãnh then đã được đóng chặt bằng hai chốt hãm chữ U. Khuôn mặt Mạnh Du hốc hác, vành mắt trũng sâu đen sẫm sau những biến cố kinh hoàng liên tiếp ở khu mỏ và bờ sông, nhưng ánh nhìn đã bớt đi vẻ hoang mang mù quáng. Kể từ khi toàn bộ ký ức cảm xúc về mẹ già bị thiên luật tước đoạt trong lần đột phá Tụ Mạch sơ kỳ đầy nghiệt ngã, gã hành xử như một người thợ chỉ còn bám vào các nguyên tắc cứng nhắc và bổn phận trần trụi. Nhưng chính sự trần trụi, vô cảm ấy lại biến gã thành chốt chặn đáng tin cậy nhất vào lúc này, một bức tường đá không biết sợ hãi cũng chẳng biết nao núng trước cái chết.
"Mạnh Du, huynh giữ cửa xả này," Thanh Nghi dặn dò, ánh mắt nghiêm nghị quét qua từng khớp nối của chiếc tời sắt. "Một khi chốt tời đã hạ, tuyệt đối không rời vị trí. Nếu dây rung ba nhịp ngắn kèm hai nhịp dài, đó là tín hiệu rút lui khẩn cấp. Lúc đó, huynh dùng tời kéo Lục An lên ngay lập tức, hiểu chưa?"
"Ta hiểu," giọng Mạnh Du trầm đục vang lên trong vòm hầm, đều đều như tiếng đá cọ vào đá. "Ta đã buộc nút thòng lọng đôi quanh trục tời, chèn thêm chêm đồng chống trượt. Cứ cách nửa khắc, ta sẽ gõ vào dây hai nhịp để giữ nhịp định thần cho Lục huynh. Trừ phi đầu dây bên kia đứt lìa, còn không ta sẽ không buông chốt. Cho dù Chấp Sự Đường có chọc thương qua vai, tay ta vẫn sẽ khóa trên tay quay."
Lục An đứng bên cạnh, tựa lưng vào mép cửa vòm đá xám, bàn tay phải quấn băng gạc trắng toát khẽ giật giật theo từng nhịp tim đập. Dược lực của bột bách thảo ngưng huyết do Thanh Nghi bôi lúc ở hẻm núi Tử Hà đã làm dịu bớt cơn rách toạc da thịt ngoài tầng biểu bì, nhưng ba dải xương mu bàn tay nứt rạn vẫn nhói lên từng cơn tê dại buốt óc mỗi khi cậu vô thức cử động ngón tay. Cậu đưa bàn tay trái còn lành lặn sờ vào ngực áo trong, nơi cất giữ chiếc ống đồng niêm phong sáp chu sa chứa bản đo áp lực địa mạch của Diệp Trầm, bản sao chứng thực giáp lai của Giám Ký Viện, cùng mảnh nhãn vải niêm phong rách tả tơi mà cậu đã liều mạng giữ lại từ văn phòng kho lưu.
"Được rồi," Lục An khẽ thở ra một hơi dài, luồng khí trắng mờ phả ra từ lồng ngực tan biến rất nhanh vào màn hơi ẩm lân tinh lạnh lẽo. Cậu ngước nhìn vòm đá tối đen phía trên rồi nhìn sang Thanh Nghi. "Thanh Nghi canh chừng động tĩnh trận đồ tầng trên. Mạnh huynh giữ chốt dây. Ta xuống đáy móng."
"Cầm lấy cái này," Thanh Nghi đưa tay lên tóc, dứt khoát rút từ thắt lưng ra một chiếc trâm định thần bằng ngọc tủy màu lam nhạt, không chút do dự cài thẳng vào lớp cổ áo vải thô của Lục An. Đầu ngọc tủy chạm vào da thịt cậu, mang lại một cảm giác the lạnh buốt nhói, tựa như một giọt sương mai ngưng tụ giữa mùa đông, lập tức xua đi cơn váng vất âm ỉ đang chực bốc lên từ thái dương. "Dưới nền tháp là nơi các bình chứa dư vang cổ bị vỡ trong đêm Tĩnh Chuông. Tạp niệm và tàn dư thần thức ở đó không có trật tự, chúng đã thối rữa và hóa điên suốt bốn năm qua dưới sức ép của địa hỏa, chúng sẽ tìm mọi kẽ hở trong thức hải của ngươi để tràn vào. Đừng lắng nghe bất kỳ giọng nói nào phát ra từ vách đá. Dù nó có gọi tên ngươi bằng giọng của ai, cũng tuyệt đối không được đáp lời."
Lục An gật đầu. Cậu buộc chặt một đầu dây gân trâu quanh thắt lưng da bò ba lớp, kiểm tra lại mối gút chữ bát chắc chắn, tay trái xách theo cây đèn lồng thạch anh bọc khung đồng xám — thứ ánh sáng duy nhất có thể xuyên thấu qua lớp sương mù ngậm linh khí độc — rồi nghiêng mình lách qua khe nẹp sắt rỉ sét của cửa ngách Đo đạc Bính-Ba.
***
Đoạn đường dẫn xuống đáy tháp là một đường trượt nghiêng bốn mươi lăm độ, lát bằng đá phiến xanh trơn tuột vì lớp bùn lắng đọng suốt bốn năm không người qua lại. Lớp rêu nhầy nhụa mọc dày như một lớp mỡ trơn láng, khiến mỗi tấc di chuyển đều là một cuộc vật lộn sinh tử. Lục An phải dùng gót ủng sắt ghìm chặt vào từng gờ đá đục nham nhở, các khớp cơ bắp ở đùi căng cứng như dây cung, bàn tay trái bám riết vào sợi dây tời để hãm bớt đà tụt dốc không phanh.
Càng xuống sâu, không khí càng trở nên đặc quánh và tanh nồng một thứ mùi kỳ dị đến buồn nôn. Đó không phải mùi ẩm mốc của rác rưởi hữu cơ hay xác động vật phân hủy thông thường, mà là mùi tanh lợm của dịch lưu ly bảo quản thần thức bị biến chất qua nhiều năm tháng giam cầm, pha lẫn mùi khét ngọt ngào ghê rợn của linh hồn bị thiêu đốt dưới áp lực chân không cực hạn. Không gian tối tăm như một cái họng khổng lồ đang chầm chậm nuốt chửng ngọn đèn thạch anh nhỏ bé.
Áp lực vô hình bắt đầu đè nặng lên màng nhĩ Lục An. Ban đầu, âm thanh ấy chỉ mơ hồ như tiếng vo ve khe khẽ của một đàn ong vỡ tổ bị nhốt kín sau vách đá hoa cương dày trượng, nhưng chỉ sau khi trượt sâu xuống chừng mười trượng vào lòng đất lạnh, âm thanh ấy bùng lên thành những đợt sóng xung kích dồn dập, gõ liên hồi vào màng tang và khiếu huyệt sau gáy.
*“Cứu ta... van xin các ngươi, đừng đóng van xả... nước đang tràn vào thức hải... ta không thở được...”*
*“Mẹ ơi, con lạnh quá... con không nhớ tên mẹ là gì nữa... ký ức về căn nhà của chúng ta biến mất rồi...”*
*“Cháy rồi! Buồng áp suất âm Giáp-Bảy bị khóa từ bên ngoài rồi! Thầy ơi, mở cửa ra! Chúng con vẫn còn ở bên trong!”*
Hàng trăm thanh âm hỗn loạn, đứt quãng, tiếng gào thét tuyệt vọng, tiếng nức nở bi ai và tiếng rên xiết đau đớn đồng loạt dội thẳng vào thái dương Lục An như những mũi kim nung đỏ cắm sâu vào óc. Đó là dư vang rò rỉ từ những bình chứa cổ bị vỡ nát dưới áp lực âm khủng khiếp của biến cố bốn năm trước. Những mảnh vụn cảm xúc vô chủ ấy không còn là ý chí của một con người hoàn chỉnh; sau bốn năm bị giam hãm và biến chất, chúng thoái hóa thành những đợt sóng xung kích tinh thần độc hại, lơ lửng bám trụ vào các thớ đá granite ẩm ướt, đói khát tìm kiếm bất kỳ một thức hải sống nào đi ngang qua để bấu víu, ký sinh và kéo ngã.
Chân Lục An trượt mạnh một nhịp trên một mảng bùn ngậm dầu máy trơn tuột.
Cả người cậu mất thăng bằng, lao vút xuống theo triền dốc đá. Cậu nghiến răng, dập mạnh cả bả vai trái vào vách đá ngầm gồ ghề để hãm lại. Cú va chạm dữ dội khiến cây đèn thạch anh chao đảo kịch liệt, quai đồng đập vào khớp xương kêu cắc một tiếng buốt nhói, hắt ra những vệt sáng lam run rẩy, méo mó trên lớp trần vòm nứt toác đầy những mảng rêu lân tinh xanh lét.
Đầu óc Lục An quay cuồng dữ dội. Trong khoảnh khắc tâm thần cậu sơ hở vì cơn đau thể xác, một ảo giác âm thanh cực mạnh vượt qua lớp phòng vệ của trâm ngọc tủy, đánh thẳng vào khiếu Phong Phủ sau gáy.
Một giọng nói quen thuộc đến mức rợn người — mang đúng âm vực trầm thấp, đúng ngữ điệu dứt khoát, tỉ mỉ và sắc lạnh của chính bản thân cậu từ bốn năm trước — gầm thét dữ dội ngay giữa tâm trí:
*“Ký tên đi! Ngươi không ký đối chiếu, ba ngàn mạng người ở tầng dưới sẽ chết ngạt vì linh áp hồi lưu! Ký tên vào phiếu xuất kho ngay! Lục An, ngươi muốn nhìn thấy tất cả bọn họ nổ tung thức hải sao? Ngươi là kẻ nắm giữ sổ sách, ngươi phải chịu trách nhiệm!”*
Hơi thở Lục An trở nên dồn dập, đứt quãng. Cổ họng cậu khô khốc như có cát nhét đầy bên trong. Bàn tay phải bị thương co rút lại thành một nắm đấm cứng đờ, cơn đau từ ba dải xương nứt rạn truyền thẳng lên tủy sống như một ngọn lửa thiêu đốt gân mạch. Cậu thấy trước mắt mình nhòa đi trong một màn sương đỏ quạch. Những vệt lân tinh xanh lét bám trên vách đá ẩm ướt dường như đang vặn xoắn lại, biến thành hàng chục cánh tay khô đét, nham nhở vết cháy sém vươn dài ra từ hư vô, quấn chặt lấy cẳng chân, cổ tay, cố lôi kéo cậu chìm nghỉm vào vũng bùn ký ức hỗn tạp của đêm thảm họa.
Ý thức của cậu bắt đầu phân rã. Cậu là ai giữa chốn địa ngục này? Cậu là tên lưu ký ngoại môn què quặt, tàn phế kiếm từng mẩu linh thạch rách ở góc xưởng bụi bặm của lão Phùng, hay cậu chính là kẻ đao phủ tàn nhẫn từng đứng trên đài quan sát cao ngất, lạnh lùng ký vào những biên bản rút cạn linh lực của đồng môn để cứu vãn một hệ thống mục nát?
*Cộc. Cộc.*
Hai nhịp gõ khô khốc, đanh gọn truyền dọc theo sợi dây gân trâu từ phía trên cửa hầm dội xuống thắt lưng.
Đó là tín hiệu của Mạnh Du. Hai nhịp gõ cơ học, cứng nhắc, vô hồn của một kẻ đã mất đi toàn bộ cảm xúc yêu thương trần thế, nhưng lại vững chãi và chuẩn xác như một chiếc cọc sắt cắm sâu mười thước vào lòng đất đá kiên cố.
Lục An giật mình tỉnh táo. Cậu cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức đầu răng lún sâu vào thịt mềm cho đến khi vị máu tanh nồng mằn mặn tứa ra ngập tràn nơi đầu lưỡi. Cơn đau buốt nhói của thể xác và vị mặn chát của hiện tại kéo giật cậu ra khỏi cơn xoáy lốc mê loạn của dư vang cổ đại.
Bàn tay trái run rẩy của cậu thò vào túi áo trong, chạm vào mép giấy ráp cứng của bản sao biên bản Giám Ký Viện có đóng dấu triện chu sa giáp lai mực tươi. Giấy còn mới. Mực còn thơm nồng mùi dầu thông và khoáng thạch. Vết thương trên bàn tay phải còn đang rỉ từng giọt máu tươi ấm nóng thấm đẫm lớp băng gạc trắng.
"Ta là Lục An," cậu thì thào trong bóng tối dày đặc, giọng nói khàn đặc vì khói bụi nhưng rành rọt, đanh thép từng chữ một. "Ta là người lưu ký của xưởng Phùng Nghiêu. Giấy tờ này là thật. Dấu triện này là thật. Vết thương này là của ngày hôm nay. Ta không sống trong ký ức của các ngươi."
Chiếc trâm ngọc tủy cài trên cổ áo lập tức bùng lên một đốm sáng lam dịu mát, tỏa ra một vòng hào quang the lạnh như sương sớm, bao bọc lấy khiếu huyệt sau gáy và phong tỏa hoàn toàn luồng tà khí đang chực len lỏi vào thức hải. Tiếng gào thét của các mảnh dư vang dường như bị một bức tường vô hình đẩy lùi lại một trượng, biến thành tiếng râm ran u uất, bất lực sau lưng. Lục An thở dốc một hơi dài, lồng ngực phập phồng kịch liệt. Cậu nâng cao ngọn đèn thạch anh, điều chỉnh lại thế đứng của đôi chân rồi tiếp tục đạp lên những phiến đá trơn trượt, đặt bước xuống tận đáy sâu của lòng tháp.
***
Chân cậu cuối cùng cũng chạm vào mặt nền đá bằng phẳng của tầng hầm sâu nhất.
Không gian bên dưới mở rộng ra thành một gian phòng bát giác khổng lồ, rộng chừng hai mươi trượng, trần vòm cao vút được xây dựng hoàn toàn bằng những khối đá hoa cương xanh dày cộp, ghép mộng chuẩn xác theo phong cách kiến trúc thời kỳ đầu lập phái. Nhưng nơi này giờ đây không còn giữ được vẻ trang nghiêm của một công trình kỹ thuật đỉnh cao. Trận đồ hút chân không bốn năm trước đã biến đáy tháp thành một bãi phế tích tang thương đến rợn ngườ.
Trên khắp mặt sàn đá, hàng chục chiếc bình chứa dư vang cỡ lớn bằng đồng đen và lưu ly dày ba tấc bị áp suất cực âm vặn xoắn, xé toạc ra như những chiếc vỏ ốc rỗng bị bánh xe nghiền nát. Mảnh vỡ lưu ly sắc nhọn cắm ngập vào các khe đá, phản chiếu ánh sáng đèn thạch anh thành những tia lấp lánh lạnh lẽo. Dịch khoáng bảo quản màu xám tro rỉ ra từ các bình vỡ đã đọng lại thành từng vũng quánh đặc, bốc lên những làn khói lờ mờ mang theo tàn dư của những luồng ký ức mục rữa không thể cứu vãn. Những sợi cáp dẫn linh bằng bạc vụn nát nằm ngổn ngang như những đống xương tàn của một loài quái thú viễn cổ.
Giữa gian phòng bát giác là bốn trụ đá chịu lực khổng lồ, mỗi trụ có đường kính ba người ôm không xuể, sừng sững chống đỡ toàn bộ trọng lượng hàng vạn cân của tháp Tĩnh Chuông phía trên. Trên thân trụ đá, các rãnh dẫn linh lực bằng huyền đồng đã bị dòng năng lượng quá tải xé toạc, kim loại nóng chảy đông kết lại thành những vệt sần sùi đen đúa, để lộ ra những bó dây cáp linh mạch cháy đen thui như rễ cây khô bị sét đánh.
Lục An bước chậm rãi qua bãi phế tích, mũi ủng da khẽ gạt sang bên những mảnh đồng vỡ kêu leng keng. Cậu nâng cao ngọn đèn, soi sát bề mặt trụ đá phía tây bắc. Trong tâm trí cậu, từng đường nét vẽ sắc gọn, lạnh lùng trên mặt sau chiếc thước đo huyền đồng của Tạ Vân mà Quách Chấn đã trao lại ở khu mỏ hiện lên rõ mồn một.
Tạ Vân là một kiểm tra viên kỹ thuật mẫu mực đến mức bảo thủ. Một người phụ nữ chỉ tin vào những con số đo đạc thực tế, áp lực dòng chảy và những vết khắc vật lý chuẩn xác chứ không bao giờ đặt niềm tin vào những lời hứa hẹn suông của đám quản sự đài cao. Trên cây thước đo của nàng luôn có khắc các mốc phân độ trắc địa chuẩn Khang Định, kèm theo một ký hiệu tam giác cân lồng vào một hình chữ nhật — mật hiệu riêng biệt mà đội đo đạc địa mạch ngầm của nàng dùng để đánh dấu các điểm mốc thoát hiểm trước ngày biến cố xảy ra.
Ánh đèn thạch anh trắng muốt quét chầm chậm qua lớp rêu phong xanh xám và muội than bám dày đặc trên mặt đá hoa cương. Từng tấc đá hiện ra dưới ánh sáng: những vết nứt chân chim, những vết linh hỏa liếm xém đen, những lớp vôi bong tróc.
Kia rồi!
Ở độ cao ngang tầm ngực trên bề mặt trụ đá thứ ba, ẩn dưới một mảng rêu khô quắt, một vệt đục tinh xảo hình tam giác lồng chữ nhật hiện ra rõ ràng. Nét đục dứt khoát, mép cắt còn sắc lẹm, không lẫn vào đâu được. Ngay bên dưới ký hiệu ấy là ba đường khía sâu song song, chém vát một góc ba mươi độ chỉ thẳng về phía góc tối tăm và hẹp nhất của bức tường hồi phía tây căn phòng.
Lục An bước nhanh về phía góc tường theo hướng chỉ của vệt khía.
Khác với những mảng tường đá hoa cương xanh phẳng phiu bao quanh gian phòng bát giác, khu vực góc tây này hoàn toàn bị che lấp bởi một đống dầm thép chịu lực bị uốn cong queo và gạch đá vụn nát đổ sụp xuống từ trần vòm. Đống xà bần chất cao ngang đầu người, bề mặt phủ đầy mạng nhện và bụi xỉ đen kịt, tạo cảm giác như một bức tường sụp đổ tự nhiên sau một vụ nổ áp lực thông thường. Nhưng nếu nhìn kỹ dưới góc chiếu xiên của đèn thạch anh, người ta sẽ nhận ra các dầm thép không hề gãy do lực ép từ trên đè xuống, mà bị giằng xé bởi các đòn bẩy cơ học — có người đã cố tình kéo sập đống đổ nát này để ngụy trang cho một khoảng không gian phía sau.
Lục An tháo thanh xà beng sắt ngắn mang theo bên hông ra. Cậu tì đầu dẹp của thanh sắt vào khe hở giữa hai khối đá tảng lớn nhất, hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp tim. Dồn toàn bộ sức nặng cơ thể cùng lực bộc phát của cánh tay trái và bờ vai, cậu gồng mình nạy mạnh.
*Rắc! Ầm!*
Tiếng đá cọ xát ken két rợn người vang lên. Khối đá tảng trượt mạnh sang một bên, kéo theo một mảng gạch vụn và vôi vữa sạt lở ào ào xuống sàn nước ngập ngang mắt cá chân. Bụi xỉ bốc lên mù mịt, nhưng chỉ vài giây sau, màn bụi lắng xuống để lộ ra một khoảng trống hình chữ nhật cao chừng năm thước.
Phía sau đống xà bần là một cánh cửa chìm hoàn toàn bằng chì xám.
Lớp chì dày hơn nửa tấc, màu xám xịt mờ đục, bề mặt trơn nhẵn lạ thường, không hề có lấy một vết oxy hóa hay một mảng rêu mốc nào có thể bám trụ nổi trên bề mặt kim loại nặng này. Xung quanh bốn mép cửa, những đường gioăng cách ly bằng sợi ami-ăng trộn bột lưu ngân chống cháy vẫn còn nguyên vẹn tuyệt đối, dán kín khít vào khung đá hoa cương bằng keo nhựa thông cổ thụ. Phía trên then cài bằng sắt đúc là một dải niêm phong bằng hợp kim đồng thau pha chì, dập nổi con dấu vuông của Ban Quản trị Kỹ thuật Tông môn với những dòng chữ triện sắc nét mang niên hiệu không thể chối cãi: *Khang Định năm thứ mười một — Niêm phong cách ly buồng hồ sơ khô.*
Tường cách linh bằng chì xám!
Trái tim Lục An đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực, dội từng cơn chấn động lên lồng sườn đau nhức. Tường cách linh và các tấm chắn bằng chì xám là vật liệu đắt đỏ và hiếm hoi bậc nhất trong tông môn, là thứ duy nhất có khả năng ngăn chặn tuyệt đối các bước sóng dao động của linh lực cực hạn và sóng xung kích áp suất âm.
Khi cỗ máy hút khổng lồ của Chu Kính kích hoạt bốn năm trước, ngọn lửa ma trĩu của trận pháp và luồng chân không cưỡng bức đã quét sạch mọi sinh mạng cùng mọi văn thư lưu trữ trong các hành lang mở và buồng làm việc thông khí, biến tất cả thành tro bụi nhằm tiêu hủy mọi dấu vết. Nhưng khoang tường chì này nằm hoàn toàn ngoài hệ thống tuần hoàn khí của tháp, được niêm phong độc lập bằng gioăng kín khí ngay trước thời điểm tai họa ập đến.
Tài liệu kỹ thuật bên trong căn phòng này không hề bị thiêu hủy! Nó vẫn nguyên vẹn như ngày cuối cùng trước khi thảm họa Tĩnh Chuông bắt đầu.
Lục An ghé sát mắt nhìn vào nẹp sắt của then khóa. Bản lề sắt qua bốn năm ngâm trong bầu không khí ẩm ướt đầy hơi lưu huỳnh đã bị rỉ sét đóng thành một lớp vảy dày cộp màu nâu đỏ sần sùi, hàn chặt then cài vào khuôn cửa đá. Bàn tay phải của cậu đau buốt không thể dùng lực, các ngón tay cứng đờ trong lớp băng gạc. Cậu đành kẹp chặt thanh xà beng vào nách trái, dùng cả hai chân ghìm chặt vào nền đá trơn trượt, rồi lấy toàn bộ trọng lượng nửa thân trên thúc mạnh đầu xà beng vào khe nẹp rỉ sét.
*Két... rắc!*
Một tiếng kim loại rỉ sét gãy giòn vang lên chói tai giữa gian hầm bát giác tĩnh mịch. Lớp vảy rỉ nâu đỏ vỡ vụn, rơi lả tả xuống mặt nước như những mảnh vỏ khô.
Lục An thở hổn hển, lồng ngực đau nhói vì vết thương cũ bị kéo căng. Cậu dùng cùi chỏ trái gạt chốt hãm sang một bên, rồi hạ thấp vai, dồn sức húc mạnh vào cánh cửa chì nặng nề.
Cánh cửa chì dày cộp từ từ chuyển động, phát ra tiếng rít rền rĩ trầm đục của những khớp nối cơ khí bốn năm chưa từng xoay chuyển. Khi khe cửa mở rộng chừng hai gang tay, một luồng không khí khô ráo, the lạnh phả thẳng vào mặt Lục An. Luồng không khí ấy thoang thoảng mùi bột vôi chống ẩm, mùi dầu thông già và mùi thơm đặc trưng, thanh sạch của giấy trúc lưu trữ lâu năm — một mùi hương quen thuộc đến nghẹn ngào, một mùi hương hoàn toàn đối lập với mùi tanh hôi mục rữa ngoài kia. Đó là mùi của xưởng lưu ký, mùi của những trang giấy nguyên bản chưa từng bị vấy bẩn bởi những thủ đoạn tẩy xóa hay dối trá của con người.
***
Bên trong khoang tường cách linh chỉ rộng độ nửa trượng vuông, bốn bề đều được ốp kín bằng các tấm chì xám sáng bóng, phản chiếu ánh đèn thạch anh thành một màu bàng bạc lạnh lẽo. Không một giọt nước ngầm nào lọt được vào đây. Ở vị trí trung tâm căn phòng, đặt một chiếc tủ sắt chống cháy ba ngăn, các góc cạnh đều được gia cố bằng đinh tán đồng cỡ lớn hình hoa mai.
Lục An bước vào, cẩn thận dùng gót chân đẩy cánh cửa chì khép hờ lại phía sau để ngăn hơi ẩm lưu huỳnh từ rãnh ngầm ùa vào phá hủy các trang giấy nhạy cảm. Cậu đặt ngọn đèn thạch anh lên nóc tủ sắt, điều chỉnh chao đèn để ánh sáng gom lại thành một luồng tập trung, chiếu rọi thẳng vào ngăn kéo trên cùng.
Ngăn kéo không hề khóa. Then đồng chỉ được cài lỏng bằng một chốt chẻ cơ học đơn giản. Cậu nắm lấy tay cầm bằng đồng thau, kéo mạnh ra.
*Két.*
Bên trong ngăn kéo không có vàng bạc châu báu, không có pháp bảo hộ thân hay những viên linh đan thượng phẩm mà bất kỳ tu sĩ nào cũng thèm khát. Nằm ngay ngắn giữa lớp nhung lót màu xanh thẫm là ba chiếc hộp tài liệu bằng gỗ tuyết tùng bọc da thuộc màu nâu sẫm, mỗi hộp đều được xử lý chống ẩm bằng sáp ong khô. Trên nắp của chiếc hộp thứ nhất, dán một mảnh nhãn vải gai ghi dòng chữ ngay ngắn, sắc nét bằng mực lưu ngân — thứ mực chuyên dụng của giới văn thư không bao giờ phai mờ theo thời gian:
*Nhật ký ca trực kỹ thuật & Bảng phân ca vận hành chu kỳ chín — Phân khu Chân Tháp Tĩnh Chuông.*
Bàn tay trái của Lục An khẽ run rẩy khi cậu đặt tay lên nắp hộp gỗ. Từng ngón tay cậu lướt qua lớp da thuộc ráp ráp, cảm nhận được hơi lạnh của thời gian đọng lại trên từng đường kim mũi chỉ. Cậu khẽ lật nắp hộp lên.
Một tập hồ sơ gốc dày cộp hiện ra, các mép giấy phẳng phiu như vừa mới được đóng gáy ngày hôm qua. Tập hồ sơ được buộc chặt bằng một sợi chỉ gai ba sợi bện xoắn ngược chiều kim đồng hồ, niêm phong theo đúng quy cách chữ Nhất lồng chữ Thập — quy cách niêm phong mật tối cao của nội môn trước biến cố Tĩnh Chuông mà Lục An từng cặm cụi mày mò đối chiếu hàng trăm lần trong những đêm thức trắng ở xưởng của lão Phùng.
Từng tờ giấy trúc vàng Cổ Khê dẻo dai, bền chắc, bốn góc giấy đều được gấp nếp tai mèo tỉ mỉ để khóa ẩm tuyệt đối. Không hề có một vết cháy xém, không một giọt nước ố vàng, không một vết cạo sửa bằng dao trổ.
Lục An hít một hơi thật sâu, ngón tay run run lật giở trang bìa dày bọc lụa thô xám.
Trang đầu tiên của tập tài liệu nguyên bản hiện ra rõ mồn một dưới ánh đèn thạch anh trắng muốt:
**BẢNG PHÂN BỔ NHIỆM VỤ VẬN HÀNH ĐÀI THU NHẬN & HỆ THỐNG DẪN LINH** *Niên hiệu Khang Định năm thứ mười một — Kỳ vận hành số 9 (Đợt cao điểm rằm tháng Bảy)*
Dưới bảng kẻ chỉ tay thẳng tắp bằng mực đen mực xạ, danh sách các chức danh vận hành kỹ thuật được liệt kê rõ ràng từng dòng, mang đầy đủ ấn tín xác thực của các viện chức năng:
*Vị trí số 1: Trưởng ca phụ trách linh mạch — Quản sự Chu Kính (Trúc Đài sơ kỳ) — Giám sát điều phối tổng thể áp lực đài cao, chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất về việc đóng mở van xả trung tâm.*
*Vị trí số 2: Kiểm tra an toàn kỹ thuật hệ thống dẫn linh & van xả áp — Đệ tử Tạ Vân (Tụ Mạch hậu kỳ) — Phụ trách đo đạc áp lực đường ống ngầm, kiểm định chốt an toàn Đo đạc Bính-Ba, có quyền đình chỉ khẩn cấp nếu linh áp vượt ngưỡng dung sai.*
*Vị trí số 3: Đối chiếu số liệu xuất nhập dư vang & khế ước bảo chứng — Đệ tử Lục An (Trúc Đài viên mãn) — Phụ trách kiểm kê số lượng dư vang lưu chuyển, đối chiếu biểu mẫu tự nguyện của người tiến cảnh, khóa sổ giao nhận độc lập.*
Mắt Lục An dán chặt vào dòng chữ thứ ba, con ngươi co rút lại dữ dội.
*Đệ tử Lục An (Trúc Đài viên mãn).*
Từng chữ, từng nét bút viết bằng mực lưu ngân lấp lánh ánh kim dưới ánh đèn thạch anh như những mũi kim đâm thẳng vào tâm trí đang hỗn loạn của cậu. Sự thật lịch sử nằm trần trụi, lạnh lùng và bất khả xâm phạm trên mặt giấy trúc vàng:
Bốn năm trước, cậu là một tu sĩ Trúc Đài viên mãn! Cậu chưa từng là kẻ chủ mưu điều hành cỗ máy hút linh hồn, cũng không phải là tên đao phủ trực tiếp vặn van áp suất âm để tàn sát đồng môn, càng không phải là kẻ phản bội đê hèn bán đứng toàn bộ ban kỹ thuật như những lời vu cáo bẩn thỉu mà Chu Kính đã rêu rao suốt bốn năm qua để bôi nhọ cậu ngoài các khu xưởng ngoại môn!
Vai trò thực sự của cậu trong cái chu kỳ oan nghiệt ấy là một *người đối chiếu độc lập*. Cậu là một viên chức kỹ thuật giữ sổ sách ở khâu kiểm soát cuối cùng của quy trình vận hành — người có thẩm quyền tối cao trong việc đối chiếu, xác minh xem các luồng dư vang được dẫn vào bình chứa lưu trữ có thực sự đi kèm với khế ước hiến dâng tự nguyện của đệ tử tiến cảnh hay không, trước khi chúng được chuyển vào kho dự trữ của tông môn.
Lục An lật tiếp những trang sau, lồng ngực cậu phập phồng theo từng tiếng sột soạt của giấy trúc.
Các biên bản giao ban hằng ngày hiện ra với nét chữ viết tay sắc sảo, ngay ngắn, từng nét móc nét phẩy đều tỉ mỉ và chuẩn mực — nét chữ của chính bản thân cậu từ bốn năm trước, giống hệt từng góc cạnh, từng nét khía so với những trang lõi của cuốn sổ da hoẵng mà lão Phùng đã bí mật cất giấu dưới đáy hòm đồ nghề suốt bao năm qua.
Tại các ô đối chiếu số liệu của những ngày mười một, mười hai và mười ba tháng Bảy năm Khang Định thứ mười một — ba ngày trước đêm định mệnh — nét bút của Lục An bắt đầu xuất hiện những ghi chú bất thường bằng mực đỏ chu sa, kèm theo những dấu chấm hỏi lớn cắt ngang trang giấy:
*“Ngày mười một tháng Bảy: Số lượng bình dư vang nhập kho ngầm vượt quá định ngạch hai mươi phần trăm so với danh sách đệ tử đăng ký tiến cảnh tự nguyện do Ngoại Vụ Đường cung cấp. Dư vang thu nhận có dấu hiệu lẫn tạp niệm cưỡng bức.”*
*“Ngày mười hai tháng Bảy: Phát hiện mười hai luồng dư vang nhập kho không có phiếu xác nhận y tế và chứng thực thức hải từ Trưởng lão Diệp Trầm. Các luồng này mang mã số ngoại bảng, không rõ nguồn gốc tiếp nhận.”*
*“Ngày mười ba tháng Bảy: Từ chối ký tên đóng dấu xác nhận xuất kho đợt năm cho thuyền buôn của Thương hội Bạch Sa. Số lượng yêu cầu xuất vượt quá hạn mức thanh khoản pháp lý. Thiếu toàn bộ khế ước gốc có chữ ký tự nguyện của người hiến tặng. Giữ lại toàn bộ hòm lưu trữ số hiệu Giáp-Không-Bốn.”*
Lục An ngửa đầu tựa vào vách tủ sắt, nhắm nghiền mắt lại, thở dốc từng hơi dài.
Một hòn đá tảng vô hình, nặng nề như núi Thái Sơn đè nặng lên lương tri và tâm thần cậu suốt bao ngày đêm từ khi tỉnh lại trong thân xác tàn phế, dường như vừa vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh nhỏ. Cậu không phải là kẻ đồng lõa với tội ác. Cậu không phải là kẻ đã bán linh hồn cho ma quỷ để đổi lấy sự sống sót hèn hạ.
Cậu chính là người đầu tiên phát hiện ra sự gian lận quy mô lớn của Chu Kính! Cậu đã kiên quyết từ chối hợp thức hóa những luồng dư vang bất hợp pháp được gom lại để gán nợ cho lũ thương nhân Bạch Sa!
Và chính vì cậu nắm giữ chiếc hòm gỗ mun chứa toàn bộ các biên bản đối chiếu chưa bị tẩy xóa này — bằng chứng sống về hành vi bòn rút thức hải trái phép của Chu Kính — nên tên quản sự đài cao ấy mới điên cuồng phát động trận pháp hút cưỡng bức vào đêm rằm! Hắn muốn gom vét cho đủ số lượng dư vang khổng lồ để hoàn tất giao kèo đen tối, đồng thời biến toàn bộ khu hầm ngầm này thành một nấm mồ tập thể, chôn vùi vĩnh viễn những người nắm giữ sự thật như Tạ Vân, như cậu và hàng trăm đệ tử vô tội khác dưới đáy móng tháp!
***
Lục An nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, cố nén cơn xúc động đang dâng trào trong lồng ngực, tiếp tục lật sâu xuống đáy hộp hồ sơ tuyết tùng.
Kẹp ngay phía sau bảng phân ca vận hành là một văn bản khẩn cấp viết vội trên giấy xuyến chỉ dày, góc trên bên phải đóng một dấu triện đỏ hình quả chuông nứt — biểu trưng chính thức của ban Đo đạc Trận pháp thuộc Giám Ký Viện.
Đó là bản báo cáo cảnh báo nguy cơ quá tải do chính tay Tạ Vân chắp bút và ký tên vào giờ Thân ngày mười bốn tháng Bảy — chỉ cách thời điểm thảm họa bùng nổ chưa đầy sáu canh giờ:
*“Kính gửi: Hội đồng Tông môn & Trưởng ca Chu Kính.*
*Báo cáo khẩn cấp về việc dị động linh áp buồng ngầm.*
*Hệ thống van áp suất âm tầng móng đang bị cưỡng chế vận hành vượt quá ba mươi phần trăm công suất thiết kế an toàn của trận đồ Khang Định. Hiện tượng hồi lưu dư vang đã bắt đầu xuất hiện tại các nhánh ống dẫn phụ, màng cách ly tại buồng chứa trung tâm có dấu hiệu rạn nứt cấu trúc.*
*Nếu tiếp tục tăng tải để hút cạn thức hải của đệ tử trên đài cao vào đêm rằm nhằm đạt chỉ tiêu xuất kho, vách cách linh của buồng rỗng Đo đạc Bính-Ba sẽ vỡ tung dưới áp suất ngược cực đại. Sóng chấn động tinh thần và độc chất lưu ngân thoát ra sẽ quét sạch toàn bộ khu vực trong bán kính mười dặm quanh chân tháp, biến toàn bộ sinh linh thành phế nhân.*
*Yêu cầu lập tức:* *1. Mở toàn bộ các van xả phụ thuộc tuyến Đo đạc Bính-Ba để dẫn dư vang thô xả thẳng ra rãnh ngầm hoang phế ngoài thành, triệt tiêu hoàn toàn đỉnh áp suất âm đang tích tụ.* *2. Đình chỉ vô điều kiện quy trình thu gom dư vang chu kỳ chín.*
*Người lập báo cáo: Tạ Vân (đã ký).”*
Chữ ký của Tạ Vân sắc sảo, dứt khoát như một nhát chém bằng kiếm thép. Nhưng ngay bên dưới chữ ký đầy trách nhiệm ấy, đập vào mắt Lục An là một dòng bút phê lạnh lùng, tàn nhẫn được viết vội bằng mực son đỏ quạch — nét chữ phóng túng, ngạo mạn quen thuộc của Chu Kính:
*“Bác bỏ. Khoản nợ với Thương hội Bạch Sa không thể chậm trễ thêm một khắc nào. Trận pháp tiếp tục duy trì công suất tối đa theo kế hoạch đã định. Mọi trách nhiệm kỹ thuật và an toàn thuộc về ban điều phối đài cao. Cấm tự ý can thiệp vào hệ thống van xả.”*
Tạ Vân đã nhìn thấy trước thảm họa từ trước khi nó diễn ra. Nàng đã làm tất cả những gì một kiểm tra viên kỹ thuật chân chính có thể làm, nàng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo đến tận những giờ phút cuối cùng trước khi bị bức tử trong biển lửa linh áp hỗn loạn của cỗ máy hút.
Lục An hít thở sâu, cẩn thận gấp bức thư cảnh báo đẫm máu của Tạ Vân lại, xếp ngay ngắn vào giữa tệp biên bản đối chiếu của mình. Cậu rút bọc da chống nước mang theo bên người, nhét toàn bộ tập tài liệu vào trong, buộc chặt dây thắt rồi ấn sâu vào lồng ngực áo, áp sát vào vết thương đang rỉ máu.
Đây chính là mảnh ghép chứng cứ mang tính quyết định, thứ vũ khí tối thượng mà Bùi Sâm và Hội đồng ba ghế của Giám Ký Viện đang ráo riết đòi hỏi: một tập hồ sơ kỹ thuật gốc, có đầy đủ chữ ký sống, dấu triện sống và bút phê viết tay chứng minh Chu Kính không chỉ là kẻ tắc trách, mà là kẻ chủ mưu cố ý tạo ra thảm họa Tĩnh Chuông man rợ để phục vụ cho những toan tính tài chính bẩn thỉu của cá nhân hắn.
Nhưng ngay khi Lục An chuẩn bị quay người bước ra khỏi buồng chì, ánh mắt cậu chợt khựng lại.
Ánh sáng quét qua một khoảng không gian tối tăm nằm lấp sau chiếc tủ sắt chống cháy.
Bức tường chì xám ở góc trong cùng của căn phòng có một mảng lớn bị khoét thủng một cách thô bạo. Vết cắt nham nhở, để lộ ra những thớ kim loại chì xám xịt bị xé rách bởi các dụng cụ đục đẽo hạng nặng. Phía sau mảng tường bị phá vỡ là một đường rãnh kỹ thuật sâu hun hút, dẫn thẳng vào hệ thống đường ống kim loại chằng chịt nằm chôn sâu dưới móng đá của tòa tháp.
Lục An cầm ngọn đèn thạch anh bước lại gần, cúi rạp người soi ánh sáng lam nhạt qua khe hở của bức tường chì.
Đó chính là đường ống xả áp ngầm Đo đạc Bính-Ba — tuyến đường dẫn khí sinh tử mà Tạ Vân từng khắc họa chi tiết trên mặt sau chiếc thước đo huyền đồng, con đường duy nhất nối từ buồng thu nhận trung tâm của tháp đâm thẳng xuống kho rỗng cổ đại dung tích ba ngàn phương nằm sâu trong lòng núi, nơi dùng để xả và triệt tiêu áp suất dư thừa mỗi khi trận đồ gặp sự cố quá tải.
Nhưng hình ảnh đập vào mắt Lục An lúc này khiến toàn thân cậu đông cứng lại như rơi vào hầm băng tuyết.
Trên bề mặt đường ống xả áp bằng gang đen cũ kỹ, bám đầy rỉ sét và muội than của bốn năm trước, xuất hiện một đoạn ống kim loại mới tinh, dài chừng ba thước, nối từ cổ van xả chính rẽ ngoặt sang một góc chín mươi độ hoàn toàn khác biệt.
Đoạn ống mới này được đúc bằng hợp kim bạch đồng pha kẽm sáng loáng, bề mặt kim loại ánh lên sắc xám bạc lạnh ngắt. Các mối hàn vảy cá xếp lớp đều đặn, sáng bóng, không hề có lấy một vệt bụi bặm, một vết rêu mốc hay một dấu tích oxy hóa nào của thời gian. Dưới chân mối nối, những giọt xỉ hàn kim loại rơi vãi trên nền đá hoa cương xanh còn chưa bị dòng nước ngầm cuốn trôi hết.
Mối hàn này được thực hiện trong vòng chưa đầy vài tháng trở lại đây!
Chu Kính đã không hề bỏ hoang nơi này như vẻ bề ngoài đổ nát của nó. Hắn đã bí mật điều động những tay thợ cơ khí lành nghề và trung thành nhất chui lén lút xuống đáy vực này, cắt đứt hoàn toàn đường xả áp an toàn dẫn sang kho rỗng ngầm cổ đại của Tạ Vân, rồi hàn nối nó vào một hệ thống ống dẫn mới tinh!
Lục An nín thở, lia ngọn đèn lần theo hướng đi uốn lượn của đoạn ống bạch đồng mới hàn.
Ống dẫn đâm xuyên qua lớp bê tông móng chịu lực của tháp, cắm thẳng vào một vòm hang đá vôi tự nhiên nằm sâu dưới lòng đất, nối trực tiếp vào mạch nước ngầm chính chảy xiết — mạch nước ngầm độc đạo dẫn thẳng về phía hồ chứa nước nhân tạo của con đập chắn lũ thượng nguồn.
Đó là nguồn nước sinh hoạt, nguồn nước ăn uống và tưới tiêu duy nhất của hơn mười vạn cư dân phàm nhân và đệ tử tạp dịch đang sinh sống tại toàn bộ dải thung lũng Hạ Khê trù phú phía dưới chân núi!
Một cơn ớn lạnh kinh hoàng chạy dọc từ gót chân, xông thẳng lên đỉnh đầu Lục An, khiến toàn bộ chân lông trên người cậu dựng đứng.
Hai bàn tay cậu run rẩy dữ dội. Cậu vội vã rút cuốn sổ tay bọc da hoẵng mà mình luôn mang bên hông từ ngày rời khỏi xưởng lưu ký, lật tung từng trang giấy cho đến trang thứ mười sáu — trang ghi lại những dòng chỉ dẫn kỹ thuật khẩn cấp cuối cùng mà chính con người bốn năm trước của cậu đã vội vã ghi lại bằng máu và mực trước khi thức hải vỡ nát hoàn toàn:
*“Nếu một ngày nào đó tháp lại kích hoạt trận hút cưỡng bức... nếu đài cao lại bùng nổ linh áp âm... hãy xuống ngay buồng van phụ móng tháp Đo đạc Bính-Ba... dùng then cơ học kéo chốt ngắt van xả chính... van ngắt sẽ lập tức khóa dòng thu, cắt đứt mạch năng lượng tiếp tế, buộc toàn bộ trận pháp trên đài cao phải tự ngắt để cứu người...”*
Đó là chỉ dẫn cứu mạng của bốn năm trước!
Đó là chỉ dẫn được viết ra khi đường xả phụ Đo đạc Bính-Ba vẫn còn thông suốt, dẫn thẳng vào kho rỗng cổ đại an toàn nghìn phương dưới đáy tháp — nơi có thể chứa đựng và tiêu tán toàn bộ áp lực mà không gây hại cho bất kỳ ai!
Lục An từ từ nâng cao ngọn đèn thạch anh lên. Luồng ánh sáng trắng lạnh buốt, tàn nhẫn soi thẳng vào chiếc bánh lái van xả chính bằng đồng đen khổng lồ nằm ngay trước mặt cậu.
Bánh lái van xả phủ đầy bụi xỉ hàn kim loại, nhưng then hãm cơ học chữ T gắn trên thân van thì lại được bôi trơn bằng một lớp mỡ trục xe màu vàng óng mới tinh, không một hạt bụi bám. Mọi cơ cấu cơ khí đều đã sẵn sàng. Một cái bẫy kỹ thuật hoàn hảo, tàn độc và thâm hiểm đến tột cùng đã được giăng sẵn dưới đáy vực sâu này suốt mấy tháng qua.
Chỉ cần gạt chiếc then hãm này xuống, van xả chính sẽ lập tức ngắt toàn bộ dòng chảy ngược lên đài thu nhận, đúng như những gì bản chép tay của cậu đã truyền dạy. Nó sẽ cứu được những đệ tử đang đứng trên đài cao của Chu Kính.
Nhưng với mối hàn hợp kim bạch đồng mới mà Chu Kính vừa nối lại...
Nếu Lục An làm đúng như lời bản chép tay bảo — nếu cậu ngắt van này vào thời điểm cỗ máy hút của Chu Kính đang vận hành với toàn bộ mười hai vòng chuyển dòng huyền đồng — toàn bộ năm mươi ba luồng dư vang hỗn loạn, rách nát cùng hàng trăm cân độc chất lưu ngân bị dồn ứ lại dưới áp suất cực đại sẽ không thể tự ngắt, cũng không có đường thoát sang kho rỗng. Chúng sẽ bị áp lực hàng vạn cân ép thẳng vào đường ống nhánh mới hàn, phun trào toàn bộ với tốc độ xé gió vào mạch nước ngầm độc đạo đổ về hồ chứa đập nước thượng nguồn!
Mười vạn con người bên dưới thung lũng Hạ Khê — những phàm nhân vô tội không có linh lực hộ thân, những đứa trẻ chưa từng biết đến tu tiên là gì — sẽ uống phải dòng nước ngập tràn tàn dư tinh thần mục rữa, độc chất linh mạch và những mảnh vụn ý chí điên loạn.
Toàn bộ thung lũng sẽ biến thành một lò sát sinh của sự điên loạn và chết chóc chỉ sau một đêm.
Soi ánh đèn vào van xả chính, Lục An rùng mình: Chỉ dẫn bảo ngắt van này, nhưng ngắt lúc này dư vang sẽ tràn vào Hạ Khê.