Giá của một chiếc máy
Bác Lương không hỏi tôi có học được gì trên chiếc máy hay không; bác chỉ đứng giữa sân, nhìn vào gian phụ và hỏi nó đáng bao nhiêu tiền.
Gió sớm từ thung lũng Nà Ban thốc qua rặng dẻ gai mang theo hơi sương lạnh ngắt, buốt thấu qua lớp áo cộc rách nách. Lưỡi rựa đi rừng giắt ngang hông bác còn dính vài vệt nhựa cây xám đục từ buổi phát rẫy chiều qua, lạnh tanh dưới ánh trời rạng đông chưa kịp ấm. Bác đứng chôn chân ở mép sân đất nện, chiếc áo chàm bạc phếch căng ra trên đôi vai gồ ghề của một đời bạt đồi cuốc đá. Mắt bác không nhìn thẳng vào mặt tôi mà găm chặt vào khoảng tối sau cánh liếp nứa gian chái phụ — nơi cỗ máy tính cũ chắp vá đang nằm khuất sau đống bao tải gai sực mùi cám mốc.
— Mày nói cho rõ, — giọng bác trầm và đục, từng tiếng rơi xuống nền sân như đá ném xuống bùn khô. — Đống sắt vụn với mớ dây lòng thòng ấy, mày lấy ở đâu ra? Bao nhiêu tiền?
Cổ họng tôi khô khốc dù sương sớm ướt đẫm mái tóc và hai bên vai áo vá. Những ngón tay vừa tẽ xong hai bồ ngô giống suốt từ canh bốn còn tê dại, đầu ngón tay cái nứt toác rỉ máu xót buốt vì cọ xát với những lõi ngô già cứng như đá cuội, nhưng cơn đau thể xác ấy chẳng thấm vào đâu so với nỗi thắt thỏm đang bóp nghẹt lồng ngực tôi. Nếu tôi lỡ lời, nếu bác Lương biết được cỗ máy kia gom từ những linh kiện thanh lý chưa qua thủ tục chính thức của phòng giáo dục huyện mà thầy Dũng đánh liều giữ lại rồi đưa tôi mang về, rắc rối sẽ không chỉ đổ xuống đầu một đứa mồ côi ăn nhờ ở đậu như tôi. Bác Lương sẽ không ngại ngần quẩy rựa kéo thẳng ra trường huyện làm ầm ĩ để đòi cấn trừ nợ nần, và chiếc ghế dạy học nghèo nàn của thầy Dũng sẽ lung lay ngay lập tức. Thầy đã tin tôi, đã dám xé rào vì thương một thằng học trò đói rách mê thuật toán, tôi không thể biến lòng tốt của thầy thành miếng mồi cho sự nghiệt ngã của cảnh túng quẫn chốn này.
Tôi hít một hơi thật sâu, nén luồng khí lạnh buốt vào buồng phổi, cố giữ cho hai đầu gối và giọng nói của mình không run rẩy:
— Thưa bác, đấy là máy tính cũ hỏng của trường. Thầy Dũng dạy Tin bên huyện thấy cháu học được nên làm đơn bảo lãnh cho cháu mượn tạm về đây để tập gõ chữ với giải toán. Máy cũ rích, người ta bỏ xó trong kho lâu ngày, chuột gặm nát vỏ, không bán được đồng nào đâu bác. Cháu mượn có sổ sách ghi tên thầy, có dấu đỏ trên phòng thiết bị, học xong là phải trả lại nguyên vẹn cho nhà trường, sứt mẻ một góc hay mất con ốc cũng phải đền bằng tiền triệu.
Tôi dừng lại, nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng. Lời nói dối ấy chỉ có một nửa sự thật — sự thật là máy cũ mượn từ thầy Dũng, nhưng phần giấu kín về mớ thủ tục mập mờ của đống linh kiện phế thải là chiếc lá chắn duy nhất tôi có thể dựng lên lúc này để bảo vệ người thầy đã chìa tay ra với mình. Tôi đem cái danh nghĩa "nhà trường", "phòng giáo dục" và "tiền đền bù" ra làm rào chắn, bởi tôi hiểu người nông dân vùng cao cả đời sợ hãi những tờ trát của chính quyền và những món nợ treo trên đầu.
Bác Lương nghe xong không hề đổi sắc mặt, chỉ nhổ toẹt một bãi nước đóm thuốc lào xuống chân cột hiên bằng gỗ nghiến. Bác bước lại gần hai bước, bóng cây rựa dài ngoằng đổ xiên trên nền đất ẩm loang lổ phân gà khô.
— Học? — Bác nhếch mép, nụ cười khô khốc như vỏ bẹ ngô già mùa giáp hạt. — Mày nói nghe sang nhỉ? Trường huyện tốt bụng đến mức cho không một đứa rách rưới mượn cả khối sắt mang về nhà tao cơ đấy? Mày tưởng tao là đứa mù chữ cả đời không biết đếm tiền à?
— Cháu nói thật mà bác... cháu đâu dám dối...
— Câm mồm! — Bác Lương quát, tiếng quát không quá to nhưng nặng trịch uy quyền sắt đá của chủ một mái nhà nghèo đói quanh năm túng bấn. — Tao không cần biết mày mượn hay mày nhặt! Tao chỉ biết cái chum gạo trong bếp sáng nay đã cạn sát đáy, tiền mua ngô giống vụ này chưa có một cắc, tiền nợ phân bón của lão Thào bên xóm Mo hẹn đến rằm phải trả đủ, không thì lão siết con bê con ngoài chuồng. Nương ngô Pha Luông cỏ gianh mọc lút đầu gối, vụ này cả nhà phải nai lưng ra cuốc từ tờ mờ sáng đến tối mịt, thiếu một người là đói rã họng ra cả năm!
Bác vung tay, chỉ thẳng mũi rựa về phía gian chái phụ, lưỡi thép xám lạnh loang loáng ánh sương mai:
— Tao nuôi mày không phải để mày rước của nợ về đây cắm điện, thắp đèn dầu thâu đêm rồi sáng ra ngủ gục như con bù nhìn bên đống ngô! Mày bảo máy ấy để học, thế tao hỏi mày: cái thứ máy móc ấy có mài ra thành cơm được không? Nó có đẻ ra được bơ gạo, bát ngô nào cho cái nhà này không? Hay là nó chỉ ngồi đấy cướp mất công làm nương làm rẫy của mày?
Tôi đứng chôn chân, môi mím chặt đến mức nếm được vị tanh nồng của máu rỉ ra từ kẽ môi nứt nẻ. Câu hỏi ấy của bác Lương chẳng khác gì mũi dao đâm thẳng vào sự tự ti và bất lực bấy lâu nay trong tôi. Bác không hề sai theo cái lý của một người đang oằn lưng nuôi năm miệng ăn giữa vùng thung lũng đá xám. Đối với người nông dân vùng cao quanh năm vật lộn với từng vạt đất dốc bạc màu, giá trị của một con người hay bất kỳ đồ vật nào chỉ được cân đo bằng thứ có thể nhai nuốt trôi qua cuống họng hoặc đổi ra tiền mặt để trả nợ phân, nợ giống. Một thuật toán tối ưu, một bài toán quy hoạch động hay dòng lệnh chạy ro ro trong đêm tối chẳng thể làm đầy thêm một hạt ngô trong bồ cói của bác, cũng chẳng thể làm dịu đi cái dạ dày đang sôi réo vì đói ăn.
— Cháu... cháu vẫn làm đủ việc nương rẫy, cháu không bỏ bê công nào... — Tôi cố gắng vớt vát bằng giọng khàn đặc, hai mắt nhìn trừng trừng xuống mũi chân trần bám đầy bùn đất.
— Đủ à? Đủ mà nửa đêm gục đầu vào thúng ngô đến sáng để con Lan phải tẽ hộ à? Đủ mà hôm qua gánh nước trễ một buổi khiến nồi cơm chiều không có nước nấu? — Bác Lương gằn giọng, từng lời đanh thép như đá chém xuống thân củi mục. — Tao cho mày đúng mười ngày. Mày giỏi giang, mày chữ nghĩa máy móc thế nào tao không cần biết. Hoặc là mày chứng minh cho tao thấy cái cục sắt ấy đem lại được đồng tiền bát gạo nào cụ thể để bù vào công mày lơ là việc nhà, hoặc là tao vác rựa chặt nát nó ra, đem cân sắt vụn ngoài chợ huyện đổi lấy mấy cân phân đạm bón nương. Đừng có đem cái chữ thầy nọ trường kia ra dọa tao! Ở cái đất này, không làm ra ăn thì chỉ có nước chết đói!
Nói đoạn, bác giắt mạnh chiếc rựa vào thắt lưng da bò cũ mòn, quay gót bước phăm phăm ra phía chuồng trâu. Tiếng bước chân nặng nề nện thình thịch trên nền sân buốt giá, tiếng then cài cổng chuồng trâu vang lên khô khốc trong màn sương mù đặc quánh.
Tôi vẫn đứng trơ ra đó, hai bàn tay buông thõng dọc thân mình, lồng ngực nhói buốt như có ai vừa bóp nghẹt tim mình. Mười ngày. Một tối hậu thư tàn nhẫn nhưng sòng phẳng đến lạnh lùng. Bác không cấm tôi học bằng những trận đòn roi mù quáng như những năm tôi mới về đây; bác siết cổ tôi bằng chính quy luật sinh tồn nghiệt ngã nhất: cỗ máy chỉ được phép tồn tại nếu nó tự chứng minh được giá trị mưu sinh.
Một bóng người khẽ động sau vách nứa đan mắt cáo. Lan bước ra từ góc bếp, trên tay vẫn cầm chiếc chổi đót quét sân đã mòn vẹt trơ cả cọng tre. Suốt cuộc đối thoại nghẹt thở vừa rồi, em đứng nép sau cột cái, không dám hé răng nửa lời, đôi mắt mở to đầy lo lắng dõi theo từng cử chỉ của bố. Đợi đến khi bóng bác Lương khuất hẳn sau rặng chuối hột rậm rạp sau chuồng trâu, Lan mới rón rén bước lại gần tôi.
Gió lạnh lại thốc qua mép hiên tranh, cuốn theo những mảnh râu ngô khô xơ xác bay là đà trên mặt sân. Lan nhìn tôi, ánh mắt em vừa xót xa vừa có sự già dặn trước tuổi của một đứa trẻ lớn lên giữa cái nghèo truyền kiếp.
— Anh nói dối khéo đấy, — Lan nói khẽ, giọng em chìm vào tiếng gió rít qua những khe hở của mái fibro xi măng cũ. — Nói là mượn của trường có sổ sách thì bố mới sợ vạ lây mà chưa dám vung rựa đập ngay. Nhưng mà anh Nam này, lời nói dối nửa chừng ấy chỉ giữ được cái máy nếu anh không biến nó thành cái cớ để trễ nải việc nhà thôi.
Tôi quay sang nhìn em gái họ, chua xót không thốt nên lời. Gương mặt Lan đen nhẻm vì khói bếp và sương muối, khóe mắt trũng sâu vì những đêm dài thức phụ mẹ tẽ ngô.
— Em nói thật đấy, — Lan tiếp tục, hai bàn tay nhỏ bé đan chặt vào nhau chà xát để chống lại cái rét cắt da cắt thịt. — Bố đang cáu chuyện tiền phân bón dữ lắm. Chiều qua lão Thào xóm Mo vào tận sân dọa dắt con bê đi rồi. Mẹ thì sợ bố một phép, không dám mở miệng bênh anh nửa câu đâu. Từ rằm này trở đi, anh mà để sụt một gánh nước, để chuồng trâu bẩn một buổi, hay lên nương Pha Luông chậm nửa tiếng thì dù có là máy của ông trời bố cũng vác rựa bổ đôi ra ngay. Anh muốn giữ máy để học thì anh phải tỉnh táo, đừng có thức trắng đêm rồi để người ta bắt thóp như sáng nay nữa. Sáng nay em thấy bố đứng nhìn anh ngủ gục bên thúng ngô từ lúc trời còn tối om đấy.
— Anh biết rồi... — Tôi thở dài, hơi thở phả ra thành luồng khói trắng mong manh giữa sương mù dày đặc. — Cảm ơn em, Lan. May mà sáng nay có em lay dậy sớm, không thì rựa đã chạm vào vỏ máy rồi...
— Ơn nghĩa gì, — Lan ngắt lời tôi, đôi mày khẽ nhíu lại trong vẻ âu lo thực tế. — Lo mà nghĩ cách đi. Bố đã hẹn mười ngày là đúng mười ngày đấy. Ở cái nhà này, lời bố nói ra như đinh đóng cột, không có chuyện bố quên đâu.
Lan quay lưng, cắm cúi lia những nhát chổi mạnh mẽ quét nốt những mảnh bẹ ngô còn sót lại trên sân, để lại tôi một mình đối diện với sự im lìm lạnh ngắt của gian chái phụ. Tôi bước chầm chậm vào trong, vén tấm liếp nứa xiêu vẹo.
Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm len qua kẽ nứa, cỗ máy tính đang nằm thu mình dưới tấm chăn chiên mỏng rách rưới và đống bao tải gai cũ. Tôi lật nhẹ góc chăn ra. Bụi bặm bám mờ lớp vỏ sắt xám xịt của thùng máy Pentium III mà thầy Dũng đã kỳ công lắp ráp từ ba cái xác máy khác nhau. Chiếc màn hình CRT Samsung 15 inch SyncMaster cong vồng, lồi lõm, nằm im lìm như một khối đá câm lặng. Dòng chữ `Program Duong_Ve_Phuong_Nam;` đêm qua tôi vừa gõ, cùng những vòng lặp `for` chạy thử nghiệm thuật toán tìm đường đi ngắn nhất dường như vẫn còn hằn in đâu đó trên bề mặt lớp lân quang tối đen kia. Làm sao đây? Làm thế nào để một cỗ máy vốn sinh ra từ linh kiện thải loại, chỉ chạy được những dòng lệnh thuật toán đơn sơ trên nền MS-DOS và Turbo Pascal, có thể sinh ra tiền bạc hay gạo thóc cụ thể trong vòng mười ngày ngắn ngủi này?
Tôi không thể ngồi khoanh tay chờ số phận định đoạt, càng không thể để chiếc rựa của bác Lương biến giấc mơ bước chân vào giảng đường đại học của mình thành đống phế liệu vụn nát. Chiều hôm đó, sau khi đã oằn mình cuốc xong nửa sào đất đá sỏi trên nương Pha Luông theo đúng định mức bác giao, hai bàn tay rớm máu được rửa vội dưới dòng suối lạnh buốt, tôi gánh đủ hai chuyến nước từ mó sâu về đổ tràn chum nước ăn. Xong xuôi mọi việc nhà, tôi sang nhà chú Cường cán bộ xã ở đầu bản xin mượn chiếc xe đạp cọc cạch để ra trường huyện muộn hơn thường lệ, hứa sẽ trả lại trước đêm.
Không kịp thay chiếc áo chàm lấm lem bùn đất và mồ hôi khô cứng thành vệt muối trắng, tôi cắm cúi đạp xe qua con dốc đá trơn trượt đầy rãnh nước xói lở, hướng thẳng về phía dãy nhà cấp bốn lợp ngói vảy của trường phổ thông huyện.
Trời nhá nhem tối khi tôi tới nơi. Rặng bạch đàn quanh sân trường xào xạc trong gió bấc. Phòng tin học cũ nằm ở cuối dãy hành lang ẩm thấp vẫn sáng lên ánh đèn huỳnh quang chập chờn xanh xao. Tiếng quạt gió của mấy cỗ máy tính thực hành bên trong kêu ro ro đều đặn, át cả tiếng côn trùng rỉ rả dưới chân tường rêu mốc. Thầy Dũng đang cặm cụi cúi đầu bên chiếc bàn gỗ dài phủ đầy dụng cụ, tay cầm mỏ hàn thiếc, mùi nhựa thông ngai ngái, ngòn ngọt bốc lên thoang thoảng qua khe cửa sổ lá sách đã long bản lề.
Tôi dựng chiếc xe đạp cạnh gốc cây bàng, đứng ngoài cửa hiên ngập ngừng một lúc lâu. Tiếng mỏ hàn lách tách trên bảng mạch điện tử khiến tim tôi đập dồn dập. Tôi khẽ gõ ba tiếng lên khung cửa gỗ mục:
— Thầy Dũng ơi...
Thầy Dũng giật mình ngẩng lên, đẩy gọng kính cận trễ xuống sống mũi đầy vết hằn. Nhìn thấy tôi với bộ dạng lếch thếch, ống quần xắn cao dính đầy bùn đỏ Nà Ban, hai bàn tay còn thâm sì nhựa ngô và đất đồi, thầy hơi ngạc nhiên rồi đặt chiếc mỏ hàn đang bốc khói mỏng lên giá sắt chữ U:
— Nam à? Sao giờ này còn đạp xe ra đây? Đang đợt làm nương ở bản cơ mà? Hay cỗ máy ở nhà có vấn đề gì? Nguồn chập hay ổ cứng dở chứng?
Câu hỏi dồn dập của thầy chạm đúng vào vết thương đang rỉ máu trong lòng tôi. Nhưng tôi nhớ lại lời dặn của Lan sáng nay, nhớ lại vẻ mặt căng thẳng của thầy hôm hai thầy trò lén chuyển thùng linh kiện ra khỏi kho thiết bị lúc chập choạng tối. Tôi nuốt khan, bước vào phòng, cẩn thận khép hờ cánh cửa gỗ lại phía sau để ngăn bớt gió lạnh lùa vào. Tôi tuyệt đối không được để lộ chuyện bác Lương dọa chém máy, càng không thể để thầy biết sự tồn tại của cỗ máy phế liệu ấy đang đẩy tôi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Thầy đã gánh vác quá nhiều áp lực từ ban giám hiệu về phòng máy nghèo nàn này rồi.
— Dạ không, thưa thầy... máy móc ở nhà vẫn chạy tốt ạ. Đêm nào cháu cũng làm xong giải thuật trên giấy rồi mới dám mở máy thử mười lăm hai mươi phút như lời thầy dặn, — tôi nói, giọng rụt rè nhưng cố giữ vẻ bình thản nhất có thể. — Cháu... cháu đến tìm thầy là để hỏi chuyện khác ạ.
Thầy Dũng rút chiếc giẻ lau tay dính đầy mỡ máy màu đen, kéo chiếc ghế gỗ đối diện về phía tôi:
— Chuyện gì? Cứ ngồi xuống nói đàng hoàng xem nào. Mặt mũi hốc hác thế kia, lại nhịn bữa trưa phải không?
Tôi ngồi ghé vào mép ghế gỗ, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối, các đốt ngón tay trắng bệch vì gồng mình:
— Thầy ơi, dạo này ngoài giờ học... thầy có việc gì nhỏ nhỏ về máy móc hay đồ điện tử cần người phụ không ạ? Việc gì cũng được, miễn là an toàn và vừa sức cháu. Cháu muốn kiếm thêm một ít tiền... để mua thêm mấy cuốn vở Bãi Bằng với lại bù tiền dầu đèn, không phải xin nhà bác nữa. Cháu thấy dạo này người ta mang đài đóm, âm ly hỏng đến nhờ thầy nhiều...
Thầy Dũng nheo mắt nhìn tôi qua cặp kính dày cộp. Đôi mắt sắc sảo của người thầy dạy kỹ thuật dường như đọc thấu được một phần nỗi chật vật giấu kín sau nét mặt gầy gò của tôi, dù thầy không biết chuyện chiếc rựa của bác Lương. Thầy thở dài một hơi thật dài, ngả người tựa lưng vào thành ghế, chiếc ghế phát ra tiếng cót két khô khan:
— Kiếm tiền à? Thầy đã dặn rồi, nhiệm vụ sống còn của anh bây giờ là giữ sức và tập trung toàn bộ trí lực để học cho kỳ thi năm 2013. Đừng có nhìn vào mấy đồng bạc lẻ trước mắt. Mấy việc vặt cài Win dạo với lau bụi máy tính ở ủy ban xã của chú Cường hay cô Lan hôm nọ chỉ là để anh cọ xát thực tế, hiểu cái máy nó vận hành thế nào trong đời sống, chứ không phải để anh sa đà vào đấy mà hỏng việc lớn. Anh còn nhớ vụ xóa sạch danh sách học sinh của cô Hạnh không? Nhanh nhảu đoảng, tự tin thái quá là chết đấy!
Lời nhắc nhở của thầy như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt tôi. Ký ức về buổi chiều hôm ấy bỗng chốc hiện về rõ mồn một: tôi đã tự phụ nghĩ mình hiểu hết về hệ điều hành, hí hửng dùng lệnh `deltree` trong DOS để dọn dẹp thư mục tạm mà không kiểm tra kỹ đường dẫn, suýt nữa quét sạch toàn bộ danh sách thống kê học sinh diện chính sách cả năm của cô Hạnh. Nếu hôm đó thầy Dũng không kịp dùng đĩa cứu hộ khôi phục lại phân vùng, thì bao nhiêu công sức chép tay hàng tháng trời của cô giáo đã tan thành mây khói.
— Cháu nhớ! Cháu nhớ từng chữ trong năm nguyên tắc thầy bắt cháu chép phạt ạ! — Tôi vội vàng đáp, giọng khẩn khoản đến run rẩy. — Cháu không dám làm ẩu đâu thầy. Cháu chỉ xin nhận những việc nào thật nhỏ, thật chắc chắn, có thầy chỉ bảo từ xa cháu mới dám đụng tay vào. Cháu hứa không làm bừa một bước nào hết! Cháu cần... cháu thật sự cần làm ra một chút tiền cụ thể lúc này, thầy ạ.
Thầy Dũng nhìn tôi chăm chú hồi lâu. Sự kiên trì và vẻ khẩn thiết đến nghẹn ngào trong mắt tôi có lẽ đã lay chuyển được sự cứng rắn của người thầy. Cái nghèo ở đất vùng cao này thì người làm giáo viên như thầy chẳng lạ gì — nó có thể bóp nghẹt bất kỳ tài năng nào ngay từ trong trứng nước nếu không có một lối thoát thực tế. Thầy đứng dậy, bước chầm chậm về góc phòng, nơi có một chiếc tủ gỗ ép đựng đồ dùng dạy học cũ kỹ đã bong tróc từng mảng vec-ni.
Từ trong góc kẹt của ngăn tủ dưới cùng, thầy Dũng lôi ra một chiếc máy cassette xách tay hiệu Sony màu đen cũ mèm. Vỏ nhựa của nó đã trầy xước loang lổ, nút bấm Play bị kẹt cứng thụt sâu vào trong thân máy, nắp hộc băng hơi vênh ra ngoài một khoảng chừng nửa đốt ngón tay.
— Đây, — thầy đặt chiếc máy cassette lên bàn trước mặt tôi, tiếng vỏ nhựa va xuống mặt gỗ vang lên lạch cạch. — Chiếc máy này của cô Mai dạy môn Tiếng Anh bên trường cấp hai. Cô ấy dùng để mở băng luyện nghe cho học sinh ôn thi học sinh giỏi, nhưng sáng nay mang sang nhờ thầy xem hộ vì băng bị kẹt cứng bên trong, ấn nhả thế nào cũng không mở được nắp, cắm điện vào thì mô-tơ rú lên từng chặp rồi ngắt lịm.
Tôi nhìn chiếc máy cassette, lồng ngực đập rộn lên. Trước giờ tôi chỉ tiếp xúc với máy tính để bàn — những thùng máy to đùng với bo mạch chủ rộng rãi, các sợi cáp nguồn to bản và cáp IDE rõ ràng; còn chiếc máy cassette nhỏ gọn đầy những bánh răng cơ khí nhựa li ti, những lò xo mảnh như sợi tóc này lại là một vùng đất hoàn toàn xa lạ.
— Sao? Nhìn có sợ không? — Thầy Dũng hỏi, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười thách thức quen thuộc mỗi khi thầy giao một bài toán khó trên lớp.
— Dạ... cháu chưa mở máy cassette bao giờ, — tôi thành thật đáp, nhớ kỹ bài học không bao giờ được phép giấu dốt trước mặt người hướng dẫn.
— Biết nhận là chưa biết thì mới dạy được, — thầy Dũng gật đầu hài lòng, rồi kéo chiếc đèn bàn học sinh xoay hướng thẳng luồng sáng vàng vọt xuống thân máy. — Nghe cho kỹ đây. Thiết bị này không có hệ điều hành, không có dòng lệnh để anh gõ vào gỡ lỗi đâu. Nó là thuần túy cơ khí chính xác kết hợp với mạch khuếch đại âm thanh cơ bản. Lỗi kẹt băng này chín mươi phần trăm là do phần cơ: dây curoa cao su bị nhão hoặc đứt làm kẹt bánh răng truyền động, hoặc trục tì bị bám bụi bẩn, băng từ bị cuốn ngược vào trong trục cuốn capstan.
Thầy rút từ trong hộp đồ nghề cá nhân ra một chiếc tô-vít bốn cạnh loại nhỏ có đầu từ tính, một lọ cồn y tế 90 độ, một nắm tăm bông và một tờ giấy trắng khổ A4 đặt ngay ngắn cạnh tôi.
— Thầy sẽ không làm hộ anh một động tác nào, — thầy Dũng khoanh tay trước ngực, lùi lại nửa bước đứng tựa vào mép bảng đen. — Thầy đứng đây quan sát và chỉ dẫn từ xa. Anh phải tự tay làm từ đầu đến cuối. Đọc lại nguyên tắc số một và số bốn cho thầy nghe xem nào!
Tôi hít sâu một hơi, đọc vanh vách như những điều luật đã khắc sâu vào xương tủy:
— Nguyên tắc một: Hỏi trước khi làm, quan sát kỹ hiện trạng trước khi tháo gỡ. Nguyên tắc bốn: Ghi chép từng bước thao tác, tháo cái gì trước thì để riêng, đánh dấu thứ tự trên giấy để khi lắp lại không thừa một con ốc vít nào.
— Tốt. Bắt đầu đi. Đừng để lòng tham tiền bạc làm mờ mắt mà vội vàng.
Dưới ánh mắt nghiêm khắc của thầy Dũng, tôi cẩn thận lật úp mặt sau của chiếc cassette lên. Có sáu chiếc ốc vít nằm sâu trong các lỗ nhựa tròn. Tôi lấy tờ giấy trắng A4, dùng bút bi vẽ phác một hình chữ nhật tượng trưng cho lưng máy, đánh số từ 1 đến 6 tương ứng với vị trí từng chiếc lỗ trên thân nhựa.
Bàn tay tôi hơi run khi mũi tô-vít chạm vào con ốc đầu tiên. *Tách.* Con ốc ren nhỏ xíu bằng kim loại bật ra, dính vào đầu từ của tô-vít. Tôi nhấc nó ra, đặt ngay ngắn vào ô số 1 trên tờ giấy nháp. Lần lượt, từng con ốc được tháo ra theo đúng trật tự. Khi nhấc nhẹ nắp lưng bằng nhựa đen ra, một thế giới cơ khí thu nhỏ hiện ra trước mắt tôi: những bánh răng nhựa màu trắng ngà lồng vào nhau chằng chịt, một mô-tơ điện một chiều tròn trĩnh nhỏ bằng ngón chân cái, và sợi dây curoa cao su đen nhánh đã bị trượt khỏi rãnh puli, quấn chặt lấy một trục quay phụ.
Cuộn băng từ bên trong bị kéo giãn một đoạn dài, sợi dây từ màu nâu bóng nhẫy quấn chằng chịt nhiều vòng vào trục tì cao su (pinch roller) và trục quay bằng thép sáng loáng.
— Hiện tượng thế nào? — Thầy Dũng hỏi gắt gao từ phía sau.
— Thưa thầy, dây curoa chính bị trượt khỏi rãnh mô-tơ, chèn vào kẽ bánh răng số hai. Băng cassette bị trục capstan cuốn chặt do bánh tì bám nhiều bụi bẩn và mạt từ lâu ngày, không quay đều được nên nhai băng, kẹt luôn lẫy cơ khí mở cửa sổ hộc băng, — tôi chăm chú quan sát dưới ánh đèn bàn, chỉ đầu ngón tay trỏ vào từng chi tiết mà không dám chạm bừa bãi.
— Hướng giải quyết?
— Dạ... cháu nghĩ phải dùng nhíp y tế gỡ cẩn thận từng vòng dây từ bị cuốn ra trước, không được giật mạnh kẻo làm đứt hoặc giãn dải băng bài giảng của cô giáo. Sau đó tháo cụm bánh tì, dùng tăm bông thấm cồn lau sạch mạt cao su và bụi bẩn bám trên trục kim loại. Cuối cùng mới kiểm tra xem dây curoa có bị dão hay đứt không để luồn lại vào đúng rãnh puli mô-tơ.
Thầy Dũng khẽ gật đầu, ánh mắt sau cặp kính cận lộ vẻ hài lòng nhưng giọng nói vẫn giữ nguyên sự nghiêm nghị thường nhật:
— Đúng hướng rồi đấy. Nhớ lấy: dải băng từ rất mỏng manh, giật đứt một phát là coi như mất luôn bài giảng luyện nghe của học trò người ta. Cồn chỉ dùng để lau kim loại và bánh cao su, tuyệt đối không để rớt một giọt cồn nào vào các bảng mạch khuếch đại bên cạnh kẻo làm hỏng các tụ hóa và biến trở. Bắt đầu làm đi!
Tôi cầm chiếc nhíp thép nhỏ, nín thở. Mồ hôi lạnh rỉ ra trên trán tôi dù căn phòng gió lùa buốt giá qua từng khe cửa. Tôi nhẹ nhàng luồn đầu nhíp vào kẽ trục tì, cẩn thận nhấc từng vòng dây từ mỏng như cánh ve sầu ra khỏi trục cuốn. Mỗi thao tác đều chậm rãi, thận trọng đến mức tôi gần như nghe được tiếng mạch máu đập thình thịch bên màng nhĩ mình. Phải mất gần hai mươi phút kiên nhẫn tột cùng, đoạn băng bị nhai mới được gỡ ra nguyên vẹn, không hề có một vết rách hay gập gãy nghiêm trọng. Tôi dùng đầu ngón tay khẽ xoay bánh răng của cuốn băng cassette để thu hồi toàn bộ đoạn dây từ trở lại vào vỏ nhựa.
Tôi tiếp tục lấy tăm bông chấm cồn 90 độ, tỉ mỉ lau từng lớp bụi xám xịt và cặn dầu khô két lại trên trục capstan sáng loáng. Miếng bông gòn trắng tinh nhanh chóng biến thành màu đen kịt như mực tàu. Tôi làm sạch từng chiếc rãnh bánh răng nhỏ li ti, kiểm tra kỹ độ đàn hồi của sợi dây curoa cao su. May mắn thay, sợi dây chỉ bị tuột khỏi rãnh chứ chưa hề bị đứt hay chai cứng. Tôi lựa thế, dùng đầu nhíp luồn sợi dây trở lại rãnh bánh đà mô-tơ một cách chuẩn xác.
— Xong phần cơ chưa? — Thầy Dũng hỏi.
— Dạ, cháu đã làm sạch và đưa dây vào rãnh rồi ạ. Các bánh răng quay thử bằng tay đã êm, không bị kẹt nữa ạ.
— Đừng vội đóng nắp, — thầy Dũng nhắc nhở, bàn tay thầy đặt nhẹ lên vai tôi. — Lắp pin thử tải trước. Kiểm tra xem mô-tơ có quay đúng chiều và lẫy cơ khí có nhả mượt không.
Tôi lắp hai viên pin con thỏ vào khay pin phía dưới, bấm nút Play. *Ro ro ro...* Tiếng mô-tơ chạy êm ru, hai trục quay băng từ từ xoay tròn nhịp nhàng dưới ánh đèn, lẫy cửa sổ bật mở nhẹ nhàng khi tôi ấn nút Eject bằng một cú chạm êm ái.
Một cảm giác nhẹ nhõm và sung sướng tột cùng vỡ òa trong lồng ngực tôi. Tôi không tự nhận mình hiểu sâu về những cuộn cảm, những con chip hay tụ điện phức tạp gắn trên bo mạch xanh lè bên cạnh — những thứ mà thầy Dũng bảo sau này lên lớp mười hai hoặc vào đại học bách khoa mới được học sâu. Tôi chỉ làm đúng, làm sạch những gì thuộc về phần cơ bản mà thầy đã truyền dạy, không thừa một thao tác, không đoán mò một chi tiết nào.
— Tốt lắm, — thầy Dũng vỗ vai tôi một cái thật mạnh, nụ cười rạng rỡ hiện rõ trên khuôn mặt vốn ít khi biểu lộ cảm xúc. — Lắp ốc lại theo đúng sơ đồ trên giấy đi. Nhớ vặn vừa tay, ren nhựa của máy cũ này giòn lắm, siết quá đà một chút là nứt vỏ ngay đấy.
Tôi cẩn thận nhấc từng con ốc từ tờ giấy A4 đặt vào đúng vị trí cũ trên thân máy, siết chặt từng chiếc một với lực vừa đủ. Chiếc máy cassette Sony nằm gọn gàng trên bàn, sạch sẽ và hoàn chỉnh như lúc ban đầu.
Thầy Dũng mở ngăn kéo bàn giáo viên, lấy ra một chiếc phong bì nhỏ mà cô giáo gửi lại từ trưa:
— Đây là tiền công sửa máy cô Mai gửi, mười lăm nghìn đồng. Cô bảo nếu máy hỏng nặng thì mua đồ thay, còn nếu chỉ kẹt cơ nhẹ thì gửi người sửa uống nước. Thầy không lấy đồng nào đâu, công của anh cả đấy. Cầm lấy.
Tôi nhìn tờ tiền giấy mười nghìn màu đỏ sẫm và tờ năm nghìn màu xanh thẫm đặt trên mặt bàn gỗ. Mười lăm nghìn đồng. Những đồng tiền phẳng phiu, sạch sẽ, thơm mùi giấy mới. Bàn tay thô ráp đầy sẹo gai và vết chai sạn của tôi khẽ run lên khi chạm vào chúng. Đây là số tiền do chính mười đầu ngón tay của tôi kiếm được nhờ vào kỹ năng, nhờ vào sự cẩn trọng và kỷ luật thép của người làm thợ, chứ không phải sự bố thí hay rủ lòng thương hại từ bất kỳ ai.
Nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu sâu sắc rằng mười lăm nghìn đồng này mới chỉ là bước khởi đầu mong manh. Chiếc cassette này là của cô giáo trường huyện, còn chiếc máy tính chắp vá ở nhà vẫn đang phải đối mặt với hạn định mười ngày nghiệt ngã của bác Lương.
Đúng lúc tôi vừa cất hai tờ tiền vào túi áo ngực thì ngoài cửa phòng tin học có tiếng bước chân vội vã kèm theo tiếng thở dốc. Một người đàn ông mặc áo khoác gió công vụ màu cỏ úa, dáng vẻ hớt hải bước vào, hai tay ôm một thùng máy tính cồng kềnh bọc trong chiếc bao tải dứa màu xanh:
— Thầy Dũng ơi! May quá thầy còn ở đây! Cái máy tính văn phòng của trạm vật tư bên thị trấn tự dưng dở chứng, bật lên chỉ nghe tiếng kêu bíp bíp liên tục rồi đen ngòm màn hình, mà sáng mai huyện về kiểm tra sổ sách quyết toán chi phí phân bón vụ đông rồi! Thầy xem hộ tôi gấp với, không thì chết cả nút!
Người cán bộ trạm vật tư thở hổn hển, đặt mạnh chiếc thùng máy bám đầy bụi đỏ công trường lên góc bàn gỗ dài. Thầy Dũng không vội đỡ lấy chiếc tô-vít, thầy liếc mắt nhìn sang tôi, khẽ hất cằm một cái dứt khoát:
— Đọc bệnh xem nào.
Tôi bước tới gần chiếc máy tính, hít một hơi thật sâu để nén cơn hồi hộp đang dâng lên trong ngực. Thay vì cắm điện bấm nút nguồn ngay như thói quen của người sửa nghiệp dư, tôi nhớ lời thầy dặn, cúi xuống quan sát kỹ các cổng cắm phía sau thùng máy, kiểm tra giắc cắm nguồn 220V và cáp tín hiệu xem có lỏng chân hay đứt gãy vỏ bọc hay không. Bụi đỏ bám dày đặc ở các khe tản nhiệt phía sau. Khi tôi cắm điện và bật thử công tắc nguồn, quạt gió bộ nguồn rít lên một nhịp ngắn rồi loa trong bo mạch phát ra ba tiếng bíp ngắn chói tai liên tục, màn hình kiểm tra của thầy Dũng cắm vào vẫn hoàn toàn tối đen như mực.
— Bác để máy ở chỗ ẩm hay vừa chuyển đi đâu xa về ạ? — tôi quay sang hỏi người cán bộ.
— Chiều nay dọn dẹp kho, mấy anh em thanh niên bê vội từ phòng kế toán tầng một sang phòng văn thư tầng hai, vừa cắm điện lại thì dở chứng thế này, — người đàn ông sốt ruột giục giã, rút gói thuốc lá ra châm một điếu. — Chú em làm nhanh hộ tôi cái, chỉ cần mở được máy lên in mấy bảng số liệu quyết toán chi phí phân bón và giống vụ đông cho sếp ký là được! Tôi đang vội lắm!
Trong một thoáng chốc, sự nôn nóng bốc lên ngùn ngụt trong ngực tôi. Hạn định mười ngày của bác Lương, lưỡi rựa sáng loáng bên hông bác sáng nay, món nợ phân bón của lão Thào xóm Mo và nỗi ám ảnh về việc chiếc máy tính ở chái phụ bị đập vụn bán sắt vụn thôi thúc tôi muốn vặn ốc thật nhanh, rút giắc cắm bừa để chứng minh mình làm được việc ngay tức khắc. Nếu tôi làm nhanh, tôi sẽ có thêm tiền, sẽ chứng minh được giá trị của mình. Nhưng ngay khoảnh khắc mũi tô-vít chạm vào mép nắp tôn thùng máy, hình ảnh cô Hạnh thức trắng đêm cặm cụi chép tay từng dòng danh sách học sinh nghèo bên ngọn đèn dầu lại hiện lên rành rọt như một nhát roi quất vào tâm trí. Một cú bấm vội, một thao tác ẩu từng biến toàn bộ công sức của người khác thành tro bụi. Sự vội vàng trong nghề kỹ thuật luôn luôn phải trả giá bằng tai họa.
Tôi dừng tay lại, rút mẩu bút bi cùng mảnh giấy nháp trong túi áo ra:
— Bác cho cháu hỏi, các bảng số liệu quyết toán nằm ở ổ đĩa nào? Tên thư mục là gì để cháu ghi lại? Trước khi sửa bất kỳ thứ gì bên trong, cháu phải tìm cách bảo đảm giữ nguyên vẹn dữ liệu cho bác đã. Nhỡ có sự cố chập điện làm hỏng ổ cứng thì không cứu lại được đâu ạ.
Thầy Dũng đứng tựa lưng vào mép tủ gỗ, khẽ gật đầu hài lòng sau cặp kính cận dày cộp. Người cán bộ trạm vật tư ngẩn ra một thoáng, rồi vội vàng nói:
— À... ở ổ D, trong thư mục có tên là `QUYETTOAN_2012`, tệp tên là `BANG_TONG_HOP.XLS`. Cậu em cẩn thận đấy, giữ được số liệu ấy cho tôi là sống rồi!
Tôi cẩn thận ghi lại đường dẫn tệp theo lời dặn, tháo rời nắp tôn của thùng máy. Đúng như tôi dự đoán, bên trong bo mạch chủ phủ một lớp bụi đỏ dày đặc, và thanh RAM SDRAM 128MB đã bị lệch một bên chân cắm do va đập mạnh trong quá trình mấy thanh niên khiêng vác chạy cầu thang. Dưới sự chỉ dẫn khẽ khàng từng bước từ xa của thầy Dũng, tôi nhẹ nhàng ấn hai lẫy nhựa hai đầu, rút thanh RAM ra.
Tôi dùng cục tẩy học trò màu trắng lau sạch lớp đồng oxy hóa xỉn màu trên các chân tiếp xúc mạ vàng, dùng quả bóng cao su xịt bụi thổi sạch từng hạt cát bám trong khe cắm DIMM trên bo mạch chủ. Sau đó, tôi gắn thanh RAM trở lại, dùng hai ngón tay cái ấn đều lực vào hai đầu cho đến khi hai chiếc lẫy nhựa màu trắng bật lên tiếng *tách* dứt khoát, ôm chặt lấy thanh mạch.
Trước khi cho máy khởi động lại bình thường, để phòng ngừa trường hợp hệ điều hành bị lỗi phân vùng do tắt máy đột ngột làm mất tệp bảng tính, tôi xin phép thầy Dũng lấy chiếc đĩa mềm 1.44MB cứu hộ màu đen của thầy. Tôi cắm đĩa mềm vào ổ A, khởi động máy vào môi trường MS-DOS thuần túy.
Màn hình CRT chớp sáng, không còn tiếng bíp chói tai nào nữa. Dòng chữ trắng trên nền đen hiện lên báo nhận đủ dung lượng bộ nhớ. Từ dấu nhắc lệnh `A:\>`, tôi gõ từng dòng lệnh cơ bản để truy cập vào ổ D, sao chép toàn bộ thư mục `QUYETTOAN_2012` sang đĩa mềm dự phòng. Chỉ đến khi đèn ổ đĩa mềm tắt hẳn và tiếng cơ đọc đĩa kêu *rẹt rẹt* dừng lại, tôi mới yên tâm tháo đĩa mềm ra, rồi chạy lệnh quét và sửa lỗi đĩa `scandisk C:` để khắc phục các cung từ bị lỗi do mất điện ngang.
Sau năm phút kiểm tra bề mặt đĩa cứng hoàn tất, tôi khởi động lại máy. Màn hình CRT chớp nhẹ, logo Windows màu xanh nhạt quen thuộc hiện lên cùng tiếng nhạc khởi động rè rè phát ra từ chiếc loa con bên trong thùng máy. Tôi nhấp đúp chuột mở tệp Excel: bảng tính mở ra nguyên vẹn từng con số, từng cột mục chi phí phân đạm, lân, kali của toàn huyện hiện lên đầy đủ, không hề mất mát một ký tự nào.
Người cán bộ trạm vật tư mừng rỡ thở phào một hơi dài thườn thượt, vỗ mạnh vào đùi một cái bốp:
— Giỏi lắm cậu em! Đúng là tuổi trẻ tài cao! May mà còn nguyên dữ liệu, không thì sáng mai tôi chết với đoàn thanh tra của huyện!
Nói đoạn, ông móc chiếc ví da giả từ túi quần sau, rút ra một tờ tiền mệnh giá hai mươi nghìn đồng màu xanh dương đặt dứt khoát vào bàn tay dính đầy bụi máy của tôi:
— Tiền công của chú em đây! Cầm lấy mà ăn bát phở nóng, đêm hôm thế này vất vả quá!
Cầm số tiền công hai mươi nghìn đồng cùng với mười lăm nghìn từ chiếc cassette lúc nãy, tổng cộng ba mươi lăm nghìn đồng — một gia tài không nhỏ đối với một đứa học trò nghèo ở bản Nà Ban. Thầy Dũng nhìn tôi, ánh mắt ấm áp sau tròng kính:
— Thấy chưa? Khi anh nắm chắc nguyên tắc, biết tôn trọng dữ liệu của người khác và làm việc có kỷ luật, kiến thức sẽ tự nuôi sống anh. Giờ thì cầm tiền đi mua đồ dùng học tập đi, rồi tranh thủ về kẻo trời tối mịt, đường đèo về Nà Ban mười cây số nguy hiểm lắm.
Tôi chào thầy, dắt xe đạp ra khỏi cổng trường. Trời đã tối hẳn, sương mù buông dày đặc trên các ngọn đồi quanh thị trấn huyện. Tôi ghé vào hiệu sách bưu điện huyện — nơi duy nhất còn mở cửa dưới ánh đèn tuýp sáng trưng. Tôi không dám giữ toàn bộ số tiền mặt ấy cho riêng mình để tiêu xài; số tiền ấy được tôi chia tính cẩn thận trong đầu: tôi mua năm cuốn vở Bãi Bằng loại bốn mươi tám trang có bìa xanh kẻ ô rõ nét giá mười nghìn đồng, ba cây bút bi Kim Thành ngòi êm giá sáu nghìn đồng, và trích ra chín nghìn đồng để bù vào tiền dầu hỏa thắp đèn học đêm và tiền vá lại chiếc săm xe đã mòn vẹt. Tôi còn lại đúng mười nghìn đồng tiền mặt nguyên vẹn.
Đêm hôm đó, vì chiếc xe đạp cũ mượn của chú Cường bị tuột xích và hỏng líp giữa đường dốc, tôi phải dắt bộ suốt mười cây số trong đêm mù sương buốt giá để quay về lại bản Nà Ban. Gió rít qua các khe núi đá vôi như tiếng thú gầm gừ. Bàn chân trần của tôi tê cóng, mất hết cảm giác trên những viên đá tai mèo lởm chởm, nhưng trong túi ngực, năm cuốn vở mới và ba cây bút bi được bọc kín trong túi nilon áp sát vào ngực tôi, ấm áp lạ kỳ.
Gần mười giờ đêm, tôi mới bước chân vào gian nhà chính. Cánh cửa gỗ khép hờ. Dưới ánh đèn dầu tù mù đặt giữa chiếc bàn gỗ lim cũ kỹ, bác Lương vẫn ngồi đó, tay cầm chiếc điếu cày bằng nứa bóng loáng, mặt trầm ngâm nhìn vào khoảng không vô định trước mặt. Món nợ phân bón của lão Thào xóm Mo rõ ràng vẫn đang đè nặng lên từng nếp nhăn nơi trán bác.
Tôi bước vào gian nhà, im lặng không nói một lời thanh minh hay phân trần về việc mình về muộn. Tôi bước đến bên bàn, nhẹ nhàng đặt chiếc túi nilon lên mặt gỗ. Tôi rút ra năm cuốn vở Bãi Bằng mới tinh còn thơm phức mùi giấy trắng, xếp ngay ngắn thành một chồng phẳng phiu, đặt ba cây bút bi Kim Thành lên trên, và cuối cùng, tôi đặt tờ tiền giấy mười nghìn đồng màu đỏ sẫm còn phẳng phiu bên cạnh.
Đó là câu trả lời lặng lẽ nhưng đanh thép nhất mà một đứa trẻ mồ côi có thể đưa ra trước câu hỏi nghiệt ngã của người chủ gia đình: cỗ máy và mớ chữ nghĩa ấy có mài ra thành cơm được không?
Bác dâu Sương từ góc bếp bước ra, trên tay cầm rổ khoai lang luộc nguội ngắt. Bà nhìn xấp vở mới tinh, nhìn cây bút bi và tờ tiền giấy mười nghìn đồng, rồi liếc mắt nhìn về phía khoảng tối sau cánh liếp của gian chái phụ. Bà không mở lời bênh vực tôi một cách công khai trước mặt chồng — người phụ nữ vùng cao không bao giờ làm thế trước mặt chủ gia đình — nhưng vừa với tay xếp lại góc xấp vở cho ngay ngắn, bà vừa càu nhàu bằng giọng sắc sảo thường ngày:
— Ít nhất thì nó cũng biết dùng cái đầu với đôi tay để kiếm ra thứ phục vụ việc học hành, mua được sách vở đàng hoàng mà không phải ngửa tay xin xỏ nhà này một cắc nào. Thế còn hơn chán vạn mấy đứa choai choai ngoài xóm Mo, tối ngày chỉ biết tụ tập uống rượu, đánh bạc rồi bỏ đi chơi bời lêu lổng làm khổ bố mẹ.
Bác Lương nhìn trừng trừng vào năm cuốn vở Bãi Bằng, rồi mắt bác dừng lại ở tờ tiền mười nghìn đồng nằm lẻ loi dưới ánh đèn dầu. Những đường gân mu bàn tay thô ráp của bác đang nắm chặt thân điếu cày bỗng gồ lên từng chặp, rồi từ từ giãn ra. Bác không cầm tờ tiền lên, cũng không đụng vào xấp vở. Bác châm đóm, rít một hơi thuốc lào thật sâu, tiếng nước trong điếu kêu réo lên sòng sọc trong đêm vắng. Khói thuốc đặc quánh phả ra mờ mịt cả gian nhà, che khuất một phần ánh mắt nghiêm nghị của người đàn ông cả đời chỉ biết đến đá núi và đất đồi.
— Cứ tạm để đấy, — giọng bác trầm xuống, không còn tiếng gắt gỏng như sáng sớm, nhưng vẫn giữ nguyên sự dứt khoát không thể lay chuyển. — Nhưng tao nói trước cho mày nhớ: nương ngô Pha Luông ngày mai vẫn phải cuốc đủ định mức nửa sào, hai chum nước và chuồng trâu không được thiếu một gáo, một buổi nào. Trễ việc nhà một giờ thì đừng có trách cái rựa của tao!
Lời phán quyết ấy buông xuống như cởi bỏ tảng đá ngàn cân đang đè nặng lên lồng ngực tôi suốt từ lúc bình minh. Chiếc máy tính cũ chắp vá trong gian chái phụ đã chính thức có quyền ở lại, dù mỗi giờ học trên màn hình CRT từ nay về sau đều phải đánh đổi sòng phẳng bằng từng giọt mồ hôi trên nương đá Pha Luông. Tôi khẽ cúi đầu:
— Dạ, cháu nhớ rồi thưa bác.
Tôi bước về gian chái phụ, khép hờ tấm liếp nứa lại. Dưới tấm chăn chiên cũ, khối sắt Pentium III vẫn nằm im lìm trong bóng tối. Tôi không thắp đèn dầu, chỉ đưa tay vuốt nhẹ lên lớp vỏ kim loại lạnh ngắt của thùng máy. Nó đã sống sót qua ngày đầu tiên của hạn định mười ngày.
Sáng sớm hôm sau, sương mù Nà Ban vẫn đặc quánh như sữa loãng. Tôi dậy từ lúc gà gáy canh tư, gánh đủ hai chuyến nước từ mó về đổ đầy chum, quét dọn chuồng trâu sạch sẽ và vác chiếc cuốc bàn nặng trịch lên vai để chuẩn bị lên nương ngô Pha Luông.
Khi tôi vừa vác cuốc bước chân ra tới đầu ngõ, tiếng nổ lạch bạch của một chiếc xe máy Simson cũ bỗng vang lên từ phía con đường mòn dẫn ra thị trấn. Chiếc xe dừng lại ngay cạnh bờ rào dâm bụt trước cổng nhà. Một người đàn ông trung niên mặc áo khoác bông dày, quấn khăn len kín cổ, nheo mắt nhìn tôi qua màn sương sớm, rồi cất tiếng hỏi lớn:
— Cậu có phải là Nam, đứa tối qua sửa được cái máy tính ở trạm vật tư không? Ở thị trấn có chiếc máy tính hỏng thật sự, thợ ngoài quán bó tay, cậu có dám nhận sửa không?