Hoa Ban Không TànCh.31 / 38
Chapter 31

Góc học dưới mái fibro

Dòng lệnh đầu tiên còn sáng trên màn hình cũ khi tôi nghe tiếng chân bác Lương đi qua gian phụ, liền cúi xuống che chiếc máy bằng tấm chăn mỏng.

Tiếng bước chân nện từng nhịp nặng nề, khô khốc trên nền đất ẩm ở lối đi nối gian bếp ngập mùi tro than với chuồng trâu bên hông nhà. Cứ vào cữ gà gáy lần thứ nhất, lúc trời đất còn đặc quánh trong thứ sương muối luồn qua khe liếp buốt như kim châm, bác Lương lại thức giấc. Bao năm qua, cái nếp sinh hoạt ấy chưa từng xê dịch dù chỉ một khắc. Bác luôn cầm chiếc điếu cày bằng thân tre ngả màu cánh gián bước ra ngoài hè, ngửa cổ dòm trời rồi cúi xuống nhìn đất, xem sương muối có bám dày trên những luống cải ngồng non hay gió chướng có tràn qua đỉnh đèo dốc Ban Nà hay không.

Mùi thuốc lào nồng gắt, ngai ngái khét lẹt đặc trưng hòa lẫn với mùi bùn trâu, mùi phân chuồng ủ kỹ lùa qua từng kẽ liếp nứa nứt toác. Tôi ngồi bất động, lưng nép sát vào vách đá taluy tự nhiên lạnh ngắt sau lưng gian chái. Hơi lạnh từ đá ngấm qua hai lớp áo vải sờn mỏng manh, truyền thẳng vào da thịt khiến từng thớ cơ trên sống lưng tôi co rút lại. Hai bàn tay tôi ghì chặt lấy mép chiếc chăn chiên viền mép màn hình Samsung SyncMaster CRT mười lăm inch. Đầu ngón chân bấm chặt xuống lớp đất nện gồ ghề đầy sỏi vụn để ghìm từng hơi thở thật nông, thật khẽ.

Trong gian chái phụ tối đen như mực, chỉ còn nghe thấy tiếng cánh quạt thông gió của bộ nguồn Huntkey cũ kỹ đang quay ro ro rất êm. Thứ âm thanh cơ khí khe khẽ ấy bị tiếng gió mùa đông bắc rít qua rặng ban khẳng khiu trên sườn núi che lấp đi phần nào, nhưng đối với đôi tai cảnh giác cao độ của tôi lúc này, nó chẳng khác nào tiếng chuông báo động đang rung lên từng hồi thắt ruột.

Tiếng bước chân bác Lương đột ngột dừng lại ngay bên ngoài ngưỡng cửa liếp nứa, chỉ cách chỗ tôi ngồi chừng một với tay.

Không gian như đông cứng lại trong năm sáu nhịp thở dài dằng dặc. Đốm lửa từ bấc đèn dầu hoa kỳ leo lét trên tay bác rọi qua khe gỗ một vệt sáng vàng vọt, run rẩy quét qua đống sọt nứa rách, cái cào cỏ gãy cán và mấy bao tải đựng phân trâu khô xếp sát góc tường. Tim tôi đập dồn dập vào lồng ngực gầy guộc, mạnh và dồn đến mức tôi ngỡ như vách ngực mỏng manh sắp vỡ tung ra.

Tôi biết quá rõ tính nết của bác. Bác Lương là người coi từng hạt thóc, củ ngô trên nương rẫy là thước đo duy nhất cho phẩm giá của một con người. Nếu lúc này bác chỉ cần giật tung cánh liếp tre khép hờ, nhìn thấy cỗ máy tính cồng kềnh với hàng tá dây nguồn, dây tín hiệu câu nối chằng chịt vào đường điện trần chạy dọc xà nhà, chắc chắn bác sẽ không buồn cất tiếng hỏi nửa lời. Chiếc rựa đi rừng sắc lẻm luôn giắt bên hông sẽ vung lên, giáng thẳng xuống bo mạch chủ, đập nát vụn chiếc màn hình thủy tinh dày cộp, rồi bác sẽ đem từng thanh sắt vụn, từng đoạn dây đồng ấy quẳng ra chợ huyện để cấn trừ vào món nợ thuốc men, ma chay mà người cha quá cố của tôi còn để lại.

Bác đứng đó một lát, hắng giọng ho khùng khục một tràng dài nơi cổ họng đầy đờm đặc, rồi nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh thoát nước ngoài hiên. Tiếng dép cao su lẹt quẹt quay gót trở vào nhà trên. Cánh cửa gỗ lim dày cộp đóng lại, kèm theo tiếng then cài bằng sắt kêu lên một tiếng *cạch* khô khốc, dứt khoát.

Tôi từ từ thở phào một hơi dài ra đằng miệng, hai bả vai đang gồng cứng rũ xuống, mồ hôi lạnh ướt đẫm cả mảng lưng áo. Run rẩy đưa tay kéo nhẹ tấm chăn chiên ra, quầng sáng xanh lơ dịu mát của giao diện Free Pascal 7.0 lại hiện lên trước mắt, hắt một thứ ánh sáng lân tinh kỳ ảo lên mặt kính cong bám đầy bụi bặm và mạng nhện. Những dòng chữ màu vàng và trắng hiển thị từng dòng lệnh logic ngay ngắn, soi rõ bóng gương mặt hốc hác, đôi gò má nhô cao cùng đôi mắt trũng sâu vì nhiều đêm liền thức trắng của tôi.

Tôi nhanh chóng đưa những ngón tay khô ráp ấn tổ hợp phím `F2` để lưu lại toàn bộ mã nguồn đang viết dở. Con trỏ màn hình nhấp nháy hai nhịp xác nhận thao tác ghi dữ liệu hoàn tất. Không dám chần chừ thêm một giây nào nữa, tôi dứt khoát vươn người ra phía sau thùng máy, thò tay gạt mạnh chiếc công tắc nhựa trên ổ cắm chia điện tự chế. Cỗ máy thở hắt một tiếng lách tách nhỏ nơi cuộn cảm biến áp rồi lịm dần, quạt tản nhiệt quay chậm lại vài vòng trước khi dừng hẳn. Cả gian chái phụ lập tức chìm sâu vào bóng đêm mịt mùng, chỉ còn lại mùi hăng hăng của nhựa đường cách điện nóng ran hòa vào cái lạnh buốt xương của núi rừng lúc rạng sáng.

Tôi tuyệt đối không được phép ngủ quên, dù chỉ là chợp mắt trong chốc lát.

Trên chiếc chõng tre ọp ẹp đặt sát vách nứa, chiếc đồng hồ báo thức dây cót bằng sắt rỉ sét do thầy Dũng cho mượn đang điểm bốn giờ mười lăm phút sáng. Ở cái thung lũng Nà Ban heo hút này, cuộc đời của một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu như tôi không bao giờ có chỗ cho sự trễ nải hay lười nhác. Chỉ cần một gáo nước mó bị thiếu trong chum sành, một vết phân trâu chưa kịp dọn sạch nơi góc chuồng, hay một luống đất trên nương ngô bị bổ dở dang, bác Lương hoàn toàn có đủ lý do để tước đoạt cái quyền tối thiểu duy nhất mà tôi đang bấu víu lấy: quyền được cắp sách vượt mười cây số đường đèo ra trường huyện học chữ.

Tôi xỏ đôi bàn chân nứt nẻ vào đôi dép tổ ong ngả màu cháo lòng đã mòn vẹt hết gai đế. Chiếc đòn gánh bằng thân tre đực già bóng loáng mồ hôi được đặt lên bờ vai gầy, hai đầu mấu ngoắc vào quai hai chiếc thùng gỗ ghép đai sắt nặng trịch. Tôi bước từng bước lầm lũi ra khỏi con ngõ ngập ngụa bùn đất, hướng về phía mó nước sâu nằm hun hút sau chân núi đá vôi của bản.

Gió đông bắc rít liên hồi qua các rặng tre gai, quất từng luồng lạnh buốt vào hai bên mang tai trần. Nước mó mùa đông lạnh thấu xương, mỗi lần cúi gập người nhấn miệng thùng gỗ xuống làn nước trong vắt để múc đầy là một lần mười đầu ngón tay tôi buốt nhói như bị ai dùng kim châm chọc vào từng khớp xương, tím tái và mất hết cảm giác vận động. Tôi phải gùi đủ sáu chuyến nước như thế, gánh từng đôi thùng nặng trĩu leo ngược con dốc đất trơn trượt để đổ đầy ắp vào hai chiếc chum sành đại chôn dưới gầm sàn gian bếp.

Gánh nước xong xuôi, tôi vớ lấy chiếc dao quắm dựng bên cột nhà, thoăn thoắt băm nhỏ hai gốc chuối rừng to bằng bắp đùi người lớn. Đôi bàn tay vừa mới tê cóng vì nước lạnh nay lại rát buốt vì nhựa chuối bám đen kịt vào từng kẽ móng tay. Tôi xúc từng muỗng cám ngô thô đổ vào chậu gỗ, đổ thêm nước ấm khuấy đều cho dậy mùi thơm ngai ngái rồi trút đầy máng cho đàn lợn đang đói ủi ụt ịt dưới gầm sàn. Tiếp đó, tôi cầm chiếc chổi tre đực cào sạch từng lớp phân trâu nhão nhoét ở chuồng bên cạnh, xúc vào hai chiếc sọt xảo rồi gánh ra đổ gọn vào hố ủ có phủ lớp tro bếp dày trước khi vầng trăng muộn lặn hẳn sau rặng thông.

Khi bác dâu Sương bắt đầu cọt kẹt đẩy cánh cửa buồng bước xuống bếp nhóm lửa, tôi đã ngồi lặng lẽ trên bậu cửa chuồng trâu tự bao giờ. Hai ống quần chàm kéo cao quá đầu gối bết đầy bùn đất khô cong thành từng mảng xám xịt. Tôi nuốt vội từng miếng mèn mén nguội ngắt, khô khốc đắng nghét ở cổ họng, phải chan thêm mấy ngụm nước sôi nóng rẫy mới trôi được xuống dạ dày. Cặp sách là chiếc túi vải bộ đội cũ rách mép đựng vài cuốn vở và mẩu bút chì cụt được tôi khoác vội lên vai, rồi cắm đầu bước nhanh ra ngõ trước khi trời kịp rạng rõ mặt người.

Con đường từ bản Nà Ban ra trường cấp ba huyện dài đúng mười cây số, vắt vẻo qua con dốc Ban Nà dựng đứng đầy sỏi nhọn và đá hộc trơ trọi. Những tuần học chính khóa bình thường, tôi phải cuốc bộ từ ba giờ sáng để kịp giờ vào lớp buổi sớm.

Có những đợt trường tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi tập trung theo chuyên đề của đội tuyển Tin học, hoặc những đợt cao điểm ôn thi học kỳ kéo dài suốt cả tháng trời, cô Hạnh đã phải muối mặt đến xin bà giáo Ngô cho tôi ở nhờ trong một gian kho chứa cày bừa nông cụ lợp bằng tôn xi măng fibro cũ kỹ, nằm sát ngay mép tường rào cổng trường. Ở nơi ấy, tôi đổi lấy một chỗ ngả lưng trên chiếc chiếu rách trải thẳng xuống nền xi măng ẩm ướt bằng việc thức khuya dậy sớm quét dọn khoảng sân gạch mênh mông, vác búa chẻ từng khúc củi găng khô xếp gọn ghẽ vào chái bếp, và múc đầy ba bể nước giếng khơi sâu hoắm cho bà giáo già mù lòa.

Thế nhưng, bất kể việc học tập ngoài huyện có căng thẳng đến đâu, hễ cứ đến đúng mười một giờ trưa ngày thứ Sáu khi tiếng trống trường tan tiết cuối cùng vang lên, dù trời có đổ mưa rào tầm tã hay sương muối phủ trắng xóa mặt đèo, tôi lại phải lập tức cuốc bộ lộn ngược mười cây số đường rừng trở về bản. Vừa về tới ngõ, tôi chỉ kịp quăng chiếc túi vải lên chõng tre là phải vơ lấy chiếc cuốc bàn nặng trịch, cắm mặt leo ngược lên triền nương Pha Luông để cày ải đất, dọn cỏ ngô theo đúng giao hẹn sắt đá mà bác Lương đã đặt ra từ đầu mùa.

Chỉ đến đêm muộn, khi bữa cơm tối đạm bạc chỉ có rau dớn luộc chấm muối ớt kết thúc, khi tiếng ngáy sấm ran của bác Lương bắt đầu rền rĩ qua vách liếp nứa ngăn cách hai gian nhà, và tiếng lũ lợn ủi máng ngoài chuồng đã hoàn toàn im bặt, tôi mới dám rón rén đẩy then cài bước vào gian chái phụ tối tăm. Khép chặt cánh liếp che chắn gió lùa, tôi nhẹ nhàng gạt cầu dao, đánh thức cỗ máy tính cũ kỹ chạy bằng nguồn điện câu tạm bợ từ đường dây trần ngoài hiên.

Đó là một cỗ máy tính chạy vi xử lý Intel Pentium III tốc độ khiêm tốn 600MHz, được ghép nối chắp vá từ vô số linh kiện phế thải mà thầy Dũng nhặt nhạnh được trong các đợt thanh lý phòng máy của phòng giáo dục huyện. Cỗ máy ấy chậm chạp và ì ạch đến mức mỗi một thao tác nhấp chuột hay gõ một câu lệnh khởi động phần mềm đều biến thành một bài tập rèn luyện lòng kiên nhẫn đến cùng cực cho tôi.

Nó hoàn toàn khác xa với những dàn máy tính để bàn bóng bẩy chạy chip Pentium 4 đời mới, nằm ngay ngắn trong các phòng thực hành máy lạnh của trường chuyên tỉnh mà tôi chỉ đôi lần được nhìn thấy qua những ô cửa kính đóng kín mỗi khi có dịp theo đoàn dự thi. Trái tim lưu trữ của cỗ máy ọp ẹp này là một chiếc ổ cứng Seagate chuẩn giao tiếp IDE dung lượng vỏn vẹn hai mươi gigabyte. Mỗi lần hệ thống cần đọc hay ghi một mảng dữ liệu lớn, các phiến đĩa từ bên trong lại rít lên những tiếng lạo xạo, lạch cạch nhức tai, nghe hệt như tiếng một đàn dế mèn đang ra sức cào móng vuốt vào đáy chiếc thùng tôn rỉ sét.

Nếu tôi vội vàng nhấn tổ hợp phím biên dịch `Ctrl + F9` trong khi ổ cứng chưa kịp nạp xong bộ nhớ ảo sang thanh RAM một trăm hai mươi tám megabyte còm cõi, toàn bộ hệ điều hành Windows 98 SE sẽ ngay lập tức treo cứng ngắc. Màn hình sẽ chớp giật liên hồi rồi phụt hiện lên một màu xanh chết chóc (Blue Screen of Death) cùng những dòng mã lỗi hệ thống vô hồn. Những lúc như thế, không còn cách nào khác ngoài việc phải bấm nút khởi động lại máy hoặc rút phích cắm nguồn, đồng nghĩa với việc tôi sẽ mất đứt mười lăm đến hai mươi phút đồng hồ ngồi nhìn màn hình DOS chạy lệnh `Scandisk` để dò tìm và đánh dấu lại từng cung từ bị lỗi (bad sectors).

Để chắt chiu từng phút giây quý giá cho cỗ máy hoạt động và triệt tiêu tối đa tiếng ồn của cánh quạt tản nhiệt trong đêm thanh vắng, tôi chưa bao giờ cho phép mình ngồi thừ người trước màn hình để suy nghĩ hay tìm tòi thuật toán.

Tôi buộc bản thân phải học cách tư duy và giải quyết trọn vẹn mọi bài toán hoàn toàn trên mặt giấy trước khi chạm tay vào bàn phím.

Suốt ban ngày, những lúc dắt trâu gặm cỏ dọc ven suối Nà Ban hay giữa những khoảng nghỉ giải lao ngắn ngủi mồ hôi nhễ nhại trên sườn nương Pha Luông, tôi thường ngồi bệt xuống một tảng đá tai mèo sắc nhọn. Tôi lôi từ đáy túi áo ra những mẩu bút chì cùn mòn vẹt và một xấp giấy nháp được tận dụng triệt để từ mặt sau của những bản giáo án hỏng mà cô Hạnh gom góp lại cho tôi.

Trên những khoảng giấy ngả màu ố vàng ấy, tôi cẩn thận nắn nót viết ra từng khối lệnh giải thuật. Tôi chia nhỏ bài toán phức tạp thành từng chương trình con, từng hàm (`function`) và thủ tục (`procedure`) độc lập, tính toán chi ly việc đặt tên từng biến số sao cho ngắn nhất có thể để tiết kiệm từng byte bộ nhớ RAM.

Từng vòng lặp `for... to... do`, từng cấu trúc rẽ nhánh `if... then... else` phức tạp hay những mảng dữ liệu nhiều chiều đều được tôi cho chạy thử bằng tay trong tâm trí. Tôi tự tay vẽ ra các bảng giá trị biến thiên, cặm cụi lần theo từng bước nhảy của con trỏ chỉ số, nhẩm tính tỉ mỉ xem thuật toán này sẽ tiêu tốn bao nhiêu vòng quét của CPU, và liệu bộ nhớ ngăn xếp (`stack memory`) có nguy cơ bị tràn khi thực hiện các phép đệ quy sâu hay không.

Chỉ đến khi toàn bộ logic thuật toán trên mặt giấy nháp đã được kiểm tra cặn kẽ từng dấu chấm phẩy, từng trường hợp biên ngặt nghèo nhất, tôi mới dám bật công tắc máy tính.

Trong gian chái phụ tối tăm mịt mùng, mười đầu ngón tay thô ráp, nứt nẻ vì sương muối và chai sần vì cầm cán cuốc bắt đầu lướt thoăn thoắt trên chiếc bàn phím Mitsumi cũ mòn hết cả những ký tự in trắng. Tôi nhập mã nguồn theo đúng từng phân đoạn đã vạch sẵn trên giấy, tuyệt đối không gõ thừa một ký tự nào. Gõ xong một đoạn thủ tục, tôi lập tức bấm tổ hợp phím lưu dữ liệu vào thư mục `02_MA_NGUON` nằm sâu trong ổ đĩa logic `D:`.

Ký ức kinh hoàng về vụ mất sạch toàn bộ dữ liệu bài giảng và danh sách học sinh của cô Hạnh năm nào ở phòng máy cũ trường bản vẫn luôn là một bài học đắt giá hằn sâu vào tâm trí tôi. Tôi không bao giờ dám đặt lòng tin mù quáng vào sự bền bỉ của những linh kiện điện tử đã hết hạn sử dụng từ lâu này.

Mỗi đêm, trước khi tiến hành quy trình tắt máy, tôi đều cẩn thận rút từ trong hốc tường ra chiếc đĩa mềm Maxell 1.44MB vỏ nhựa màu đen, đẩy nhẹ vào khe đọc của ổ đĩa `A:`. Tiếng đầu từ thụt thò ken két dọc theo các rãnh từ tính vang lên lách cách trong đêm tĩnh mịch, đều đặn sao chép từng tệp mã nguồn mang phần mở rộng `.PAS` mới nhất sang làm bản lưu dự phòng. Chiếc đĩa mềm nhỏ bé ấy được tôi cẩn thận bọc kín trong ba lớp túi nilon chống ẩm dán băng dính chặt chẽ, rồi giấu sâu vào một khe hẹp giữa hai viên đá hộc vững chắc dùng để kê chân giường tre.

Suốt khoảng thời gian ngồi bên cỗ máy, một bên tai tôi luôn dựng lên, căng ra để lắng nghe mọi biến động dù là nhỏ nhất phát ra từ phía ngoài sân.

Chỉ cần nghe thấy tiếng một con chó sủa vu vơ ngoài cổng ngõ, tiếng gió quật mạnh làm rung lên những tấm liếp nứa, hay tiếng trở mình lẹt quẹt trên chiếc giường gỗ nghiến của bác Lương bên nhà trên vọng sang, một phản xạ tự nhiên ăn sâu vào tủy não sẽ khiến hai bàn tay tôi ngay lập tức với ra phía trước. Tôi bấm nút tắt màn hình CRT trong chớp mắt, ngắt ngay chiếc cầu dao phụ câu ngầm, rồi vơ vội lấy chiếc chăn chiên cùng mấy tấm bao tải gai rách trùm kín mít lên toàn bộ thùng máy.

Trong bóng tối đặc quánh lại sau ánh chớp của màn hình vừa tắt, tôi nhảy vội lên chiếc chõng tre ọp ẹp, kéo tấm chăn rách trùm kín đầu, nằm im thin thít không dám thở mạnh, giả vờ như một kẻ vừa kiệt sức sau một ngày quăng quật trên nương ngô và đang chìm sâu vào một giấc ngủ mê mệt không biết trời đất là gì.

Một buổi trưa Chủ nhật hiếm hoi trời hửng chút nắng hanh hao, nhân lúc bác Lương và bác dâu dắt đôi trâu sang tận bản Hin bên cạnh để phụ việc khiêng cột dựng nhà cho người bà con đằng ngoại, Lan lén lút ôm vào gian chái phụ mấy tấm bao tải gai rách bươm cùng một chồng sách báo y tế cũ xin được ở trạm xá xã.

Con bé đặt bó báo xuống nền đất ẩm, đảo mắt quan sát kỹ lưỡng khắp bốn góc gian buồng tối tăm đầy mạng nhện, rồi dứt khoát chỉ tay về phía góc trong cùng, nơi tiếp giáp giữa vách đá taluy tự nhiên của sườn núi và vách liếp nứa ngăn cách với chuồng nuôi lợn nái:

— Anh Nam, khiêng cỗ máy dọn hẳn vào góc kia kìa. Chỗ ấy sâu nhất, lại có cái gờ đá chìa ra che khuất tầm nhìn. Bố có bước hẳn chân vào buồng để tìm cái cuốc, cái xẻng hay kiểm tra củi đuốc thì mắt bố cũng không tài nào nhìn thấu vào tận góc tối ấy được đâu.

Tôi gật đầu đồng ý. Hai anh em xắn tay áo, cẩn thận nhấc từng phiến ván thông kê trên bốn viên đá hộc xù xì dịch chuyển sâu vào sát hốc đá taluy. Vị trí này nền đất dốc hơn và hơi nước rỉ ra từ kẽ nứt của đá núi cũng lạnh lẽo hơn nhiều, nhưng đổi lại, một phiến đá lớn nhô ra phía trên đầu tạo thành một mái vòm che chắn tự nhiên rất kiên cố.

Chúng tôi nín thở, cẩn trọng khiêng từng bộ phận nặng trịch của cỗ máy đặt vào vị trí mới. Lan lấy một mảnh giẻ khô cẩn thận lau từng vệt đất cát, bụi bặm bám trên lớp vỏ kim loại xám xịt của chiếc vỏ thùng máy tính, rồi dùng những sợi dây chuối khô đã tước mảnh tỉ mỉ bó gọn từng bó dây nguồn, dây tín hiệu màn hình, luồn khéo léo sát theo chân tường đất để không lộ ra ngoài.

Sau đó, Lan nhặt từng tấm bao tải gai rách, rũ sạch bụi đất bám bên ngoài rồi gấp thành nhiều lớp dày dặn, trùm kín mít từ đỉnh màn hình CRT hình vòm xuống tận bo mạch và các khe cắm phía sau thùng máy. Ở lớp ngoài cùng sát lối đi, em xếp chồng những tập tài liệu học tập, sách báo cũ của tôi lên nhau, rồi dựng nghiêng vài chiếc nong nia rách cùng đống cán cuốc gãy tựa vào vách nứa.

Nếu chỉ đứng từ cửa buồng liếp nhìn lướt vào, góc chái ấy trông không khác gì một đống phế liệu bỏ đi của một gia đình nông dân nghèo khó, nơi tích trữ đủ thứ nông cụ hư hỏng và rác rưởi mục nát qua năm tháng mà chẳng ai buồn để mắt tới.

Kê dọn xong xuôi mọi thứ, Lan đứng tựa lưng vào cây cột nứa cái, đưa vạt áo chàm đã sờn rách quệt những giọt mồ hôi đang lấm tấm rịn ra trên trán. Đôi mắt đen láy của con bé nhìn thẳng vào tôi, vẻ mặt nghiêm nghị và già dặn một cách khác thường so với lứa tuổi mười lăm:

— Em tính toán và giấu cho anh cái góc này là cẩn thận hết nước hết cái rồi đấy nhé. Nhưng anh phải nhớ kỹ lời em dặn: việc nhà, việc nương tuyệt đối không bao giờ được phép để trễ nải hay dở dang. Cứ sáng nào ngủ dậy mà thấy chum nước vơi, chuồng trâu chưa dọn phân, hay hai sào ngô bên Pha Luông cuốc cỏ dở dang mà lọt vào mắt bố, thì bố lôi anh ra nện đòn một, bố sẽ lùng sục xới tung khắp cái gian buồng này mười. Lúc ấy mà cái đống máy móc dây dợ này vỡ lở ra, bố vác rựa bổ nát rồi bán đồng nát lấy tiền uống rượu thì em chịu, em không thể nào đứng ra che chắn hay mở mồm cãi hộ anh được đâu.

Nhìn bàn tay gầy gò, nhỏ bé của đứa em họ còn dính đầy những vệt than đen chưa kịp rửa sạch sau bữa cơm trưa, lồng ngực tôi bỗng nhói buốt vì một cảm giác biết ơn xen lẫn xấu hổ khôn nguôi:

— Anh nhớ rồi. Anh hứa sẽ không để sót việc nào trong nhà đâu. Đêm anh chỉ dám bật máy đúng một tiếng đồng hồ sau khi xong hết bài vở trên lớp, gõ và lưu mã nguồn xong là anh tắt nguồn ngay lập tức.

— Anh cứ nói mồm là một tiếng, nhưng đêm nào em giật mình thức giấc đi tiểu cũng thấy quầng sáng xanh lét lờ mờ lọt qua kẽ nứa đến tận canh ba, canh tư — Lan chép miệng thở dài, giọng chùng hẳn xuống, chan chứa sự xót xa của một người ruột thịt — Thầy Dũng với cô Hạnh đã dặn anh bao nhiêu lần rồi? Cứ nhịn đói thức đêm thức hôm cho đẫy vào, rồi lại lăn đùng ra ngất lịm ở chân cầu thang trường huyện như cái đợt thi học sinh giỏi tỉnh năm ngoái à? Anh mà đổ bệnh nằm liệt ra đấy thì chẳng có cái máy tính nào cứu được cái thân anh đâu!

Từng lời nói thẳng thắn, không chút kiêng dè của Lan như một gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào cơn say mê học thuật đang âm ỉ cháy bỏng trong tâm trí tôi. Con bé nói không sai một chữ nào.

Cái nghèo đói cùng sự nghiệt ngã của hoàn cảnh sống dưới mái nhà bác Lương không bao giờ ban phát cho tôi bất kỳ một đặc ân hay sự nhân nhượng nào cả. Tôi không thể nào vin vào cái cớ rằng mình đang miệt mài nghiên cứu một ngành khoa học hiện đại của tương lai, một thứ tri thức xa vời vượt ra khỏi rặng núi Nà Ban, để trốn tránh những gánh nước mó nặng oằn vai hay những nhát cuốc đập đá chan đầy mồ hôi trên nương ngô khô cằn.

Mỗi dịp được trường giữ lại tham gia các đợt bồi dưỡng chuyên đề tập trung, cứ vào những buổi chiều muộn khi các bạn cùng lớp đã lục tục đạp xe về nhà ăn cơm, tôi lại lầm lũi tìm đến căn phòng máy tính cũ kỹ nằm ở góc khuất tầng hai của trường huyện. Thầy Dũng thường vẫn ngồi ở đó một mình. Chiếc áo sơ mi bộ đội bạc màu sờn cả cổ tay được thầy xắn cao quá khuỷu, để lộ đôi cánh tay gầy guộc đầy sẹo bỏng mỏ hàn. Thầy ngồi lọt thỏm giữa những đống linh kiện máy tính cũ nát, những sợi cáp dẹp IDE màu xám bụi bặm, cùng hàng trăm chiếc đĩa mềm rải rác khắp các mặt bàn gỗ ghép thô sơ.

Thầy Dũng không chỉ kiên nhẫn giảng giải cho tôi những cấu trúc dữ liệu phức tạp, cách cài đặt thuật toán quy hoạch động trên mảng một chiều hay phương pháp khử đệ quy bằng ngăn xếp tự tạo, mà thầy còn tỉ mỉ uốn nắn tôi từng thao tác kỹ thuật phần cứng và bảo trì hệ thống thực tế nhất. Chiếc máy tính cũ chắp vá nằm trong góc chái phụ ở bản Nà Ban hoạt động chập chờn chẳng khác nào một người mang trọng bệnh kinh niên trong mình, và thầy Dũng chính là người đã trang bị cho tôi những "toa thuốc" quý giá để giữ cho cỗ máy ấy không đột ngột bốc khói giữa chừng.

— Cái máy của mày ráp toàn bằng đồ thải loại gom nhặt từ ba bốn đời máy khác nhau, bộ nguồn của nó yếu ớt hệt như một đứa trẻ bị suy dinh dưỡng nặng — Thầy Dũng vừa nói vừa cầm chiếc tuốc-nơ-vít hai đầu gõ lách cách vào sơ đồ khối bo mạch chủ mà thầy tự tay vẽ bằng phấn trắng trên tấm bảng đen — Muốn nó sống dai, sống thọ để mày có cái mà học, nguyên tắc đầu tiên là tuyệt đối cấm cài đặt linh tinh bừa bãi. Bất cứ phần mềm hay trò chơi vô bổ nào không phục vụ trực tiếp cho việc viết code thuật toán, dẹp hết ngay lập tức cho tao. Mỗi lần mày tống thêm một mớ rác rưởi vào hệ thống, là mày đang bắt cái ổ cứng hai mươi gigabyte còm cõi kia phải nai lưng gánh thêm một bao thóc nặng, hiểu chưa?

Thầy kéo ngăn kéo chiếc bàn làm việc cũ kỹ bằng gỗ ép đã bong tróc, lôi ra một cọc đĩa mềm Maxell được dán nhãn giấy trắng và đánh số thứ tự cẩn thận bằng mực tím:

— Đây là bộ đĩa diệt virus D32 do chính kỹ sư Trương Minh Nhật Quang viết, kèm theo bản Bkav chạy trong môi trường DOS cổ điển của anh Nguyễn Tử Quảng. Trên cái đất Nà Ban của mày thì làm quái gì có mạng Internet mà sợ tin tặc, nhưng cái thứ virus lây lan qua đường đĩa mềm từ mấy quán net đánh game, in ấn văn bản ngoài phố huyện thì độc hại vô cùng. Cứ mỗi lần mày nhận một cái đĩa mềm nào từ bên ngoài cắm vào máy, thao tác bắt buộc đầu tiên là phải khởi động máy vào thẳng môi trường DOS rồi chạy lệnh quét virus sạch sẽ, tuyệt đối không được mở đĩa trực tiếp trong giao diện Windows. Mày lơ là bước này một lần thôi, virus nó xơi nát cái bảng phân vùng FAT32 thì coi như công sức cả năm trời đổ sông đổ biển!

— Dạ, em nhớ kỹ rồi thưa thầy — Tôi đứng nghiêm trang bên cạnh, hai mắt chăm chú dõi theo từng nét chữ, từng dòng lệnh tham số mà thầy nắn nót viết mẫu ra mép một tờ giấy nháp.

Thầy Dũng ngước mắt nhìn tôi, ánh mắt sắc sảo nhưng chứa chan sự bao dung ẩn sau đôi tròng kính cận dày cộp buộc dây thun quanh gọng:

— Còn một cái bệnh nan y nữa của mày mà tao phải trị cho dứt điểm: cái thói làm ẩu, làm tắt vì cậy mình sáng dạ! Cái đợt thi học sinh giỏi tỉnh năm ngoái mày trượt giải nhì xuống khuyến khích là vì cái gì? Vì đói lả, vì luống cuống tâm lý, và vì mày chủ quan nghĩ mình thông minh nên tự ý nhảy cóc qua các bước kiểm tra điều kiện biên của bài toán! Trong khoa học kỹ thuật máy tính, mày không bao giờ được phép đặt cược vận mệnh của mình vào sự may rủi hay trực giác mơ hồ.

Nói đoạn, thầy lật mặt sau của tờ giấy nháp trắng, dùng chiếc bút dạ mực đỏ tươi kẻ dứt khoát năm dòng kẻ thẳng tắp:

— Tao lập cho mày một bản danh sách năm bước thao tác kỹ thuật chuẩn mực này. Đem về nhà, lấy nhựa mít dán chặt nó ngay vào góc bàn cạnh mép màn hình cho tao. Cứ mỗi lần ngồi vào máy là phải nhẩm và làm đúng theo thứ tự từng bước một, cấm tuyệt đối không được đốt cháy bất kỳ giai đoạn nào: Một: Kiểm tra kỹ lưỡng điện áp nguồn, rà soát lại các điểm nối dây điện trần xem có bị hở hay ẩm ướt không trước khi bật công tắc chính. Hai: Lắng nghe thật cẩn thận tiếng bíp phát ra từ loa bo mạch chủ khi kiểm tra phần cứng (POST) và tiếng rít quay đĩa của ổ cứng để phát hiện dấu hiệu hỏng hóc sớm nhất. Ba: Chỉ được phép mở duy nhất một ứng dụng cần thiết tại một thời điểm làm việc; thường xuyên dùng lệnh hệ thống kiểm tra dung lượng RAM khả dụng. Bốn: Cứ sau đúng mười lăm phút gõ phím liên tục, bắt buộc phải lưu mã nguồn lại một lần, đồng thời tạo một bản sao dự phòng mang đuôi `_bak` có đánh số thứ tự tăng dần. Năm: Trước khi thực hiện lệnh tắt máy, bắt buộc phải đồng bộ toàn bộ dữ liệu mới vào đĩa mềm dự phòng và xóa sạch mọi tệp tin rác tạm thời trong thư mục `TEMP`.

Thầy ấn mạnh mẩu giấy gấp tư vào lòng bàn tay chai sần, thô ráp của tôi, giọng gằn xuống từng tiếng nặng trịch:

— Học thuộc lòng như cháo chảy năm cái điều này cho tao. Mày là con nhà nghèo rớt mồng tơi, mày không có tiền mua máy mới nếu cỗ máy kia chẳng may chập cháy đâu, Nam ạ. Giữ cho cái máy cọc cạch ấy chạy êm, chạy bền, cũng chính là giữ lại cho mày cái con đường duy nhất để bước chân xuống giảng đường đại học dưới Hà Nội đấy!

Tôi run rẩy đón lấy mảnh giấy từ tay thầy, cẩn thận gấp lại làm tư rồi nhét sâu vào túi áo ngực bên trái, nơi có cuốn sổ tay chép những bài thơ viết dở của mẹ Mai. Lời răn dạy của thầy Dũng chưa bao giờ đơn thuần là những chỉ dẫn cơ học khô khan về vi mạch, thanh ghi hay cấu trúc phần mềm. Đó là những bài học nhập môn về sự cẩn trọng, tính kỷ luật thép và tinh thần trách nhiệm trước từng dòng mã—những thứ vũ khí tinh thần duy nhất mà một đứa trẻ mồ côi nghèo đói có thể bấu víu vào để không bị guồng quay khắc nghiệt của cuộc đời nghiền nát thành tro bụi.

Những lời chỉ dẫn cặn kẽ của thầy Dũng không nằm yên trên trang giấy gấp tư nhét nơi túi áo ngực. Chúng nhanh chóng bước vào đời sống chật vật thường nhật của tôi như một thứ công cụ mưu sinh nhỏ nhoi nhưng vô cùng bền bỉ.

Ở chốn núi rừng Nà Ban này, tin tức truyền miệng giữa các bản làng còn nhanh hơn cả những cuốc bộ qua đỉnh đèo Ban Nà. Người ta bắt đầu rỉ tai nhau rằng thằng cháu mồ côi côi cút nhà ông Lương, cái thằng đang theo học lớp chọn ngoài trường huyện, có cái tài kỳ lạ là biết cách làm cho mấy cỗ máy tính cũ kỹ, rỉ sét ở ủy ban xã hay nhà các thầy cô giáo chạy êm ru trở lại mà không đòi hỏi tiền công bạc triệu như cánh thợ sửa chữa dưới xuôi hay ngoài tỉnh lên.

Khách hàng đầu tiên tìm đến tôi là chú Cường, cán bộ văn phòng hội đồng nhân dân xã Nà Ban. Chú mang đến tận phòng máy của trường một chiếc máy tính để bàn cổ lỗ sĩ chạy hệ điều hành Windows 95, cài bộ gõ tiếng Việt ABC bị lỗi xung đột bảng mã trầm trọng. Cứ mỗi lần chú soạn thảo công văn, hễ gõ đến những chữ in hoa có dấu là trên màn hình Word lại nhảy loạn xạ ra toàn những ký tự giun dế ngoằn ngoèo không đọc nổi, khiến chú trễ hạn nộp báo cáo tổng kết quý lên huyện cả tuần lễ.

Thầy Dũng bảo tôi cứ nhận làm giúp chú, nhưng trước khi tôi kịp chạm một ngón tay vào bàn phím, thầy đã đứng khoanh tay sừng sững ngay phía sau lưng, đôi mắt nghiêm nghị nhìn chằm chằm nhắc nhở:

— Mày hỏi chú ấy trước đi. Hỏi xem trong toàn bộ các ổ đĩa kia, có cái văn bản hay tài liệu nào sống chết cũng không được phép để mất không.

Tôi đứng thẳng người trước bàn làm việc của chú Cường, hai bàn tay đan chặt vào nhau sau lưng theo đúng lễ phép, cất giọng rành rọt từng lời:

— Thưa chú Cường, trước khi cháu gỡ bỏ bộ gõ cũ để cài đặt lại phần mềm Unikey và nạp lại hệ thống phông chữ mới, chú cho cháu hỏi kỹ là trong các ổ đĩa của máy, có văn bản, báo cáo hay tài liệu thống kê quan trọng nào của xã cần phải giữ lại nguyên vẹn không ạ?

Chú Cường phẩy tay cười lớn, vẻ mặt đầy vẻ xua xoa vô tư:

— Ôi dào, cái thằng cẩn thận quá mức! Toàn mấy cái công văn giấy tờ hành chính luân chuyển thường kỳ chứ có phải vàng ngọc gì trong đó đâu mà mày sợ! Mày cứ bấm bấm làm sao cho nó khởi động lại mà gõ được trơn tru chữ tiếng Việt có dấu để chú in ra ký là được rồi!

— Dạ thưa chú, không làm thế được đâu ạ — Tôi kiên quyết lắc đầu, trong đầu lập tức hiện về bài học xương máu từng khiến cô Hạnh phải thức trắng trọn ba đêm chép tay lại từng trang danh sách học sinh nghèo được miễn giảm học phí — Nếu chú không chỉ rõ cho cháu thư mục nào cần bảo toàn, cháu xin phép chưa thể can thiệp vào hệ thống. Cháu phải xin phép mượn đĩa mềm của thầy Dũng để chép lưu toàn bộ các tệp văn bản có đuôi `.doc` và bảng tính đuôi `.xls` trong máy sang đĩa ngoài trước đã. Khi nào sao lưu an toàn tuyệt đối rồi, cháu mới dám thao tác tiếp trên hệ điều hành.

Nhìn thấy vẻ mặt nghiêm túc, đĩnh đạc đến mức bướng bỉnh của một thằng nhóc gầy gò mặc manh áo chàm vá vai chằng chịt, chú Cường thôi không cười cợt nữa. Chú lẳng lặng ngồi xuống ghế, mở từng thư mục con trên màn hình chỉ cho tôi các tệp dữ liệu về dự toán ngân sách xã và danh sách cử tri cần phải lưu trữ tuyệt đối.

Tôi cẩn thận nhét chiếc đĩa mềm Maxell mượn của thầy Dũng vào khe đọc, kiên nhẫn lắng nghe tiếng rọt rẹt quen thuộc vang lên, rồi chép từng thư mục quan trọng sang đĩa dự phòng. Xong xuôi, tôi mới khởi động lại máy vào chế độ dòng lệnh an toàn, gỡ bỏ sạch sẽ bộ gõ cũ bị xung đột thư viện liên kết động (`.dll`), dọn dẹp các khóa đăng ký (`registry`) bị hỏng, rồi cài đặt bộ gõ tiếng Việt chuẩn mới cùng bảng mã tương thích.

Khi dòng chữ tiếng Việt có dấu hiện lên ngay ngắn, tròn trịa trên trang soạn thảo văn bản trong tiếng thở phào nhẹ nhõm của chú Cường, tôi mới khẽ buông một hơi thở dài khoan khoái, cảm giác như một gánh nặng ngàn cân vừa được nhấc ra khỏi đôi vai gầy.

Ít lâu sau, lại đến lượt cô Lan dạy môn Địa lý ở trường huyện nhờ tôi kiểm tra cỗ máy tính xách tay cũ kỹ do người bà con dưới Hà Nội thải loại cho. Chiếc máy chạy chậm chạp như rùa bò, mỗi lần cô mở một tệp bản đồ số hóa để soạn giáo án là ổ cứng lại rít lên từng hồi thắt ruột rồi đứng trơ ra như khúc gỗ mục.

Tôi không hề vội vàng đưa đĩa vào format lại toàn bộ ổ cứng như cái thói nông nổi, ngông nghênh thuở mới biết bấm máy. Tôi ngồi bệt xuống thềm nhà cô, dùng đĩa mềm công cụ khởi động từ môi trường DOS để quét sạch hàng trăm megabyte tệp tin rác tạm thời nằm vương vãi trong các thư mục ẩn, tắt bớt các tiến trình ngầm không cần thiết khởi động cùng Windows, chạy chương trình kiểm tra bề mặt đĩa từ và sắp xếp lại toàn bộ cây thư mục tài liệu giảng dạy cho cô một cách ngăn nắp, khoa học.

Trước khi trao trả máy cho cô Lan, tôi luôn lấy chiếc bút bi nắn nót ghi vào một mẩu giấy nhỏ dán ngay ngắn phía sau lưng máy: ngày tháng dọn dẹp, dung lượng bộ nhớ trống sau khi tối ưu hóa, và một dòng chữ in hoa dặn cô tuyệt đối không được cắm những chiếc đĩa mềm lạ vào máy khi chưa được quét diệt virus cẩn thận.

Những công việc phụ giúp vụn vặt ấy dĩ nhiên không thể mang lại cho tôi những món tiền lớn lao. Đôi khi tiền thù lao nhận được chỉ là mười nghìn, mười lăm nghìn đồng gói ghém cẩn thận trong một mảnh giấy báo gấp mép; có khi lại là một nải chuối tiêu chín bói thơm lừng, một gói xôi nếp nương bọc trong lá chuối còn ấm sực, hay dăm ba quả trứng gà ta mới đẻ còn dính nguyên lông tơ mịn màng.

Số tiền ít ỏi ấy hoàn toàn không thể làm thay đổi được mâm cơm độn sắn mốc chan nước vắt tro mặn chát của gia đình bác Lương, càng không thể giúp tôi trả nổi món nợ áo quan nặng nề mà người cha đã khuất để lại trên lưng tôi.

Thế nhưng, đối với bản thân tôi, từng tờ tiền lẻ nhàu nát được tôi vuốt phẳng phiu rồi nhét sâu dưới đáy túi áo lại mang một ý nghĩa thiêng liêng vô bờ bến.

Nhờ những đồng tiền mồ hôi nước mắt tự tay làm ra ấy, tôi đã có thể tự mua cho mình những tập vở viết giấy Bãi Bằng mới tinh có dòng kẻ màu xanh rõ nét, thay vì phải cặm cụi viết chen chúc trên từng khoảng trống li ti của những tờ giáo án bỏ đi. Tôi tự mua được vài chiếc ngòi bút bi Kim Thành nét mảnh, một lọ mực Cửu Long màu xanh thẫm, và mua lại được vài cuốn sách tài liệu ôn thi đại học môn Toán, môn Vật lý cũ kỹ do các anh chị khóa trước bán lại ở hiệu sách huyện.

Lần đầu tiên trong suốt mười bảy năm sống côi cút trên cõi đời này với thân phận một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, luôn bị định giá bằng từng bát mèn mén nuốt vội và từng gùi phân trâu dọn sạch, tôi run rẩy nhận ra một sự thật kỳ diệu: trí óc và đôi bàn tay lam lũ của tôi, thông qua cỗ máy tính cũ kỹ và những dòng lệnh logic nghiêm ngặt, có thể tự nuôi sống một phần con đường học vấn của chính mình. Tôi không còn hoàn toàn là một kẻ ăn bám bất lực, chỉ biết cúi đầu câm lặng chịu đựng từng lời đay nghiến trong mỗi bữa cơm nghèo.

Thế nhưng, sự thay đổi âm thầm ấy của tôi không tài nào qua nổi đôi mắt dò xét, lạnh tanh như lưỡi dao của bác Lương.

Bác không hiểu và cũng không bao giờ buồn hiểu chiếc máy tính thực chất là cái thứ gì. Trong thế giới quan thô ráp của một người đàn ông cả đời gắn chặt kiếp sống với cái cán cuốc, lưỡi rựa và những triền nương ngô dốc đứng khô cằn, vạn vật trên đời chỉ được chia làm hai loại duy nhất: thứ làm ra hạt thóc, hạt ngô bỏ vào mồm để sống, và thứ vô bổ chỉ làm con người ta trở nên lười biếng, hư hỏng.

Bác bắt đầu để ý thấy tôi thường xuyên thức dậy vào mỗi buổi sớm với đôi mắt đỏ hoe, vằn lên những tia máu đỏ vì thiếu ngủ triền miên. Bác để ý thấy tôi luôn tính toán giờ giấc một cách chi ly đến từng phút từng giây, vừa tan tiết học ngoài trường huyện là cắm đầu cắm cổ đi bộ thục mạng về bản cho kịp giờ gánh nước, rồi sau bữa cơm tối lại giam mình lì lợm hàng giờ liền trong góc gian chái phụ tối tăm.

Cái góc chái phụ ấy bao năm nay vốn dĩ chỉ là nơi vứt mấy cái đó bắt cá rách nát, đống củi ngo mục và bồ tro bếp ẩm ướt, nay lại được che chắn quá đỗi cẩn thận bằng những tấm bao tải gai dày, những liếp tre đan kín và đống sách báo cũ xếp tầng tầng lớp lớp. Thỉnh thoảng, vào những đêm khuya thanh vắng khi bước ngang qua vách nứa ra ngoài hè đi tiểu, bác nghe thấy những tiếng lạch cạch khô khốc phát ra đều đặn như tiếng người ta gõ đá, cùng thứ âm thanh vo vo rầu rĩ của một cánh quạt cơ khí phả ra mùi khét lẹt đặc trưng của đồ điện tử nóng ran.

Một buổi chiều mùa đông xám xịt, khi tôi vừa gùi xong chuyến nước mó thứ sáu đổ đầy tràn hai chiếc chum sành lớn đặt dưới gầm sàn, bác Lương bất ngờ đứng chắn ngang lối đi duy nhất nối giữa sân gạch và gian chái phụ.

Bác cầm chiếc điếu cày bằng tre bóng loáng nước thuốc lào kẹp dưới nách, nhổ toẹt một bãi nước bọt đỏ quạch xuống nền đất ẩm sát ngay mũi chân tôi. Đôi mắt bác đục ngầu, hằn lên những nếp nhăn sâu hoắm như vết chém của lưỡi rựa trên thân cây gỗ nghiến già:

— Mày dạo này khôn lanh gớm nhỉ? Chiều nào tan trường ngoài huyện cũng đâm đầu chạy về bản như có ma đuổi sau lưng, rồi chui rúc lì lợm vào cái xó tối ấy làm cái trò gì trong đó? Mày giấu cái của nợ gì sau đống bao tải rách kia? Nói!

Lồng ngực tôi thắt lại nghẹt thở, nhưng tôi cố bấm chặt các đầu ngón tay vào đùi, giữ cho ánh mắt mình không chao đảo:

— Dạ thưa bác, cháu chỉ cất sách vở với mấy tập tài liệu cô Hạnh cho mượn thôi ạ. Cháu tranh thủ ban đêm học thêm bài vở để kịp kỳ thi tốt nghiệp sắp tới.

Bác Lương hừ một tiếng khô khốc từ tận cuống họng, tiếng cười gằn nghe buốt lạnh hơn cả những cơn gió mùa đông bắc đang tràn qua thung lũng:

— Sách với chả vở! Học cho lắm, nhét cho đầy chữ vào đầu rồi chữ có mài ra thành gạo cho cả cái nhà này ăn thay cơm được không? Mày tưởng mắt tao mù, tai tao điếc mà không biết mày thức chong chong đến tận canh ba, canh tư à? Mày thức cho đẫy mắt ra đấy, rồi ban ngày lên nương vác cái cán cuốc như thằng chết trôi chết dạt! Nương ngô bên Pha Luông vụ này cỏ mọc lút đầu gối, đá hộc lăn trơ khấc ra kia kìa! Tao cần một thằng biết làm việc quần quật, biết đổ mồ hôi ra đất để gánh nợ thay cho bố mày, chứ tao không cần nuôi báo cô một thằng thầy đồ rởm chỉ biết thắp đèn hun khói đen thui cả vách nứa!

Nói dứt lời, bác quày quẩy quay lưng bước lên nhà trên, từng bước chân nện thình thịch làm rung chuyển cả những bậc thang gỗ nghiến ken két.

Tôi đứng chôn chân giữa khoảng sân lạnh ngắt. Từng cơn gió buốt thốc qua chiếc áo vải mỏng manh làm da thịt tôi nổi gai ốc từng chập. Bác Lương tuy chưa tận mắt nhìn thấy cỗ máy Pentium III nằm ẩn sau lớp bao tải gai, nhưng bản năng sinh tồn nghiệt ngã của một người nông dân vùng cao đã mách bảo cho ông biết rằng: có một thứ gì đó vô hình đang dần cướp đi những giờ lao động mà ông muốn tôi phải dùng toàn bộ thể xác để cống hiến cho nương rẫy, để trả món nợ máu thịt của người cha đã khuất.

Tôi hiểu rất rõ rằng mình không bao giờ được phép lùi bước, nhưng cái giá phải trả cho sự kiên trì ấy đang đè nặng lên từng thớ cơ, từng mạch máu trong cơ thể gầy gò của tôi qua từng ngày, từng giờ.

Để bác Lương không thể tìm ra bất kỳ một cái cớ nào tước đoạt cỗ máy hay bắt tôi phải nghỉ học, tôi tự vắt kiệt sức lực của mình đến những giọt tàn lực cuối cùng. Tôi vẫn cắn răng thức dậy từ bốn giờ sáng để gánh nước mó, quét dọn phân chuồng, băm chuối nấu cám cho lợn. Chiều tan trường, tôi vác cuốc leo thoăn thoắt lên dốc Ban Nà, bổ từng nhát cuốc cật lực xuống mảnh nương Pha Luông khô khốc đầy đá nhọn cho đến khi mặt trời lặn hẳn sau những rặng núi đá vôi xám xịt.

Mười đầu ngón tay tôi nứt toác vì lạnh buốt và đất ráp cọ xát, máu tươi rỉ ra bết dính vào cán gỗ thô ráp. Tôi không dám bỏ dở một luống ngô nào, không dám để hai chiếc chum sành vơi đi dù chỉ một gáo nước nhỏ.

Thế nhưng, thể xác con người bằng xương bằng thịt rốt cuộc không phải là một cỗ máy làm bằng kim loại, càng không phải là một thuật toán vô tận không biết đến mỏi mệt.

Một buổi tối giáp Tết Nguyên đán, sau khi đã cuốc xong trọn vẹn hai sào đất nương dốc đứng và gùi hai bó củi dẻ gai nặng trĩu về xếp dưới gầm sàn, tôi vừa bước chân lên hiên nhà thì bác dâu Sương đã hất hàm chỉ tay vào một góc sân đầy ắp những bắp ngô giống vừa thu hoạch còn nguyên lớp vỏ khô ráp:

— Bóc sạch chỗ ngô bắp này ra, tẽ hết hạt bỏ vào hai cái bồ cói rồi mới được đi ngủ. Sáng mai lái buôn dưới huyện người ta đánh xe tải vào thu gom sớm đấy, cấm có để sót một bắp nào!

Tôi không dám mở miệng nói một lời từ chối. Bụng dạ đói cồn cào chỉ có lưng bát cơm nguội độn sắn khô ăn vội lúc chập tối, tôi lặng lẽ ngồi bệt xuống góc hiên nhà lạnh buốt, lấy chiếc ghế đẩu thấp kê mông rồi cặm cụi bóc từng lớp vỏ ngô ráp xơ xác.

Đầu ngón tay cái của tôi đã tẽ ngô nhiều đến mức trợt hết cả lớp da ngoài, móng tay bật máu tứa ra, xót buốt đến tận óc mỗi khi phải tì mạnh vào từng hàng hạt ngô cứng như đá cuội.

Đêm càng về khuya, sương muối buốt giá càng phủ dày đặc trên mái tôn xi măng fibro xám ngoét, nhỏ xuống hiên nhà từng giọt nước lạnh tanh tách đều đặn như tiếng đếm thời gian nghiệt ngã của số phận. Tiếng chuông chiếc đồng hồ quả lắc từ nhà trên điểm mười hai tiếng trầm đục, vang vọng khắp thung lũng Nà Ban vắng lặng.

Trong tâm trí quay cuồng vì kiệt sức của tôi, những dòng lệnh Free Pascal về thuật toán Dijkstra tìm đường đi ngắn nhất trên đồ thị có trọng số, những cấu trúc dữ liệu cây nhị phân tìm kiếm mà thầy Dũng vừa giảng hồi chiều cứ nhảy múa chập chờn, xen lẫn với hình ảnh cỗ máy tính đang nằm im lìm trong bóng tối góc chái phụ. Tôi thèm được mở máy biết bao, thèm được nghe tiếng quạt gió ro ro quen thuộc, thèm được gõ mười đầu ngón tay lên bàn phím để nhìn thấy con trỏ nhấp nháy dòng lệnh `Program Duong_Ve_Phuong_Nam;` hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời này.

Thế nhưng mi mắt tôi nặng trĩu như thể có ai đeo chì vào từng sợi mi. Cơn buồn ngủ ập đến dữ dội như một cơn lũ quét sau chuỗi ngày dài đằng đẵng bị vắt kiệt thể lực và thiếu ăn triền miên.

Hai bàn tay tôi từ từ buông lỏng khỏi bắp ngô dở dang, đầu tôi gục dần xuống đống bẹ ngô xơ xác rải rác dưới đất. Giữa cơn mê man chập chờn không trọng lượng, tôi thấy mình đang chạy trên một cánh đồng hoa ban trắng muốt nở rộ khắp thung lũng, phía xa xa là giảng đường Bách khoa Hà Nội cao vút rực rỡ ánh đèn điện mà thầy Dũng từng miêu tả. Tôi cố sức với tay về phía luồng sáng kỳ diệu ấy, nhưng đôi chân tôi như bị trói chặt bởi những sợi rễ ngô gai góc và những tảng đá hộc nặng trịch của dốc Ban Nà.

— Anh Nam! Anh Nam ơi! Tỉnh lại mau lên!

Một bàn tay nhỏ bé, thô ráp lay thật mạnh vào bả vai khiến tôi giật bắn mình choàng tỉnh giấc.

Trước mắt tôi, Lan đang ngồi xổm bên cạnh, chiếc đèn dầu hoa kỳ cầm trên tay soi rõ khuôn mặt tái mét, đầy vẻ hoảng hốt của em. Gió lạnh thốc qua hiên nhà làm ngọn lửa nhỏ chao đảo dữ dội. Tôi bàng hoàng nhận ra trán mình đang dính đầy những sợi râu ngô khô ráp, nửa thân trên gục trọn vào lòng chiếc thúng tre, và góc trời phía đông sau đỉnh núi Pha Luông đã bắt đầu ửng lên những vệt sáng màu xám tro đùng đục của buổi bình minh.

Gà trong bản Nà Ban đã cất tiếng gáy ran ran lần thứ hai.

— Anh ngủ quên từ nửa đêm đến giờ đấy có biết không? — Lan hạ thấp giọng thì thào, hai bàn tay thoăn thoắt đưa vào thúng tẽ nốt những bắp ngô còn lại giúp tôi — May mà em dậy sớm nhóm bếp thấy anh nằm còng queo ở đây. Bố mà thức giấc bước ra sân thấy đống ngô này chưa xong, rồi nhìn cái mặt bơ phờ kiệt sức này của anh thì bố giết!

Tôi bàng hoàng đưa hai bàn tay tê dại lên xoa mạnh vào mặt, nghe tim mình đập thình thịch những nhịp đứt quãng đầy sợ hãi. Cơn ớn lạnh từ sống lưng chạy dọc lên đỉnh đầu. Giới hạn thể chất của tôi đã thực sự chạm đáy. Lời cảnh báo nghiêm khắc của cô Hạnh và thầy Dũng sau lần tôi ngất xỉu dưới chân cầu thang trường huyện lại dội về văng vẳng bên tai: *"Tư chất thông minh không thể nào bù đắp nổi cho một thể xác đói lả và kiệt quệ."*

Tôi hiểu ra một sự thật cay đắng và tàn nhẫn: việc tôi giấu được một cỗ máy tính trong gian chái phụ, việc tôi biết viết những dòng mã giải thuật tinh vi hay kiếm được vài đồng bạc lẻ từ việc sửa máy thuê, hoàn toàn không thể miễn trừ cho tôi cái giá thể xác nghiệt ngã mà số phận bắt buộc tôi phải trả để tồn tại. Muốn chạm tay vào giảng đường đại học năm 2013, muốn bước chân xuống Hà Nội, tôi không chỉ phải chiến đấu với sự nghèo đói và những định kiến sắt đá của bác Lương, mà còn phải học cách sinh tồn trên chính bờ vực mong manh của sức chịu đựng thể xác mình.

Tôi vội vàng cùng Lan tẽ nốt những hạt ngô cuối cùng, đổ đầy vào hai chiếc bồ cói rồi quét sạch bẹ ngô khô vào góc hiên. Khi hạt ngô cuối cùng vừa rơi vào bồ, cánh cửa gỗ lim của gian nhà chính bỗng bật mở với một tiếng *két* chói tai.

Bác Lương bước ra ngoài hiên, chiếc rựa đi rừng sáng loáng dắt bên hông, đôi mắt vằn tia máu nhìn thẳng trừng trừng vào góc chái phụ nơi tôi vừa bước ra. Giọng ông trầm đục, sắc lạnh vang lên giữa màn sương sớm buốt giá:

— Nam! Mày bước ra sân ngay cho tao! Cái thứ máy móc dây dợ mày giấu sau đống bao tải kia ở đâu ra? Nói!

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories