Hồ Sơ Thám Tử Lâm PhongCh.4 / 24
Chapter 4

Mực Đỏ Tiệm Kim Phúc

Tiếng còi xe máy xen lẫn tiếng động cơ xe buýt từ ngã tư Đinh Lễ dội qua tán sấu già, hắt lên khung cửa kính tầng hai của căn phòng số mười hai một thứ tạp âm khô khốc, quen thuộc của trung tâm Hà Nội khi phố xá bắt đầu cựa mình vào giờ cao điểm. Những chấn song gỗ lim sơn xanh đã bong tróc từng mảng theo năm tháng, để lộ thớ gỗ xám xịt bạc phếch vì mưa nắng gió sương.

Gió lạnh đầu mùa theo chân người luồn qua khe cửa liếp phía dưới tiệm sách Mực Nâu, cuốn theo mùi ẩm mục của những chồng sách cũ tích trữ từ thập niên tám mươi, ngai ngái mùi keo dán giấy đã khô quắt, hòa quyện với cái buốt thấu xương của lớp sương sớm còn đọng lại trên mặt hồ Gươm cách đó vài trăm mét. Trong gian phòng làm việc nhỏ hẹp chỉ chừng hai mươi mét vuông, ánh sáng tự nhiên xam xám lọt qua rèm vải thô, rọi xiên lên chiếc bàn gỗ gụ mộc mạc chưa từng đánh véc-ni.

Lâm Phong ngồi đó, tĩnh lặng như một pho tượng tạc giữa dòng chảy vội vã ngoài khung cửa. Ngón tay thon dài, hơi gầy nhưng các khớp xương rắn rỏi, khẽ xoay nhẹ chiếc chén men lam vẽ cảnh sơn thủy. Khói từ làn nước trà mạn Thái Nguyên bốc lên mong manh, mang theo phong vị chát đượm đầu lưỡi rồi đọng lại vị ngọt hậu sâu hoắm nơi cuống họng. Ngay trước mặt anh, chiếc bàn cờ tướng bằng gỗ trắc đen bóng khảm trai vẫn nằm im lìm trong góc bàn; các quân cờ bằng sừng trâu ngả màu thời gian đang dừng lại ở một thế tàn cuộc hiểm hóc — ván cờ thế bỏ dở suốt ba năm nay, từ cái đêm định mệnh mà người thầy của anh, cựu điều tra viên kỳ cựu Nguyễn Đức Minh, vĩnh viễn không trở về sau một vụ tai nạn giao thông đầy uẩn khúc trên đường đê Yên Phụ.

Ở góc bàn phụ bên tay phải, đối diện với giá sách chất đầy tài liệu lưu trữ và các chuyên khảo về giám định hình sự, Trần Minh Ngọc đang chăm chú làm việc. Mười đầu ngón tay của cô gái trẻ lướt thoăn thoắt trên bàn phím chiếc laptop phủ kín những tấm nhãn dán kỷ niệm từ thời còn là sinh viên báo chí. Tiếng lách cách gõ phím vang lên đều đặn, dứt khoát, thi thoảng lại ăn nhịp với tiếng chuông gió bằng đồng treo ngoài mép ban công, mỗi lần gió bấc thốc qua lại phát ra những âm thanh kim khí lanh lảnh, cô tịch.

Bầu không khí yên ả ấy vụt tan biến khi cánh cửa gỗ dày hé mở. Một luồng nước hoa đắt tiền mùi hoa diên vĩ nồng gắt, mang hơi hướng lạnh lùng của giới thượng lưu, ùa vào phòng trước cả khi chủ nhân của nó đặt chân qua bậc cửa.

Lê Mai Anh bước vào.

Người phụ nữ trạc ba mươi lăm tuổi, khoác trên mình bộ âu phục lụa màu than chì được may đo chuẩn xác theo số đo hình thể, từng đường ve áo, nếp gấp quần tây đều phẳng phiu tuyệt đối. Tay phải cô xách một chiếc cặp tài liệu bằng da thuộc cao cấp màu nâu sẫm, viền kim loại sáng bóng với hai ổ khóa mã số bằng đồng nguyên khối nằm ngay ngắn bên quai xách.

Mai Anh dừng lại đúng ba bước cách bàn làm việc của Phong. Ánh mắt cô sắc sảo, cảnh giác lia một vòng chớp nhoáng khắp các ngóc ngách của căn phòng: từ chiếc giá sách bừa bộn những hồ sơ lưu trữ bìa các-tông ngả vàng, góc treo mấy tấm ảnh chụp đen trắng các góc phố Hà Nội xưa, cho đến tách trà bốc khói và người đàn ông trẻ tuổi đang ngồi đối diện. Dưới ánh sáng le lói của buổi ban mai, lớp phấn nền trang điểm kỹ lưỡng cũng không tài nào che lấp được quầng thâm sậm màu dưới mi mắt dưới, cùng những nếp nhăn li ti nơi khóe miệng đang mím chặt lại thành một đường thẳng thừng, đanh thép.

“Anh Lâm Phong?”

Cô mở lời. Âm sắc của người phụ nữ này đanh gọn, dứt khoát, âm vực hơi trầm nhưng mang đầy tính chỉ huy — khẩu khí điển hình của một kẻ đã quen với việc đưa ra mệnh lệnh trong các cuộc họp hội đồng quản trị và buộc người khác phải tuân phục.

“Tôi là Lê Mai Anh. Con gái trưởng kiêm Phó tổng giám đốc điều hành của Công ty Vàng bạc Đá quý Kim Phúc trên phố Hàng Bạc. Tôi đến đây vì một ủy thác đặc biệt mang tính chất sinh tử của gia tộc, đòi hỏi sự bảo mật tuyệt đối trước khi gia đình tôi chính thức công bố việc phân chia quyền thừa kế và quản trị vào cuối tuần này.”

Phong không vội ngẩng mặt lên ngay. Anh thong thả đặt chén trà xuống chiếc đĩa sứ hoa chanh, tiếng gốm sứ chạm nhau khẽ vang lên một tiếng “cạch” thanh mảnh. Lúc này, đôi mắt đen sâu thẳm của anh mới nâng lên, nhìn thẳng vào gương mặt người phụ nữ vừa xuất hiện. Bằng một cử chỉ nhã nhặn nhưng giữ khoảng cách, Phong đưa tay hướng về chiếc ghế bọc da sờn đặt đối diện:

“Mời chị ngồi. Tiệm vàng Kim Phúc thì người đất Hà thành này không ai là không biết. Hơn bốn mươi năm nay, thương hiệu của gia đình chị luôn đứng đầu phố Hàng Bạc về kỹ nghệ chế tác vàng ta thủ công, đặc biệt là các sản phẩm vàng cưới và trang sức truyền thống có nguồn gốc từ phường thợ Đồng Xâm. Bản tin tài chính sáng hôm qua tôi có đọc qua, cụ thân sinh của chị — nghệ nhân kim hoàn Lê Kim Phúc — vừa đột ngột tạ thế sau một cơn nhồi máu cơ tim tại tư gia. Xin được gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới chị và toàn thể tang quyến.”

Mai Anh kéo nhẹ chiếc ghế da, ngồi xuống với tư thế thẳng lưng hoàn hảo, hai đầu gối khép chặt. Chiếc cặp da được cô đặt ngay ngắn lên đùi. Những ngón tay thuôn dài sơn móng màu mận chín bắt đầu miết nhẹ lên các con số của ổ khóa đồng. Một tiếng “tách” khô giòn vang lên trong không gian tĩnh mịch, nhưng cô không mở nắp cặp ngay mà dừng lại, ngước mắt nhìn Phong như muốn đo lường sức nặng của người đàn ông trước mặt:

“Cảm ơn lời chia buồn của anh. Nhưng thương trường không có chỗ cho nước mắt, và gia tộc chúng tôi không có thời gian để chìm đắm trong đau thương. Cha tôi ngã xuống quá nhanh, quá đột ngột, bỏ lại một cơ nghiệp trị giá hàng trăm tỷ đồng giữa lúc thị trường vàng đang biến động khôn lường. Một ngày tiệm vàng đóng cửa là hàng trăm mối quan hệ bạn hàng, hạn mức tín dụng và uy tín tích lũy nửa thế kỷ qua bị đe dọa. Điều may mắn duy nhất là cách đây nửa tháng, khi cảm thấy sức khỏe có dấu hiệu sa sút, cha tôi đã chủ động lập một bản di chúc toàn diện, niêm phong cẩn thận và cất giữ trong ngăn bí mật của chiếc két sắt đặt tại phòng làm việc tầng hai. Bản di chúc này quy định rất rõ: trao toàn bộ quyền sở hữu thương hiệu Kim Phúc, quyền điều hành sản xuất, mặt bằng kinh doanh tại Hàng Bạc cùng các bất động sản liên quan cho tôi — người duy nhất trong gia đình có trình độ quản trị và đủ năng lực gánh vác cơ nghiệp.”

Ở góc phòng, tiếng lách cách bàn phím của Ngọc đã ngừng hẳn từ lúc nào. Cô gái trẻ hơi nghiêng đầu, đôi mắt tinh anh chăm chú ghi nhận từng biến chuyển trên nét mặt của vị khách nữ.

Phong khẽ nâng chén trà, nhấp thêm một ngụm nhỏ, hơi ấm lan tỏa qua lòng bàn tay. Anh bình thản hỏi, giọng điệu không chút gợn sóng:

“Nếu bản di chúc đã được chính tay cụ thân sinh soạn thảo, cất giữ an toàn trong két sắt cá nhân, nội dung lại phân định dứt khoát và hoàn toàn có lợi cho vị thế của chị như vậy, thì điều gì có thể khiến một nữ doanh nhân quyết đoán như chị Mai Anh phải đích thân tìm đến một văn phòng thám tử tư vào đầu giờ sáng thế này?”

Mai Anh hơi cúi đầu, hai bờ vai khẽ rung lên một thoáng trước khi cô ngước lên. Ánh mắt cô lúc này không còn vẻ uy quyền áp đặt ban đầu, mà lóe lên sự toan tính đầy âu lo, phảng phất chút bất an sâu kín:

“Cha tôi là một nghệ nhân tài ba, nhưng tính khí cả đời ông vô cùng độc đoán, gia trưởng và bảo thủ đến mức nghiệt ngã. Ông luôn xem cái tiệm vàng này là cốt nhục, là mồ hôi nước mắt của tổ tiên dòng họ Lê, thà đập nát chứ tuyệt đối không bao giờ chấp nhận để nó rơi vào tay kẻ phá gia chi tử. Em trai tôi — Lê Quang Huy — từ nhiều năm nay đã trượt dài trong cờ bạc, cá độ bóng đá và giao du với những thành phần bất hảo ngoài xã hội. Trong bản di chúc tôi tìm thấy, cha tôi đã gạt phăng tên nó ra khỏi danh sách thừa kế tài sản doanh nghiệp, chỉ để lại một khoản tiền trợ cấp sinh hoạt tối thiểu hàng tháng thông qua một tài khoản phong tỏa, kèm theo điều kiện bắt buộc nó phải vào trung tâm cai nghiện và đoạn tuyệt hoàn toàn với giới giang hồ.”

Cô ngưng bặt, đầu ngón tay sơn đỏ bấm mạnh vào viền da của chiếc cặp, để lại một vết hằn lún sâu. Giọng cô hạ thấp xuống chỉ còn như tiếng thì thào:

“Vấn đề nằm ở chỗ… sáng hôm qua, khi tôi một mình mở két sắt để kiểm tra lại các văn bản pháp lý chuẩn bị cho phiên công bố di chúc trước dòng họ, tôi cảm thấy có điều gì đó… không thật sự bình thường. Tôi có cảm giác bất an tột độ về tính pháp lý nguyên bản của tài liệu. Tôi cần một người có chuyên môn độc lập, một chuyên gia phân tích hiện trường như anh, tới tận tiệm vàng để thẩm tra lại toàn bộ dấu vết vật lý xung quanh chiếc két sắt, xác thực xem văn bản đó có đúng là ý chí sau cùng không thể đảo ngược của cha tôi hay không, trước khi luật sư gia đình hoàn tất thủ tục công chứng tư pháp vào sáng thứ Bảy này.”

Một nụ cười thoáng hiện nơi khóe môi Phong, lạnh và sắc:

“Chị Mai Anh, trong các vụ tranh chấp di sản thừa kế, người được hưởng trọn vẹn quyền lợi thường chỉ mong văn bản được thực thi càng nhanh, càng kín đáo càng tốt. Việc một người thừa kế duy nhất lại chủ động bỏ tiền thuê thám tử tư để rà soát lại tính xác thực của một văn bản đang mang lại lợi ích tuyệt đối cho mình… chỉ có thể xảy ra trong hai trường hợp: hoặc chị biết rõ văn bản đó có tì vết chết người về mặt thủ tục; hoặc chị đang linh cảm thấy có một thế lực khác, một bên thứ ba nào đó, đang nắm giữ vũ khí để lật ngược toàn bộ thế cờ của chị.”

Sắc mặt Mai Anh thoắt biến đổi. Đôi môi tô son đỏ thẫm của cô hơi run rẩy, lớp vỏ bọc tự tin dường như xuất hiện một vết rạn nứt lớn. Cô hé miệng định nói thêm điều gì đó, nhưng chưa kịp phát ra âm thanh thì từ phía cầu thang gỗ bên ngoài hành lang tiệm sách, một chuỗi âm thanh hỗn loạn bỗng rộ lên.

“Thình thịch! Thình thịch!”

Tiếng bước chân người nện thô bạo lên từng bậc thang gỗ lim cổ kính, kèm theo tiếng thở dốc nặng nề và tiếng chửi rủa lầm bầm của một kẻ đang mất kiểm soát.

“Rầm!”

Cánh cửa gỗ văn phòng bị một lực đẩy cực mạnh xô tung ra, đập chan chát vào bức tường gạch phía sau làm tấm lịch treo tường rơi lệch sang một bên. Một luồng gió lạnh buốt từ ngoài thốc vào, mang theo mùi thuốc lá nồng nặc trộn lẫn mùi mồ hôi chua loét.

Một thanh niên trạc hai mươi lăm tuổi xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Anh ta mặc chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ sọc nhăn nhúm, vạt áo phanh rộng để lộ lồng ngực gầy trơ xương sườn. Mái tóc bù xù bết dính mồ hôi, hai mắt đỏ ngầu những tia máu vằn vện, và toàn thân anh ta đang run rẩy trong cơn kích động tột cùng.

“Lê Mai Anh! Mày trốn ở đây hả con đàn bà xảo quyệt!”

Người thanh niên gầm lên, cánh tay khẳng khiu giơ ra, ngón tay trỏ run bần bật chỉ thẳng vào mặt người phụ nữ đang ngồi bên bàn:

“Mày tưởng mày lén lút mò đến đây thuê người bịt miệng dư luận, làm giả hiện trường là có thể nuốt trọn toàn bộ tiệm vàng của bố để lại sao? Bố mới nằm xuống chưa ấm đất, mày đã cho người khóa chặt két sắt, đổi toàn bộ chìa khóa phòng làm việc, rồi cho hai thằng vệ sĩ đứng chặn ở cửa không cho tao bước chân vào nhà! Mày dùng mưu hèn kế bẩn gì để ép bố ký vào cái đống giấy lộn đó? Mày nói đi!”

“Huy! Cậu câm mồm lại ngay!”

Mai Anh bật dậy khỏi ghế như một chiếc lò xo bị nén hết cỡ, chiếc cặp da rơi phịch xuống mặt nệm da. Đôi mắt cô quắc lên giận dữ, nhưng dưới làn da phấn mỏng, sắc trắng bệch đã lan ra tận mang tai. Cô chỉ tay về phía cửa, gằn giọng quát:

“Đây là văn phòng làm việc của người ta, không phải cái xới bạc hay quán bar bẩn thỉu nơi cậu thường lui tới để cậu vào đây ăn vạ! Cậu bám đuôi tôi tới tận đây từ lúc nào? Cút ra ngoài ngay trước khi tôi gọi công an phường tống cổ cậu về đồn!”

“Tao bám đuôi mày đấy! Nếu tao không theo dõi thì làm sao biết mày đang giở trò ma quỷ sau lưng tao?”

Huy nghiến răng trèo trẹo, bước sấn tới một bước, hai nắm đấm siết chặt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. Cả người anh ta rung lên bần bật như người lên cơn sốt rét:

“Anh thám tử! Anh đừng có tin một lời nào của con mụ này! Bố tôi cả đời nghiêm khắc nhưng bố chưa bao giờ coi tôi là đồ rác rưởi bỏ đi! Đêm tuần trước, khi bố còn nằm trên giường bệnh ở khoa Tim mạch Bệnh viện Hữu nghị, chính tay bố đã nắm chặt lấy tay tôi! Bố khóc, bố bảo rằng cái cơ nghiệp Kim Phúc này là xương máu của bốn đời dòng họ Lê, bố sẽ chia đều tài sản làm hai phần bằng nhau để tôi có vốn làm lại cuộc đời, trả hết nợ nần mà cưới vợ sinh con! Bố biết tôi hư hỏng, nhưng bố không bao giờ tước đi quyền làm người của tôi! Chính con mụ này… chính nó đã lợi dụng lúc bố mê man sau cơn đau tim để giở trò tráo trở, hòng chiếm đoạt sạch sành sanh không chừa lại cho tôi một mảnh đất cắm dùi!”

“Đủ rồi.”

Một thanh âm trầm thấp cất lên.

Không hề gắt gỏng, không hề lớn tiếng, nhưng giọng nói của Lâm Phong tựa như một tảng đá ngầm vững chãi chặn đứng cơn sóng dữ. Anh chậm rãi đứng dậy. Vóc người dong dỏng cao trong chiếc áo khoác gió màu lam sẫm toát ra một sự trầm tĩnh, áp chế tuyệt đối khiến bầu không khí đang căng như dây đàn bỗng chốc chùng xuống. Phong đưa mắt ra hiệu cho Ngọc.

Chỉ chờ có thế, Minh Ngọc nhanh nhẹn lách qua mép bàn, bước tới đứng chắn ngang giữa hai chị em họ Lê. Bằng sự mềm dẻo nhưng kiên quyết của một người từng va chạm nhiều năm nơi hiện trường tác nghiệp, cô đưa tay ra chặn nhẹ trước ngực Huy, giọng điệu nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát:

“Anh Huy, xin anh bình tĩnh lại một chút. Đây là văn phòng làm việc tư nhân, không phải nơi giải quyết tranh chấp gia đình bằng bạo lực. Nếu anh muốn làm rõ sự thật về ý nguyện của bác Phúc, gào thét ở đây không giải quyết được bất cứ điều gì cả. Mời anh ngồi xuống chiếc ghế kia, uống một ngụm nước ấm rồi chúng ta cùng nói chuyện văn minh.”

Huy thở hổn hển, lồng ngực phập phồng dữ dội. Ánh mắt vằn tia máu của anh ta chạm phải ánh nhìn bình thản như nước hồ thu của Phong, rồi lại nhìn sang vẻ điềm tĩnh của Ngọc. Cơn giận dữ bốc đồng dường như xẹp bớt, anh ta lùi lại hai bước rồi ngã sụp xuống chiếc ghế bành đơn đặt cạnh giá sách. Huy ôm lấy đầu, mười ngón tay luồn sâu vào mái tóc bết bát, bờ vai gầy gò sụp xuống trong sự cùng quẫn:

“Tôi nợ… tôi thừa nhận là tôi nợ. Nhưng lũ chủ nợ xã hội đen ngoài kia đang lùng sục từng giờ từng phút. Chúng nó đe dọa tạt sơn vào cửa hàng, chúng nó dọa chặt tay tôi. Tôi cùng đường nên mới phải tải mấy cái app đen trên mạng, thế chấp cả danh bạ, căn cước công dân và thông tin gia đình để vay nóng đắp đổi qua ngày. Bố tôi biết chuyện, bố đã tát tôi một cái trời giáng, nhưng đêm hôm đó bố vẫn bảo bố sẽ đứng ra gánh vác, bố sẽ bán bớt một phần cổ phần xưởng chế tác để cứu vớt đời tôi… Không đời nào bố lại ký một cái văn bản tàn nhẫn đẩy con ruột mình vào bước đường cùng như thế! Tuyệt đối không đời nào!”

Phong không ngắt lời Huy. Ánh mắt quan sát tỉ mỉ của anh lướt qua từng chi tiết cơ thể người thanh niên: những móng tay cáu bẩn đất cát và tàn thuốc, quầng mắt đen thẫm của một kẻ mất ngủ triền miên trong sợ hãi, và đặc biệt là một vệt rách dài còn rớm máu khô ở mu bàn tay phải — dấu vết đặc trưng của việc cọ quẹt mạnh vào hàng rào sắt hoặc lưới B40 trong một cuộc trốn chạy vội vã gần đây.

Khi chuyển ánh mắt trở lại Mai Anh, Phong thấy cô ta đã ngồi xuống ghế, nhưng tư thế cứng đờ như một thanh gỗ. Mặc dù cố giữ vẻ mặt lạnh lùng khinh miệt, ngón tay trỏ của cô vẫn vô thức cào nhẹ lên lớp da thuộc của chiếc cặp, phát ra những tiếng sột soạt rất nhỏ.

“Chị Mai Anh,” Phong cất giọng phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. “Nếu cả hai người đều có những nghi vấn sâu sắc về tính xác thực của tài liệu đang nằm trong két sắt, tôi nhận lời tiếp nhận vụ ủy thác này. Tuy nhiên, nguyên tắc làm việc của tôi từ trước tới nay chưa từng thay đổi: tôi chỉ làm việc dựa trên dấu vết vật lý và sự thật khách quan tại hiện trường. Bất kể sự thật đó chứng minh bản di chúc là hợp pháp để bảo vệ quyền lợi của chị, hay nó chỉ ra những dấu hiệu giả mạo có lợi cho anh Huy, tôi cũng sẽ ghi lại trọn vẹn và trung thực trong báo cáo điều tra. Hai người có chấp nhận điều kiện này không?”

Mai Anh thoáng sững lại một nhịp. Ánh mắt cô liếc nhanh về phía người em trai đang gục đầu đau đớn, một thoáng đắn đo chớp qua trong đáy mắt, rồi cô hít sâu một hơi, gật đầu dứt khoát:

“Được. Cây ngay không sợ chết đứng. Tôi muốn anh và cô trợ lý đến thẳng tiệm vàng ngay bây giờ. Mọi thứ trong phòng làm việc của cha tôi vẫn được giữ nguyên hiện trạng kể từ đêm định mệnh đó. Tôi muốn chấm dứt trò hề này trước khi những lời đồn đại vô căn cứ phá nát uy tín bốn mươi năm của Kim Phúc.”

***

Phố Hàng Bạc vào thời khắc chính ngọ như một dòng sông đặc quánh âm thanh và chuyển động. Tiếng còi xe máy rền rĩ, tiếng rao hàng lảnh lót của những gánh hàng rong bán bún thang, bánh đa cua, hòa quyện với mùi thơm ngai ngái của dầu mỡ, mùi khói xe và mùi ẩm mốc đặc trưng của những mảng tường rêu phong trăm tuổi.

Tiệm vàng Kim Phúc sừng sững chiếm cứ một vị trí đắc địa ngay gần ngã ba giao với phố Tạ Hiện. Mặt tiền ngôi nhà rộng chừng bốn mét, nổi bật với biển hiệu bằng đồng tấm mạ vàng dày cộp mang phong cách cổ điển, trên chạm khắc dòng chữ lớn sắc sảo: “KIM PHÚC — THÀNH LẬP NĂM 1982”.

Bước qua cánh cửa kính thủy lực chống đạn dày hai lớp, một thế giới hoàn toàn khác mở ra. Hệ thống điều hòa trung tâm phả ra luồng không khí mát lạnh, khô ráo, tách biệt hẳn cái ồn ào oi nồng của phố thị. Bên trong gian phòng trưng bày, ba dãy tủ kính cường lực xếp thành hình chữ U bao quanh không gian. Dưới ánh sáng vàng ấm áp của hàng trăm bóng đèn rọi tiêu điểm, những bộ kiềng cưới chạm nổi hoa văn rồng phượng tinh xảo, những chuỗi ngọc trai biển sâu và hàng chục cây vàng miếng SJC lấp lánh phản chiếu thứ ánh sáng mê hoặc của sự giàu sang tột bực.

Thế nhưng, ẩn giấu sau vẻ lộng lẫy xa hoa của một cơ sở thương mại hiện đại là kết cấu kiến trúc cổ điển không thể trộn lẫn của một căn nhà ống phố cổ Hà Nội: mặt tiền hẹp nhưng chiều sâu hun hút hơn ba mươi mét, chạy dài qua nhiều gian nhà ngăn cách bởi những khoảng sân trong ẩm ướt, một giếng trời hẹp chỉ rộng chừng một mét vuông hun hút ánh sáng leo lét từ trên cao rọi xuống, và một chiếc cầu thang gỗ lim bản hẹp, đen bóng màu thời gian, uốn lượn dẫn lên các tầng sinh hoạt phía trên.

Phong ngước nhìn lên trần thạch cao. Đôi lông mày anh hơi nhíu lại khi nhận ra mật độ dày đặc bất thường của các thiết bị giám sát. Cứ cách khoảng ba mét lại có một camera vòm hồng ngoại chĩa thẳng xuống các quầy giao dịch, khu vực két thu ngân và các góc khuất lối đi.

“Hệ thống kiểm soát an ninh ở đây được đầu tư rất bài bản,” Ngọc bước chậm lại phía sau, đưa mắt quan sát chiếc tủ điện kỹ thuật đặt ở góc lối đi dẫn ra cầu thang sau, bàn tay cô thoăn thoắt ghi chép lại các thông số. “Tám mắt camera IP độ phân giải cao kết nối trực tiếp với đầu ghi mạng NVR đặt trong phòng kỹ thuật. Nhưng thưa chị Mai Anh, toàn bộ dữ liệu ghi hình của đêm hôm kia — cái đêm mà bác Phúc đột ngột qua đời — hiện đang ở đâu?”

Mai Anh dẫn hai người bước lên những bậc cầu thang gỗ lim kẽo kẹt dẫn lên tầng hai, giọng nói trầm hẳn xuống, mang một vẻ u uất khó tả:

“Đó chính là mắt xích kỳ lạ nhất mà tôi không thể nào tự giải thích nổi. Đêm hôm kia, vào khoảng một giờ sáng, cha tôi lên cơn đau thắt ngực dữ dội khi đang ở một mình trong phòng ngủ tầng hai. Nhưng đúng vào khung giờ nghiệt ngã đó, toàn bộ hệ thống camera an ninh trong tòa nhà đồng loạt mất tín hiệu ghi hình trong suốt gần hai tiếng đồng hồ, chính xác là từ mười hai giờ bốn mươi phút đến tận hai giờ mười lăm phút sáng. Khi người giúp việc phát hiện cha tôi nằm bất tỉnh trên sàn nhà và tôi hốt hoảng gọi cấp cứu 115, thì hệ thống giám sát mới đột ngột hoạt động trở lại bình thường.”

“Mất điện lưới cục bộ toàn khu phố sao?” Phong hỏi, bước chân anh dừng lại ở chiếu nghỉ tầng hai, nơi một ngọn đèn vàng leo lét hắt bóng ba người lên vách tường ve vàng đã ố mốc.

“Không hề,” Mai Anh lắc đầu quả quyết. “Cả đoạn phố Hàng Bạc đêm đó điện đường và các nhà xung quanh vẫn sáng trưng. Sáng hôm sau, thợ điện lực Hoàn Kiếm vào kiểm tra tủ điện tổng ở tầng một thì kết luận rằng aptomat nhánh của hệ thống an ninh và chiếu sáng tầng hai bị nhảy do hiện tượng quá tải đột ngột, gây kích hoạt rơ-le chống rò điện.”

Ngọc rút chiếc bút bi, ghi nhanh một dòng chữ hoa vào cuốn sổ tay:

*“Sự cố điện nội bộ — xảy ra trùng khớp tuyệt đối với thời điểm ông Phúc phát bệnh và lâm chung.”* Cô ngước nhìn Phong, khẽ lắc đầu biểu thị sự nghi hoặc tột cùng.

Mai Anh không bình luận gì thêm, cô rút chùm chìa khóa mang theo, tra vào ổ khóa đồng của cánh cửa gỗ lim dày cộp dẫn vào phòng làm việc riêng của ông Lê Kim Phúc.

Cánh cửa mở ra kèm theo một tiếng cót két khô khốc. Căn phòng rộng chừng hai mươi mét vuông hiện ra, bao trùm bởi một mùi hương trầm thoang thoảng lẫn với mùi thuốc lá lào ngai ngái — thói quen sinh hoạt bất biến suốt mấy mươi năm của người thợ kim hoàn già. Đồ đạc trong phòng không nhiều nhưng đều là những cổ vật đắt giá: một chiếc bàn làm việc bề thế bằng gỗ gụ chạm trổ hoa sen trang nhã, một tủ sách bằng kính mờ chứa đầy những tập sổ cái ghi chép công nợ thủ công bằng mực tàu qua nhiều thập niên, và ở góc phòng, dựa lưng vào bức tường chịu lực kiên cố, một chiếc két sắt hai lớp nhãn hiệu Bumil nhập khẩu từ Hàn Quốc màu xám tro nằm sừng sững như một khối thép bất khả xâm phạm.

“Chiếc két này là nơi bất khả xâm phạm của cha tôi suốt mười lăm năm qua,” Mai Anh bước lại gần, giọng cô hơi run. “Chỉ có cha tôi và tôi là những người nắm giữ mật mã. Hệ thống bảo mật gồm một dãy mật mã điện tử sáu chữ số, kết hợp với một chìa khóa cơ hình trụ tròn có cấu trúc rãnh xoắn đặc biệt. Đêm cha tôi mất, chùm chìa khóa này vẫn nằm nguyên vẹn trong túi chiếc áo lụa mặc nhà của ông.”

Phong không vội giục cô mở két. Anh thong thả rút từ trong túi áo khoác ra một chiếc kính lúp kỹ thuật có gắn đèn viền LED và một chiếc đèn pin soi dấu vết chuyên dụng phát ra luồng ánh sáng trắng hội tụ cao. Anh quỳ một chân xuống sàn gỗ, đưa luồng sáng rà quét tỉ mỉ từng milimet trên bề mặt kim loại sơn tĩnh điện của chiếc két sắt.

Đầu tiên là ổ khóa cơ bằng thép không gỉ: mép viền ổ khóa hoàn toàn nhẵn bóng, không có bất kỳ vết xước kim loại nào do các dụng cụ cạy phá, kẹp bi hay vam phá khóa để lại. Chuyển sang bàn phím số cảm ứng cao su: các phím bấm từ số 0 đến số 9 đều nguyên vẹn, lớp bụi mịn bám ở các khe kẽ không hề có dấu hiệu bị cào xước. Phong tiếp tục soi kỹ khe hở dọc theo mép cánh cửa dày gần mười phân và các bu-lông chốt ngầm bên hông bản lề.

“Không có bất kỳ dấu hiệu cơ học nào của việc xâm nhập trái phép bằng ngoại lực,” Phong đứng dậy, đưa ra nhận định lạnh lùng sau năm phút kiểm tra gắt gao. “Các then chốt cơ học trơn tru, không có mạt kim loại rơi vãi, không có vết cháy xém của đèn khò hay áp lực nén của kích thủy lực. Người mở chiếc két này đã tiếp cận nó bằng cách thức hoàn toàn chính thống: nhập chính xác mật mã sáu con số và sử dụng đúng chiếc chìa khóa cơ nguyên bản.”

Mai Anh thở phào một hơi nhẹ nhõm, nhưng nét căng thẳng trên gương mặt vẫn không hề suy giảm. Cô bước tới, cẩn thận bấm sáu chữ số trên bàn phím: từng tiếng bíp điện tử vang lên đanh gọn trong gian phòng tĩnh lặng. Sau đó, cô tra chiếc chìa khóa cơ hình trụ vào ổ, xoay nửa vòng sang phải rồi dùng hai tay vặn chiếc tay nắm tròn bằng thép sáng loáng.

“Cạch.”

Tiếng chốt khóa rút vào trong vang lên êm ru. Cánh cửa thép nặng hàng trăm cân từ từ mở ra.

Không gian bên trong két được chia làm ba ngăn riêng biệt bọc nỉ đỏ nhung. Ở hai ngăn phía dưới, các khay chứa vàng miếng SJC vàng óng, những túi zip đựng hạt vàng nguyên liệu dùng để pha chế và mấy cọc tiền mặt mệnh giá năm trăm nghìn đồng được xếp ngay ngắn, ngăn nắp. Nhưng ở ngăn trên cùng — ngăn danh dự có khóa phụ riêng — hoàn toàn trống trải, chỉ có duy nhất một tập tài liệu nằm cô độc bên trong một chiếc bìa kẹp bằng nhựa trong suốt.

“Chính là tập tài liệu này,” Mai Anh vươn tay lấy tập hồ sơ ra, chuyển giao cho Phong bằng đôi bàn tay đang khẽ run rẩy.

Phong đón lấy tập tài liệu, sải bước lại gần chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ, nơi có ánh sáng trắng của ngọn đèn tuýp trên trần rọi xuống trực diện và rõ ràng nhất. Ngọc nhanh chóng bước theo, đứng sát bên vai phải anh, ánh mắt tập trung cao độ vào từng trang giấy.

Tập tài liệu gồm ba trang giấy khổ A4, sử dụng chất liệu giấy Ford trắng định lượng dày 80gsm. Toàn bộ nội dung được soạn thảo bằng máy vi tính, in mực laser đen nhánh, căn lề thẳng tắp với phông chữ Times New Roman cỡ 14 trang trọng. Phía trên cùng trang một, tiêu đề văn bản được in đậm, đóng khung nổi bật:

**“DI CHÚC PHÂN CHIA TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ QUYỀN ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP”**

Phong lật chậm rãi từng trang một. Ánh mắt anh như một chiếc máy quét quang học lướt qua các điều khoản quy định về nhân thân, danh mục tài sản bất động sản, tài khoản ngân hàng, rồi dừng lại rất lâu ở từng câu chữ trên trang hai và trang ba.

Tại phần chân của trang thứ ba — trang kết thúc của văn bản — là chữ ký uốn lượn, bay bướm và sắc sảo của ông Lê Kim Phúc. Nét chữ được ký bằng mực bút dạ màu đỏ tươi, một sắc đỏ chói lọi, ngạo nghễ thường thấy ở những người kinh doanh vàng bạc thuộc thế hệ cũ, những người luôn quan niệm rằng sắc đỏ của chu sa và son son là biểu tượng của tài lộc và vận may trường tồn. Ngay bên cạnh chữ ký mực đỏ là một dấu vân tay điểm chỉ ngón trỏ phải màu mực đỏ sẫm, các đường vân xoáy hình trôn ốc hiện lên rõ ràng, mạch lạc từng chi tiết.

“Chữ ký này ngàn phần trăm là của cha tôi,” Mai Anh khẳng định chắc nịch, giọng cô lấy lại chút tự tin. “Cha tôi cả đời chỉ dùng duy nhất cây bút máy ngòi lông ngỗng hiệu Parker nạp mực đỏ mà tôi đặt mua từ Pháp về tặng ông nhân dịp lễ mừng thọ sáu mươi tuổi. Tất cả các hợp đồng kinh tế lớn nhỏ, các chứng chỉ giám định tuổi vàng của Kim Phúc xưa nay đều chỉ công nhận nét ký đuôi phượng uốn lượn đặc trưng này của ông!”

Phong không lập tức bình luận về tính xác thực của chữ ký hay dấu vân tay. Thay vào đó, anh đưa ngón tay trỏ rà theo dòng chữ của điều khoản thứ hai trên trang giấy thứ hai, rồi đọc to từng từ bằng một ngữ điệu trầm tĩnh nhưng vang vọng:

“‘…Nhằm đảm bảo tính liên tục trong chuỗi giá trị và tối ưu hóa danh mục tài sản của thương hiệu Kim Phúc trên thị trường kim hoàn bán lẻ, toàn bộ cơ cấu cổ phần kiểm soát, quyền sử dụng mặt bằng kinh doanh tại số 48 Hàng Bạc và quyền điều hành tối cao theo mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại sẽ được chuyển giao toàn bộ cho bà Lê Mai Anh. Ông Lê Quang Huy do thiếu hụt năng lực hành vi tài chính và không đáp ứng được các chỉ số quản trị rủi ro cơ bản, sẽ không được nắm giữ bất kỳ tỷ lệ biểu quyết nào…’”

Đọc xong, Phong từ từ hạ tập tài liệu xuống mặt bàn, ngước mắt nhìn thẳng vào đồng tử đang hơi co lại của Mai Anh. Khóe môi anh nhếch lên một tia châm biếm kín đáo:

“Chị Mai Anh, cụ thân sinh của chị vốn xuất thân từ một cậu bé học việc ở làng nghề chạm bạc Đồng Xâm nghèo khó, cả đời gắn bó với chiếc đe con, mỏ khò lửa bằng dầu hỏa, chiếc cân tiểu ly quả đồng và những cuốn sổ cái ghi chép công nợ thủ công bằng chữ Nho pha lẫn tiếng Việt nôm na. Một người thợ kim hoàn truyền thống ngoài sáu mươi tuổi, tính tình gia trưởng, bảo thủ và chỉ tin vào kinh nghiệm thực tế như cụ Phúc… từ bao giờ lại có thói quen sử dụng nhuần nhuyễn những thuật ngữ kinh tế học hàn lâm như ‘chuỗi giá trị’, ‘tối ưu hóa danh mục tài sản’, ‘cơ cấu cổ phần kiểm soát’ hay ‘chỉ số quản trị rủi ro’ vậy?”

Mai Anh giật mình thót một cái. Ánh mắt cô dao động kịch liệt, vội vã đảo sang hướng khác để né tránh cái nhìn xuyên thấu của người thám tử, hai gò má thoáng ửng lên những vệt đỏ lúng túng:

“Cha tôi… cha tôi tuy xuất thân thợ thủ công nhưng những năm gần đây ông rất chịu khó đổi mới tư duy, ông luôn lắng nghe tôi tham mưu! Tôi đã tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh loại xuất sắc tại Anh Quốc, chính tôi là người đã thuyết phục ông tái cấu trúc lại toàn bộ bộ máy của Kim Phúc từ một tiệm vàng gia đình thành công ty cổ phần. Khi ông nhờ văn phòng luật sư soạn thảo bản di chúc này, chắc chắn các chuyên gia pháp lý và luật sư doanh nghiệp đã sử dụng ngôn ngữ quản trị hiện đại để đảm bảo văn bản có tính pháp lý chặt chẽ nhất trước tòa án!”

“Văn phòng luật sư nào?” Phong truy vấn ngay tức khắc, thanh âm đanh lại như thép nguội. “Văn phòng luật sư nào đã soạn thảo văn bản này mà trên khắp ba trang giấy không hề có con dấu xác thực, không có chữ ký của luật sư làm chứng, không có số công chứng tư pháp? Đây là một văn bản đánh máy vi tính hoàn toàn dưới dạng di chúc tự lập tại gia!”

Mai Anh nghẹn lời. Đôi môi cô mím chặt lại thành một vệt trắng bợch, hai bàn tay siết chặt lấy nhau đến mức các móng tay bấm sâu vào da thịt.

Trong lúc đó, Ngọc đã cúi rạp người xuống sát mặt bàn, chiếc mũi thon khẽ phập phồng như muốn ngửi thấy điều gì đó bất thường trên thớ giấy. Đôi mắt sắc sảo của cựu phóng viên điều tra dừng lại ở góc trên cùng bên trái của tập hồ sơ — nơi ba trang giấy được liên kết lại với nhau bằng một chiếc ghim bấm kim loại màu bạc.

“Anh Phong,” Ngọc khẽ thốt lên, giọng cô nén lại sự phấn khích tột độ của một người vừa chạm vào một manh mối mang tính bước ngoặt. “Nhìn vào góc bấm ghim này mau!”

Phong lập tức cầm lấy chiếc kính lúp kỹ thuật, bật công tắc đèn LED vòng sang chế độ phóng đại cực đại rồi soi thẳng vào góc trên bên trái của trang giấy thứ ba — trang giấy chứa chữ ký mực đỏ và dấu điểm chỉ vân tay của ông Phúc.

Dưới độ phóng đại của thấu kính quang học, cấu trúc thớ giấy và những vết cơ học hiện lên rõ mồn một.

Ở góc trên cùng bên trái của trang một và trang hai, chiếc ghim kim loại màu bạc xuyên qua thớ giấy một cách ngọt ngào, tạo thành duy nhất một cặp lỗ bấm hình chữ nhật sắc cạnh, sạch sẽ, không hề có bất kỳ dấu vết rách nát hay xơ xước nào xung quanh chân kim.

Thế nhưng, khi Phong lật mặt dưới của trang thứ ba lên, sự thật trần trụi đã phơi bày dưới ánh đèn rọi.

Ngay sát cạnh chân ghim kim loại hiện tại, trên mặt giấy của trang thứ ba, xuất hiện rõ ràng một cặp lỗ bấm ghim cũ kỹ khác nằm lệch về phía bên phải khoảng một milimet rưỡi! Hai mép lỗ cũ đã bị xơ rách, các thớ sợi cellulose của bột giấy bị bung ra và có dấu vết bị cạy ngược từ dưới lên bằng đầu móng tay hoặc lưỡi dao rọc giấy, để lại một vết hằn lún kép không thể nhầm lẫn.

“Hiện tượng dập ghim kép,” Phong cất lời, giọng anh trầm đục như một tiếng chuông đồng vọng lại từ đáy vực sâu. “Trang thứ ba này — trang duy nhất có chữ ký sống và dấu vân tay thật của ông Lê Kim Phúc — đã từng được ghim chung với một tập tài liệu hoàn toàn khác trong quá khứ. Sau đó, kẻ thực hiện hành vi tráo đổi đã vô cùng tỉ mỉ dùng dụng cụ cạy chiếc ghim kim loại ban đầu ra, rút trang giấy có chữ ký này ra ngoài, rồi đặt nó vào làm trang cuối cùng cho trang một và trang hai của bản di chúc đánh máy hiện tại. Kẻ đó đã cố tình canh chỉnh sao cho chiếc ghim mới dập đè đúng vào vị trí của chiếc ghim cũ nhằm che mắt thiên hạ, nhưng do thao tác thủ công vội vã, tay bấm bị lệch một góc nhỏ, vĩnh viễn để lại hai cặp lỗ ghim song song trên thớ giấy này.”

Mai Anh lảo đảo lùi lại một bước, toàn bộ sức nặng cơ thể cô đổ dồn lên mép bàn làm việc bằng gỗ gụ. Chiếc cặp da trên tay cô trượt xuống sàn nhà, rơi đánh “bộp” một tiếng khô khốc. Gương mặt người phụ nữ quyền lực giờ đây xám xịt như tro tàn dưới ánh đèn tuýp trắng lóa.

“Điều đó… điều đó có nghĩa là gì…?” Mai Anh lắp bắp, giọng nói run rẩy đến thảm hại.

“Điều đó có nghĩa là trang một và trang hai — những trang giấy chứa đựng nội dung tước đoạt toàn bộ quyền thừa kế của Lê Quang Huy, chuyển giao toàn bộ đế chế Kim Phúc cho chị bằng những thuật ngữ quản trị kinh doanh hoa mỹ — chỉ là một sản phẩm ngụy tạo được in ấn sau này!” Phong đanh thép kết luận. “Nó đã được một kẻ nào đó ghép tráo một cách tinh vi vào trang thứ ba, một trang giấy vốn dĩ thuộc về một văn bản chuyển nhượng, một hợp đồng ủy quyền hoặc một biên bản họp gia đình hoàn toàn khác mà ông Phúc đã ký từ trước khi qua đời!”

Căn phòng làm việc tầng hai rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở, chỉ còn nghe thấy tiếng thở dốc đầy kinh hãi của Mai Anh và tiếng gió bấc ngoài giếng trời rít lên từng hồi qua khe cửa thông gió. Mọi toan tính, mọi bằng chứng tưởng chừng như thép bọc đồng của người phụ nữ điều hành tiệm vàng bỗng chốc vỡ vụn thành từng mảnh trước phương pháp giám định vật lý lạnh lùng của người thám tử.

Thế nhưng, Lâm Phong không hề có ý định dừng lại ở kết luận đó.

Đôi lông mày anh hơi nhíu lại, như thể một mảnh ghép logic quan trọng vẫn còn đang lơ lửng chưa khớp vào bức tranh toàn cảnh. Nếu bản di chúc trong két sắt là một tài liệu được ghép tráo tinh vi, thì bản gốc thực sự chứa đựng ý nguyện sau cùng của người thợ kim hoàn già đang nằm ở đâu? Tại sao kẻ làm giả lại phải mạo hiểm giữ lại trang thứ ba với dấu vết dập ghim chết người như vậy, trừ phi hắn đang ở trong một tình thế vô cùng cấp bách và không có đủ thời gian?

Phong gấp tập tài liệu ba trang lại, đặt ngay ngắn vào chiếc bìa nhựa rồi để lên mặt bàn. Anh không nói một lời, dứt khoát quay người sải bước ra khỏi phòng làm việc.

“Anh Phong! Anh đi đâu thế?” Ngọc vội vã hỏi, bước chân cô nhanh nhẹn bám sát theo sau anh.

Phong không đáp. Bước chân anh không hướng xuống tầng một, cũng không đi về phía phòng ngủ của ông Phúc, mà dẫn thẳng ra gian ngoài của tầng hai — không gian tôn nghiêm và tĩnh mịch nhất của ngôi nhà ống cổ: gian thờ gia tiên của dòng họ Lê.

Đó là một căn phòng rộng chừng mười lăm mét vuông, hoàn toàn biệt lập với các phòng sinh hoạt khác. Không khí nơi đây đậm đặc mùi trầm hương nguyên chất và tàn nhang cổ truyền, tạo nên một cảm giác thâm nghiêm, u tịch đến rợn ngợp. Gian giữa được ngự trị bởi một chiếc bàn thờ đại bằng gỗ mít cổ thụ chạm trổ lưỡng long chầu nguyệt tinh xảo, những lớp sơn son thếp vàng đã ngả màu đồng cổ qua hàng thế kỷ. Trên bàn thờ, đôi hạc đồng ngậm hoa sen đứng chầu hai bên chiếc đỉnh đồng hun cỡ lớn, và ở vị trí trung tâm là một chiếc bát hương cổ bằng gốm sứ Bát Tràng men lam vẽ rồng cuộn sóng nước, khói hương từ tuần nhang buổi sáng của gia đình vẫn đang lãng đãng tỏa ra từng làn mỏng manh.

Phong bước chậm rãi lại gần chiếc bàn thờ cổ. Chiều cao của mặt bàn thờ ngang tầm ngực anh. Với sự kính cẩn tự nhiên của một người phương Đông trước nơi ngự trị của tiền nhân, Phong khẽ nghiêng mình cúi đầu, hai tay anh không hề chạm vào bất kỳ đồ thờ cúng linh thiêng nào.

Anh nâng chiếc đèn pin kỹ thuật chuyên dụng lên, bấm công tắc luồng sáng trắng hội tụ cao. Lần này, Phong không rọi thẳng từ trên xuống, mà hạ thấp góc chiếu, rọi một chùm sáng xiên một góc ba mươi độ quét ngang qua bề mặt phẳng phiu của lớp gỗ gụ bóng mờ nằm ngay phía sau chân đế của chiếc bát hương Bát Tràng lớn nhất.

Mặt bàn thờ gia tiên được phủ một lớp bụi mịn màu xám nhạt tích tụ đều đặn qua nhiều tuần lễ — khoảng thời gian mà cả gia đình họ Lê dồn toàn bộ tâm trí, sức lực vào việc túc trực bên giường bệnh của ông Phúc ở bệnh viện và lo toan tang lễ sau đó. Lớp bụi ấy phẳng lặng, mỏng tang như một lớp sương khói của thời gian nằm bất động.

Thế nhưng, dưới luồng ánh sáng xiên sắc lẹm của chiếc đèn pin, sự bất thường lập tức hiện hình rõ mồn một.

Ngay phía sau chiếc bát hương lớn, nơi khuất tầm mắt của bất kỳ ai đứng nhìn từ phía trước, lớp bụi xám không hề đồng nhất. Hiện lên giữa lớp bụi xám ấy là một vùng không gian hình chữ nhật có kích thước khoảng hai mươi nhân mười lăm centimet. Bề mặt gỗ bên trong vùng chữ nhật này sạch sẽ, sáng bóng và hoàn toàn không có một hạt bụi nào, tương phản gay gắt với lớp bụi mờ xung quanh.

Rõ ràng, nơi đây đã từng có một vật thể hình hộp phẳng, hoặc một chiếc tráp gỗ nhỏ đựng đồ quý giá, ngự trị suốt một thời gian rất dài mà không hề bị xê dịch hay lau dọn.

Và điều kinh ngạc nhất, điều khiến đồng tử của Phong lập tức co rút lại thành hai điểm nhọn hoắt, chính là dấu vết động đậy của vật thể đó.

Đường viền bụi sắc nét ban đầu của chiếc hộp hình chữ nhật không hề bị nhấc thẳng lên không trung. Nó đã bị một lực tác động từ bên ngoài kéo trượt chéo sang mép bên phải một khoảng chừng hai centimet! Cú trượt ngang ấy đã cào xước, làm nham nhở lớp bụi cổ kính xung quanh, tạo thành một vệt mờ kéo dài trên mặt gỗ gụ phẳng phiu, trước khi toàn bộ vật thể đó được hai bàn tay nhấc bổng hoàn toàn ra khỏi bàn thờ gia tiên!

Ngọc bước đến sát bên Phong, nín thở nhìn theo phương chiếu của luồng sáng đèn pin. Đôi mắt to tròn của cô mở lớn trong sự bàng hoàng tột độ, bàn tay cô vô thức nắm chặt lấy quai túi xách:

“Có ai đó… vừa mới lấy đi một chiếc hộp đặt sau bát hương!”

Lâm Phong từ từ đứng thẳng người dậy. Luồng ánh sáng trắng của chiếc đèn pin vụt tắt, trả lại cho gian thờ bầu không khí u tịch, huyền bí của ánh sáng ban trưa lọc qua rèm liếp. Ánh mắt sâu thẳm của anh nhìn xoáy vào khoảng không tĩnh mịch phía trên di ảnh của cố nghệ nhân Lê Kim Phúc — nơi người đàn ông quá cố đang mỉm cười hiền từ sau làn khói trầm mong manh uốn lượn.

Két sắt tiệm vàng không bị cạy phá bằng bạo lực, nhưng vết bụi trượt dài trên bàn thờ tổ tiên lại là bằng chứng vật lý đanh thép chứng minh rằng: có một tài liệu bí mật khác, một sự thật hoàn toàn khác về di nguyện của người quá cố, vừa mới bị dịch chuyển khỏi nơi yên nghỉ của nó chỉ cách đây không lâu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories