Hồ Sơ Thám Tử Lâm PhongCh.3 / 24
Chapter 3

Nước Đi Của Kẻ Bắt Chước

Không gian gian xưởng tranh ven đê sông Đuống đặc quánh trong một sự im lặng nặng nề, tựa hồ lớp bột điệp ẩm chưa kịp se mặt đã bị gió lạnh ùa vào làm đông cứng. Ánh hoàng hôn mùa đông đỏ quạch như bã trầu rách rưới, hắt xiên qua những chấn song gỗ lim lên nước đen bóng, rọi thẳng tắp vào bàn tay đang run rẩy từng chặp của Phạm Thanh Sơn.

Chiếc điện thoại vỡ nát màn hình đặt trên mặt bàn thợ vẫn thỉnh thoảng giật nảy lên bởi những xung rung dồn dập. Từng tia sáng xanh lét nhợt nhạt hắt ra từ những vết nứt hình mạng nhện, hiển thị dòng thông báo biến động số dư vừa tròn một trăm triệu đồng, kèm theo dòng đếm ngược tàn nhẫn của tối hậu thư một trăm hai mươi phút. Nó như một mồi lửa vô hình, chậm rãi liếm láp và chực chờ thiêu rụi chút bình tĩnh giả tạo cuối cùng của gã thợ phụ. Tiếng gió bấc thổi qua rặng tre ngả nghiêng ngoài bãi bồi rít lên từng hồi u uất, luồn qua khe cửa liếp, hòa cùng tiếng thở dốc nghẹn ngào, đứt quãng của lão nghệ nhân Lưu Văn An.

Lâm Phong không hề vội vàng. Anh đứng sừng sững bên mép chiếc bàn thợ bọc nỉ xám sờn rách, dưới ánh sáng trắng sắc lạnh của chiếc đèn chụp công suất lớn vốn dùng để soi từng thớ gỗ khắc mộc bản. Trước mặt anh, bản phục chế bức “Đám cưới chuột” vừa được tháo rời khỏi khung gỗ dổi đang nằm ép mình bất động, mép giấy quăn queo đặt ngay cạnh mẩu giấy điệp hình tam giác sắc nhọn — vật chứng vừa được lôi ra từ đáy hộc bàn của Sơn cách đây ít phút.

“Thiếu tá Duy, bác An, xin hãy nhìn kỹ vào lớp bề mặt này,” Phong cất giọng trầm tĩnh, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt đang bóp nghẹt gian phòng.

Anh dùng một chiếc que đóm bằng tre đã vót nhẵn thớ, nhẹ nhàng hạ đầu que chỉ vào rìa mép dưới của bức tranh giả.

“Nghề làm tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ có một quy tắc cốt tử mà bất cứ đứa trẻ nào lớn lên bên bờ sông Đuống này cũng thuộc lòng: vỏ điệp sau khi nghiền nát phải được đãi sạch, quấy đều với hồ nếp cái hoa vàng quánh dẻo, rồi mới dùng chổi lá thông quét đều tay lên từng tờ giấy dó. Một lớp quét mỏng dưới trời hanh hao cũng cần trọn một ngày để se mặt, nhưng nếu muốn quét lớp thứ hai chồng lên để tạo độ óng ánh như xà cừ, để hồ nếp kết tinh hoàn toàn cùng thớ cellulose của vỏ cây dó, người thợ bắt buộc phải mất ít nhất ba ngày nắng ráo phơi trên sào tre ngoài bãi gió.”

Phong ngước mắt nhìn ông An. Lão nghệ nhân già nua run rẩy gật đầu, đôi mắt kèm nhem đã đỏ hoe từ lúc nào. Đôi môi ông mấp máy:

“Đúng… phải ba ngày phơi kiệt trong bóng râm lẫn gió trời thì mặt điệp mới đanh lại, gõ nhẹ ngón tay vào nghe giòn tan như vỏ quế. Nếu chưa khô kiệt mà vội ép vào khung kính hay dán bồi, hơi ẩm của hồ nếp sẽ bị hấp hơi, làm giấy nổi mốc đen, thối rữa chỉ sau một tuần lễ.”

“Chính là điểm cốt tử này,” Phong tiếp tục, đầu que tre di chuyển chậm rãi từ góc dưới lên phần bụng bức tranh, nơi đoàn chuột đang rước dâu linh đình. “Bản tranh phục chế này nhìn bề ngoài rất khéo, từng nét khắc mô phỏng tinh vi độ mòn vẹt của mộc bản cổ thời Lê muộn, nhưng lớp bột điệp trên mặt giấy vẫn còn độ đàn hồi ẩm. Dưới ánh đèn rọi và kính lúp, các hạt vỏ sò chưa hề kết tinh hoàn toàn vào thớ giấy. Mùi hăng nồng của keo công nghiệp polyvinyl acetate phảng phất nơi rìa mép chỉ là tấm màn che mắt vụng về nhằm thúc ép bức tranh khô nhanh ở mặt sau để bồi dán. Nói cách khác, bức tranh giả này mới chỉ được hoàn thiện lớp điệp cuối cùng vào khoảng hai ngày trước, ngay trong gian xưởng này, trước đêm kho chứa bị mở khóa đúng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.”

Ánh mắt sắc như dao của Phong chuyển dời, dừng lại trừng trừng trên gương mặt cắt không còn giọt máu của Phạm Thanh Sơn.

“Khoảng thời gian đó, toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ đón đợt không khí lạnh tăng cường kèm mưa phùn ẩm ướt kéo dài, tuyệt đối không ai có thể phơi tranh ngoài sân bãi. Kẻ làm tranh chỉ có một lựa chọn duy nhất: dùng than củi sấy gián tiếp trong gian kho phụ ẩm thấp phía sau chái nhà. Bác An tuổi cao mắt kém, tối đến thường nghỉ sớm bên nhà chính, còn người duy nhất túc trực bên lò sấy thâu đêm suốt sáng với lý do hong khô mộc bản cho khách đặt trước chính là anh, Phạm Thanh Sơn.”

Sơn há hốc miệng, ngực phập phồng dữ dội. Gã định thốt lên lời thanh minh nhưng thanh âm nghẽn ứ lại nơi cuống họng khô khốc. Đôi bàn tay vấy lem nhem những vệt mực đen và phẩm điều của gã co quắp lại, bấu chặt đến rách cả mép vải chiếc quần bò sờn rách.

“Cậu Phong nói tiếp đi,” Thiếu tá Trần Quang Duy lên tiếng từ phía góc phòng.

Vị sĩ quan hình sự đứng khoanh tay bên khung cửa sổ gió lùa, ánh mắt lạnh lùng găm chặt vào từng cử động cơ thể của nghi phạm. Dù trước đó tại Hà Nội, Duy từng nghiêm giọng cảnh báo Phong về ranh giới thẩm quyền giữa một thám tử tư và cơ quan điều tra, nhưng lúc này bản năng nghề nghiệp mách bảo anh rằng từng lập luận đanh thép của Phong đang bẻ gãy từng phòng tuyến tâm lý cuối cùng của kẻ phạm tội.

Phong khẽ xoay người, thò tay vào túi áo khoác lấy ra chiếc túi zipline chuyên dụng đựng tang vật. Bên trong là quân cờ bằng gỗ mà trước đó ông An đã run rẩy giao cho anh tại tiệm sách Mực Nâu. Phong mở túi, đặt quân cờ màu đen thẫm ấy lên mặt bàn thợ, nằm sóng đôi bên cạnh mẩu giấy điệp tam giác.

“Còn đây là nước cờ ngây thơ nhất của anh, Sơn,” Phong nói, thanh âm trầm xuống, lạnh buốt như ngậm sương đêm. “Quân xe đen.”

“Tôi… tôi không biết quân cờ đó!” Sơn lắp bắp, giọng the thé vỡ vụn trong sự hoảng loạn tột cùng. Gã lùi lại nửa bước cho đến khi lưng va sầm vào giá để mộc bản phía sau, làm rơi rụng mấy thanh nẹp gỗ xuống sàn gạch. “Lúc tôi vào kho phát hiện mất tranh thì nó đã nằm chỏng chơ ở đó rồi! Chắc chắn là của bọn xã hội đen, bọn chuyên đòi nợ thuê đánh rơi! Mọi người không đọc báo à? Mấy tháng nay trên mạng đầy rẫy tin đồn về một băng nhóm tội phạm giấu mặt, cứ mỗi lần ra tay trộm cắp cổ vật hay thanh toán bảo kê là để lại một quân cờ tướng màu đen để dằn mặt! Tôi… tôi làm sao dám dính líu đến bọn quỷ dữ đó!”

“Một câu chuyện giật gân rất hợp thời vụ,” Phong mỉm cười nhạt nhòa, nhưng ánh mắt sâu thẳm của anh không hề có lấy một tia ấm áp. “Anh đọc được những giai thoại thêu dệt đó trên các hội nhóm diễn đàn mạng ngầm, nơi anh thường xuyên lui tới suốt ba tháng qua để tìm cách gỡ gạc số tiền ba trăm năm mươi triệu đồng thua lỗ vì trò quyền chọn nhị phân. Anh nghĩ rằng nếu để lại một quân cờ đen tại hiện trường, bác An sẽ sợ hãi tột cùng mà tin rằng đây là vụ trả thù hay dằn mặt của một thế lực ngầm khét tiếng, từ đó không dám báo công an mà chỉ ngậm đắng nuốt cay chịu đựng hoặc tìm cách dàn xếp trong im lặng.”

Phong bước tới một bước, ngón trỏ gõ nhẹ lên mặt quân cờ:

“Nhưng kẻ học đòi thì vĩnh viễn không bao giờ nắm được bản chất của cuộc chơi. Băng nhóm mà dư luận đồn thổi — nếu thực sự tồn tại một thực thể như vậy — là những kẻ có tổ chức cực kỳ chặt chẽ, am hiểu tâm lý học hành vi và sở hữu nguồn lực tài chính ngầm khổng lồ. Chúng không bao giờ để lại một quân cờ tiện vội bằng gỗ ép công nghiệp rẻ tiền, loại gỗ mùn cưa trộn keo được tiện hàng loạt bằng máy bán tự động mà bất cứ tiệm tạp hóa nào quanh khu bến xe Gia Lâm cũng bán với giá vài nghìn đồng một quân. Lớp sơn dầu phủ bên ngoài thậm chí còn chưa bay hết mùi dung môi dầu hỏa, và vết tiện ở đáy quân cờ còn sót lại một mảnh dăm xơ xác chưa hề được gọt giũa.”

Trần Minh Ngọc đứng tựa lưng vào mép tủ tài liệu lập tức rút chiếc máy tính bảng mỏng dính ra. Ngón tay cô lướt thoăn thoắt trên màn hình cảm ứng, ánh sáng xanh hắt lên gọng kính cận rồi cô chìa thẳng màn hình ra trước tầm mắt thất thần của Sơn:

“Lịch sử tìm kiếm trên tài khoản mạng xã hội ‘Sơn_KinhBac’ của anh trong tuần trước có ba lượt tra cứu cụ thể: ‘biểu tượng quân cờ đen trong các vụ án cổ vật’, ‘địa chỉ bán cờ tướng gỗ lẻ theo quân ở Long Biên’, và ‘cách làm giả vết nứt rạn chân chim bề mặt tranh cổ’. Anh Sơn, dấu chân kỹ thuật số của anh trên không gian mạng còn lộ liễu và nham nhở hơn cả vết mực nho chưa kịp khô bám trên kẽ móng tay anh đấy.”

Sơn ngã quỵ xuống.

Hai đầu gối gã đập mạnh xuống nền gạch đỏ thô ráp của gian xưởng tranh phát ra một tiếng “thịch” nặng nề. Gương mặt gã thợ phụ vặn vẹo, co giật trong sự kinh hoàng tột độ. Mọi chứng cứ ngoại phạm đã bị bẻ gãy vụn vỡ: từ vết mẻ hình bán nguyệt trên lưỡi kéo rèn thủ công, mẩu giấy điệp rách rời khớp từng viền xơ, quy trình sấy hồ nếp phi tự nhiên, cho đến màn kịch quân xe đen vụng về học đòi từ thế giới ngầm. Tấm bình phong tâm lý mỏng manh mà gã cố công dựng lên suốt mấy ngày qua đã sụp đổ hoàn toàn.

“Cháu… cháu sai rồi… Cậu An ơi, cháu lạy cậu!”

Sơn khóc rống lên thảm thiết, hai tay chắp lại vái lấy vái để về phía ông lão. Trán gã dập liên hồi xuống nền đất:

“Cháu bị dồn vào đường cùng rồi cậu ơi! Bọn tín dụng đen dọa sẽ chặt cụt tay cháu, bọn nó bảo biết chỗ ở dưới quê, sẽ tìm về đốt nhà bố mẹ cháu nếu trước mười hai giờ đêm nay không trả đủ ba trăm năm mươi triệu! Cháu không có ý định cướp báu vật của dòng họ đâu… Ban đầu kẻ môi giới bảo chỉ mượn bản gốc ba ngày để quét ảnh số hóa độ phân giải cao bán cho bảo tàng nước ngoài rồi sẽ trả lại nguyên vẹn, họ hứa sẽ xóa hết nợ nần cho cháu…”

“Mày… mày là đồ súc sinh bất hiếu! Đồ phản phúc!”

Ông Lưu Văn An run rẩy chỉ ngón tay khẳng khiu vào mặt người cháu ruột, giọng nghẹn ứ lại vì uất hận tột cùng. Bàn tay già nua từng nắn nót, gìn giữ từng thớ gỗ gia truyền qua bao biến thiên dâu bể giờ đây co giật mất kiểm soát. Nước mắt đùng đục tuôn rơi ròng ròng trên những nếp nhăn nheo hằn sâu nơi khóe mắt:

“Tao coi mày như con đẻ, dắt mày từ quê ra đây nuôi nấng, truyền cho mày từng ngón nghề gia bảo, tin tưởng giao cho mày cả chùm chìa khóa gian kho… Vậy mà mày đem mồ hôi, nước mắt và xương máu mấy đời của tổ tiên đi gán nợ cờ bạc đỏ đen! Mày có biết bức tranh ấy là mạng sống của cái xưởng này không hả con?”

Thiếu tá Duy bước tới, bàn tay đanh thép đặt mạnh lên vai Sơn. Lực bóp mạnh đến mức khiến gã thợ phụ co rúm người lại, run bắn như cầy sấy:

“Phạm Thanh Sơn! Đừng khóc lóc diễn trò vô ích nữa. Tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ cổ vật văn hóa đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt lên tới hai mươi năm tù giam. Bản gốc bức ‘Đám cưới chuột’ hiện đang ở đâu? Nói mau! Anh chỉ còn đúng một cơ hội duy nhất để lập công chuộc tội trước cơ quan pháp luật!”

Sơn run rẩy ngước nhìn chiếc điện thoại vẫn đang nhấp nháy dòng đếm ngược tàn nhẫn trên mặt bàn, hơi thở dồn dập trong nỗi kinh hãi cùng cực:

“Trong… trong quán cà phê Gió Bãi! Gần ngay chân cầu Đuống, đoạn đường đất rẽ xuống bến đò cũ! Người của bên thu mua đang ngồi đợi ở đó. Cháu… cháu chưa giao tranh thật! Tranh thật cháu bọc kín trong lớp vải dù chống nước, giấu ở đáy cốp chiếc xe máy Dream cũ của cháu đang dựng ngoài cổng xưởng! Kẻ trung gian bảo cháu cầm điện thoại đợi ở xưởng, khi nào tài khoản báo nhận một trăm triệu tiền cọc thì đúng ba mươi phút sau phải mang tranh ra quán cà phê giao dịch, nhận nốt tiền mặt rồi bọn chúng sẽ bố trí xe đưa người và hàng vượt biên ngay trong đêm…”

Ánh mắt của Thiếu tá Duy lập tức lóe lên tia nhìn sắc lạnh của một người chỉ huy trận mạc dày dạn kinh nghiệm. Anh không lãng phí dù chỉ một giây đồng hồ, rút chiếc bộ đàm bên hông ra dập lệnh dứt khoát:

“Tổ một và tổ hai nghe rõ! Đối tượng nghi vấn đang có mặt tại quán cà phê Gió Bãi, khu vực ven đê gần chân cầu Đuống. Triển khai phương án vây bắt bí mật cấp độ hai. Yêu cầu lập tức phong tỏa toàn bộ lối ra bờ sông và các nhánh đường đê liên xã. Tuyệt đối bảo đảm an toàn cho tang vật, không được để đối tượng tẩu thoát cùng cổ vật!”

Quay sang hai trinh sát hình sự mặc thường phục đang đứng túc trực cạnh cửa, Duy vung tay chỉ thẳng vào Sơn:

“Khống chế đối tượng, thu giữ toàn bộ phương tiện liên lạc và kiểm tra ngay cốp chiếc Dream ngoài cổng cho tôi!”

Chỉ năm phút sau, chiếc bọc vải dù màu xanh rêu dài chừng nửa mét, lấm lem bụi đất bãi bồi đã được trinh sát cẩn trọng mang vào đặt lên mặt bàn nỉ xám. Khi lớp vải dù không thấm nước và ba tầng giấy bản bọc ngoài được gỡ bỏ cẩn thận trước luồng ánh sáng tập trung của chiếc đèn chụp, bức tranh “Đám cưới chuột” nguyên bản có niên đại hơn một trăm năm hiện ra trọn vẹn từng đường nét.

Đó là một vẻ đẹp hoàn toàn khác biệt, vượt xa sự thô thiển của bản phục chế giả mạo. Lớp giấy dó cổ nhuốm màu thời gian ngả sang sắc vàng ngà trầm mặc, mặt điệp tự nhiên óng ánh những vệt xà cừ huyền ảo như vảy cá dưới ánh trăng. Từng thớ mực nho ăn sâu, ngấu trọn vào từng sợi xơ cellulose của giấy dó. Những vết rạn chân chim tự nhiên của thời gian cùng con dấu triện son đỏ thắm mang chữ “Lưu Gia Chi Bảo” nơi góc dưới bên phải bức tranh vẫn vẹn nguyên, không hề mảy may sứt mẻ dù chỉ một ly.

Nhìn thấy linh hồn của dòng họ, ông Lưu Văn An quỳ sụp hẳn xuống bên chân bàn, hai bàn tay gầy guộc run rẩy nâng niu mép giấy cổ, rồi ôm mặt bật khóc nức nở như một đứa trẻ vừa tìm lại được cha mẹ giữa chốn chợ đời lưu lạc.

Duy thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, lồng ngực anh giãn ra. Ánh mắt người sĩ quan nhìn sang Phong đầy vẻ công nhận nhưng vẫn giữ nét kỷ luật thép của lực lượng vũ trang:

“Cậu làm tốt lắm, Phong. Bức tranh cổ an toàn rồi. Giờ tôi phải đích thân qua bên kia cầu Đuống, khóa chặt mắt xích thu mua.”

“Tôi đi cùng anh,” Phong chỉnh lại cổ áo măng-tô, giọng nói chắc nịch không để lại chút nghi ngờ nào.

Quán cà phê Gió Bãi thực chất chỉ là một căn nhà cấp bốn lợp mái tôn xi măng lụp xụp, nằm trơ trọi bên con đường rải đá dăm nham nhở dẫn xuống bãi bồi sông Đuống. Trời đã chuyển hẳn sang màu đen kịt. Gió bấc từ mặt sông lộng lên từng cơn buốt giá, mang theo hơi nước ẩm ướt và mùi bùn lầy nồng nặc đến gai người. Ánh đèn vàng vọt từ ngọn đèn sợi đốt treo lủng lẳng trước hiên quán đung đưa kẽo kẹt theo từng đợt gió.

Cuộc vây bắt diễn ra nhanh gọn, chuẩn xác và lạnh lùng như một nhát cắt trong phòng phẫu thuật.

Đối tượng trung gian — một gã đàn ông trạc ngoài bốn mươi tuổi, mặc áo khoác da đen bóng sờn vai, chiếc mũ lưỡi trai sùm sụp che gần nửa khuôn mặt rỗ chằng chịt — đang ngồi ở góc khuất nhất của quán, sát vách nứa rách. Mắt gã không ngừng đảo qua đảo lại giữa mặt chiếc đồng hồ đeo tay dây kim loại và màn hình điện thoại liên tục sáng đèn.

Ngay khi tổ trinh sát của Duy đồng loạt ập vào từ hai phía cửa nách và lối mòn bờ đê, gã chỉ kịp hất đổ ly cà phê đen đặc xuống sàn rồi toan phóng người qua hàng rào mắt cáo phía sau bãi ngô. Nhưng Duy đã nhanh hơn một nhịp; một đòn quét trụ hiểm hóc kết hợp với thế khóa tay điêu luyện đè nghiến cả thân hình nặng nề của gã xuống nền đất bùn nhão nhoét. Tiếng “tách” khô khốc của chiếc còng số tám lạnh ngắt bập vào hai cổ tay gã trước khi gã kịp phát ra tiếng kêu thất thanh thứ hai.

Trong chiếc túi xách du lịch bằng vải dù màu xám của gã đàn ông, ngoài hai cọc tiền mặt mệnh giá năm trăm nghìn đồng còn nguyên niêm phong ngân hàng dùng để thanh toán nốt cho Sơn, các trinh sát còn thu giữ được một chiếc hộp kim loại chuyên dụng có lót xốp chống sốc dày dặn dùng để bảo quản cổ vật đường dài, cùng một tấm vé tàu hỏa chuyến nửa đêm mang tên giả đi từ ga Hà Nội lên Lào Cai. Kế hoạch tẩu tán bức tranh quý vượt qua biên giới phía Bắc đã bị bẻ gãy hoàn toàn chỉ trong gang tấc.

Mười giờ đêm.

Không gian bên trong trụ sở Công an quận Hoàn Kiếm vẫn sáng rực ánh đèn tuýp trắng lóa. Tiếng máy in kim rít lên từng hồi đều đặn, tiếng lách cách gõ bàn phím lấy lời khai nghi phạm từ các phòng bên cạnh dội ra hành lang lát gạch hoa cũ kỹ, tạo nên một nhịp điệu quen thuộc của một đêm phá án thành công.

Sau khi hoàn tất toàn bộ thủ tục bàn giao biên bản lời khai ban đầu và lập biên bản niêm phong bảo quản bức tranh Đông Hồ để làm thủ tục trao trả lại cho ông Lưu Văn An vào sáng ngày mai, Thiếu tá Duy mời Phong và Ngọc vào phòng làm việc riêng của anh ở cuối hành lang tầng hai. Trên chiếc bàn làm việc bề bộn những tập hồ sơ nghiệp vụ bìa nâu, ba cốc trà mạn Thái Nguyên búp nõn nóng hổi đang bốc khói nghi ngút, hương thơm chát ngọt xua tan phần nào cái lạnh buốt xương của đêm đông Hà Nội.

“Gã thu mua tên là Trần Đình Tứ, một tay chuyên săn lùng và vận chuyển cổ vật lậu đã có hai tiền án ở khu vực biên giới phía Bắc,” Duy vừa lật giở từng trang bản tự khai còn ướt mực vừa nói, giọng trầm ngâm đầy suy tư. “Hắn khai nhận có một đầu mối nặc danh trên không gian mạng sử dụng tài khoản được mã hóa đặt hàng bức tranh này với giá trọn gói sáu trăm triệu đồng. Kẻ đó đã chuyển trước cho hắn một khoản để làm lộ phí và dùng chính tài khoản đó để bắn tiền cọc cho thằng Sơn. Hắn thực chất chỉ là một con rối nhận hàng và trung chuyển theo lộ trình vạch sẵn.”

“Quan trọng là dòng tiền cọc một trăm triệu chuyển vào tài khoản của Sơn lúc chiều thực sự bắt nguồn từ đâu,” Phong nhấp một ngụm trà đặc. Vị đắng chát dội thẳng vào đầu lưỡi trước khi đọng lại vị ngọt thanh sâu thẳm nơi cuống họng. Anh khẽ nghiêng đầu nhìn sang Ngọc: “Em đã kiểm tra được những gì từ mã số giao dịch ngân hàng mà phía ngân hàng vừa cung cấp chưa?”

Ngọc không đáp lời ngay. Cô đặt chiếc máy tính xách tay chuyên dụng lên mặt bàn gỗ, xoay nhẹ màn hình về phía Duy và Phong. Những dòng lệnh màu xanh lá cây và sơ đồ dòng tiền đan xen chằng chịt như mạng nhện hiện lên trên nền đen:

“Em đã phối hợp với cán bộ kỹ thuật của Phòng An ninh mạng để rà soát sâu vào mã định danh giao dịch thanh toán lúc mười bảy giờ ba mươi phút. Tài khoản chuyển một trăm triệu cho Sơn không phải là tài khoản cá nhân thông thường, cũng không thuộc về bất kỳ chi nhánh ngân hàng thương mại truyền thống nào. Nó là một tài khoản ảo được khởi tạo tự động từ một cổng thanh toán trung gian trực tuyến có tên là PayGate Vina.”

Những ngón tay mảnh khảnh của Ngọc lướt nhanh trên phím bấm, từng cửa sổ dữ liệu được phóng to:

“Đây là một kỹ thuật rửa tiền và ngụy tạo dòng tiền cực kỳ tinh vi. Cổng thanh toán trung gian này cho phép các ví tiền mã hóa xuyên biên giới nạp tiền vào dưới dạng ẩn danh hoàn toàn, sau đó hệ thống sẽ tự động hoán đổi và giải ngân bằng tiền đồng qua các tài khoản ngân hàng nội địa nhằm xóa sạch dấu vết người gửi. Nhưng điểm mấu chốt mang tính pháp lý nằm ở đây…”

Ngọc nhấp đúp chuột, phóng to một dòng chứng thư số đăng ký máy chủ và giấy phép khai thác kỹ thuật số của cổng thanh toán:

“PayGate Vina thực chất chỉ là một công ty bình phong được lập ra để che giấu hạ tầng kỹ thuật. Toàn bộ giấy phép cung cấp giải pháp thanh toán số và hạ tầng máy chủ định tuyến của họ lại được ủy quyền khai thác độc quyền bởi một doanh nghiệp công nghệ từng đặt trụ sở chính tại Hà Nội: Công ty Cổ phần Công nghệ Bắc Hà Dữ Liệu.”

Cái tên vừa thốt ra từ miệng Ngọc như một tiếng sét xé toạc bầu không khí yên ắng của căn phòng nhỏ.

Phong siết chặt chiếc cốc sứ Hải Dương trong lòng bàn tay. Các đốt ngón tay anh trắng bệch ra vì lực bóp quá mạnh. Nước trà sóng sánh suýt tràn ra mép bàn. Đôi đồng tử của anh đột ngột co rút lại thành hai điểm đen sắc lạnh.

*Bắc Hà Dữ Liệu.*

Ký ức của ba năm về trước ùa về như một cơn lốc xoáy buốt giá cào xé tâm can anh. Đó là những đêm trắng trong căn phòng ngập mùi thuốc lá của thầy Nguyễn Đức Minh — người thầy mẫu mực, người cha tinh thần mà Phong suốt đời kính trọng. Thầy Minh, với linh cảm nghề nghiệp của một điều tra viên lão luyện, đã từng âm thầm lần theo dấu vết của một đường dây tội phạm cổ cồn trắng chuyên thu thập dữ liệu cá nhân, thao túng luồng thông tin ngân hàng và cung cấp hạ tầng kỹ thuật ngầm cho các hoạt động rửa tiền xuyên quốc gia. Tất cả những manh mối đứt đoạn khi ấy đều chỉ về một cái bóng khổng lồ mang tên Bắc Hà Dữ Liệu.

Và rồi, ngay trước cái đêm định mệnh khi tập hồ sơ điều tra dày cộp ấy chuẩn bị được thầy Minh chính thức đặt lên bàn của Ban Giám đốc Công an thành phố, một chiếc xe tải mất lái trên cung đường đê vắng sông Hồng đã vĩnh viễn khép lại cuộc đời của người thầy đáng kính. Thầy Minh ra đi trong sự uẩn khúc, hiện trường vụ tai nạn được kết luận chóng vánh là do tài xế ngủ gật, để lại cho Phong một bàn cờ tướng dang dở cùng nỗi dằn vặt nhức nhối suốt một nghìn ngày qua.

“Bắc Hà Dữ Liệu…” Phong lẩm bẩm, thanh âm của anh khàn đặc đi như có cát nghẽn nơi thanh quản. Anh ngước mắt lên, nhìn thẳng vào đôi mắt của người bạn đồng môn năm xưa: “Duy, anh có nhớ cái tên này không?”

Sự biến đổi trên nét mặt của Thiếu tá Trần Quang Duy diễn ra vô cùng tinh vi, thoáng qua nhanh như một cái chớp mắt, nhưng tuyệt đối không thể lọt qua đôi mắt quan sát sắc sảo của một thám tử đã trải qua bao biến cố như Phong.

Đôi đồng tử của Duy khẽ lay động nhẹ. Cơ hàm của anh bạnh ra, và bàn tay đang cầm chiếc bút bi màu xanh đột ngột khựng lại giữa không trung. Một thoáng bối rối, e ngại, và thậm chí là cả một sự căng thẳng tột độ lướt nhanh qua khóe mắt của người sĩ quan hình sự trước khi anh kịp kéo lại vẻ mặt bình thản, nghiêm nghị thường ngày.

Duy chậm rãi đặt chiếc bút bi xuống mặt bàn gỗ, phát ra một tiếng cạch nhỏ. Anh đưa tay bưng cốc trà, nhấp một ngụm nhỏ để che giấu sự xáo trộn trong ánh nhìn, rồi nói bằng một chất giọng trầm xuống bất thường:

“Bắc Hà Dữ Liệu đã chính thức nộp đơn xin phá sản và hoàn tất thủ tục giải thể cách đây đúng ba năm rồi, Phong. Cậu biết rõ điều đó mà.”

Duy lảng tránh ánh mắt rực lửa của Phong, mắt nhìn bâng quơ vào góc tường:

“Sau vụ tai nạn giao thông của thầy Minh… cơ quan chức năng các cấp đã tiến hành rà soát, thanh tra lại toàn bộ hoạt động của công ty đó theo đúng quy trình tố tụng. Kết luận thanh tra đã nêu rõ: họ không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đăng ký, tài sản đã bị thanh lý để thực hiện nghĩa vụ thuế. Đó chỉ là một công ty ma, một pháp nhân chết còn sót lại các chứng thư số cũ trên hệ thống mạng viễn thông mà thôi.”

“Một công ty đã chết ba năm mà vẫn đứng tên ủy quyền hợp pháp cho các cổng thanh toán rửa tiền hàng trăm triệu đồng sao?”

Phong gặng hỏi, giọng anh đanh thép, từng từ từng chữ như những mũi dùi găm thẳng vào không gian ngột ngạt giữa hai người:

“Quân cờ xe đen do thằng Sơn bắt chước có thể chỉ là một trò hề con trẻ của một kẻ nợ nần túng quẫn, nhưng dòng tiền thực sự chảy qua hạ tầng kỹ thuật của Bắc Hà Dữ Liệu thì không hề là một trò đùa, Duy ạ! Kẻ đứng sau mạng lưới công nghệ này — kẻ từng tự xưng là ‘Kỳ Thủ’, kẻ đã gián tiếp bức tử thầy Minh của chúng ta — hắn vẫn đang sống! Hắn vẫn đang âm thầm vận hành guồng máy bẩn thỉu của hắn ngay dưới mũi chúng ta, ngay tại mảnh đất này!”

Sự im lặng bao trùm lấy căn phòng làm việc trong suốt gần một phút đồng hồ. Tiếng đồng hồ quả lắc treo tường gõ từng nhịp “tích tắc, tích tắc” nặng trĩu như đếm từng giọt thời gian căng thẳng.

Duy không trả lời ngay. Anh chậm rãi đứng dậy khỏi ghế làm việc, bước từng bước nặng nề lại gần khung cửa sổ mở hé. Anh nhìn xuống khoảng sân trụ sở công an quận đang chìm sâu trong màn sương đêm lạnh giá và những vệt đèn pha nhấp nháy của xe tuần tra vừa trở về. Bờ vai rộng của người sĩ quan dường như trĩu nặng xuống dưới một gánh nặng vô hình, một bí mật mà anh không thể hoặc chưa dám sẻ chia.

“Phong,” Duy lên tiếng, nhưng anh không quay đầu lại. Giọng nói của anh vọng từ khung cửa sổ về, trầm đục và nặng trĩu tâm sự:

“Có những tập hồ sơ nghiệp vụ… một khi đã được đóng lại theo đúng kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền, thì việc cố tình lật nó lên mà không có chứng cứ vật chất tuyệt đối trong tay sẽ chỉ mang lại nguy hiểm khôn lường cho cậu, cho tôi và cho tất cả những người xung quanh chúng ta. Cậu hiểu tính tôi mà. Tôi là một sĩ quan công an, tôi hành động theo mệnh lệnh và khuôn khổ pháp luật.”

Duy quay người lại, ánh mắt nghiêm khắc nhìn thẳng vào Phong:

“Cậu đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình. Cậu đã tìm lại được bức tranh cổ cho gia đình ông An, đã giúp lực lượng công an phá được một vụ án trộm cắp và buôn lậu cổ vật có tổ chức nghiêm trọng. Ngày mai, tên tuổi của cậu sẽ không xuất hiện trên mặt báo, nhưng công lao của cậu thì tôi và lãnh đạo công an quận ghi nhận. Hãy dừng lại ở đúng giới hạn đó đi, Phong. Đừng đi quá sâu vào những vùng bóng tối mà cậu không thể kiểm soát được hậu quả.”

Phong không đáp lời. Anh vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt lạnh lùng nhìn xuống mặt bàn.

Trên màn hình laptop của Ngọc, bản sao kê chi tiết chuỗi giao dịch tài chính vẫn đang sáng rực. Những con số nhị phân, những mã khóa băm SHA-256 và những dòng lệnh ủy thác tài chính tự động chạy dài vô tận.

Ở dòng lệnh ủy thác cuối cùng nằm ngay dưới chân trang tài liệu, bên cạnh con dấu số điện tử mờ ảo, cái tên “Bắc Hà Dữ Liệu” vẫn hiện diện sừng sững như một lời thách thức câm lặng từ bóng tối của quá khứ.

Bản sao kê ngân hàng chỉ ra một chuỗi thanh toán tự động dẫn thẳng về một pháp nhân đã giải thể ba năm trước.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories