Hồ Sơ Thám Tử Lâm PhongCh.14 / 24
Chapter 14

Nếp Gấp Của Bản Báo Cáo

Tiếng còi xe máy inh ỏi từ con ngõ Kim Liên vọng vào căn phòng khách giản dị của bà Hạnh, nơi những tách trà xanh nguội ngắt đặt cạnh tập tài liệu ố vàng.

Gian phòng tầng hai của nhà A4 phảng phất mùi cồn xoa bóp gừng gió lẫn với mùi thuốc mỡ trị thoái hóa xương khớp, hòa cùng thứ không khí ẩm mục đặc trưng bốc lên từ những mảng tường vôi vỡ lở, để lộ từng vệt gạch xỉ xám xịt bên dưới lớp sơn xanh ve chai đã ngả màu cáu bẩn. Đó là thứ mùi của thời gian tù đọng, của một căn hộ tập thể kiểu cũ được xây dựng từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước, nơi mọi biến động của đời sống dường như đều bị nén chặt lại sau cánh cửa sắt hoen rỉ. Phía góc nhà, sát cạnh chiếc tủ tường ọp ẹp bằng gỗ dán ép, một chiếc xe lăn cũ kỹ phủ lớp đệm giả da sờn rách được xếp gọn gàng. Ở đó, anh Nam – người con trai tròn ba mươi tuổi của bà Hạnh – đang ngồi lặng lẽ trên ghế tựa bên khung cửa sổ chắp vá bằng những thanh nẹp gỗ tạm bợ. Ánh mắt anh đờ đẫn, lơ đễnh nhìn hút ra khoảng giếng trời hẹp téo, nơi chằng chịt những dây phơi quần áo bạc màu, những lồng sắt “chuồng cọp” cơi nới đua ra không gian chung và những giọt nước điều hòa nhỏ tí tách xuống mái tôn lượn sóng bên dưới. Đôi chân anh buông thõng bất động dưới lớp chăn mỏng, gầy guộc và teo tóp như hai nhánh củi khô nép mình sau chuỗi năm tháng dài dằng dặc của số phận.

Lâm Phong không vội vàng nâng chén trà đã chuyển sang màu nước vối sẫm. Đôi mắt sắc sảo của anh khẽ đảo qua từng góc phòng, ghi nhận từng chi tiết dù là nhỏ nhất: từ chiếc đài cassette cũ kỹ bám đầy bụi than tổ ong đến tấm bằng khen của Ty Thương nghiệp Hà Sơn Bình đóng khung kính mờ đục treo ngay ngắn trên vách tường chính diện. Động tác của Phong thong dong nhưng tuyệt đối chuẩn xác. Anh mở chiếc cặp da công vụ sẫm màu, rút ra hai chiếc túi nylon zip trong suốt dùng trong kỹ thuật hình sự, bên trong chứa hai mẫu phong bì thư đã được anh dùng nhíp chuyên dụng niêm phong cẩn thận từ lúc sáng sớm tại chân cầu thang. Phong đặt hai chiếc túi song song lên mặt bàn gỗ tạp phủ tấm khăn trải dệt sợi thô màu ngà, ngay ngắn như hai bản cáo trạng nằm chờ phán quyết.

“Bà Hạnh này,” Phong mở lời, âm sắc trầm tĩnh, khoan hòa nhưng mang một sức nặng vô hình khiến không khí trong căn phòng chùng xuống. “Khi quan sát hiện trường cụm hòm thư sắt dưới chân cầu thang tầng một sáng nay, tôi và cháu Ngọc nhận thấy một sự đối nghịch rất rõ ràng giữa hai luồng văn bản cùng tồn tại trong đó. Cả hai luồng tài liệu này đều sử dụng chung một phôi giấy bãi bằng định lượng bảy mươi gam, loại giấy kẻ ngang thông dụng vốn được lưu trữ thành từng thếp lớn trong tủ văn phòng phẩm của phòng sinh hoạt cộng đồng khu tập thể. Thế nhưng, kỹ thuật chế tác và thói quen thao tác cơ học lại thuộc về hai bàn tay hoàn toàn dị biệt.”

Bà Hạnh ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế mây đã mòn vẹt phần tay vịn. Hai bàn tay gầy guộc, chằng chịt những đường gân xanh nổi cộm trên làn da đồi mồi, đang đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối. Khi nghe Phong nhắc đến những bức thư, những ngón tay khẳng khiu của bà khẽ run rẩy một nhịp rất khẽ, nhưng sống lưng bà vẫn giữ nguyên vẻ cứng cỏi, nghiêm cẩn của một người từng quen nề nếp kỷ cương hành chính suốt hàng chục năm ròng rã.

Phong hơi nghiêng người về phía trước, ngón tay trỏ đặt nhẹ lên bề mặt túi nylon thứ nhất:

“Những lá đơn kiến nghị đòi kiểm tra vật tư sửa chữa lan can hành lang có nếp gấp ba chuẩn xác tới từng milimét. Vết gấp miết sắc lẹm, mép giấy trùng khít hoàn hảo, hoàn toàn là thói quen cơ học của người thành thạo nghiệp vụ văn thư lưu trữ. Đáng chú ý hơn cả, mép dán phong bì không dùng keo hóa học bán sẵn mà được phết bằng hồ tinh bột tự nấu từ bột sắn. Khi lớp hồ tinh bột này khô đi, độ ẩm tự nhiên của nước làm các thớ xen-lu-lô-zơ của mặt giấy Bãi Bằng co lại, tạo thành những gợn sóng nhăn lăn tăn rất đặc trưng dọc theo đường dán. Đó là phong cách làm việc của một cựu chuyên viên hành chính đã dành trọn cả cuộc đời làm việc với công văn giấy tờ thời bao cấp, luôn cẩn trọng, căn cơ, chỉn chu và tiết kiệm từng đồng bạc lẻ.”

Ánh mắt Phong chuyển dịch sang chiếc túi nylon thứ hai, nơi phong bì chứa biểu tượng quân cờ Pháo đen đang nằm im lìm:

“Ngược lại hoàn toàn, sáu lá thư đe dọa mang biểu tượng quân Pháo đen lại được gập chéo một cách vội vã, cẩu thả, mép gấp lệch hẳn hai milimét so với trục chuẩn. Vết dán ở miệng phong bì không hề dùng hồ nước hay hồ tinh bột, mà sử dụng loại băng dính lăn vi điểm – một công nghệ keo dán dạng dải polymer tổ ong cực mỏng, nhập ngoại, chỉ thường xuất hiện trong các bộ hồ sơ thiết kế đồ họa hoặc văn phòng các tổng công ty nước ngoài. Nhưng điều tàn nhẫn nhất không nằm ở chất liệu keo dán. Lời lẽ trong những lá thư này rủa xả cay độc rằng đứa trẻ nào trong khu nhà còn dám chạy nhảy trên hành lang sẽ phải chịu kết cục ngã gãy cổ, rơi xuống sân ximăng nát bấy như một quả dưa hấu. Lời nguyền rủa ấy vừa khéo lại khoét sâu đúng vào vết thương chí mạng, vào bi kịch tàn khốc mà gia đình bà đã phải âm thầm cắn răng chịu đựng suốt mười năm qua. Đối với bất kỳ người hàng xóm nào không hiểu rõ nội tình, cái liên tưởng đầu tiên và duy nhất bật ra trong đầu họ sẽ là: Chỉ có mụ Hạnh, người đàn bà cay nghiệt đang phát điên vì có đứa con trai bại liệt, mới có thể uất ức thốt ra những lời độc địa để trút thù hận lên đầu những đứa trẻ vô tội trong xóm.”

Không gian trong căn phòng chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng kim đồng hồ treo tường vỏ nhựa Liên Xô gõ từng nhịp *tách… tách…* khô khốc, chen lẫn tiếng thở dài nặng nhọc của người thanh niên ngồi bất động bên khung cửa sổ.

Phong nhìn thẳng vào đôi mắt trũng sâu, thâm quầng vì những đêm trường mất ngủ của người đàn bà luống tuổi. Giọng anh không mang một tia phán xét hay truy vấn gắt gao, mà chỉ có sự điềm đạm, lạnh lùng nhưng đầy thấu cảm của một người đi tìm sự thật:

“Tôi tin bà là một người hiểu rất rõ giá trị của chứng cứ trước pháp luật và dư luận. Những lá đơn kiến nghị ban đầu gửi ban quản trị lâm thời, yêu cầu minh bạch dự toán vật tư là do chính tay bà viết, có đúng không?”

Bà Hạnh thở hắt ra một hơi dài rệu rã. Hai bờ vai gầy nhô cao dưới lớp áo len mỏng khẽ sụp xuống, tựa như một thanh đà chịu lực vừa bị rút bỏ sức ép khổng lồ đã đè nặng lồng ngực bà suốt bao ngày qua. Người đàn bà đưa bàn tay thô ráp lên gạt vội giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mắt đầy nếp chân chim, giọng bà nghẹn lại nhưng từng âm từ thốt ra vẫn đanh thép, rành rọt:

“Cậu Phong… cậu nói đúng từng chữ, không sai một ly một hào nào. Phải, chính tôi là người đã viết những lá đơn kiến nghị đầu tiên ấy. Tôi không việc gì phải chối bỏ. Tôi dùng chiếc máy chữ cơ cũ kỹ ở phòng sinh hoạt chung đánh từng dòng, rồi mang ra tiệm photocopy ngoài mặt phố Đào Duy Anh nhân thành mười mấy bản, đích thân nhét vào hòm thư của từng hộ gia đình từ tầng một lên đến tầng ba. Tôi làm việc đó công khai, đàng hoàng, với mục đích duy nhất là đánh động lương tri của bà con chòm xóm, gây sức ép buộc ban đại diện phải công khai dự toán vật tư sửa chữa lan can hành lang. Tôi không muốn… tôi không thể nào chịu đựng nổi việc nhìn thấy lịch sử đẫm máu tái diễn thêm một lần nữa! Tôi không muốn có thêm bất kỳ một đứa trẻ vô tội nào trong cái khu nhà mục nát này phải tàn phế, phải chôn vùi cả tuổi thanh xuân trên chiếc xe lăn sắt vụn như thằng Nam nhà tôi!”

Bà Hạnh bất thần ngẩng phắt đầu lên, lồng ngực phập phồng kịch liệt, đôi mắt hoe đỏ bỗng bốc lên ngọn lửa của sự căm phẫn uất nghẹn:

“Nhưng tôi xin thề có trời cao đất dày chứng giám! Tôi thề trước hương hồn cha mẹ tôi và trước tính mạng của đứa con trai duy nhất này: Tôi tuyệt đối không bao giờ viết ra những lá thư nặc danh tàn nhẫn, súc sinh ấy! Cậu thử nghĩ mà xem, thằng Nam nhà tôi bị tước đoạt đôi chân từ năm mười hai tuổi. Mười năm nay, từng ngày, từng giờ, từng khắc trôi qua, tôi nếm trải đủ nỗi đau đớn xé gan xé ruột của một người mẹ khi phải nhìn đứa con rứt ruột đẻ ra từng bước tàn tạ, co quắp trên giường bệnh. Có người mẹ nào trên đời này, từng chứng kiến con mình rơi từ trên cao xuống vũng máu, mà lại nhẫn tâm rủa xả con cái của người khác phải chịu thảm cảnh gãy cổ rơi đầu như thế không? Độc ác lắm cậu ơi! Kẻ nào đã viết ra những lời lẽ man rợ ấy rồi đổ vấy lên đầu mẹ con tôi, kẻ đó là loài lang sói, trời tru đất diệt, ắt sẽ phải gánh chịu quả báo nhãn tiền!”

Ngọc ngồi bên cạnh khe khẽ rút một tờ khăn giấy trắng trong túi xách, đưa sang cho bà Hạnh với sự trân trọng và đồng cảm sâu sắc. Là một cô gái trẻ đầy nhiệt huyết đang theo học ngành báo chí điều tra, Ngọc đã chứng kiến không ít những màn kịch tráo trở của lòng người, nhưng ánh mắt đau đớn đến cùng cực của người mẹ già trước mặt là thứ không một diễn viên tài ba nào có thể ngụy tạo được.

Phong khẽ gật đầu, ngón tay anh gõ nhịp nhẹ nhàng lên mép bàn gỗ, tiếp tục mở lối cho câu chuyện bằng một giọng điệu thấu triệt:

“Bà viết đơn kiến nghị là vì phát hiện có dấu hiệu bớt xén vật tư, giảm phẩm cấp sắt thép ở đợt cải tạo lan can lần này. Nhưng sự kiên quyết đến mức quyết liệt của bà không chỉ đơn thuần bắt nguồn từ sự bức xúc của một người dân có trách nhiệm. Đằng sau đó là một vết thương cũ sâu hoắm, một món nợ xương máu chưa từng được giải quyết sòng phẳng. Sáng nay, khi bà đứng trước cụm hòm thư, tôi đã thấy bà mang theo một tập tài liệu cũ được gói bọc rất kỹ dưới đáy chiếc túi vải dù.”

Bà Hạnh thoáng sững người. Ánh mắt bà nhìn Phong đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn thán phục trước khả năng quan sát chi li đến rợn ngườicủa viên thám tử trẻ. Bà ngồi lặng đi trong vài giây, dường như đang cân nhắc một quyết định hệ trọng. Cuối cùng, bà quả quyết đứng dậy, bước chầm chậm về phía chiếc tủ gỗ gụ cũ kỹ kê sát góc tường sau cánh cửa ra vào.

Chiếc tủ phát ra tiếng cọt kẹt rên rỉ khi bà cắm chìa khóa đồng vào ổ, vặn hai vòng mở ngăn kéo phía dưới cùng. Từ bên trong, bà Hạnh cẩn thận lấy ra một tệp hồ sơ lưu trữ kẹp trong bìa giấy carton dày đã sờn rách bốn góc, bên ngoài phủ một lớp bụi mỏng dù đã được lau chùi thường xuyên. Bà quay lại bàn, ngón tay run rẩy rút ra một tờ giấy khổ A4 đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, mép giấy xơ xác. Góc trên bên phải của tờ biên bản bị xé rách một mảng lớn hình tam giác, làm mất sạch toàn bộ phần ghi thông tin người lập biên bản và ngày tháng tiếp nhận ban đầu. Bà run run đặt tờ giấy ấy xuống trước mặt Phong.

“Đây chính là thứ mà tôi đã cất giữ như sinh mạng suốt mười năm qua,” giọng bà Hạnh trầm xuống, run rẩy nhưng mỗi chữ thốt ra đều nặng như chì. “Biên bản nghiệm thu kỹ thuật hạng mục rào chắn an toàn hành lang nhà A4 năm đó. Năm ấy, khu tập thể chúng ta được thành phố rót cho một khoản kinh phí nhỏ nhằm gia cố toàn bộ hệ thống lan can ban công đã xuống cấp. Khi ấy, ông Đoàn Tùng mới chân ướt chân ráo được cất nhắc lên làm tổ phó phụ trách cơ sở vật chất và an ninh trật tự. Để kiếm chác phần trăm chênh lệch, chính ông ta đã tự ý đứng ra bắt tay ngầm với một xưởng cơ khí tư nhân quen biết ở mạn Khâm Thiên, ký nhận nghiệm thu một lô sắt rào chắn mỏng manh, rỗng ruột, kém chất lượng hơn rất nhiều so với định mức trong hồ sơ thiết kế.”

Phong cẩn trọng đón lấy trang giấy ố vàng. Dù góc trên bị xé mất phần tên người lập, nhưng ở dòng chữ ký xác nhận nghiệm thu kỹ thuật thi công bên dưới, nét bút bi mực xanh đen dứt khoát cùng con dấu tròn đỏ thẫm của ban tự quản chung cư vẫn còn hằn sâu trên thớ giấy thô ráp: *Người nghiệm thu kỹ thuật: Đoàn Tùng.* Kèm theo chữ ký uốn lượn sắc nhọn ấy là một dòng ghi chú viết tay bằng nét chữ nghiêng quen thuộc: *“Đạt tiêu chuẩn an toàn chịu lực theo quy định.”*

“Chỉ ba tháng sau ngày ông ta ký vào cái tờ giấy oan nghiệt này,” giọng bà Hạnh nghẹn ứ lại, nước mắt cuối cùng cũng tràn qua bờ mi nhăn nheo, rơi lã chã xuống mặt bàn, “thằng Nam nhà tôi khi ấy mới tròn mười hai tuổi. Nó đang chơi đuổi bắt với mấy đứa nhỏ trong xóm, quả bóng nhựa vô tình bay vướng vào gờ lan can trước cửa nhà. Thằng bé chỉ hơi tựa nhẹ người vào đoạn lan can sắt để với tay lấy bóng. Ai mà ngờ được… cái mối hàn gá tạm bợ bằng que hàn loại ba bỗng chốc bung rời ra. Cả thanh sắt gãy gập xuống. Thằng Nam mất đà, ngã lộn nhào từ tầng hai cắm thẳng xuống nền sân bê tông phía dưới!”

Bà Hạnh nghẹn ngào nhìn sang phía khung cửa sổ, nơi anh Nam vẫn lặng phắc như một bức tượng gỗ, dường như tâm trí anh đã đóng chặt mọi giác quan với những hồi ức kinh hoàng năm xưa:

“Cậu có biết sau khi chuyện xảy ra, ông Tùng đã làm gì không? Ông ta sợ mất cái ghế tổ trưởng dân phố sắp được bàn giao, sợ công an vào cuộc điều tra trách nhiệm hình sự về việc bớt xén vật tư gây hậu quả nghiêm trọng! Ngay trong đêm hôm đó, khi tôi còn đang ngất lịm ở phòng cấp cứu bệnh viện Xanh Pôn nhìn các bác sĩ mổ hộp sọ và nối từng đốt sống cho con tôi, ông Tùng đã âm thầm huy động hai người thợ hàn quen ruột đến hàn lại đoạn lan can gãy, quét đè lên một lớp sơn chống rỉ màu xám để xóa sạch dấu vết. Sang sáng hôm sau, ông ta lập tức đổi trắng thay đen, rêu rao khắp hang cùng ngõ hẻm rằng thằng Nam ngỗ nghịch, trèo leo qua hàng rào rồi sẩy chân, đổ hết mọi tội lỗi lên đầu gia đình tôi là không biết trông nom dạy dỗ con cái!”

Cơn phẫn nộ dồn nén suốt cả thập kỷ khiến lồng ngực bà Hạnh phập phồng dữ dội:

“Chưa dừng lại ở đó, ông ta lén lút lẻn vào phòng văn thư của khu nhà, xé rách góc biên bản lưu trữ để phi tang phần trách nhiệm của người thẩm định vật tư. Ông ta đinh ninh rằng việc làm mờ ám ấy đã chìm xuồng vĩnh viễn. Nhưng ông ta không thể ngờ rằng, với tư cách là một cựu nhân viên hành chính, tôi đã kịp thời giữ lại một bản sao lưu nội bộ có đầy đủ chữ ký xác nhận của chính tay ông ta ở phần kiểm định kỹ thuật! Suốt mười năm trời ròng rã, ông ta luôn nhìn mẹ con tôi bằng nửa con mắt căm thù và cảnh giác tột độ. Ông ta tìm đủ mọi cách cô lập gia đình tôi, chỉ mong sao chúng tôi cùng đường phải bán xới căn nhà này đi nơi khác, để cái tội lỗi tày trời của ông ta được chôn vùi vĩnh viễn dưới lớp bụi thời gian!”

Lâm Phong nheo mắt, ánh mắt anh dừng lại rất lâu trên từng đường nét của chữ ký *Đoàn Tùng*. Nét mực xanh đen đã ngả màu hơi tím do tác động của ánh sáng và oxy hóa qua mười năm, nhưng cái đuôi chữ *g* kéo dài, hất ngược lên một góc bốn mươi lăm độ với một chấm móc sắc nhọn thì không thể lẫn vào đâu được. Từng mảnh ghép của chuỗi hành vi bắt đầu khớp lại với độ chính xác cơ học: một vết thương tâm lý chưa lành, một món nợ trách nhiệm pháp lý bị che giấu suốt cả thập kỷ, và thái độ hung hãn, phòng thủ một cách thái quá của viên tổ trưởng dân phố khi xuất hiện tại cụm hòm thư lúc ban sáng.

“Cháu đã hiểu toàn bộ sự việc, thưa bà Hạnh,” Phong cẩn thận lồng tờ biên bản nghiệm thu cũ vào một bìa hồ sơ chuyên dụng rồi cất vào cặp da. “Tài liệu này là một mắt xích pháp lý vô cùng trọng yếu. Bây giờ, cháu và Ngọc cần phải đi xác minh thực địa đường đi và thời gian phát tán của những lá thư nặc danh.”

***

Mười giờ ba mươi phút sáng, khoảng sân nội bộ giữa các khối nhà chung cư A4 và A1 thưa thớt bóng người qua lại. Tiết trời Hà Nội vào cữ trưa chuyển sang hanh hao, cái lạnh đầu đông khô khốc luồn qua những khoảng trống giữa các khối nhà tập thể, tạo thành từng luồng gió rít khe khẽ qua các ô thoáng cầu thang hình quả trám bám đầy mạng nhện.

Theo đúng kế hoạch đã thống nhất, Phong và Ngọc tách ra làm hai hướng tiếp cận để kiểm tra chéo các nhân chứng ngoại vi. Với sự nhạy bén và nét duyên dáng tự nhiên của một nữ phóng viên trẻ, Ngọc nhanh chóng định vị được mục tiêu đầu tiên: bác Thành – người giao báo buổi sáng kỳ cựu đã gắn bó với từng ngóc ngách của khu tập thể Kim Liên hơn hai mươi năm qua. Người đàn ông trạc lục tuần đang ngồi nghỉ chân trên chiếc ghế đẩu bằng nhựa đỏ dưới bóng cây bàng già rụng gần hết lá, ngay sát cổng sắt dẫn vào khu A4. Chiếc xe máy Honda Super Cub 81 cà tàng của bác dựng bên cạnh, phía sau yên xe buộc hai chiếc sọt sắt đan bằng nan hoa đã mòn vẹt, bên trong còn sót lại vài tờ báo gấp dở.

“Bác Thành ơi, bác cho cháu mua một tờ báo Tuổi Trẻ với ạ!” Ngọc bước tới, nở một nụ cười rạng rỡ, giọng nói trong trẻo xua tan đi vẻ ảm đạm của buổi trưa hanh hao.

Bác Thành ngẩng đầu lên, lấy tay quệt ngang giọt mồ hôi đang đọng trên vầng trán nhăn nheo, cười xòa xua tay:

“Tiếc quá cô bé ơi, báo Tuổi Trẻ sáng nay người ta lấy hết từ sớm rồi, giờ chỉ còn độc mấy tờ Hà Nội Mới với tờ Quân Đội Nhân Dân thôi. Cô có đọc tạm tờ Hà Nội Mới không thì bác lấy cho?”

“Dạ, thế bác lấy cho cháu tờ Hà Nội Mới cũng được ạ,” Ngọc nhanh nhẹn rút từ ví ra tờ tiền lẻ phẳng phiu đưa cho bác, rồi làm bộ tò mò đưa mắt nhìn sang cụm hòm thư sắt rỉ sét nằm dưới chân cầu thang nhà A4 cách đó chừng mười lăm mét. “Bác Thành chạy tuyến này lâu năm thế, chắc quen mặt hết cư dân ở đây bác nhỉ? Ban nãy cháu đi ngang qua, thấy mấy cô bác ở sảnh xôn xao bàn tán chuyện hòm thư lại có kẻ nhét thư đe dọa nặc danh, nghe ghê quá bác ạ.”

Bác Thành nhận tiền lẻ nhét vào túi áo ngực bạc màu, thở dài thẽ thượt rồi lắc đầu ngán ngẩm:

“Lại chuyện thư từ à? Khổ thân cái nhà bà Hạnh, cả cái khu tập thể này mấy hôm nay cứ như có ong vò vẽ làm tổ, loạn cào cào cả lên! Tôi chạy cái tuyến giao báo này từ hồi khu này còn chưa cơi nới chuồng cọp, tính đến nay cũng phải hăm mấy năm trời. Sáng nào cũng thế, bất kể mưa phùn gió bấc hay rét căm căm, đúng năm giờ kém mười lăm là tôi đã phải có mặt ở cái gốc bàng này, lúi húi nhét báo vào hòm cho mấy ông cán bộ hưu trí. Hôm qua với rạng sáng hôm kia, lúc tôi vừa mở nắp mấy cái hòm thư tầng hai với tầng ba ra để đút báo vào, thì đã thấy mấy cái phong bì trắng tinh nằm chình ình bên trong từ đời nào rồi. Nhưng mà chuyện này lạ lắm nhé cô bé!”

Ngọc chớp mắt, vẻ mặt đầy chăm chú, ngón tay khéo léo bấm nút ghi âm của chiếc máy thu âm kỹ thuật số đặt sâu trong túi áo khoác:

“Lạ là lạ thế nào hả bác Thành? Bác có nhìn thấy ai đi nhét thư không ạ?”

Bác Thành hạ thấp giọng, ngó nghiêng xung quanh một vòng như sợ có ai nghe lỏm, rồi mới thì thào:

“Cách đây hai hôm, tầm hơn bốn giờ sáng một tí, trời mù sương lạnh buốt lại lất phất mưa phùn. Tôi vừa tắt máy xe, dắt bộ vào dưới tán cây bàng này thì thấy từ phía lối đi thông sang nhà A3 có một bóng người lầm lũi đi tới. Người đó trùm kín mít một chiếc áo mưa cánh dơi màu xám tro, mũ áo mưa kéo sụp xuống tận sống mũi. Tôi cứ nghĩ là mấy ông bà già đi bộ tập thể dục sớm nên cũng chẳng buồn lên tiếng hỏi. Nhưng cái tướng đi của người đó thì quái dị lắm, không lẫn vào đâu được!”

“Tướng đi thế nào cơ bác?” Ngọc nín thở gặng hỏi.

“Cái chân bên phải nó cứ cứng đờ ra, mỗi lần bước là phải quăng cả cái hông sang bên, chân đi chấm phẩy, cà nhắc kéo lê trên mặt đường bê tông nghe sột soạt. Tôi nhớ rõ mồn một vì lúc người đó đi qua cái cột đèn cao áp đầu hồi nhà A4, dáng đi khập khiễng ấy in thành một cái bóng ngoằn ngoèo trên mảng tường vôi.”

Một chi tiết bằng vàng! Ngọc cảm ơn bác Thành rối rít rồi nhanh chân rảo bước sang tiệm tạp hóa Hoa Lành nằm ngay ở tầng trệt đối diện trực tiếp với cửa ngách dẫn vào chân cầu thang nhà A4. Tiệm tạp hóa này chỉ rộng chừng mười hai mét vuông nhưng chất kín đủ mọi loại nhu yếu phẩm, từ những gói mì ăn liền, bánh xà phòng thơm cho đến các chai dầu ăn, can nước mắm và những bao thuốc lá treo lủng lẳng trước quầy. Phía trên mái hiên tôn của tiệm có lắp một chiếc camera giám sát nhỏ hướng thẳng ra mặt ngõ, và đặc biệt hơn cả, ở góc cột điện bê tông đối diện chéo với tiệm có gắn một chiếc gương cầu lồi đường kính lớn – vật dụng mà cư dân dùng để quan sát góc cua khuất khi dắt xe máy ra vào khúc quanh hẹp.

Bằng chiếc thẻ sinh viên thực tập của báo Tuổi Trẻ cùng thái độ mềm mỏng, lễ phép và nụ cười hòa nhã, Ngọc không mất quá nhiều thời gian để thuyết phục bà chủ tiệm tạp hóa – một phụ nữ trung niên phốp pháp đang ngồi cắn hạt dưa – cho phép cô kiểm tra lại dữ liệu trích xuất từ camera an ninh rạng sáng ba ngày vừa qua, với lý do tác nghiệp là “khảo sát thực tế phục vụ tuyến bài viết về tình hình an ninh trật tự và hệ thống camera giám sát tại các khu chung cư cũ”.

Đúng như nhận định ban đầu của Ngọc khi quan sát hiện trường từ xa, góc quay của mắt camera tiệm tạp hóa được lắp đặt hơi thấp nhằm mục đích chính là trông coi quầy hàng và xe cộ của khách mua, do đó tầm nhìn bị che khuất một phần bởi mái hiên bạt và không thể chiếu thẳng vào góc tối dưới chân cầu thang nhà A4. Tuy nhiên, góc trên bên phải của khung hình lại vô tình bắt trọn toàn bộ hình ảnh phản chiếu từ chiếc gương cầu lồi gắn trên cây cột điện đối diện.

Ngọc ngồi trước màn hình máy tính để bàn cũ kỹ trong góc tiệm, nín thở rê chuột kéo thanh thời gian quay ngược lại thời điểm rạng sáng ngày hôm qua. Đồng hồ hiển thị trên màn hình nhấp nháy: *04:19:32… 04:20:05.*

Dưới ánh đèn đường cao áp vàng vọt nhập nhoạng và màn mưa phùn giăng mắc như tơ nhện của buổi sớm mùa đông Hà Nội, một bóng người cao gầy, khoác chiếc áo mưa bạt màu xám tro che kín từ đỉnh đầu xuống tận bắp chân lững thững xuất hiện từ phía lối đi nội bộ nối giữa hai khối nhà A3 và A4. Kẻ đó bước đi chầm chậm, dò dẫm tiến về phía cụm hòm thư sắt. Dù chiếc áo mưa rộng thùng thình đã che khuất hầu hết các đặc điểm nhân dạng về vóc dáng hay y phục bên trong, nhưng qua hình ảnh phản chiếu từ bề mặt cong lồi của chiếc gương, cơ chế vận động cơ học của đôi chân kẻ đó hiện lên vô cùng rõ nét:

Mỗi khi tiến bước, kẻ này dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể sang chân trái để làm trụ, trong khi chiếc chân phải có dấu hiệu co cứng, không thể gập khớp gối một cách tự nhiên mà phải vung hông ra phía ngoài, kéo lê một nhịp khập khiễng đầy khó nhọc trước khi gót chân chạm xuống mặt đường.

Bóng người bí ẩn dừng lại trước cụm hòm thư sắt khoảng mười giây. Một cánh tay đeo găng tay cao su y tế màu xanh lam thò ra từ dưới tà áo mưa, thuần thục nhét từng chiếc phong bì trắng vào khe hòm thư của các hộ dân thuộc tầng hai và tầng ba. Động tác hoàn tất nhanh gọn, kẻ đó lập tức thu tay lại, quay người rảo bước thật nhanh, tiếp tục cái dáng đi chấm phẩy kéo lê chân phải đi vòng qua góc tường nhà A3 rồi tan biến vào màn sương sớm mịt mùng.

Dáng đi khập khiễng do tật ở chân phải ấy mang một đặc trưng vận động học không thể nào trộn lẫn!

Ngọc ghìm chặt sự phấn khích đang dâng trào trong lồng ngực. Cô cẩn thận dùng điện thoại di động quay lại toàn bộ đoạn video phản chiếu từ màn hình máy tính, kiểm tra lại từng khung hình để đảm bảo độ sắc nét của chi tiết bước chân và chiếc găng tay màu xanh, rồi mới lễ phép cảm ơn bà chủ tiệm tạp hóa trước khi rời đi.

***

Trong khi Ngọc đang thu thập những dữ liệu hình ảnh mang tính quyết định, Lâm Phong thong thả rảo bước dọc theo hành lang lát gạch hoa xi măng đã mòn nhẵn, hướng về phía văn phòng tổ dân phố cụm Hòa Bình. Căn phòng này nằm ở góc tầng một của khối nhà sinh hoạt chung, cách chân cầu thang nhà A4 chừng năm mươi mét.

Cánh cửa gỗ dán khẩu hiệu “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” khép hờ, để lộ một khe sáng hẹp. Phong khẽ bước lại gần, ngửi thấy mùi khói thuốc lá Thăng Long nồng nặc phả ra từ bên trong. Qua khe cửa, anh thấy Đoàn Tùng đang ngồi một mình bên chiếc bàn làm việc trải tấm kính dày bám đầy vết ố trà. Ông ta đeo một cặp kính lão gọng đồi mồi trễ xuống sống mũi, đang chăm chú dùng bút bi tích vào từng dòng trên một tập hồ sơ dày cộm. Cạnh chân bàn, chiếc gậy gỗ nghiến bịt đồng quen thuộc được dựng tựa vào mép gỗ.

Phong đưa tay gõ ba tiếng dứt khoát lên cánh cửa.

“Xin lỗi, bác Tùng có bận chút thời gian không ạ?”

Đoàn Tùng giật nảy mình, vội vàng gấp tệp hồ sơ lại như một phản xạ tự nhiên của kẻ có điều khuất tất. Nhìn thấy Phong đứng sừng sững ở cửa, nét mặt ông ta lập tức đanh lại, đôi lông mày hoa râm rậm rạp nhíu chặt vào nhau, ánh mắt lộ rõ sự cảnh giác và hằn học:

“Lại là cậu thám tử đấy à? Cậu còn lởn vởn quanh cái khu tập thể này làm gì nữa? Tôi đã nói rất rõ ràng từ sáng rồi: Mọi chuyện thư từ nặc danh, xích mích xóm giềng là công việc nội bộ của tổ dân phố chúng tôi! Chúng tôi đã có báo cáo chính thức gửi lên công an phường, mọi việc sẽ được giải quyết theo trình tự hành chính, không phiền đến những người ngoài như các cậu can thiệp vào!”

Trước thái độ xua đuổi quyết liệt ấy, Phong không hề tỏ ra nao núng hay bực bội. Khóe môi anh khẽ mỉm một nụ cười nhã nhặn, bước đĩnh đạc vào trong phòng rồi rút từ túi áo khoác ra một cuốn sổ tay bìa da nhỏ:

“Bác Tùng hiểu lầm thiện ý của tôi rồi. Bà Hạnh sáng nay có nhờ tôi một việc hoàn toàn chính đáng trên phương diện pháp lý: Bà ấy muốn xin trích lục bản quy chế quản lý và cải tạo phần diện tích sử dụng chung của khu dân cư, nhằm đối chiếu xem việc sửa chữa, gia cố lan can hành lang sắp tới có đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn phòng cháy chữa cháy và thoát hiểm hay không. Với tư cách là tổ trưởng dân phố, người trực tiếp lưu trữ hồ sơ hành chính của cụm Hòa Bình suốt bao năm qua, tôi tin chắc bác là người nắm giữ những văn bản quy chuẩn này rõ nhất.”

Nghe Phong nhắc đến những thuật ngữ hành chính quen thuộc như “quy chế quản lý”, “an toàn phòng cháy” và tán tụng vai trò nắm giữ tài liệu của mình, nét mặt Đoàn Tùng hơi giãn ra đôi chút. Căn bệnh nghề nghiệp của một cán bộ cơ sở thích phô trương quyền hạn và ưa tính nguyên tắc cứng nhắc bộc lộ rõ rệt:

“Hừ, ra là cái chuyện đó! Bản quy chế và hồ sơ thẩm định thì tôi lưu đầy đủ ở đây, việc gì phải giấu giếm! Nhưng mà cái mụ Hạnh ấy thì biết cái cóc khô gì về thông số kỹ thuật xây dựng mà đòi thẩm định với chả quy chế? Đàn bà rỗi việc chỉ giỏi bới bèo ra bọ, làm phức tạp hóa tình hình an ninh trật tự của khu phố!”

Đoàn Tùng vừa làu bàu vừa chống hai tay xuống mặt bàn để đứng dậy. Ông ta không với lấy chiếc gậy gỗ nghiến đang dựng cạnh chân bàn, mà quyết định tự bước đi vài bước đến chiếc tủ sắt lưu trữ tài liệu đặt sát vách tường phía sau lưng.

Chính khoảnh khắc ấy, toàn bộ sự chú ý của Phong dồn thẳng vào đôi chân của người đàn ông.

Để đứng vững, Tùng phải dồn sức tì mạnh lòng bàn tay trái lên mặt kính bàn làm việc, gồng cứng cơ vai. Khi bước đi, chân trái của ông ta đóng vai trò làm trụ chịu lực, trong khi chiếc chân bên phải hơi co cứng lại ở khớp gối, kéo rê một nhịp ngắn trên nền gạch hoa, gót chân chếch ra phía ngoài một góc khoảng mười lăm độ do di chứng thoái hóa khớp háng hoặc một chấn thương xương đùi lâu năm không được điều trị dứt điểm. Dáng đi này hoàn toàn đối nghịch với phản xạ co rút chân trái mà Phong từng nhận thấy ở sảnh hòm thư lúc sáng khi ông ta chống gậy và xúc động mạnh.

Thực chất, chiếc gậy chống bên tay phải vào buổi sáng chỉ là công cụ để ông ta giảm bớt áp lực cơ học lên chân phải khi phải đứng lâu trước đám đông, vô tình tạo ra cảm giác đánh lừa thị giác rằng chân trái mới là chân yếu. Nhưng khi vận động tự do trong không gian quen thuộc mà không có gậy, chân phải mới chính là bên chân chịu tật nguyền, tạo ra cái nhịp bước “chấm phẩy” cà nhắc kéo lê đặc thù.

Tuy nhiên, điều khiến đồng tử của Phong khẽ co lại trong tích tắc không chỉ dừng lại ở dáng đi của Tùng, mà là những vật dụng đang hiện diện rành rành trên mặt bàn làm việc dưới ánh đèn tuýp huỳnh quang trắng lạnh.

Ngay cạnh tập hồ sơ dự toán cải tạo lan can mang tên một doanh nghiệp tư nhân, cắm trong chiếc ống cắm bút bằng nhựa mica giả pha lê, có một cây bút dạ dầu ngòi tròn màu tím than mang nhãn hiệu Artline 70. Nắp bút hơi lỏng lẻo như vừa được đậy vội, phần mép nhựa quanh đầu ngòi bút vẫn còn đọng lại một vệt mực màu tím sẫm vừa khô chưa lâu. Phong nhớ chuẩn xác tới từng chi tiết: toàn bộ sáu chữ Hán “Pháo” (砲) và các vòng tròn bao quanh trên các lá thư đe dọa gửi cư dân đều được vẽ bằng mực dạ dầu màu tím than, với đường kính nét mực chuẩn xác một phẩy năm milimét – kích thước tiêu chuẩn không thể sai lệch của ngòi bút Artline 70.

Và chấn động hơn cả, nằm ngay sát bên cạnh ống bút, đặt hờ hững trên một xấp phong bì trắng chưa bóc tem, là một con lăn dán keo cầm tay màu xanh lam nhỏ gọn bằng nửa lòng bàn tay. Trên thân vỏ nhựa trong suốt của nó in dòng chữ màu trắng sắc nét: *Kokuyo Dotliner Tape Roller – Made in Japan*.

Đó chính là công cụ dán keo dạng lăn vi điểm ngoại nhập – một món văn phòng phẩm cao cấp, đắt tiền và cực kỳ hiếm thấy trong một văn phòng tổ dân phố cũ kỹ ngập ngụa mùi ẩm mốc. Chiếc con lăn ấy chính là thủ phạm đã để lại những chấm keo polymer hình lục giác tổ ong siêu nhỏ mà Phong đã tỉ mỉ soi thấy dưới kính lúp tại hiện trường hòm thư sáng nay!

Phong giữ nét mặt hoàn toàn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Ánh mắt anh lướt nhẹ sang một tờ giấy nháp A4 đặt ngay cạnh góc bàn phím máy tính cũ của Tùng. Trên tờ giấy nháp ấy, bên cạnh những con số tính toán cộng trừ vội vã về khối lượng xi măng, cát vàng và sắt thép hộp mạ kẽm, còn có vài dòng chữ viết nguệch ngoạc bằng bút bi, ghi lại những đường link diễn đàn mạng xã hội cùng những cụm từ rời rạc: *“Dấu ấn trừng phạt của Kỳ Thủ… kẻ phản bội trên bàn cờ… quân cờ đen thanh trừng nội bộ…”*

Đoàn Tùng rút một tập tài liệu mỏng từ tủ sắt, quay người bước lại bàn làm việc. Nhìn thấy Phong đang đứng cạnh bàn, ông ta vội vàng đặt mạnh tập tài liệu xuống, vô tình kéo vạt tay áo sơ mi khoác ngoài che lấp đi tờ giấy nháp:

“Đây! Quy chế quản lý và sử dụng nhà chung cư do Sở Xây dựng ban hành đây. Cậu cầm về mà đưa cho mụ Hạnh, bảo mụ ấy căng mắt ra mà đọc cho kỹ từng điều khoản, rồi thì bảo mụ ngậm cái mồm lại, đừng có ở đấy mà suy diễn lung tung, gây hoang mang cho bà con lối xóm nữa!”

“Cảm ơn bác Tùng rất nhiều,” Phong điềm đạm đưa hai tay đón lấy tập tài liệu photo, ánh mắt anh khẽ liếc qua bàn tay phải của Tùng đang đặt trên bàn. Ở kẽ móng tay ngón trỏ và mu bàn tay phải của ông ta, vẫn còn vương một vệt mờ màu tím sẫm của mực dạ dầu chưa kịp tẩy sạch bằng xà phòng. Phong nở một nụ cười ẩn ý, giọng nói bâng quơ như một câu khen ngợi vô thưởng vô phạt: “Bác Tùng làm việc quả thực rất chu đáo và hiện đại. Đến cả keo dán công văn, văn phòng tổ dân phố cũng trang bị loại con lăn cao cấp của Nhật Bản thế này, quả là hiếm có nơi nào bắt kịp.”

Sắc mặt Đoàn Tùng thoáng khựng lại trong nửa giây. Đôi mắt sau tròng kính lão lóe lên một tia bối rối lẫn hoảng hốt cực nhanh. Ông ta vội vàng đưa tay gạt phắt chiếc con lăn Kokuyo vào góc kẹt khuất sau màn hình máy tính CRT dày cộm, gượng gạo nở một nụ cười nhạt nhẽo:

“À… mấy cái đồ lặt vặt ấy mà. Thằng cháu tôi nó làm bên công ty tư vấn xây dựng, thấy tôi hay phải dán phong bì gửi giấy mời họp tổ dân phố lem nhem hồ nước nên nó tiện tay mang cho dùng thử. Dán giấy tờ nghiệm thu bằng cái này nó khô ngay, phẳng phiu, sạch sẽ.”

“Vâng, quả thực rất tiện lợi và không để lại dấu vết lem ố như hồ nước,” Phong gật đầu, ánh mắt sâu thẳm nhìn xoáy vào mắt người đối diện trong một giây ngắn ngủi. “Xin phép bác, tôi về chuyển tài liệu cho bà Hạnh.”

Phong quay người, bước những bước khoan thai ra khỏi văn phòng tổ dân phố, để lại sau lưng ánh nhìn đầy bồn chồn, bất an của viên tổ trưởng già.

***

Mười một giờ trưa, không khí tại quán cà phê nhỏ nằm nép mình ở đầu ngõ Kim Liên bắt đầu nhộn nhịp tiếng trò chuyện của dân công sở đi ăn trưa sớm. Tiếng máy xay cà phê ro ro phát ra từng chặp đều đặn cùng mùi hạt cà phê rang xay thơm nồng, đậm đà lan tỏa trong không gian hẹp, phần nào xua bớt đi cảm giác ẩm đục, ngột ngạt của khu tập thể cũ kỹ vừa trải qua buổi sáng đầy sóng gió.

Ở chiếc bàn gỗ nhỏ kê sát góc tường gạch mộc, Phong và Ngọc gặp lại nhau. Trên bàn, hai ly cà phê đen đá đã bắt đầu tan những giọt nước mát lạnh quanh thành cốc.

Ngọc mở chiếc máy tính xách tay mỏng nhẹ, những ngón tay thon dài gõ thoăn thoắt trên bàn phím rồi nhanh chóng xoay màn hình về phía Phong:

“Anh Phong, em đã nắm trong tay hai mắt xích then chốt nhất về mặt hành vi và thời gian!”

Cô bấm chuột mở đoạn video trích xuất từ camera tiệm tạp hóa Hoa Lành, chỉ ngón tay vào bóng người trùm áo mưa xám tro đang phản chiếu trên mặt gương cầu lồi:

“Thứ nhất, lời khai của bác Thành – người giao báo kỳ cựu – khẳng định chắc nịch rằng những lá thư nặc danh được nhét vào hòm thư trước năm giờ sáng. Và đoạn video này ghi lại chính xác vào lúc bốn giờ hai mươi phút sáng hôm qua: Kẻ rải thư trùm áo mưa xám, đeo găng tay cao su màu xanh, và có một dáng đi tật nguyền ở chân phải cực kỳ rõ rệt! Mỗi bước đi, người này phải hất hông, kéo lê chân phải tạo thành một nhịp chấm phẩy rất nặng nề!”

Phong khẽ nhấp một ngụm trà mạn đặc quánh, nụ cười điềm tĩnh hiện rõ trên gương mặt:

“Chi tiết này hoàn toàn trùng khớp với cơ chế vận động thực tế của Đoàn Tùng khi ông ta di chuyển trong phòng kín mà không dùng gậy chống. Buổi sáng, ông ta chống gậy bên tay phải cốt để tạo ấn tượng cho mọi người rằng chân trái của mình bị yếu liệt nhằm phân tán sự chú ý, nhưng kỳ thực chân phải của ông ta mới là chân mang tật thoái hóa nặng. Hơn thế nữa, ngay trên bàn làm việc của ông ta, anh đã tận mắt nhìn thấy cây bút dạ dầu ngòi tròn màu tím Artline 70, con lăn keo dán vi điểm Kokuyo Dotliner tạo vệt tổ ong, và kẽ ngón tay trỏ của ông ta vẫn còn dính mực tím chưa tẩy sạch.”

Ngọc đập mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn, ánh mắt ánh lên ngọn lửa căm phẫn:

“Quả nhiên là lão ta! Không thể chệch đi đâu được! Nhưng tại sao chứ anh? Mười năm trôi qua êm thấm, tại sao đùng một cái lão ta lại giở cái trò đê tiện, tàn nhẫn này ra để vu oan giá họa cho một bà mẹ già đã chịu quá nhiều bất hạnh như bà Hạnh? Chỉ đơn thuần là để trả thù cá nhân vì mối hiềm khích mười năm trước thôi sao?”

“Đó chỉ là chất xúc tác về mặt tâm lý dồn nén,” Phong lắc đầu, ánh mắt anh trở nên sắc lạnh và tập trung cao độ. “Bà Hạnh và đứa con tật nguyền đã sống ở đó suốt một thập kỷ qua, nếu chỉ vì thù ghét đơn thuần, Đoàn Tùng đã chẳng chờ đến tận bây giờ mới bộc phát hành động liều lĩnh như vậy. Trong mọi vụ án ngụy tạo hiện trường và khủng bố tinh thần, luôn luôn phải có một ‘ngòi nổ vật chất’ trực tiếp đe dọa đến quyền lợi cốt lõi của kẻ thủ ác tại thời điểm hiện tại. Em đã kiểm tra sâu hơn về hồ sơ pháp lý của dự án cải tạo lan can ba khối nhà A1, A2, A4 chưa?”

Ngọc lập tức chuyển sang một tab trình duyệt khác trên màn hình máy tính, nơi đang hiển thị giao diện Hệ thống Mạng Đấu thầu Quốc gia cùng Cổng thông tin Đăng ký Doanh nghiệp Quốc gia với hàng loạt dữ liệu số liệu chi tiết.

“Đây chính là câu trả lời toàn diện nhất cho toàn bộ động cơ đen tối của Đoàn Tùng, anh Phong!” Ngọc hạ thấp giọng, nhưng từng từ ngữ cô thốt ra đều mang sức nặng của những bằng chứng thép. “Dự án sửa chữa, thay thế toàn bộ hệ thống lan can thép và gia cố mặt tiền ban công cho ba khối nhà A1, A2, A4 cụm Hòa Bình có tổng mức đầu tư phê duyệt lên tới gần một tỷ hai trăm triệu đồng. Nguồn vốn này được trích từ quỹ bảo trì tích lũy nhiều năm của hàng trăm hộ dân cư, kết hợp với nguồn vốn ngân sách đối ứng của ủy ban nhân dân phường.”

Ngọc nhấp chuột mở tệp hồ sơ năng lực của đơn vị trúng thầu:

“Đơn vị được chỉ định thầu thông qua hình thức chào hàng cạnh tranh rút gọn là Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng & Thương mại Thành Đạt. Người đại diện pháp luật kiêm giám đốc điều hành công ty là một người tên Đoàn Mạnh Thắng, sinh năm 1988, đăng ký hộ khẩu thường trú tại ngõ Thổ Quan, phố Khâm Thiên, quận Đống Đa. Em đã dùng tài khoản dữ liệu tra cứu nhân khẩu học và đối chiếu cây phả hệ gia đình: Đoàn Mạnh Thắng chính là cháu ruột gọi Đoàn Tùng bằng chú ruột!”

Phong nheo mắt nhìn sâu vào bảng kê khai bóc tách dự toán vật tư của Công ty Thành Đạt đang hiển thị rõ ràng trên màn hình máy tính. Từng con số nhảy múa trước mắt anh như phơi bày toàn bộ sự trơ trẽn của một phi vụ trục lợi:

“Em nhìn vào đơn giá sắt thép hộp mạ kẽm và phụ kiện bản mã mối hàn này xem,” Phong chỉ tay vào bảng số liệu. “Đơn giá vật tư được kê khống lên gần gấp đôi so với giá bán lẻ thực tế ngoài thị trường của các đại lý cấp một. Nhưng ngược lại, tiêu chuẩn kỹ thuật về độ dày của thành ống thép và độ sâu ngấu của đường hàn lại bị hạ thấp xuống mức tối thiểu, sử dụng loại thép mỏng loại hai, loại ba – hệt như cái cách mà Đoàn Tùng đã bắt tay với xưởng cơ khí tư nhân mười năm về trước để đút túi tiền chênh lệch!”

“Đúng là một vòng lặp tội ác!” Ngọc tiếp lời, lồng ngực cô phập phồng vì bức xúc. “Bà Hạnh vốn là người từng có hàng chục năm công tác tại Ty Thương nghiệp rồi Sở Công Thương Hà Sơn Bình, bà ấy quá am hiểu về định mức đơn giá vật tư, quy trình lập dự toán và thủ tục đấu thầu xây dựng. Khi dự án chuẩn bị khởi công, bà Hạnh vừa nhìn qua bảng thông báo tóm tắt là đã phát hiện ngay dấu hiệu bớt xén nghiêm trọng. Bà ấy lập tức viết những lá đơn kiến nghị đầu tiên yêu cầu công khai dự toán chi tiết, đòi đưa đơn vị kiểm định độc lập vào giám sát chất lượng thép.”

Phong gật đầu tiếp nối mạch suy luận một cách sắc bén:

“Đoàn Tùng hiểu rất rõ rằng nếu những lá đơn kiến nghị danh chính ngôn thuận của bà Hạnh được lan tỏa, nếu cư dân trong khu tập thể tỉnh ngộ và cùng nhau ký vào đơn khiếu nại tập thể gửi lên ủy ban quận, thì không những gói thầu béo bở của công ty thằng cháu ruột bị đình chỉ vô thời hạn, mà toàn bộ những khoản tiền lót tay, hoa hồng chia chác dưới gầm bàn suốt thời gian qua sẽ bị phanh phui trước ánh sáng pháp luật. Cái ghế tổ trưởng dân phố và vỏ bọc đạo mạo của ông ta sẽ tan thành mây khói.”

“Và thế là ông ta quyết định tung ra một nước cờ bẩn thỉu và tàn nhẫn nhất!” Ngọc nghiến răng nói. “Ông ta bắt chước y hệt phương thức rải thư vào hòm thư của bà Hạnh, lấy cùng loại phôi giấy Bãi Bằng trong phòng sinh hoạt chung để tạo cảm giác quen thuộc. Nhưng thay vì những lời kiến nghị hành chính khô khan, ông ta lại viết những bức thư nặc danh với lời lẽ rủa xả man rợ, nhắm thẳng vào tính mạng của những đứa trẻ con trong khu nhà! Ông ta thừa biết tâm lý của các bậc phụ huynh: Đụng đến tiền bạc người ta có thể chần chừ, nhưng đụng đến tính mạng con cái họ, họ sẽ phát điên lên vì hoảng loạn và giận dữ. Ông ta biến bà Hạnh thành một ‘mụ phù thủy độc ác, điên loạn’ trong mắt toàn thể cư dân. Một khi bà Hạnh đã bị gán cho cái mác điên tình, căm thù con trẻ, thì sẽ chẳng còn một người dân nào thèm bận tâm hay tin tưởng vào những lá đơn kiến nghị minh bạch vật tư của bà ấy nữa!”

Ánh mắt Phong bỗng dừng lại ở một dòng ghi chú nhỏ bằng phông chữ nghiêng ở trang cuối cùng trong bản công bố thông tin doanh nghiệp của Công ty Thành Đạt mà Ngọc vừa kéo xuống. Một cái tên quen thuộc lọt vào tầm mắt khiến đôi mắt anh khẽ nheo lại:

“Ngọc, dừng lại ở mục đơn vị tư vấn truyền thông và xử lý quan hệ cộng đồng của công ty Thành Đạt xem nào.”

Ngọc giật mình, vội vàng cuộn chuột lại và ghé sát mắt vào màn hình:

“Đơn vị hỗ trợ giải pháp truyền thông và giải trình hồ sơ mời thầu… Công ty Cổ phần Tư vấn & Quản trị Danh tiếng Tân Trí? Trời đất ơi… lại là Tân Trí! Nhưng mà anh Phong này, theo dữ liệu hợp đồng hiển thị ở đây thì Tân Trí chỉ đóng vai trò tư vấn chiến lược hồ sơ năng lực và truyền thông dự án cho họ từ tận cuối năm ngoái thôi, không có dấu hiệu điều hành trực tiếp phi vụ bẩn thỉu này.”

Phong khẽ thở dài, trong đầu anh lập tức liên kết những chi tiết dường như rời rạc lại với nhau: những dòng chữ viết nguệch ngoạc trên tờ giấy nháp cạnh bàn phím máy tính của Đoàn Tùng về “Kỳ Thủ”, “bàn cờ trừng phạt”, và biểu tượng quân Pháo đen (砲) được vẽ bằng bút dạ Artline tím than.

“Đoàn Tùng hoàn toàn không phải là thành viên trong mạng lưới ngầm của Kỳ Thủ,” Phong điềm đạm phân tích, giọng nói mang một sự đúc kết lạnh lùng và chuẩn xác. “Ông ta chỉ là một kẻ cơ hội ở cấp cơ sở, vừa tham lam vừa hèn hạ. Khi tìm kiếm các biện pháp dập tắt dư luận trên mạng và thông qua các tài liệu tập huấn về quản trị khủng hoảng truyền thông mà công ty của đứa cháu mang về từ Tân Trí, ông ta đã đọc được những giai thoại đồn thổi, những vụ thanh trừng ly kỳ mang màu sắc giang hồ gắn liền với biểu tượng ‘Kỳ Thủ trừng phạt kẻ phản bội’. Với bản tính xảo quyệt của một kẻ quen nghề luồn lách, ông ta bèn tiện tay ‘mượn’ luôn biểu tượng quân Pháo đen, vẽ lên những lá thư đe dọa để khoác lên chúng một tấm áo huyền bí, ghê rợn. Mục đích của ông ta là gieo rắc sự sợ hãi tột cùng khiến người dân khiếp vía không dám bàn tán, đồng thời làm nhiễu loạn hướng điều tra của cơ quan công an, khiến người ta lầm tưởng đây là một vụ án trả thù ân oán xã hội phức tạp.”

Phong dứt khoát đứng dậy, đưa tay chỉnh lại cổ áo măng-tô sẫm màu. Ánh mắt anh sáng quắc, tỏa ra một uy lực sắc bén và tự tin tuyệt đối:

“Ông ta đinh ninh rằng mình đã bày ra một nước cờ hoàn hảo không tì vết: vừa bịt miệng được bà Hạnh vĩnh viễn, vừa biến nạn nhân mười năm trước thành kẻ thủ ác trong mắt dư luận, lại vừa hợp thức hóa trót lọt gói thầu tiền tỷ cho đứa cháu ruột kiếm chác. Nhưng ông ta không thể ngờ được rằng, những kẻ dùng sự xảo trá để che giấu tội ác thì luôn luôn bị chính những thói quen vụn vặt nhất phản bội.”

Ngọc nhanh chóng gập máy tính xách tay, nhét vào ba lô rồi đứng bật dậy theo anh, gương mặt bừng sáng vẻ quyết tâm:

“Chúng ta làm gì tiếp theo đây anh Phong? Em gọi điện báo ngay cho Thiếu tá Duy bên Đội Cảnh sát Hình sự quận Đống Đa mang xe đến còng tay lão lại nhé?”

“Chưa cần vội làm kinh động đến lực lượng công an vào lúc này,” khóe môi Phong hơi nhếch lên thành một nụ cười kín đáo và lạnh lẽo. “Chúng ta đã nắm trong tay đầy đủ cả ba yếu tố cốt tử: nhân chứng giao báo, vật chứng video trích xuất dáng đi và công cụ gây án là chiếc bút dạ cùng con lăn keo dán vi điểm, cộng với động cơ kinh tế không thể chối cãi từ hồ sơ thầu. Giờ là lúc chúng ta quay trở lại sảnh tầng một nhà A4, triệu tập một cuộc gặp mặt đối chất sòng phẳng giữa bà Hạnh, Đoàn Tùng và đại diện các hộ dân trong khu tập thể. Đoàn Tùng chắc chắn không bao giờ ngờ được rằng, chính chiếc con lăn keo dán đắt tiền mà ông ta dùng để dán hồ sơ dự án của đứa cháu ruột lại là chiếc thòng lọng siết chặt lấy cổ ông ta!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories