Chìa Khóa Tủ Tặng Vật
Vi siết chặt bao diêm cũ trong lòng bàn tay khi đẩy cánh cửa kính Bảo tàng Vạn Lịch, nơi ánh đèn vàng hắt xiên qua những hàng tủ trưng bày tĩnh mịch giữa buổi xế chiều.
Gió chớm lạnh từ mạn sông Hồng thốc qua con phố Mã Mây, cuốn theo vài cánh lá bàng khô là đà trên bậc tam cấp đá xanh. Bên trong không gian bảo tàng, bầu không khí hoàn toàn tách biệt với nhịp còi xe hối hả ngoài phố cổ. Mùi gỗ thông xử lý ẩm, mùi dung dịch lau kính amoniac thoang thoảng và hương tinh dầu sả chống mối mọt quyện vào nhau thành một thứ mùi quen thuộc mà Vi đã hít thở suốt nhiều tháng qua. Dưới vòm trần cao bằng gỗ lim mái vát, ánh sáng từ những dải đèn rọi tiêu điểm tạo nên những quầng tròn màu mật ong trên mặt sàn gạch bông cổ. Tiếng tích tắc rời rạc từ hàng chục cỗ máy cơ khí rải rác khắp các gian phòng dường như chìm nghỉm vào không gian tĩnh lặng, chỉ còn lại tiếng bước chân trầm đục của ba người bước qua thềm đá.
Phía sau cô, bước chân của Lục Khang vang lên chắc nịch, khẽ khàng nhưng dứt khoát. Người thanh tra trẻ mặc chiếc áo khoác gió sẫm màu bên ngoài áo sơ mi ngành, bàn tay giấu trong túi áo dường như vẫn giữ thói quen chạm vào tập biên bản niêm phong và chiếc thẻ thanh tra kinh tế lót bìa da cứng. Cụ Phạm Tư Thời bước sau cùng, một tay chống cây gậy ba-toong bằng gỗ mun chạm đầu rồng mòn nhẵn, tay kia xách chiếc túi da bò nhỏ sờn mép đựng bộ đồ nghề thợ đồng hồ gia bảo truyền đời qua ba thế hệ phố Hàng Bạc.
Vi dừng lại ở chân cầu thang gỗ dẫn lên tầng lửng, lòng bàn tay râm ran hơi ấm từ chiếc vỏ bao diêm Thống Nhất. Cô mở hé bàn tay, các ngón tay khẽ miết lên lớp bìa ép thô ráp đã ngả màu vàng ố vì mồ hôi và bụi thời gian. Mặt sau của bao diêm – nơi lớp giấy ráp màu xám đen đã bị cọ mòn vẹt qua năm tháng – hiện rõ từng nét vẽ giải phẫu cơ khí bằng mực bút bi xanh.
Đó không phải là một bức ký họa ngẫu hứng. Từng đường vạch tỷ lệ, chiếc lò xo lá thép hình chữ U kép, trục liên động gắn với bánh răng giờ số 6 và góc mở then ngầm được phác họa tỉ mỉ bằng sự chuẩn xác tuyệt đối của một người từng trải qua hàng trăm bản vẽ điều tra hiện trường. Góc dưới cùng của bao diêm, dưới vết gập gãy của lớp bìa cat-tông, dòng chữ viết tay đanh thép của thầy Trần Minh Đạo như đang cháy rực trong mắt cô: *“Đừng tìm chiếc hộp, hãy tìm người đang giữ chìa khóa tủ tặng vật.”*
Bao diêm ấy chính là lời chỉ dẫn quý giá mà thầy Đạo vừa bí mật gửi lại cho cô tại Quán Trà Mái Nâu vào chiều hôm qua thông qua chị Mai Lan. Sau hai năm bặt vô âm tín và phải chịu đựng những di chứng nặng nề của cơn tai biến, người thầy cũ vẫn luôn âm thầm dõi theo từng bước đi của cô học trò nhỏ. Dòng chữ nắn nót cùng sơ đồ cơ khí trên bao diêm không chỉ là một chỉ dẫn điều tra sắc bén, mà còn là niềm tin tuyệt đối mà người làm báo kỳ cựu trao gửi, dẫn lối cho Vi tìm đến đúng nơi cất giấu mắt xích then chốt nhất của vụ án.
Rút từ trong túi xách tập sơ đồ phân khu trưng bày tầng một mà mình đã đích thân đo đạc, lập lưới tọa độ trong đợt kiểm kê khoa học tuần trước, Vi trải nhẹ tờ giấy can mỏng lên mặt kính của một bục trưng bày chân gỗ gụ. Ánh đèn rọi từ trần nhà xuyên qua tờ giấy mỏng, làm nổi bật lên những nét chì đen phân định ranh giới các gian phòng.
Ngón tay trỏ thon dài của cô lướt dọc theo tuyến tham quan: bắt đầu từ gian tiền sảnh đồ gốm hoa nâu Lý – Trần, rẽ qua dãy tủ tài liệu thương mại thời thuộc địa với những bản hợp đồng thuê đất và trái phiếu bến tàu hoen ố, rồi men theo vách tường hướng Đông dẫn thẳng về góc chết phía sau trụ bê tông chịu lực. Ở đó, bên dưới bức phù điêu thạch cao hoen ố miêu tả cảnh bến cảng sông Hồng đầu thế kỷ hai mươi, tọa lạc một dãy tủ kính đứng cao gần hai mét, khung nhôm sơn tĩnh điện màu nâu cánh gián.
Đó là phân khu “Hiện vật Lưu niệm & Tặng phẩm Ngoại giao” – nơi lưu giữ những món đồ được các nhà hảo tâm, phái đoàn văn hóa và nhà sưu tập tư nhân trao tặng cho Viện trưởng Đỗ Vạn Lịch trong suốt một thập kỷ qua. Hầu hết khách tham quan lướt qua gian phòng này rất nhanh, bởi họ chỉ coi đây là một góc trưng bày thứ yếu mang tính nghi lễ ngoại giao, gồm những chiếc đĩa gốm lưu niệm, kỷ niệm chương bằng pha lê, hộp thuốc lá khảm xà cừ và những cỗ đồng hồ trang trí hiện đại.
“Khu vực C-04,” Vi thì thầm, giọng nói trầm tĩnh nhưng ánh mắt ánh lên những tia sáng sắc lẹm của một người làm công tác lưu trữ đã giải mã xong chuỗi mắt xích tư liệu. “Ngăn tủ số hai từ trái sang, góc trên cùng bên phải.”
Khang tiến lại gần, cúi đầu nhìn theo đầu ngón tay của Vi trên bản đồ. Hơi thở ấm của anh phả nhẹ lên mặt kính bục trưng bày. Đôi lông mày rậm của viên thanh tra khẽ nhíu lại:
“Chiếc đồng hồ Cuckoo vỏ gỗ sồi Đức thập niên 1960 mà bưu tá Trịnh Văn Thao khai đã giao nộp dưới danh nghĩa quà tặng ẩn danh?”
“Chính nó,” Vi gật đầu, ngón tay cô ấn mạnh xuống tọa độ C-04 trên bản vẽ. “Hai năm trước, khi loạt bài điều tra về cổ vật Sông Hồng bị bức tử và thầy Đạo gục ngã vì tai biến, Duy cùng mạng lưới của Tạ Minh Thành đã dùng giấy ủy quyền giả cướp chiếc đồng hồ từ tiệm của cụ Tư. Chúng biết chiếc đồng hồ chứa cơ cấu then ngầm lưu giữ tài liệu gốc, nhưng không biết cách mở mà không phá hủy cấu trúc vỏ. Nếu đập vỡ lớp vỏ gỗ chạm khắc tinh xảo ấy, cơ chế lò xo ngầm bên trong sẽ tự động bật chốt hủy, hoặc làm rách nát lớp tài liệu mỏng manh được giấu kín. Hơn nữa, chúng cần một nơi an toàn tuyệt đối để cất giấu món đồ trong lúc tìm kiếm thợ giải mã. Nơi nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất. Bằng cách ngụy trang nó thành quà tặng ngoại giao gửi đích danh ông Lịch, Duy đã biến chính bảo tàng này thành két sắt miễn phí, chờ ngày tìm được thợ giải mã hoặc chờ thời cơ an toàn để thu hồi.”
Cụ Tư Thời khẽ hắng giọng, nheo đôi mắt đục mờ qua cặp kính lão gọng đồi mồi dày cộp. Đôi bàn tay gầy guộc của ông cụ khẽ siết chặt chiếc túi da bò đựng dụng cụ:
“Một nước cờ thâm độc. Để đồ vật dưới mắt bàn dân thiên hạ, ai nhìn vào cũng chỉ tưởng là một món lưu niệm trang trí thông thường của một vị khách Tây nào đó gửi tặng sau chuyến tham quan Hà Nội. Thảo nào suốt hai năm trời, lão già này cho người dò la khắp các chợ đồ cũ từ Hàng Khay đến Chợ Giời mà tuyệt nhiên bặt vô âm tín. Nào, chúng ta qua đó xem mặt mũi ‘người quen cũ’ của tôi ra sao sau hai năm xa cách.”
Cả ba rảo bước về phía góc khuất cuối gian trưng bày, băng qua những hàng cột gỗ lim nâng đỡ trần nhà. Không gian càng về phía vách Đông càng trở nên tĩnh mịch, tiếng còi xe ngoài đường Mã Mây chỉ còn là những âm thanh rì rầm mờ nhạt vọng lại như từ một thế giới khác.
Dưới ánh đèn LED vàng hắt xiên qua lớp kính cường lực dày mười hai milimét, chiếc đồng hồ Cuckoo hiện ra lộng lẫy và cổ kính.
Vỏ đồng hồ được chạm khắc thủ công hoàn toàn bằng gỗ sồi vùng Rừng Đen nước Đức, sắc gỗ đã sẫm lại thành màu hạt dẻ chín, mô phỏng hình mái nhà gỗ truyền thống của vùng sơn cước Bavaria. Từng chùm lá sồi với những đường gân lá uốn lượn sắc sảo ôm lấy diềm mái vát. Hai bên hông vỏ, hình tượng đôi chim gõ kiến đang chúi mỏ rỉa cánh được đục đẽo tinh vi đến từng chiếc lông vũ nhỏ xíu. Mặt số tròn bằng gỗ sồi khảm men trắng sữa, nổi bật lên những chữ số La Mã thanh mảnh màu đen tuyền. Đôi kim giờ và phút bằng đồng thau chạm rỗng hình mũi tên cổ điển đang dừng lại ở vị trí bốn giờ hai mươi phút. Phía dưới đáy tủ, hai quả tạ bằng gang hình quả thông nặng trĩu rủ xuống trên những sợi dây xích mắt cáo bằng đồng, trong khi con lắc gỗ sồi chạm hình chiếc lá phong đung đưa tĩnh lặng ở trạng thái khóa cót.
Chiếc nhãn mica nhỏ gắn bằng vít đồng phía dưới chân đế bục gỗ ghi dòng chữ in hoa trang trọng:
*“Đồng hồ để bàn kiêm treo tường cơ khí Cuckoo — Hãng Hubert Herr sản xuất tại Triberg, CHLB Đức, khoảng 1965. Quà tặng ẩn danh kính tặng Viện trưởng Đỗ Vạn Lịch, tháng 10/2021.”*
“Kính tặng tháng 10 năm 2021...” Khang đọc khẽ dòng chữ trên nhãn, ánh mắt lóe lên vẻ nghiêm nghị đặc trưng của một thanh tra kinh tế đã quen với việc xâu chuỗi các mốc thời gian phạm tội. “Đúng vào tuần lễ thầy Đạo bị gài bẫy và bưu phẩm hộc tủ mười bốn bị cướp đi khỏi bưu cục Hoàn Kiếm.”
“Thời điểm đó, Duy đang là cố vấn cao cấp phụ trách tiếp nhận tài trợ quốc tế của bảo tàng,” Vi tiếp lời, giọng cô đanh lại. “Hắn là người trực tiếp lập biên bản tiếp nhận món quà tặng ẩn danh này, tự tay soạn thảo nhãn chú thích và đề xuất ông Lịch đưa vào tủ C-04. Hắn biết rõ quy chế bảo mật của bảo tàng: hiện vật một khi đã vào tủ trưng bày ngoại giao thì chỉ có Viện trưởng hoặc người được ủy quyền giữ chìa khóa mới được phép chạm vào.”
Đúng lúc đó, tiếng đế giày da bóng loáng nện vội vã trên sàn gạch hoa từ hướng văn phòng viện trưởng vang lên, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của gian phòng. Tiếng bước chân dồn dập, kéo theo tiếng lẹt xẹt của đôi giày búp bê nữ đi kèm phía sau.
Ông Đỗ Vạn Lịch bước ra từ sau bức bình phong gỗ khảm trai ngăn cách hành lang viện trưởng. Chiếc áo vest dạ xám phẳng phiu quen thuộc dường như không giấu nổi sự mệt mỏi trên bờ vai hơi sụp xuống của người đàn ông ngoài lục tuần. Mái tóc bạc cắt ngắn chải chuốt thường ngày hôm nay có phần rối bời, quầng mắt thâm quầng lộ rõ sau cặp kính lão gọng vàng.
Theo sát sau lưng ông là Nguyễn Hà An. Nữ quản lý trưng bày từng kiêu hãnh ngày nào, người từng đứng ở vị trí điều phối toàn bộ các cuộc triển lãm danh giá nhất của bảo tàng, giờ đây chỉ mặc bộ âu phục giản dị màu đen của nhân viên trực quầy lễ tân. Mái tóc uốn xoăn cầu kỳ trước kia nay được buộc túm thấp sau gáy một cách vội vã. Gương mặt không trang điểm lộ rõ vẻ nhợt nhạt, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước bụng với vẻ căng thẳng lộ rõ trong từng cử chỉ co rúm. Kể từ sau vụ bê bối tráo đổi đồng hồ quả quýt và bức thư nặc danh tố cáo việc sửa đổi hồ sơ lô hiện vật Sông Ngầm, vị thế của Hà An tại bảo tàng đã hoàn toàn sụp đổ. Quyền kiểm kê khoa học, chìa khóa kho tư liệu và quyền tiếp cận hệ thống tủ chống ẩm tầng hai đã bị Ban Giám đốc tước bỏ, chuyển giao toàn bộ cho Vi theo yêu cầu phối hợp thanh tra của cơ quan chức năng.
“Vi, cậu Khang? Cả cụ Tư Thời nữa?” Ông Lịch dừng bước cách nhóm người vài mét, đưa mắt nhìn quanh dãy tủ rồi dừng lại trên chiếc đồng hồ Cuckoo với vẻ ngỡ ngàng khó hiểu xen lẫn chút phòng thủ bản năng. “Có chuyện gì hệ trọng mà cậu Khang điện thoại giục tôi xuống gấp thế này? Tôi đang chuẩn bị lại toàn bộ hồ sơ thẩm định lô đồ gốm để sáng mai đón đoàn chuyên gia của Quỹ Di sản Quốc tế do ngài Vance dẫn đầu...”
Vi quay lại, nhìn thẳng vào người sáng lập bảo tàng. Ánh mắt cô không còn sự e dè hay kiêng nể của một nhân viên cấp dưới trước chủ lao động, mà là sự sắc bén, cương trực của một người đang nắm giữ sự thật lịch sử trong tay:
“Thưa Viện trưởng, chúng cháu có mặt ở đây vì chiếc đồng hồ Cuckoo này. Món quà tặng mà ông nhận được vào chiều ngày 27 tháng 10 hai năm trước thực chất không phải là tặng phẩm ngoại giao của bất kỳ nhà tài trợ ẩn danh nào cả.”
Ông Lịch cau mày, đôi lông mày bạc rậm rạp xô lại vào nhau. Vẻ mặt ông chuyển từ ngạc nhiên sang khó chịu, bàn tay bất giác siết chặt ve áo vest:
“Cô nói thế là ý gì cô Vi? Món đồ này do một hãng chuyển phát nhanh đưa đến tận tay quầy lễ tân vào dịp kỷ niệm ngày thành lập bảo tàng, có kèm thiệp chúc mừng trang trọng gửi đích danh tôi. Tôi thấy đường nét chạm trổ gỗ sồi vùng Rừng Đen rất tinh xảo, bộ máy cơ học ba lỗ cót điểm chuông bằng tiếng chim cúc cu vẫn hoạt động hoàn hảo, âm thanh rất ấm và chuẩn nhịp, nên mới cho trưng bày tại đây để làm phong phú thêm bộ sưu tập thời gian của bảo tàng. Nó thì có vấn đề gì cơ chứ? Chẳng lẽ một món quà lưu niệm trang trí cũng vi phạm quy chế tiếp nhận hiện vật hay sao?”
“Nó không chỉ vi phạm quy chế tiếp nhận hiện vật, thưa ông Lịch,” Lục Khang bước lên một bước, giọng nói trầm ấm nhưng mang đầy sức nặng quyền lực hành chính của cơ quan thanh tra. “Chiếc đồng hồ Cuckoo này là vật chứng quan trọng trong một vụ án chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu cơ quan nhà nước. Chiếc đồng hồ này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nhà báo Trần Minh Đạo. Trước khi ông Đạo bị tai biến đột quỵ hai năm trước, ông đã mang nó đến tiệm đồng hồ Tư Thời tại số 48 Hàng Bạc để chế tác một ngăn đáy bí mật. Mục đích là cất giữ toàn bộ chứng từ thanh toán đường thủy, hóa đơn bến bãi và bản thảo điều tra gốc về mạng lưới buôn lậu cổ vật Sông Ngầm.”
“Cái gì?!” Ông Lịch thốt lên, giọng lạc hẳn đi. Đôi mắt sau cặp kính gọng vàng mở to hết cỡ, miệng há hốc kinh ngạc. “Ngăn... ngăn đáy bí mật? Của nhà báo Trần Minh Đạo? Trời đất ơi, tại sao một món đồ như thế lại có thể nằm chễm chệ trong tủ kính tặng phẩm của tôi suốt hai năm trời mà không một ai hay biết?”
“Bởi vì kẻ chủ mưu đã biến sự tôn nghiêm và uy tín danh dự của bảo tàng này thành vỏ bọc hoàn hảo nhất,” Vi điềm đạm giải thích, từng lời nói rành rẽ như bóc tách từng lớp mặt nạ. “Bùi Quang Duy đã thuê nhân viên giao nhận Trịnh Văn Thao dùng giấy ủy quyền giả mạo con dấu tòa soạn để chiếm đoạt chiếc đồng hồ từ tiệm của cụ Tư Thời. Nhưng Duy không có sơ đồ giải mã then ngầm cơ khí, và hắn biết cơ quan công an có thể tiến hành khám xét trụ sở Công ty Di sản Minh Thành bất cứ lúc nào khi chuyên án mở rộng. Vì vậy, hắn đóng gói nó thành quà tặng gửi thẳng vào đây. Một bảo tàng tư nhân được thành phố cấp phép, được hệ thống camera và bảo vệ canh phòng cẩn mật suốt ngày đêm, lại được chính Viện trưởng đích thân bảo lãnh trưng bày — không có nơi nào trên đất Hà Nội này che giấu vật chứng an toàn, kín kẽ và hợp pháp hơn thế.”
Nghe đến tên Bùi Quang Duy và Công ty Di sản Minh Thành, sắc mặt ông Đỗ Vạn Lịch tái nhợt đi trông thấy. Một vệt xám ngoét lan nhanh từ trán xuống gò má gầy guộc. Bàn tay già nua của ông run rẩy đưa lên vuốt lại mái tóc bạc phơ, ánh mắt đảo qua đảo lại giữa Khang và chiếc tủ kính C-04. Là một nhà sưu tập kỳ cựu cả đời gây dựng thanh danh, từng tự hào bảo tàng của mình là nơi gìn giữ hồn cốt di sản dân tộc, việc bảo tàng liên tục bị biến thành bình phong cho những mưu mô ma mãnh của đám buôn lậu cổ vật là một đòn giáng chí mạng vào lòng tự trọng và sự kiêu hãnh của ông.
“Cậu Khang... chuyện này... chuyện này có chứng cứ pháp lý xác thực không?” Ông Lịch lắp bắp hỏi, giọng khàn đặc như nghẹn lại ở cổ họng. “Không thể chỉ dựa vào suy đoán... Chiếc đồng hồ này nhập vào sổ sách có chữ ký tiếp nhận của nhân viên văn phòng...”
“Chúng tôi không làm việc trên cơ sở suy đoán, thưa Viện trưởng,” Khang dứt khoát đáp, thanh âm vang lên đanh gọn trong gian phòng tĩnh mịch. “Chúng tôi đã có bản tự khai chi tiết của nhân viên giao nhận Trịnh Văn Thao, cuống biên nhận bưu phẩm thu giữ tại hầm tòa soạn báo cũ, và bản lưu giấy ủy quyền mang dấu giả mạo mà cụ Tư Thời còn lưu giữ nguyên vẹn suốt hai năm qua. Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Hình sự về việc tiếp nhận và giải quyết tố giác tội phạm, tôi yêu cầu Ban Giám đốc bảo tàng phối hợp mở tủ kính bảo quản khu vực C-04 để chúng tôi tiến hành kiểm tra, thu giữ và niêm phong hiện vật theo đúng trình tự pháp luật.”
Khang dừng lại một nhịp, ánh mắt nghiêm nghị, sắc bén như một mũi dùi quét sang phía Nguyễn Hà An đang đứng co ro, nép mình sau lưng ông Lịch:
“Trước khi mở tủ, tôi cần ông Lịch và cô Hà An xác nhận rõ ràng trên biên bản: chiếc tủ kính trưng bày tặng vật này hiện do ai quản lý và ai đang nắm giữ chìa khóa?”
Ông Lịch giật mình như sực tỉnh khỏi cơn bàng hoàng, ông lập tức quay sang nhìn trừng trừng vào Hà An rồi quả quyết nói với giọng run rẩy vì giận dữ:
“Quy chế bảo vệ hiện vật của bảo tàng quy định rất chặt chẽ, tôi chưa từng buông lỏng việc này một ngày nào! Dãy tủ tặng phẩm ngoại giao này không dùng mã số điện tử hay thẻ từ như kho tư liệu tầng hai, mà dùng khóa cơ học hai tầng cánh bướm của Đức sản xuất. Chỉ có đúng hai chiếc chìa khóa duy nhất tồn tại: một chiếc chìa gốc tôi luôn cất trong két sắt cá nhân tại phòng làm việc tầng ba, tuyệt đối không ai được phép đụng tới. Còn chiếc chìa khóa phụ dùng để lau dọn bụi định kỳ và kiểm tra vệ sinh bề mặt do bộ phận phụ trách trưng bày và lễ tân nắm giữ. Kể từ khi Hà An chuyển xuống phụ trách công tác trưng bày tầng một và hỗ trợ bàn lễ tân, chùm chìa khóa phụ ấy do chính cô ấy quản lý và chịu trách nhiệm trước tôi!”
Mọi ánh nhìn trong góc phòng trưng bày lập tức dồn dập đổ dồn về phía Nguyễn Hà An.
Ánh sáng vàng vọt từ chụp đèn rọi chiếu thẳng vào khuôn mặt đang biến sắc của người phụ nữ trẻ. Bị dồn vào tâm điểm chú ý, gương mặt Hà An cắt không còn một giọt máu. Đôi môi mỏng run rẩy bần bật, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo sơ mi cài kín cổ. Nhận thấy ánh mắt bình thản nhưng thấu suốt của Vi, sự cương quyết không khoan nhượng của Khang và cái nhìn thất vọng đến tột cùng của Viện trưởng Lịch, hai đầu gối Hà An run lên lẩy bẩy.
Cô ta luống cuống thò bàn tay ướt đẫm mồ hôi vào túi áo khoác đồng phục, run rẩy rút ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau sáng bóng xỏ qua chiếc vòng tròn kim loại bọc da màu xanh thẫm. Tiếng kim loại va vào nhau lách cách, hỗn loạn như chính nhịp tim đang đập loạn xạ trong lồng ngực cô ta.
“Chìa... chìa khóa đây ạ,” Hà An lí nhí, giọng run run nghẹn ngào như sắp bật khóc. “Em... em vẫn luôn mang theo bên mình, không rời nửa bước. Hằng ngày chỉ có em mở tủ để quét bụi mặt kính bên ngoài... Em thề là em không làm gì sai cả...”
“Mở tủ ra đi cô Hà An,” Khang nói ngắn gọn, giọng anh không hề có chút dao động. “Mọi việc đúng sai sẽ được xác định trên hiện vật và biên bản nghiệp vụ.”
Hà An bước tới trước tủ kính C-04, từng bước chân nặng nề như đeo chì. Đôi bàn tay cô ta run rẩy đến mức chiếc chìa khóa cứ trượt qua trượt lại trên bề mặt ổ khóa tròn mạ crom ở góc dưới mép tủ. Phải mất ba lần cắm trượt, cô ta mới tra khớp được lưỡi chìa vào rãnh then.
*Tách!*
Một tiếng cựa kim loại khô khốc vang lên. Cánh cửa kính cường lực dày mười hai milimét nặng nề từ từ xoay trên bản lề thủy lực, để lộ toàn bộ khoang bên trong.
Một luồng không khí khô ráo, thoảng mùi vecni sồi cổ điển và mùi dầu máy bôi trơn lâu ngày ùa ra. Cụ Phạm Tư Thời bước lên phía trước, tháo cặp găng tay len cũ kỹ nhét vào túi áo, thay vào đó là đôi găng tay cotton trắng mỏng chuyên dụng của giới phục chế cổ vật. Ông cụ chậm rãi với tay, nhẹ nhàng nhấc hai quả tạ gang hình quả thông nặng trịch ra khỏi móc xích truyền động bằng đồng, đặt nhẹ xuống sàn gạch. Sau đó, cụ luồn tay ra phía sau mặt lưng gỗ, tháo con lắc gỗ sồi cài trên thanh treo dao động rồi cẩn thận ôm trọn lấy thân chiếc đồng hồ Cuckoo, nhấc bổng nó ra khỏi chiếc đinh thép chịu lực gắn chặt trên vách tủ.
“Đặt lên chiếc bàn gỗ kia đi cụ Tư,” Vi nhanh nhẹn trải sẵn một tấm vải nỉ màu xanh thẫm không bám bụi lên chiếc bàn trà chân tiện giữa sảnh.
Cụ Tư Thời nhẹ nhàng đặt chiếc đồng hồ nằm sấp xuống mặt vải nỉ, để phần đáy hộp quay về phía ánh sáng đèn rọi. Ánh đèn LED chiếu thẳng vào cấu trúc mặt đáy của cỗ máy gỗ sồi. Khác với những chiếc đồng hồ Cuckoo thông thường có phần đáy bằng phẳng đóng đinh ghim cố định hoặc bắt vít sơ sài, phần đáy của chiếc đồng hồ này là một tấm gỗ sồi dày hơn bình thường khoảng một phân rưỡi. Bốn góc đáy được ghép mộng mang cá ăn khớp hoàn hảo với các cạnh thân vỏ, không hề lộ ra bất kỳ một lỗ đinh, đầu vít hay khe hở nào có thể nạy mở bằng dụng cụ thông thường.
Cụ Tư rút từ trong túi đồ nghề ra một chiếc kính lúp đeo mắt đơn có gọng kẹp bằng thép uốn, kẹp chặt vào vành kính lão bên phải. Cụ rút tiếp hai chiếc que chọc bằng đồng thau đầu dẹt siêu nhỏ, dài chừng mười lăm phân. Ông cụ cúi sát người, ngắm nghía kỹ lưỡng từng đường viền mộng gỗ, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười hoài niệm:
“Tay nghề của tôi cách đây hai năm đấy. Nhìn bên ngoài thì cứ ngỡ là gỗ liền khối, nhưng bên trong là một cơ cấu lẫy thép đàn hồi kép. Muốn mở được đáy, không thể dùng sức nạy bừa. Nạy bừa là gãy chốt hãm, vĩnh viễn khóa chặt bên trong, chỉ có nước cưa nát vỏ gỗ mới lấy được đồ.”
Vi lấy bao diêm Thống Nhất ra, đưa sát vào tầm mắt của cụ Tư:
“Cụ xem, thầy Đạo đã vẽ lại chính xác cơ chế của cụ trên bao diêm này. Kim phút quay ngược chiều về vị trí mười lăm phút, trục giờ ấn sâu vào một nấc, rồi đẩy nhẹ chốt hãm ở góc đáy bên phải.”
“Đúng là nét vẽ của ông Đạo! Rõ ràng, chuẩn xác và rành mạch như một bản cáo trạng trước tòa án,” cụ Tư gật gù tán thưởng, ánh mắt ánh lên niềm xúc động sâu sắc.
Đôi bàn tay nhăn nheo nhưng vô cùng điêu luyện của người thợ già bắt đầu thao tác. Cụ xoay chiếc đồng hồ sang bên, nhẹ nhàng dùng hai đầu ngón tay vặn kim phút kim loại màu đồng chạy ngược chiều kim đồng hồ. Tiếng *tách... tách... tách* giòn tan của các bánh răng thoát vang lên đều đặn trong không gian tĩnh mịch. Khi kim phút dừng đúng ở cọc số 3 (tức mốc 15 phút), cụ dùng ngón tay cái ấn nhẹ trục trung tâm vào sâu khoảng một milimét.
*Cạch!*
Một âm thanh kim loại nhỏ xíu vang lên từ sâu bên trong cỗ máy, báo hiệu then ngầm đã nhả chốt hãm tự động. Cụ Tư Thời liền luồn đầu que đồng thau dẹt vào khe mộng mang cá ở đáy hộp, khẽ gạt nhẹ sang mạn phải theo phương ngang.
Lập tức, tấm đáy gỗ sồi trượt êm ru trên hai đường rãnh kim loại âm giấu kín bên trong thành vỏ, để lộ ra một khoang rỗng hình chữ nhật dài khoảng hai mươi xăng-ti-mét, rộng mười xăng-ti-mét và sâu gần hai xăng-ti-mét.
Tất cả mọi người đồng loạt nín thở, ghé mắt nhìn vào bên trong khoang rỗng.
Thế nhưng, khoang bí mật hoàn toàn trống rỗng!
Không có tập hồ sơ bọc giấy xi măng nào. Không có tập hóa đơn vận tải đường thủy của Công ty Vận tải Á Châu. Cũng không có bất kỳ trang bản thảo điều tra nào của nhà báo Trần Minh Đạo. Chỉ có đáy gỗ trần trụi và một lớp không khí mốc meo lâu ngày thoát ra.
Không gian trong sảnh trưng bày bỗng chốc chìm vào một sự im lặng đặc quánh, nặng nề đến nghẹt thở.
Ông Đỗ Vạn Lịch tròn mắt, bờ vai hơi thả lỏng như vừa trút được một gánh nặng ngàn cân, miệng thở phào một cách vô thức. Trong khi đó, gương mặt Vi thoáng tái đi vì hụt hẫng. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng cô. Chẳng lẽ suy luận của cô đã sai? Chẳng lẽ bưu tá Thao đã nói dối trong bản tự khai, hay tài liệu đã bị tẩu tán từ trước khi chiếc đồng hồ được đưa vào bảo tàng Vạn Lịch?
“Khoan đã!” Khang bỗng lên tiếng, thanh âm sắc lạnh như băng tuyết cắt ngang bầu không khí hoang mang.
Anh rút chiếc đèn pin kỹ thuật nghiệp vụ từ thắt lưng, bật luồng sáng trắng cực mạnh chiếu xiên một góc ba mươi độ vào lòng khoang rỗng. Luồng sáng quét qua từng thớ gỗ sồi xù xì bên trong.
Vi lập tức cúi sát xuống, trí nhớ hình ảnh và sự nhạy cảm nghề nghiệp của một chuyên viên lưu trữ thức tỉnh ngay lập tức. Cô nhận ra điểm bất thường.
Ánh sáng đèn pin quét qua bề mặt gỗ sồi bên trong lòng hộp. Khác với lớp gỗ bám bụi xám mờ và những vệt ố ẩm tự nhiên theo năm tháng ở các góc chết, trên gờ ray trượt bằng đồng thau kẹp dọc thân hộp hiện lên hai vệt cọ xát kim loại sáng bóng loáng!
“Nhìn vào đây đi cụ Tư, anh Khang!” Vi chỉ ngón tay đeo găng vào gờ ray trượt. Giọng cô rung lên vì sự phát hiện mang tính quyết định: “Đồng thau khi tiếp xúc với không khí ẩm ở Hà Nội sẽ bị oxy hóa và xỉn màu chỉ sau vài tuần. Nhưng hai vệt xước này còn nguyên ánh kim loại mới toanh, sắc cạnh, không hề có lấy một hạt bụi mịn nào bám vào rãnh dầu mỡ bảo quản! Ngăn kéo này không phải đã trống rỗng suốt hai năm qua. Nó mới bị mở ra và rút ruột gần đây!”
Cụ Tư Thời ghé sát chiếc kính lúp vào gờ ray, soi kỹ từng đường xước vi mô dài chừng hai phân trên thanh trượt bằng đồng rồi nghiêm giọng khẳng định:
“Cô Vi nói hoàn toàn chuẩn xác. Vết trượt kim loại này còn rất mới. Kẻ mở ngăn kéo này không có chìa mở lẫy, cũng không biết cách vặn kim đồng hồ để nhả chốt ngầm, nên hắn đã dùng một lưỡi dao mỏng bằng thép cứng để ép lẫy gạt cưỡng bức, làm trầy xước và cày sâu vào lớp mạ đồng trên thanh trượt. Dấu vết cày xước này xuất hiện nhiều nhất là trong vòng ba đến bốn tuần trở lại đây, tuyệt đối không thể quá một tháng!”
Lời phán xét của người thợ đồng hồ kỳ cựu như một tiếng sét đánh ngang tai giữa sảnh bảo tàng tĩnh mịch.
Khang quay phắt người lại, ánh mắt sắc như dao cạo găm thẳng vào Nguyễn Hà An. Không khí quanh người viên thanh tra kinh tế tỏa ra áp lực nghẹt thở của cơ quan bảo vệ pháp luật:
“Cô Nguyễn Hà An! Ông Lịch vừa khẳng định chùm chìa khóa phụ mở tủ C-04 chỉ duy nhất một mình cô nắm giữ và quản lý hằng ngày. Vết cạy mở và rút ruột tài liệu xảy ra trong vòng chưa đầy một tháng qua. Cô giải thích thế nào về việc này? Trong vòng một tháng gần đây, ai đã tiếp cận chiếc tủ này ngoài cô?”
Hà An run rẩy lùi lại một bước, hai chân cô ta dường như không còn đủ sức chống đỡ cơ thể, phải bám chặt lấy cạnh một trụ gỗ trưng bày để khỏi ngã quỵ. Mồ hôi lấm tấm rỉ ra trên trán và thái dương, làm nhòe đi lớp phấn mỏng còn sót lại trên gò má người phụ nữ trẻ.
“Em... em không biết... Em thề có trời đất chứng giám, em không lấy bất cứ thứ gì trong chiếc đồng hồ đó cả!” Hà An khóc nấc lên, giọng lạc đi trong nỗi hoảng loạn tột cùng. “Em thậm chí còn không biết chiếc đồng hồ có ngăn đáy kép... Em không hề biết bên trong nó có chứa tài liệu!”
“Tôi không hỏi cô có lấy hay không!” Khang bước dồn tới một bước, giọng đanh lại, từng từ rành rọt như búa gõ vào đe thép. “Tôi hỏi cô: Ai đã tiếp cận tủ kính C-04? Ai đã mở tủ ra mà không có sự giám sát của Viện trưởng? Cô nên nhớ, chiếc đồng hồ này là vật chứng then chốt trong một chuyên án làm giả con dấu, tài liệu và buôn lậu cổ vật quy mô đặc biệt nghiêm trọng do cơ quan điều tra thụ lý. Hành vi bao che, che giấu dấu vết tội phạm hoặc thông đồng tiêu hủy chứng cứ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 389 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt tù giam! Đây là cơ hội cuối cùng để cô khai báo thành khẩn trước khi tôi áp dụng các biện pháp ngăn chặn tố tụng!”
Nghe đến hai chữ “tù giam” và “truy cứu trách nhiệm hình sự”, toàn bộ phòng tuyến tâm lý vốn đã rạn nứt của Hà An hoàn toàn sụp đổ. Cô ta sụp xuống mép chiếc ghế gỗ cạnh tường, hai tay ôm lấy mặt, nước mắt giàn giụa tuôn rơi qua các kẽ ngón tay. Tiếng khóc nức nở nghẹn ngào vang lên thảm thiết giữa những pho tượng gốm cổ câm lặng.
“Em nói... em xin khai hết...” Hà An nấc nghẹn ngào, giọng run rẩy đứt quãng. “Ba... ba tuần trước... đúng vào cái hôm sau khi anh Bùi Quang Duy bị anh Khang lập biên bản đình chỉ quyền cố vấn ở bảo tàng...”
Ông Đỗ Vạn Lịch giận run người, bước tới chỉ thẳng tay vào mặt Hà An, ngón tay run bần bật:
“Lại là Bùi Quang Duy?! Tôi đã ra lệnh cấm tiệt hắn bước chân vào khu vực lưu trữ và trưng bày kia mà! Tôi đã thông báo rõ ràng trước toàn thể nhân viên bảo tàng là đình chỉ mọi hoạt động chuyên môn của hắn! Tại sao cô dám để hắn vào đây?”
“Em... em xin lỗi Viện trưởng... Em bị anh Duy lừa gạt...” Hà An vừa khóc vừa khai nhận trong nỗi ân hận tột cùng, hai vai rung lên bần bật. “Hôm đó là chiều muộn thứ Sáu, khoảng gần sáu giờ tối, trời mưa râm ran, khách tham quan đã về hết. Anh Duy quay lại bảo tàng, nhưng không đi cửa chính mà đi qua lối cầu thang thoát hiểm sảnh phụ, rồi đứng đợi em ở chân cầu thang sảnh chính. Anh ấy nói chuyện rất nhỏ nhẹ và tha thiết... Anh ấy bảo dù ban giám đốc đình chỉ tư cách cố vấn của anh ấy, nhưng dự án tài trợ một triệu rưỡi đô la của Quỹ Di sản Quốc tế do anh ấy làm đầu mối kết nối vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện hồ sơ danh mục. Anh ấy bảo cần chụp ảnh macro và đo đạc lại kích thước chính xác của một số hiện vật lưu niệm ngoại giao trong tủ C-04 để đưa vào tập sách ảnh gửi cho ngài Vance thẩm định gấp trong đêm...”
Vi khoanh tay trước ngực, ánh mắt lạnh lùng nhìn người đồng nghiệp từng một thời chèn ép và nghi ngờ mình:
“Và cô đã đưa chìa khóa cho anh ta?”
“Em... em không đưa chìa khóa mang đi,” Hà An lắc đầu quầy quậy, nước mắt lưng tròng chảy dài xuống cằm. “Em tự tay dùng chìa mở cánh tủ kính C-04 cho anh Duy. Lúc đó điện thoại bàn ở quầy lễ tân đổ chuông liên tục vì có đơn vị giao hoa hội nghị gọi đến xác nhận đơn, nên em phải chạy ra quầy nghe điện thoại và ký nhận biên bản giao hoa ngoài cổng bảo vệ... Em nghĩ tủ C-04 chỉ toàn đồ lưu niệm tặng phẩm của các đoàn khách nước ngoài, toàn đồ gỗ với đĩa sứ mới tặng vài năm gần đây, không phải cổ vật quý hiếm nên... nên em để anh Duy đứng chụp ảnh ở góc tủ một mình khoảng mười lăm phút...”
“Mười lăm phút!” Khang gằn giọng, từng âm tiết nện xuống như một bản án. “Mười lăm phút là quá thừa thãi cho một kẻ am hiểu kỹ thuật cơ khí như Bùi Quang Duy dùng lưỡi dao thép cạy then ngầm và vét sạch tài liệu! Cô có ghi chép việc mở tủ này vào Sổ nhật ký trực bảo tàng không?”
Hà An cúi gằm mặt xuống sàn gạch bông, lắc đầu trong sự hổ thẹn tột cùng:
“Dạ... không ạ. Anh Duy dặn em là việc anh ấy bị đình chỉ nếu để lộ ra việc vẫn tham gia làm hồ sơ tài trợ thì Viện trưởng sẽ giận, nên anh ấy xin em đừng ghi vào sổ trực... Em... em vì nể anh ấy từng nâng đỡ em lúc mới vào bảo tàng, lại sợ dự án tài trợ bị đổ bể ảnh hưởng đến tương lai chung của mọi người nên... nên em đã bỏ trống ca trực chiều hôm đó...”
“Hồ đồ! Thật là đồ hồ đồ tột bực!” Ông Đỗ Vạn Lịch đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ, tiếng đập vang lên chát chúa. Mặt ông đỏ bừng vì phẫn nộ và cay đắng. “Tôi đã giao sự an nguy của cả bảo tàng này cho một kẻ thiếu trách nhiệm và mù quáng như cô sao Hà An? Bao nhiêu năm ăn cơm bảo tàng, học bao nhiêu quy chế bảo tồn và an ninh hiện vật, cô vứt hết đi đâu rồi? Nếu bảo tàng này sụp đổ vì sự tiếp tay tắc trách của cô, cô có đền nổi danh dự cho hàng trăm con người ở đây không?!”
Hà An chỉ biết ôm mặt nấc nở, không dám thốt thêm một lời nào để tự biện minh. Cô ta ngồi bệt xuống góc ghế, toàn thân co rúm lại trong nỗi tuyệt vọng ê chề.
Mọi mắt xích giờ đây đã sáng tỏ như ban ngày. Khi biết mình bị công an và thanh tra kinh tế siết chặt vòng vây, và sắp bị tước toàn bộ quyền tiếp cận bảo tàng, Bùi Quang Duy đã tranh thủ kẽ hở cuối cùng từ sự ngây thơ, nể nang và cả sự mù quáng của Hà An để đột nhập rút ruột chiếc đồng hồ Cuckoo. Toàn bộ tài liệu nguồn của thầy Trần Minh Đạo đã bị tẩu tán khỏi hiện trường trước khi Vi và Khang kịp chạm tay tới.
Thế nhưng, giữa lúc mọi người đang chìm trong sự giận dữ, cay đắng và bế tắc, Ninh Tường Vi vẫn không hề rời mắt khỏi chiếc đồng hồ.
Cô không để cảm xúc thất vọng hay phẫn nộ chi phối tâm trí mình. Là một người làm công tác lưu trữ chuyên nghiệp và từng trải qua những năm tháng trui rèn trong nghề báo điều tra, Vi hiểu rằng trong bất kỳ một cuộc tẩu thoát vội vã nào, kẻ thủ ác dù tinh vi và ma mãnh đến đâu cũng luôn để lại những dấu vết vật lý ngoài ý muốn.
Duy chỉ có đúng mười lăm phút ngắn ngủi tại hiện trường. Hắn vừa phải canh chừng Hà An quay lại từ cổng bảo vệ, vừa phải đứng nép sau góc trụ bê tông để tránh camera an ninh quét qua, lại vừa phải dùng lực tay thao tác thô bạo bằng lưỡi dao thép để cạy then ngầm cơ khí mà không gây ra tiếng động lớn. Trong trạng thái tâm lý hoảng loạn, gấp gáp và căng thẳng tột độ ấy, liệu hắn có thể lấy đi mọi thứ một cách hoàn hảo tuyệt đối không để lại một mảnh vụn nào hay không?
Vi rút chiếc đèn pin kỹ thuật chuyên dụng từ túi xách của mình ra. Khác với đèn pin nghiệp vụ thông thường của Khang, đây là loại đèn LED ánh sáng trắng chuẩn nhiệt độ màu 5000K dùng trong công tác bảo tồn văn bản cổ, có khả năng hội tụ chùm tia hẹp và điều chỉnh tiêu cự vi mô để làm nổi bật sự khác biệt về chất liệu và cấu trúc bề mặt.
Cô đeo cặp kính phóng đại ba mươi lần có gắn thước đo micromet mà Lê Bách đã tặng vào mắt phải. Quỳ một chân xuống sàn gạch bông mát lạnh, Vi nghiêng đầu, ghé sát mặt vào mép đáy chiếc đồng hồ Cuckoo. Cô điều chỉnh thấu kính, hướng chùm sáng hẹp soi sâu vào góc kẹt trong cùng của rãnh trượt bằng đồng — nơi thanh trượt gỗ tiếp giáp với cụm then hãm lò xo lá thép.
Từng thớ gỗ sồi thô ráp, từng đường vân xước nhỏ li ti, từng vệt mỡ bò bôi trơn máy móc đã ngả sang màu nâu đen qua nhiều thập kỷ hiện lên rõ mồn một dưới độ phóng đại cực lớn của thấu kính.
Vi quét chùm sáng chầm chậm, tỉ mỉ từng phần mười milimét từ trái qua phải. Một milimét... hai milimét... ba milimét...
Đột nhiên, đồng tử của Vi co thắt lại.
Tại góc kẹt chữ L sâu nhất của rãnh trượt — nơi thanh ray đồng bị bẻ cong một góc chín mươi độ để tạo gờ hãm hành trình cho ngăn kéo gỗ — có một vật thể lạ đang bị kẹp chặt. Đó là một vật thể mỏng dính, phẳng lì, mép ngoài bị xơ rách nham nhở, màu sắc hoàn toàn khác biệt với màu vàng nâu của gỗ sồi và màu xám đen của bụi bặm cơ khí.
“Anh Khang, giữ yên đèn pin phụ giúp em!” Giọng Vi vang lên dồn dập, căng thẳng nhưng chứa đựng sự kích động tột độ.
Lục Khang lập tức bước tới, cúi thấp người cầm chiếc đèn pin nghiệp vụ rọi thẳng luồng sáng vào vị trí ngón tay Vi đang chỉ. Cụ Tư Thời nheo mắt nhìn qua kính lúp, còn ông Lịch cũng nín thở ghé sát đầu vào quan sát. Cả gian phòng như ngưng đọng lại, chỉ còn tiếng thở dồn của những con người đang đứng trước ngưỡng cửa của sự thật.
Vi mở hộp đồ nghề lưu trữ của mình, rút ra chiếc panh gắp mẫu bằng thép không gỉ bọc cao su non ở đầu kẹp — dụng cụ chuyên dùng để xử lý các mảnh tài liệu cổ có nguy cơ mủn nát. Bàn tay cô vững vàng đến mức phi thường, không hề có lấy một rung động nhỏ dù là nhỏ nhất. Vi luồn đầu panh mảnh mai lách sâu vào khe kẹp chữ L hẹp chưa đầy một milimét giữa thanh đồng và thành gỗ sồi.
Đầu cao su non chạm nhẹ vào mép vật thể lạ. Cảm giác xúc giác truyền qua thân kim loại cho thấy đó là chất liệu giấy Kraft định lượng dày, bề mặt có độ nhám cơ học đặc trưng và sợi xen-lu-lô-zơ dai bền.
“Nó bị kẹt vào ngàm thép khi Duy giật mạnh xấp tài liệu ra ngoài,” Vi thì thầm, hơi thở nén lại trong lồng ngực. “Lực kéo quá gấp gáp trong tư thế đứng vội đã xé rách một góc của chiếc phong bì niêm phong tài liệu!”
Cẩn trọng nhích từng phần mười milimét để không làm đứt gãy thớ giấy đã giòn vì hai năm nằm trong bóng tối, Vi nhẹ nhàng dùng lực kẹp vừa đủ, từ từ rút thẳng góc mảnh giấy ra khỏi rãnh kẹp kim loại.
Một tiếng *xoẹt* khẽ khàng tựa như tiếng gió thoảng qua kẽ lá khô.
Vật thể lạ được rút ra trọn vẹn và đặt cẩn thận lên một tấm bìa bảo quản màu trắng không chứa axit mà Vi đã chuẩn bị sẵn trên mặt bàn gỗ.
Đó là một mẩu giấy hình tam giác rách dài khoảng bốn xăng-ti-mét, rộng gần hai xăng-ti-mét. Chất liệu là loại giấy bìa xi măng màu nâu sẫm, dày dặn và dai sợi — loại giấy bọc hồ sơ chuyên dụng của các cơ quan quản lý kho vận nhà nước những năm cuối thập niên 1990.
Nhưng điều khiến nhịp tim của tất cả những người chứng kiến như ngừng đập lại chính là những gì hiện diện trên bề mặt mẩu giấy nâu ấy.
Dưới ánh sáng hội tụ của đèn kỹ thuật và thấu kính phóng đại, ở góc trên của mẩu giấy còn lưu lại một góc của vòng tròn con dấu nghiệp vụ đóng bằng mực dầu màu đỏ nhạt đã ngả sang sắc cam vì thời gian. Mẩu giấy kẹp rách dưới đáy rãnh trượt hiện rõ ba chữ in hoa bằng mực đỏ nhạt: 'Kho Đ.P - Chuyển giao'.