Chỉ Khâu Lộn Ngược
Gian xưởng Bách Mộc lọt thỏm giữa lòng phố Hàng Hòm, nơi không gian dường như luôn bị nén chặt bởi một thứ không khí đặc quánh, ngai ngái mùi mùn cưa mục, mùi hăng nồng của dầu trẩu già và hơi ẩm muôn đời bốc lên từ những phiến gỗ ngâm rỉ nhựa. Chiều tà hắt qua những khe hở của mái ngói vảy cá thủng lỗ chỗ, rọi xuống một luồng sáng vàng vọt đầy bụi bặm, soi rõ từng dải phoi bào quăn queo, trắng bợt nằm rải rác trên nền gạch hoa xám loang lổ vết dầu máy. Dưới chân chiếc bàn thợ ghép bằng ba tấm gỗ lim dày cộm, những mạt cưa mịn như bột cám phủ một lớp dày lên gót giày, mỗi bước chuyển mình đều dấy lên một mùi ngai ngái của thớ gỗ cổ thụ bị xé toạc.
Lê Bách đứng sừng sững bên mép bàn bào, hai vai nhô cao, bờ ngực vạm vỡ sau lớp áo bảo hộ lao động phập phồng dữ dội theo từng nhịp thở dốc nghẹn ứ. Đôi bàn tay người thợ cả chai sần, những đầu ngón tay đóng vảy sừng đen đúa vì nhựa cây và khói bồ hóng, lúc này đang run lên từng hồi không cách nào kiềm tỏa. Cơn phẫn uất dồn ứ từ ban sáng nơi sảnh lớn của Bảo tàng Vạn Lịch giờ đây như ngọn lửa cháy âm ỉ trong than trấu, chỉ chực bùng lên thiêu rụi mọi thứ xung quanh. Ngay giữa mặt bàn gỗ lim nhẵn bóng mồ hôi, chiếc đục thép nhíp xe cán gỗ nghiến cắm phập sâu hơn một phân, mũi thép tôi xanh biếc vẫn còn rung rinh khe khẽ, phát ra những tiếng vo ve trầm đục như muốn đóng đinh sự uất ức đang cuộn trào nơi cuống họng.
Bách nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra gồ ghề như một khối gỗ lũa. Anh trừng mắt nhìn khoảng tường vách đất tróc lở phía trước, nơi treo lỉnh kỉnh những công cụ gia truyền đã cùng gia đình anh đi qua ba thế hệ: những chiếc cưa tay lưỡi cong hình bán nguyệt, những chiếc bào mộng bằng gỗ trắc đen nhánh, hàng chục chiếc đục lòng máng, đục bạt xếp ngay ngắn theo cỡ từ nhỏ đến lớn. Mỗi món đồ nghề đều thấm đẫm mồ hôi của ông nội, của cha, và của chính anh trong hơn hai mươi năm cầm thước ngắm mực.
“Tôi sống bằng nghề mộc, bằng từng đường cưa nhát đục cha ông truyền lại từ ba đời nay giữa cái phố Hàng Hòm này!” Giọng Bách gằn xuống, khản đặc và đay nghiến, âm thanh dội vào những súc gỗ dựng đứng quanh tường nghe nặng trịch như đá rơi. “Người trong cái nghề này quý nhau ở chữ tín, sợ nhất cái tiếng làm bậy, làm dối, tráo gỗ lừa người. Cả cái Hà Nội này, ai cần vá một góc chân sập cổ, ai muốn cứu một tấm hương án mối ăn rỗng ruột đều tìm đến Bách Mộc. Vậy mà hôm nay... lão Hoàng Đình dám vác chiếc hộp mục nát ấy đập thẳng mặt tôi ở giữa sảnh bảo tàng trước mặt bao nhiêu quan khách! Lão chửi tôi là phường bán danh trục lợi, là đồ thợ tiện tráo trở! Còn thằng ôn Bùi Quang Duy... thằng mặt nhẵn như gương ấy lại dám rọc trộm giấy tờ ngay dưới mũi tôi! Các người bảo tôi phải bình tĩnh thế nào đây? Làm sao mà nuốt trôi được cục nhục này?”
Tiếng Bách gầm lên khiến người thợ phụ đang lui cui bên nồi sáp ở góc gian sau phải giật mình đánh rơi chiếc que khuấy, muội than bay mù mịt một góc xưởng.
Lục Khang vẫn đứng thẳng lưng bên khung cửa sổ chấn song gỗ lim đã mòn vẹt mép. Ngược với sự bùng nổ hoang dại của người thợ mộc, Khang duy trì một tư thế điềm tĩnh, nghiêm cẩn đến tuyệt đối. Anh khoác chiếc áo jacket màu xám tro giản dị, đôi mắt sâu và sáng sắc lạnh quan sát không rời từng cử động cơ bắp, từng cái siết tay của Bách. Với kinh nghiệm nhiều năm thụ lý các vụ án gian lận thương mại và lừa đảo cổ vật phức tạp, Khang hiểu quá rõ trạng thái tâm lý này. Đây là phản ứng tự vệ bản năng tột cùng của một nghệ nhân lương thiện khi nhận ra danh dự nghề nghiệp, mồ hôi nước mắt và di sản của gia tộc mình đã bị kẻ gian biến thành một thứ công cụ bẩn thỉu để trục lợi.
Khang không vội vàng cất lời, cũng không tiến lại gần chiếc bàn thợ đang tỏa ra thứ sát khí nghẹt thở ấy. Anh biết, bất kỳ một lời khuyên bảo sáo rỗng nào lúc này cũng chỉ như đổ thêm dầu vào lửa. Chậm rãi và dứt khoát, Khang luồn tay vào túi trong của áo khoác, rút ra chiếc thẻ ngành điều tra viên bọc da đen bóng. Anh bước tới hai bước, bàn chân đặt êm ái trên lớp phoi bào, rồi đặt nhẹ chiếc thẻ lên mép bàn thợ—chính xác vào khoảng trống hiếm hoi đã được quét sạch bụi gỗ cạnh chiếc cưa tay.
“Anh Bách,” Khang mở lời, thanh âm trầm tĩnh, đĩnh đạc và mang một sức nặng uy quyền tự nhiên khiến gian xưởng dường như chùng xuống. “Sự phẫn nộ của anh là hoàn toàn có cơ sở. Nếu tôi ở vào vị trí của anh, khi danh dự ba đời bị đem ra bêu riếu giữa thanh thiên bạch nhật, tôi cũng sẽ giận dữ như vậy. Nhưng đập bàn đập ghế hay trút giận lên đồ nghề cha ông để lại không giúp anh gột sạch cái mộc đỏ của Xưởng Bách Mộc đang nằm trên tờ biên bản mà ông Hoàng Đình cầm đến cơ quan công an tố cáo. Anh càng phá phách, người ngoài nhìn vào càng nghĩ anh chột dạ.”
Khang nhìn thẳng vào đôi mắt vằn tia máu của người thợ cả, từng lời nói ra đều rành rọt như gõ búa:
“Hiện tại, về mặt thủ tục hành chính và tố tụng, xưởng của anh đang đứng tên trên một văn bản bảo lãnh chất lượng cho một món đồ có dấu hiệu lừa đảo thương mại quy mô lớn. Chiếc mộc đỏ ấy là thật, chữ ký mang tên anh dù có bị giả mạo tinh vi thì trên giấy tờ, anh vẫn là mắt xích pháp lý đầu tiên phải chịu trách nhiệm giải trình. Nếu anh muốn chứng minh mình vô can, nếu anh muốn rửa sạch cái tiếng nhơ này trước giới làm nghề và trước pháp luật, chúng ta không thể dùng nắm đấm hay sự uất ức. Chúng ta phải làm việc trên giấy trắng mực đen, đối đầu với chúng bằng đúng những gì kẻ kia đã dùng để gài bẫy anh.”
Ninh Tường Vi khẽ bước lên nửa bước từ phía sau Khang. Nắng chiều rọi xiên qua vai cô, làm nổi bật gương mặt thanh tú nhưng cương nghị. Đôi mắt cô trong veo, phẳng lặng như mặt hồ mùa thu, nhưng ẩn chứa bên trong là sự nhạy bén phi thường của một chuyên viên lưu trữ di sản lâu năm. Cô nhẹ nhàng kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ dổi sang bên cạnh để tránh chắn lối đi, bước chân thanh thoát không gây ra một tiếng động nhỏ.
“Anh Bách,” giọng Vi cất lên, mềm mại như một dòng nước mát xoa dịu bầu không khí ngột ngạt nhưng lại chứa đựng sự chắc chắn không thể lay chuyển. “Em làm công tác lưu trữ và phục chế văn bản ở bảo tàng, em hiểu cảm giác khi tên tuổi, chữ ký hay tài liệu của mình bị kẻ khác đánh tráo, lạm dụng vào những mục đích bẩn thỉu. Càng nóng giận, kẻ giấu mặt phía sau lại càng đắc ý, bởi sự mất bình tĩnh của anh sẽ giúp hắn dễ dàng hướng toàn bộ mũi dùi dư luận và cơ quan điều tra về phía xưởng Bách Mộc. Hắn muốn anh trở thành vật tế thần.”
Vi dừng lại một nhịp, ánh mắt cô chạm vào ánh mắt đang dao động của Bách:
“Cách duy nhất để tước vũ khí của Bùi Quang Duy và những kẻ đứng sau hắn lúc này là chúng ta phải kiểm tra lại toàn bộ chuỗi chứng từ lưu tại xưởng: cuốn sổ lưu hóa đơn bán lẻ và nhật ký xuất nhập vật tư phục chế. Mọi thao tác đều phải diễn ra ngay tại đây, dưới sự chứng kiến và giám sát hợp pháp của anh Khang, nhằm bảo vệ tính toàn vẹn tuyệt đối của chứng cứ gỡ tội cho anh. Kẻ gian có thể cắt trộm năm tờ biên bản khống, nhưng hắn không thể xóa sạch dấu vết cơ học trên cuốn sổ mẹ. Giấy tờ luôn có tiếng nói riêng của nó, anh Bách ạ. Anh hãy để cuốn sổ lên tiếng thay cho anh.”
Những lời của Vi như chạm trúng vào điểm sâu kín nhất trong tâm can người thợ cả. Bách ngước nhìn cô gái trẻ, rồi lại nhìn sang vẻ mặt cương nghị, vững chãi như bàn thạch của Khang. Ánh mắt họ không có sự nghi kỵ, không có vẻ trịch thượng của người đi thẩm vấn, mà tràn đầy sự nghiêm túc của những người đang thực sự đi tìm sự thật.
Cơn giận điên cuồng trong lồng ngực Bách dần dần hạ nhiệt, nhường chỗ cho một nỗi chua xót nghẹn ngào. Bàn tay gân guốc của anh từ từ nới lỏng khỏi chuôi chiếc đục thép. Anh buông tay, lùi lại một bước, tựa lưng vào cột nhà bằng gỗ xoan đào, hít một hơi thật sâu để nuốt trọn vị đắng ngắt vào trong. Bách đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang trán, gạt đi lớp mồ hôi trộn lẫn bụi cưa.
“Được... các anh các chị nói đúng,” Bách cất giọng, âm sắc đã bớt gay gắt nhưng vẫn run rẩy vì xúc động. “Muốn lấy lại danh dự thì phải bằng chứng cứ. Cha tôi ngày xưa dạy, gỗ mục có thể bào đi làm lại, chứ cái nết người mà mục thì chỉ có vứt. Tôi không làm điều thất đức, tôi không sợ.”
Bách xoay người, bước giật lùi về phía góc trong cùng của gian xưởng, nơi kê một chiếc tủ gỗ nghiến hai cánh nặng trịch, màu gỗ đã ngả sang sắc cánh gián sẫm bóng loáng qua hàng chục năm sử dụng. Anh thò tay vào cạp quần, rút ra một chùm chìa khóa bằng đồng cũ kỹ xâu bằng sợi dây thép gai. Chiếc chìa tra vào ổ khóa kêu lách cách khô khốc. Cánh cửa tủ dày cộp mở bung ra, phả ra một luồng hơi lạnh mang theo mùi giấy bản ẩm, mùi long não và mực tàu lưu cữu.
Từ ngăn kéo trên cùng, Bách cẩn thận dùng cả hai tay ôm ra hai cuốn sổ dày cộp. Anh bước lại bàn thợ, đặt hai tập tài liệu xuống mặt gỗ lim nghe một tiếng “huỵch” nặng nề, khiến bụi mùn cưa xung quanh bay là là trên mặt bàn.
Đó là một cuốn sổ bọc bìa các-tông cứng màu xanh công nhân khổ A4, bên ngoài dán nhãn giấy điều có dòng chữ in nhũ đã mờ: *Nhật Ký Vật Tư Phục Chế*; và một cuốn sổ mỏng hơn, khổ dài dạng liên gấp nằm ngang mang dòng chữ in sẵn: *Sổ Lưu Hóa Đơn & Biên Bản Bán Lẻ*.
“Đây,” Bách chỉ những ngón tay đen đúa vào hai cuốn sổ, giọng khản đặc nhưng dứt khoát. “Từ ngày cha tôi giao lại cái xưởng này cho tôi đứng tên cách đây mười năm, từng cân dầu trẩu, từng lạng keo da trâu, từng mét chỉ dù nhập về hay từng chiếc tráp, chiếc sập trả cho khách, tôi đều tự tay ghi chép cẩn thận từng nét chữ. Không một ai được phép đụng vào hai cuốn sổ này ngoài tôi. Các anh các chị cứ xem cho tường tận từng trang. Tôi Lê Bách này cây ngay không sợ chết đứng!”
Lục Khang gật đầu tán thành. Anh rút cuốn sổ tay nghiệp vụ bọc bìa giả da màu đen và chiếc bút bi cài trước ngực áo ra, chọn một vị trí đứng ở góc bàn chếch về phía cửa sổ. Tại góc này, ánh sáng tự nhiên rọi vào rõ nhất, đồng thời anh có thể bao quát toàn bộ cử chỉ của Vi và Bách, ghi nhận tiến trình kiểm tra theo đúng trình tự tố tụng dân sự và bảo quản vật chứng hiện trường.
Ninh Tường Vi mở chiếc túi xách bằng vải thô mang bên mình, cẩn thận lấy ra một đôi găng tay cotton trắng mỏng chuyên dụng trong công tác lưu trữ cổ vật. Đây là vật bất ly thân của cô, luôn được giặt sạch và sấy khô bằng máy tiệt trùng để đảm bảo mồ hôi tay hay axit tự nhiên từ da người không làm tổn hại đến các sợi cellulose mỏng manh của giấy tờ cổ. Cô xỏ từng ngón tay vào găng, vuốt phẳng phiu các nếp gấp.
Tiếp đó, Vi đưa tay kéo ngọn đèn bàn cổ có chao sắt tráng men xanh lá cây kê ở góc bàn thợ lại gần. Chiếc công tắc xoay kêu “tạch” một tiếng giòn tan, ánh sáng vàng ấm áp từ bóng đèn dây tóc công suất lớn rọi thẳng xuống mặt bàn lim, khoanh vùng một khoảng không gian sáng rực, soi rõ từng thớ giấy ráp, từng vết ố thời gian và lớp bụi mịn bám trên bìa cuốn sổ hóa đơn bán lẻ.
Cuốn sổ này được in theo dạng phôi tự in của hộ kinh doanh cá thể, đóng gáy thủ công bằng chỉ dù sáp theo lối truyền thống của phố cổ để lưu giữ các liên ba (liên lưu tại gốc màu vàng ngà) sau khi đã xé liên một giao cho khách hàng và liên hai chuyển nộp cơ quan quản lý thuế. Vi khẽ khàng dùng hai đầu ngón tay cái và ngón trỏ nâng mép bìa cuốn sổ lên. Động tác của cô nhẹ nhàng, uyển chuyển như đang lật giở một văn bản Hán Nôm quý hiếm thời Lê.
Từng liên giấy mỏng tang, loại giấy pơ-lu-ơ pha sợi bông ngả màu thời gian, sột soạt lướt qua dưới những ngón tay bọc vải trắng của Vi. Cô lật chậm rãi, đếm nhẩm từng tờ theo nhịp thở. Bách đứng bên cạnh, nín thở dõi theo từng cử động nhỏ của cô. Lồng ngực người thợ cả thắt lại, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào gấu chiếc áo bảo hộ lấm lem vệt mực và dầu bóng. Cả gian xưởng chìm vào một sự im lặng căng thẳng, chỉ còn tiếng gió thu thổi qua kẽ lá bàng ngoài ngõ và tiếng lật giấy sột soạt đều đặn.
Lật đến khoảng giữa cuốn sổ, nơi đánh số các biên bản phát hành vào quý ba năm nay, ngón tay trỏ của Vi bỗng khựng lại. Đôi mắt cô nheo lại sau hàng mi dài, dừng hẳn ở phần gáy cuốn sổ.
“Có điểm bất thường ở phần gáy chỉ,” Vi cất tiếng, giọng điềm tĩnh nhưng sắc bén như một nhát dao rạch vào bầu không khí im ắng.
Lục Khang lập tức nghiêng người về phía trước, ánh mắt sắc như chim ưng khóa chặt vào điểm ngón tay Vi đang chỉ. Anh nhanh chóng rút chiếc kính lúp kim loại nhỏ có gắn đèn LED phụ trợ trong túi áo ngực đưa cho cô. Vi khẽ lắc đầu, cô chưa vội dùng đến kính lúp mà đưa đầu móng tay trỏ miết thật nhẹ, cảm nhận độ căng dọc theo sống lưng gáy sổ bọc vải simili.
“Anh Bách, xưởng mình đóng cuốn sổ này bằng loại chỉ gì?” Vi ngẩng lên hỏi, giọng nói mang tính chất xác minh kỹ thuật.
“Chỉ dù chập ba bọc sáp,” Bách đáp ngay tắp lự không một giây ngập ngừng. “Chỉ dù sợi tổng hợp Polypropylene siêu dai, chập ba sợi lại rồi vuốt qua sáp ong rừng Hà Giang cho trơn và chống ẩm mốc. Đây là loại chỉ thợ đóng giày da cao cấp hoặc thợ đóng sách Hán Nôm cổ truyền vẫn dùng. Đích thân tôi dùng chiếc dùi thép tôi lửa đột từng lỗ xuyên qua cả tệp giấy dày, sau đó xỏ chỉ bằng kim khâu bao tải rồi thắt nút số 8 chết cứng ở hai đầu gáy. Tôi dám bảo đảm, cuốn sổ này có ném xuống giếng ngâm ba ngày vớt lên thì gáy chỉ vẫn nguyên, không thể nào tự tuột được!”
“Vậy thì anh nhìn đoạn giữa này xem,” Vi nghiêng gáy cuốn sổ, xoay sống lưng của nó trực diện dưới luồng sáng tập trung của bóng đèn bàn.
Dưới ánh sáng rực rỡ, sự tương phản cơ học hiện lên rõ mồn một. Ở khoảng một phần ba đầu và một phần ba cuối cuốn sổ, đường chỉ dù chập ba căng phẳng tắp, ôm khít mép giấy các-tông thành những đường chéo vuông vức, sợi chỉ phủ sáp ong vàng óng ánh, các lỗ đột tròn trịa, sắc cạnh và ôm chặt lấy thân chỉ không một khe hở. Thế nhưng, tại khoảng mười lăm liên giấy nằm ở chính giữa cuốn sổ—khu vực lưu trữ các chứng từ đánh số từ 80 đến 95—sợi chỉ dù bỗng chùng hẳn xuống một cách thảm hại.
Đoạn chỉ ở vị trí này uốn lượn lỏng lẻo, chồi hẳn lên khỏi bề mặt giấy như một đoạn dây gân bị dãn quá mức, tạo thành những khoảng hở rộng tới gần hai milimét giữa các nếp gấp của liên giấy. Khi Vi dùng đầu ngón tay khẽ ấn nhẹ vào mép gáy, các tờ giấy bên trong xộc xệch trượt đi trượt lại, không hề có độ liên kết chặt chẽ của một cuốn sổ đóng chỉ thủ công chuyên nghiệp.
Đặc biệt, xung quanh lỗ đột chỉ số 3 và số 4 tính từ trên xuống, những sợi giấy pơ-lu-ơ mỏng manh đã bị toét rộng ra, mép lỗ tưa sờn nham nhở. Có những vệt xước trắng li ti chạy ngược chiều thớ giấy, chứng tích rõ ràng của việc một sợi chỉ thô ráp vừa bị giật mạnh ra theo hướng cưỡng bức, sau đó lại có một mũi kim với tiết diện lớn hơn chọc xuyên qua lỗ cũ lần thứ hai để luồn chỉ ngược lại.
Vi cầm lấy chiếc kính lúp từ tay Khang, bật công tắc đèn LED rọi sát vào vết sờn:
“Đường chỉ này đã bị tháo tung ra và khâu lại bằng tay một cách vụng về trong tình trạng thiếu thời gian và thiếu dụng cụ chuyên dụng,” Vi phân tích, từng câu chữ đều chuẩn xác theo ngôn ngữ giám định cổ thư. “Kẻ đột nhập vào xưởng không đơn thuần là dùng dao trổ hay dao lam rọc lấy năm tờ biên bản khống từ số 86 đến số 90 như nhận định sơ bộ ban đầu tại bảo tàng. Nếu chỉ dùng dao rọc, phần chân cuống giấy dính trong gáy sẽ để lại gờ cắt sắc nhọn, người kiểm tra lật sổ sẽ thấy ngay độ hụt của trang. Để che giấu hành vi biến mất của năm tờ giấy, hắn đã kỳ công rút hẳn đoạn chỉ dù ở giữa ra để gỡ nguyên vẹn cả năm tờ biên bản kép cùng cuống giấy. Nhưng để tránh việc anh Bách phát hiện ngay cuốn sổ bị rỗng gáy hay đứt đoạn khi cầm vào, hắn đã luồn lại sợi chỉ thừa vào các lỗ đột cũ rồi buộc gá tạm bợ.”
Lục Khang nhíu chặt đôi lông mày rậm, ánh mắt anh dán chặt vào các con số in màu đỏ son nằm ở góc trên bên phải của mỗi liên giấy pơ-lu-ơ:
“Nhưng nếu hắn đã tháo ra và khâu lại, làm sao hắn có thể qua mặt được hệ thống số xê-ri nhảy liên tục? Mỗi liên giấy đều có số thứ tự in sẵn từ nhà in, thiếu một số là lộ ngay.”
“Đó chính là sai lầm chết người của kẻ tráo giấy,” Vi khẽ mỉm cười, một nụ cười thoáng hiện sự tự tin của một người làm nghề nắm chắc quy luật của vật chất. “Trong cơn hoảng loạn vì thời gian có hạn, hắn đã tự giăng bẫy chính mình. Anh Khang, anh nhìn kỹ chuỗi số này đi.”
Vi đặt cuốn sổ nằm phẳng phiu trên mặt bàn, dùng đầu ngón tay bọc găng trắng lật từng trang cho hai người đàn ông cùng quan sát. Khang và Bách đồng loạt ghé sát mắt nhìn theo nhịp lật của cô:
- Tờ số 83... nét mực in typo màu đỏ son sắc nét. - Tờ số 84... liên giấy còn nguyên mép gấp phẳng phiu. - Tờ số 85... hoàn toàn bình thường. - Đáng lẽ, trang kế tiếp phải là số 86. Nhưng tờ 86 đến tờ 90 đã biến mất không dấu vết. - Trang kế tiếp hiện ra dưới ánh đèn lại mang con số... 95! - Vi lật tiếp một tờ: số 94! - Tiếp theo: số 93... rồi đến số 92... và số 91! - Và ngay sau tờ số 91, trang tiếp theo của cuốn sổ lại trở về trật tự cũ: số 96, 97, 98!
Không gian trong gian xưởng Bách Mộc bỗng chốc đông đặc lại. Tiếng gió ngoài hiên như ngừng thổi, chỉ còn lại tiếng muội than rơi tí tách bên bếp đun sáp của người phụ việc ở gian sau. Cả Khang và Bách đều sững sờ trước cảnh tượng kỳ dị đang phơi bày trên trang giấy.
“Dãy số bị nhảy cóc và đảo ngược hoàn toàn,” Vi cất giọng rành rọt, phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. “Kẻ trộm sau khi rọc lấy cụm năm tờ từ 86 đến 90, nhận thấy độ dày của cuốn sổ bị hụt đi một khoảng rõ rệt có thể khiến người quản lý nhận ra ngay bằng cảm giác tay. Hắn bèn gom xấp giấy còn lại của tệp giữa—chính là năm tờ từ 91 đến 95—để khâu trả lại vào gáy nhằm giữ cho sống sổ có độ cộm tương đối. Thế nhưng, vì thời gian quá gấp gáp—theo như anh Bách nói, anh chỉ rời xưởng vào kho tìm phôi gỗ trắc cho hắn trong vòng chưa đầy mười phút—hắn đã cầm lộn ngược cả tệp giấy năm tờ này. Hắn cắm cúi xỏ chỉ khi toàn bộ tệp giấy bị xoay ngược 180 độ theo chiều dọc! Hậu quả là tờ số 95 bị đẩy lên đè vào vị trí của tờ 86, và toàn bộ thứ tự số bị chạy lùi từ 95 về 91 trước khi nối tiếp vào tờ 96!”
Lê Bách trố tròn hai mắt, miệng há hốc, toàn thân anh run bắn lên như bị điện giật. Người thợ cả đưa hai bàn tay lên ôm lấy đầu, các khớp ngón tay kêu răng rắc:
“Trời đất quỷ thần ơi... Thảo nào! Thảo nào suốt cả tuần nay, mỗi lần tôi lật sổ tính tiền công hay ghi hóa đơn cho khách, tôi cứ thấy cái gáy sổ nó phập phà phập phồng, lỏng lẻo như hàm răng rụng của bà lão! Tôi cứ đinh ninh là do mấy trận mưa rào đầu thu làm không khí ẩm ướt, giấy pơ-lu-ơ nó hút ẩm rồi trương nở bung mép chỉ... Tôi ngu muội quá! Tôi không ngờ thằng súc sinh ấy lại dám cả gan ngồi ngay tại bàn thợ của tôi, tháo tung chỉ dù rồi lộn ngược cả sổ sách của tôi như thế này!”
Lục Khang không để lãng phí một giây nào. Tác phong nghiệp vụ của một điều tra viên dày dạn lập tức được kích hoạt. Anh với tay lấy chiếc cặp công vụ bằng da đen cứng đặt trên chiếc ghế đẩu bên cạnh, mở khóa kéo, rút ra một chiếc túi nilon zip bảo quản tài liệu chuyên dụng trong suốt.
Bên trong túi nilon là một tờ giấy khổ A4 đã ngả màu ố vàng nhân tạo: tờ Biên bản Giám định & Phục hồi Cổ vật mang số hiệu *88/BB-BM*. Đây chính là tang vật quan trọng nhất của vụ việc, tờ biên bản mang dấu đỏ mà ban sáng nhà sưu tập Hoàng Đình đã phẫn nộ ném xuống mặt bàn kính ở phòng tiếp khách Bảo tàng Vạn Lịch trước sự chứng kiến của ban giám đốc và hàng chục chuyên gia, vu cho Bách Mộc tội thông đồng làm giả giấy tờ thẩm định cho một chiếc tráp mục nát.
Khang dùng kẹp nhựa gắp tờ biên bản số 88 ra khỏi túi bảo quản, đặt nó nằm phẳng phiu song song với cuốn sổ lưu hóa đơn gốc của xưởng Bách Mộc ngay dưới luồng sáng của ngọn đèn bàn.
“Hai người hãy quan sát thật kỹ bề mặt in ấn của hai tài liệu này,” Khang cất giọng trầm, hướng đầu bút bi vào phần tiêu đề trên cùng của tờ biên bản khiếu nại. “Về mặt hình thức bên ngoài, màu giấy và kích thước thoạt nhìn rất đồng nhất. Nhưng sự thật luôn nằm ở những chi tiết cơ học mà mắt thường dễ dàng bỏ qua.”
Vi cúi thấp người xuống, đưa chiếc kính lúp rà sát vào dòng chữ in đậm nổi bật ở đầu trang giấy: *XƯỞNG PHỤC CHẾ BÁCH MỘC – TINH HOA MỘC BẢN PHỐ CỔ*. Đôi mắt tinh tường của chuyên viên lưu trữ lập tức bóc tách từng phân tử mực in.
“Chữ ‘PHỤC CHẾ’ trên tờ số 88 của ông Hoàng Đình...” Vi thốt lên khe khẽ, ngón tay bọc vải trắng khẽ run lên vì phấn khích. “Đây là phông chữ chân phương có gạch ngang chân (serif), kiểu chữ in ty-pô khuôn chì cổ điển! Nhìn vào mép chữ, chúng ta thấy rõ độ lún cơ học của bản kẽm ép vào thớ giấy, tạo thành một đường viền gờ nổi nhẹ ở mặt sau. Đặc biệt, chữ ‘MỘC’ có dấu nặng hình tam giác sắc cạnh—đây là nét nhận dạng đặc thù không thể lẫn vào đâu được của bộ phông chữ chì thuộc Xưởng in số 4 Hàng Gai thời kỳ trước năm 2020!”
Nói đoạn, Vi nhanh chóng chuyển kính lúp sang soi vào dòng tiêu đề in trên các liên giấy của cuốn sổ lưu năm 2023 đang mở trên bàn:
“Trong khi đó, toàn bộ các trang trong cuốn sổ phát hành đầu năm nay của anh Bách, tiêu đề đều được chuyển sang phông chữ số hóa hiện đại (sans-serif), nét thanh nét đậm hoàn toàn trơn láng, không có gờ ép cơ học của khuôn chì. Dấu nặng của chữ ‘MỘC’ ở đây là một hình tròn đồng tâm hoàn hảo, in bằng công nghệ in offset kỹ thuật số!”
Bách nghe Vi phân tích đến đâu, mắt anh sáng rực lên đến đó. Anh vỗ đùi đánh đét một cái, mặt đỏ bừng vì mừng rỡ:
“Đúng rồi! Đúng là như thế cô Vi ơi! Đầu năm ngoái, bên chi cục thuế phường yêu cầu các hộ kinh doanh cá thể trên phố Hàng Hòm phải chuẩn hóa lại hóa đơn bán lẻ theo mẫu có mã vạch và phông chữ chuẩn số hóa để tiện quản lý. Tôi tiếc mấy bộ bản kẽm in chì cũ của cha tôi để lại lắm, nhưng vẫn phải gom toàn bộ mang ra ve chai bán đồng nát, rồi ra xưởng in tư nhân chỗ ngã tư Bát Đàn đặt in một lô phôi mới hoàn toàn bằng máy in kỹ thuật số. Toàn bộ sổ sách, hóa đơn xưởng tôi dùng từ rằm tháng Giêng năm nay đều là mẫu chữ mới nét tròn này! Tôi không còn giữ một tờ phôi in chì nào trong xưởng cả!”
“Nhưng con số sê-ri thì sao?” Khang gõ nhẹ đầu bút bi xuống bàn, giọng anh đanh lại, truy vấn vào mấu chốt của sự ngụy tạo.
Vi chuyển kính lúp dịch chuyển xuống góc trên bên phải của tờ số 88:
“Dãy số in trên tờ khiếu nại của ông Hoàng Đình là *BM-2023/088*. Con số ‘088’ này được đóng bằng con dấu dập số tự động sáu chữ số bằng kim loại, dùng mực dấu màu đỏ son tươi. Dãy số ‘088’ này nằm trọn vẹn trong dải số phát hành của cuốn sổ năm nay—chính là một trong năm tờ từ 86 đến 90 đã bị rọc mất khỏi gáy sổ của anh Bách. Thế nhưng... cái phôi giấy mang dãy số ấy lại mang khuôn in chì tiêu đề của hai năm về trước!”
Lục Khang khoanh hai tay trước ngực, ánh mắt anh lóe lên tia nhìn sắc lẹm của một điều tra viên đã nắm trọn bản chất của một âm mưu:
“Một sự cọc cạch chết người. Bùi Quang Duy hoặc kẻ đồng mưu của hắn đã lấy cắp được một tệp phôi giấy trắng có đóng sẵn mộc tròn giáp lai thật của xưởng Bách Mộc từ hai năm trước—thời điểm mà xưởng của anh Bách vẫn còn sử dụng mẫu hóa đơn in ty-pô khuôn chì cũ. Hắn đã cất giữ những tờ phôi khống có dấu đỏ thật ấy trong bóng tối suốt ngót hai mươi bốn tháng trời như một thứ vũ khí dự trữ. Nhưng khi muốn dàn dựng một phi vụ lừa đảo ở thời điểm hiện tại để vu cáo cho Bách Mộc và gài bẫy ban giám định Bảo tàng Vạn Lịch, hắn buộc phải hợp thức hóa niên đại của văn bản sang năm 2023.”
Khang dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào Bách:
“Để làm được điều đó, hắn không thể dùng phôi cũ với số sê-ri cũ của năm 2021, vì tra cứu sổ sách thuế sẽ lòi đuôi ngay. Hắn buộc phải đột nhập vào xưởng của anh, vờ nhờ vả phục chế để làm anh phân tâm, rồi thừa cơ rút trộm cụm số 86 đến 90 của năm nay. Sau đó, hắn dùng máy dập số cơ học đè dãy số mới ‘BM-2023/088’ lên trên cái phôi giấy cũ đã có sẵn con dấu thật từ hai năm trước!”
“Nhưng tại sao hắn không lấy luôn con dấu của tôi đóng vào phôi mới cho xong chuyện?” Bách thắc mắc, trán anh nhăn tít lại. “Con dấu đồng của xưởng tôi lúc nào cũng để trong khay mực trên bàn thợ kia mà?”
Vi mỉm cười nhẹ nhõm, cô đưa ngón tay chỉ vào vết mực đỏ của con dấu tròn đóng ở góc dưới tờ số 88:
“Bởi vì con dấu đồng hiện tại của xưởng anh Bách có một khuyết tật cơ học mà kẻ làm giả không dám mạo hiểm sao chép. Anh Bách, anh có nhớ vào mùa đông năm ngoái, khi khiêng chiếc sập gụ, anh đã vô tình gạt rơi khay mực làm con dấu đồng rơi xuống nền gạch đá hoa không?”
Bách chớp chớp mắt, rồi gật đầu lia lịa: “Có! Nhớ chứ! Vành ngoài của con dấu bị mẻ mất một mảnh bằng hạt tấm ở góc hướng 5 giờ. Tôi tiếc của, nhưng ngại đi làm lại thủ tục khắc dấu mới phiền phức nên cứ để thế dùng suốt từ đó đến giờ.”
“Chính xác là như vậy,” Vi giải thích tường tận. “Con dấu đóng trên tờ số 88 này có vành ngoài tròn xoe, hoàn hảo tuyệt đối, không hề có vết khuyết ở hướng 5 giờ. Nó là hình ảnh con dấu nguyên vẹn của hai năm trước. Kẻ chủ mưu thừa hiểu rằng nếu hắn lấy trộm phôi giấy trắng năm nay rồi tự tiện đóng con dấu hiện tại lên, cơ quan giám định kỹ thuật hình sự sẽ dễ dàng soi ra vết khuyết và đối chiếu với thời điểm văn bản ra đời. Hắn sợ bị lật tẩy vết mòn cơ học, nên hắn đã chơi một ván bài tinh vi hơn: tận dụng phôi cũ có sẵn dấu thật từ quá khứ, rồi ghép nối xảo quyệt với chuỗi số sê-ri hiện hành để đánh lừa mắt thường của các chuyên gia và nhà sưu tập!”
Lê Bách nuốt nước bọt đánh ực một cái. Toàn thân anh ớn lạnh. Từng lớp màn nhung đen tối của âm mưu dần dần bị bóc trần dưới ánh sáng của tri thức lưu trữ và nghiệp vụ điều tra. Người thợ mộc chất phác nhận ra mình vừa bước hụt qua một miệng vực sâu không đáy, nơi danh dự ba đời của gia tộc suýt chút nữa đã tan tành mây khói dưới bàn tay của những kẻ mưu mô xảo quyệt.
“Bây giờ, chúng ta chuyển sang vấn đề thứ hai: vật liệu,” Khang lên tiếng, giọng nói kéo sự chú ý của mọi người trở lại thực tại. “Về mặt chứng từ in ấn, chúng ta đã chứng minh được tờ biên bản số 88 là một sản phẩm chắp vá, ngụy tạo, nằm ngoài chuỗi quản lý hợp pháp của xưởng Bách Mộc. Nhưng còn về hiện vật? Chiếc hộp mục bốc mùi hóa chất nồng nặc mà ông Hoàng Đình mang đến bảo tàng khiếu nại thì sao? Trong biên bản ghi rõ: chiếc tráp gỗ mục ấy được ‘phục chế toàn diện bề mặt và gia cố cốt gỗ’ tại Bách Mộc vào đúng ngày 12 tháng trước.”
Nhắc đến chiếc hộp mục, nét mặt Bách lập tức lấy lại sự tự tin và lòng kiêu hãnh của một nghệ nhân bậc thầy:
“Nói về giấy tờ con dấu thì tôi có thể bị chúng nó lừa, chứ còn nói về gỗ, về sơn, về dầu bóng thì tôi chấp cả lò nhà chúng nó! Cả cái phố Hàng Hòm này không ai qua mặt được Lê Bách này về chất liệu phục chế! Hai người theo tôi sang bên kho sau!”
Bách dứt khoát quay người, sải bước dẫn đường. Khang và Vi theo chân anh bước qua một ngách cửa hẹp thông sang gian kho chứa vật tư phục chế nằm khuất sau bức tường chịu lực của ngôi nhà cổ.
Vừa bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng, một luồng không khí hoàn toàn khác biệt ùa vào khứu giác của họ. Khác với gian xưởng phía trước ngổn ngang phoi bào và sực mùi mùn cưa mới cưa xẻ, gian kho này tối hơn, mát rượi và tĩnh mịch lạ thường. Không gian nồng đượm một thứ hương thơm mộc mạc, êm dịu và cổ kính: mùi nhựa thông thoang thoảng như hương rừng già, mùi ngai ngái ấm áp của sáp ong nguyên chất và vị chát khô của vỏ cây trẩu phơi nỏ.
Dọc theo bức tường xây bằng gạch chỉ cổ là những dãy kệ gỗ ba tầng kê san sát nhau, vững chãi và ngăn nắp. Trên các tầng kệ là hàng trăm lọ thủy tinh miệng rộng, những can nhựa dày và hộp thiếc được dán nhãn cẩn thận bằng giấy bản điều, viết chữ chân phương bằng mực tàu: *Dầu trẩu sống, Dầu hỏa tinh luyện, Nhựa cánh kiến đỏ (Shellac), Sáp ong rừng Hà Giang, Bột chu sa, Muội than thông ngâm dầu, Keo da trâu hầm nhừ*.
Bách bước đến góc kệ thứ hai, với tay rút xuống một cuốn sổ dày cộp, bìa bọc vải thô màu nâu đất đã sờn rách ở bốn góc. Anh lật roạt xoạt từng trang giấy bản dày dặn, dừng lại ở phần kiểm kê xuất nhập vật tư của tháng trước—thời điểm mà tờ biên bản số 88 ghi nhận việc xuất xưởng chiếc hộp của Hoàng Đình.
“Anh Khang, cô Vi nhìn cho kỹ từng dòng này,” Bách đặt cuốn sổ lên mặt một chiếc đôn gỗ, ngón tay thô ráp gióng thẳng vào từng cột mục ngay ngắn. “Trong suốt ba mươi ngày của tháng đó, xưởng Bách Mộc tôi chỉ xuất kho đúng ba loại chất phủ bề mặt: Thứ nhất là cánh kiến đỏ ngâm cồn 90 độ, dùng chổi lông thỏ quét bóng sáu lớp cho đôi câu đối cổ của chùa Kim Ngân bên Hàng Bạc. Thứ hai là sáp ong rừng nấu chảy pha với dầu trẩu theo tỷ lệ ba bảy, đun cách thủy để ủ dưỡng ẩm cho bộ trường kỷ khảm ốc xà cừ cổ của nhà cụ Nghị bên Mã Mây. Và thứ ba là vôi tôi ngâm nước tro nếp chín tháng mười ngày dùng để tẩy mốc sinh học cho chiếc rương gỗ dổi của Bảo tàng Hà Nội.”
Bách gập mạnh cuốn sổ lại, một tiếng “bẹp” vang lên đanh gọn trong gian kho tĩnh mịch:
“Chiếc hộp mục nát mà lão Hoàng Đình mang đến ăn vạ ban sáng, tôi đứng cách xa cả mét đã ngửi thấy mùi xộc thẳng lên tận óc! Đó là mùi hóa chất nồng nặc của dung môi Toluen và Butyl Acetate—thứ mùi đặc trưng của loại vecni công nghiệp khô nhanh NC (Nitrocellulose) bán can hai mươi lít trôi nổi ngoài chợ Trời! Loại sơn hóa học rẻ tiền ấy chỉ có cánh thợ sơn sắt mạ kẽm, thợ đóng đồ gỗ dán công nghiệp ép mùn cưa ngoài bãi Phúc Xá mới dùng để phun cho bóng bẩy cấp tốc, khô cong trong vòng mười lăm phút để đem đi bịp bợm người mua non tay. Xưởng Bách Mộc chúng tôi ba đời làm nghề, lấy sơn ta, dầu trẩu và sáp ong làm gốc, tuyệt đối không bao giờ cho phép một giọt sơn công nghiệp nào bước qua ngưỡng cửa này!”
Ninh Tường Vi bước lại gần kệ nguyên liệu, dùng ngón tay bọc găng khẽ chạm vào một lọ thủy tinh trong suốt chứa những vảy cánh kiến mỏng tang như cánh ve sầu, màu hổ phách rực rỡ dưới ánh sáng đèn pin của Khang:
“Anh Bách nói hoàn toàn chính xác. Về mặt hóa học và cấu trúc vật liệu, loại vecni công nghiệp khô nhanh NC đó khi phun lên bề mặt gỗ cổ đã mục sẽ tạo thành một lớp màng nhựa polyme nhân tạo cực kỳ giòn và kín khí tuyệt đối. Nó khóa chặt hơi ẩm bên trong, bóp nghẹt các mao mạch tự nhiên của thớ gỗ, ngăn không cho cốt gỗ trao đổi dưỡng khí với môi trường xung quanh. Kết quả là bên ngoài trông bóng loáng giả tạo, nhưng phần lõi xốp bên trong càng nhanh chóng bị mục ruỗng, hóa than bùn và bở vụn ra như cám cưa. Đó chính là lý do vì sao khi ông Hoàng Đình gõ nhẹ nắp tráp xuống bàn ở sảnh bảo tàng, chiếc hộp lập tức nứt toác ra thành từng mảnh vụn rỗng ruột. Không một nghệ nhân phục chế có lương tri nào lại dùng thứ độc dược ấy để xử lý cổ vật.”
Lục Khang cầm bút ghi chép nhanh chóng các thông số kỹ thuật và lời khai vật tư của Bách vào biên bản hiện trường:
“Và điều quan trọng nhất về mặt chứng cứ tố tụng: trong toàn bộ hệ thống hóa đơn nhập hàng lưu kho của xưởng Bách Mộc từ đầu năm 2022 đến nay, không hề tồn tại bất kỳ phiếu xuất kho, biên lai mua bán hay chứng từ thanh toán nào liên quan đến các hợp chất vecni dung môi công nghiệp hay sơn xịt NC. Toàn bộ chuỗi cung ứng vật tư của xưởng là một hệ thống hữu cơ khép kín, hoàn toàn tương thích với các phương pháp phục chế truyền thống. Bằng chứng vật chất này chứng minh dứt khoát rằng: chiếc hộp mục rỗng ruột kia được gia công, xử lý bề mặt và phun hóa chất tại một cơ sở cơ khí hoặc xưởng mộc công nghiệp hoàn toàn khác, không có bất kỳ liên hệ nào với xưởng Bách Mộc.”
Nghe Khang kết luận, đôi vai căng cứng như đá tảng của Lê Bách rũ xuống, trút bỏ được gánh nặng nghìn cân. Nỗi u uất đè nặng lồng ngực anh suốt từ sáng đến giờ dường như tan biến. Danh dự của người thợ cả, sự tôn nghiêm của ba đời mộc bản phố Hàng Hòm đã được bảo vệ một cách đanh thép bằng chính những thớ gỗ, những vảy sáp và từng dòng chứng từ mà anh trân quý.
Thế nhưng, Ninh Tường Vi vẫn đứng trầm ngâm bên kệ gỗ, ánh mắt cô nhìn xuyên qua khung cửa hẹp ra khoảng sân nhỏ ngập nắng chiều:
“Nhưng ai là kẻ đã đưa chiếc hộp mục ấy vào vòng luân chuyển để tạo thành cái bẫy này? Bùi Quang Duy chỉ là một kẻ môi giới, một kẻ điều phối giấy tờ có chân trong các hội đồng thẩm định. Hắn có kiến thức về cổ vật, nhưng hắn không có hoa tay để tự mình đóng một chiếc hộp gỗ với các khớp mộng mang cá cắt bằng máy cưa bàn công nghiệp, lại càng không thể tự tay phun vecni xộc mùi toluen. Phải có một xưởng mộc khác, hoặc một giao dịch ngầm nào đó từng diễn ra...”
Lê Bách bỗng giật nảy mình. Một tia chớp ký ức xẹt qua tâm trí người thợ cả. Anh quay ngoắt lại, mắt mở to:
“Ảnh chụp! Đúng rồi! Máy tính của tôi!”
“Máy tính?” Khang ngước lên, ngòi bút dừng lại trên trang sổ nghiệp vụ.
“Phải! Chiếc máy tính để bàn ở góc xưởng!” Bách vội vã bước nhanh trở lại gian xưởng phía trước. Khang và Vi rảo bước bám sát theo anh.
Bách tiến về góc phòng mộc, nơi đặt một chiếc bàn con kê một bộ máy tính để bàn cũ kỹ. Thùng máy màu xám phủ một lớp bụi gỗ mỏng, nhưng màn hình và bàn phím lại được che chắn vô cùng cẩn thận bằng một tấm bạt nilon dày.
“Từ dạo xưởng tôi tham gia các dự án bảo tồn di sản phố cổ của thành phố,” Bách vừa lật tấm bạt nilon ra vừa giải thích, giọng nói có phần gấp gáp, “cô Hà An bên bảo tàng—người tiền nhiệm của cô Vi—đã dặn tôi rất kỹ: thời buổi này làm phục chế không thể chỉ dựa vào trí nhớ hay sổ tay. Bất kỳ món đồ nào của khách mang đến, từ chiếc khung tranh, cái khay trà cho đến bộ sập gụ, trước khi tôi hạ nhát đục đầu tiên đều phải dùng máy ảnh kỹ thuật số chụp lại đủ sáu mặt. Chụp hiện trạng ban đầu, chụp lúc tháo dỡ các mộng ngầm, chụp chi tiết vật liệu bên trong và chụp sau khi hoàn thiện, rồi lưu vào máy tính theo từng tháng để làm bằng chứng bàn giao, tránh việc khách quay lại bắt đền!”
Bách bấm nút nguồn. Chiếc thùng máy cũ kỹ rên lên những tiếng ro ro quen thuộc rồi màn hình tinh thể lỏng sáng bừng lên giữa gian xưởng chiều muộn. Bách thuần thục rê chuột quang, nhấp đúp vào một ổ đĩa dữ liệu mang tên in hoa: `HO_SO_PHUC_CHE`.
Trên màn hình, một cấu trúc thư mục khoa học hiện ra, xếp lớp ngăn nắp theo từng năm: `2021`, `2022`, `2023`. Trong mỗi năm lại chia thành mười hai thư mục con tương ứng với mười hai tháng, kèm theo tên khách hàng và mã số biên nhận.
“Để tôi mở thư mục tháng Chín và tháng Mười năm nay xem có món đồ nào dính dáng đến lão Hoàng Đình hay thằng Duy không,” Bách lẩm bẩm, ngón tay nhấp chuột thoăn thoắt vào các tệp ảnh thumbnail.
Ninh Tường Vi đứng ngay sau lưng người thợ mộc. Với phản xạ nghề nghiệp và năng lực thị giác đặc biệt của một người làm công tác văn khố lâu năm, mắt cô không chỉ nhìn vào những thư mục mà Bách đang nhấp chuột. Tầm nhìn của Vi quét rộng ra toàn bộ cây thư mục hiển thị ở thanh điều hướng bên trái màn hình. Trí nhớ hình ảnh của cô bắt đầu đối chiếu các mốc thời gian, tên tệp và những ký hiệu viết tắt kỳ lạ.
Đột nhiên, đồng tử của Vi co thắt lại. Ánh mắt cô khựng lại ở một thư mục nằm lạc lõng trong cây dữ liệu của quý hai năm nay—chính xác là vào tháng Năm—mang một cái tên mã không theo quy chuẩn đặt tên thông thường của Bách: `HD_GO_KHOANG_NGAM_05`.
“Khoan đã, anh Bách!” Vi đột ngột đặt bàn tay bọc vải trắng lên vai người thợ cả. “Dừng lại một chút. Anh quay ngược lên thư mục tháng Năm đi.”
Bách ngơ ngác dừng tay chuột: “Tháng Năm ư? Tháng Năm xưởng tôi bận tối mắt tối mũi dưới Thường Tín, nhận tháo dỡ và phục chế ba bộ bao lam cửa võng cho ngôi đền cổ dưới đó, có nhận làm đồ lẻ mấy đâu...”
“Thư mục có chữ ‘KHOANG_NGAM’ ở hàng thứ tư ấy,” Vi chỉ thẳng đầu ngón tay vào màn hình. “Mở nó ra giúp em.”
Lục Khang cũng bước áp sát lại gần, ánh mắt anh tập trung cao độ vào từng thao tác của Bách.
Bách nhấp đúp chuột vào thư mục `HD_GO_KHOANG_NGAM_05`.
Cửa sổ Windows lập tức bung ra một danh sách hơn hai mươi bức ảnh kỹ thuật số có dung lượng lớn, độ phân giải cao, được chụp dưới luồng sáng trắng của đèn xưởng mộc.
Bách bấm mở bức ảnh đầu tiên.
Màn hình vừa phóng to bức ảnh, cả gian phòng bỗng chốc rơi vào một sự câm lặng tuyệt đối. Một luồng điện vô hình dường như vừa xẹt qua không gian, khiến cả Khang và Vi đều nín thở.
Trên màn hình độ nét cao là một chiếc hộp gỗ hình chữ nhật dài khoảng bốn mươi phân, rộng hai mươi lăm phân và cao mười lăm phân. Thành hộp được chế tác bằng gỗ sồi sẫm màu đã qua xử lý nhiệt để tạo độ đanh chắc, các góc hộp liên kết với nhau bằng những đường mộng mang cá đôi cực kỳ tinh xảo và khít khao—loại mộng đòi hỏi kỹ thuật mộc phương Tây kết hợp với tay nghề chạm lộng đỉnh cao.
Nhưng điều khiến tim Vi đập thình thịch và ánh mắt Khang tóe lên tia sáng lạnh lẽo chính là những bức ảnh chụp cận cảnh bên trong lòng chiếc hộp:
Đáy hộp không hề phẳng lì như những chiếc tráp thông thường. Phần đáy gỗ sồi dày dặn đã bị khoét âm xuống một rãnh sâu đúng năm milimét, bên trên được đậy bằng một tấm ván mỏng có vân gỗ chạy dọc đánh lừa thị giác. Ở mép góc trong cùng của tấm đáy giả là một cơ cấu lẫy trượt cơ khí bằng đồng thau tí hon, liên động trực tiếp với chiếc then cài nắp hộp thông qua một sợi dây thép mảnh luồn ngầm trong rãnh thành hộp.
Khi then cài đóng lại, tấm đáy giả bị khóa chặt tuyệt đối. Chỉ khi mở then cài đến một góc bốn mươi lăm độ và ấn nhẹ vào đầu đinh tán ở mặt đáy ngoài, tấm ngăn bí mật mới khẽ trượt sang bên phải ba milimét, để lộ ra một khoang rỗng phẳng lì nằm ẩn giấu hoàn hảo bên dưới!
Một cơ cấu ngăn đáy kép bí mật kinh điển!
Vi siết chặt các đầu ngón tay lại. Cơ chế cơ khí liên động này giống hệt đến từng chi tiết với nguyên lý khoang rỗng giấu tài liệu mà cô và Khang từng phát hiện được giấu trong khung tranh do thợ đóng khung An Huy gia công, và chiếc hộp sắt sơn tĩnh điện niêm phong bằng mật mã tại căn gác xép ngõ Hàng Chỉ!
“Chiếc hộp này...” Giọng Lục Khang trầm xuống, đanh lại như thép nguội, uy lực của một sĩ quan điều tra dày dạn kinh nghiệm tỏa ra khắp gian phòng. “Anh Bách, ai là người đã mang chiếc hộp có kết cấu ngăn ngầm bí mật này đến xưởng của anh vào tháng Năm?”
Lê Bách đăm đăm nhìn vào màn hình máy tính, khuôn mặt thô ráp của anh biến sắc từ kinh ngạc sang bàng hoàng tột độ. Môi anh mấp máy, ký ức của sáu tháng trước ùa về như một cuốn phim quay chậm:
“Chiếc hộp này... Trời ơi, tôi nhớ ra rồi! Chiếc hộp này không phải là cổ vật thật sự của Việt Nam! Nó là một chiếc hộp vỏ gỗ sồi cổ của Đức từ thời thuộc địa do một người quen mang đến xưởng vào một buổi tối muộn cuối tháng Năm. Hắn nói đây là chiếc hộp đựng gia phả và kỷ vật truyền đời của dòng họ hắn, do thời gian lâu ngày nên chốt trượt ở ngăn đáy bị kẹt rỉ sét, mộng đáy kép bị cong vênh không trượt được. Hắn nhờ tôi gia cố lại chốt then ngầm bằng đồng, bào phẳng lại mép trượt và hun khói bồ hóng để làm già hóa bề mặt gỗ sồi sao cho tiệp màu với tổng thể...”
“Ai là người mang đến?” Khang hỏi dồn dập, từng chữ găm vào không gian. “Tên người đó là gì? Có giấy tờ giao nhận không?”
“Có! Có phiếu giao nhận lưu tạm!” Bách cuống cuồng dùng chuột bấm thoát khỏi trình xem ảnh, mở tiếp một tệp văn bản Word duy nhất nằm gọn trong thư mục mang tên: `PHIEU_GIAO_NHAN_0522.docx`.
Văn bản vừa mở ra, những dòng chữ đánh máy nắn nót hiện rõ mồn một trên nền sáng trắng của màn hình:
- *Khách hàng:* Bùi Quang Duy - *Đơn vị công tác:* Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành (ghi chú: Giao dịch dịch vụ cá nhân ngoài giờ hành chính) - *Nội dung yêu cầu kỹ thuật:* Hiệu chỉnh then ngầm ngăn đáy, thay chốt trượt đồng, xử lý lão hóa bề mặt gỗ sồi bằng phương pháp hun khói bồ hóng cổ truyền, bảo đảm giữ nguyên trạng tuyệt đối cơ cấu lẫy trượt liên động. - *Thời gian giao trả:* Ba ngày kể từ ngày nhận. - *Hình thức thanh toán:* Chuyển khoản ngân hàng cá nhân.
Chưa dừng lại ở đó, phía dưới văn bản Word là một bức ảnh chụp màn hình điện thoại chụp lại biên lai sao kê biến động số dư tài khoản ngân hàng mà Bách cẩn thận lưu lại để làm báo cáo quyết toán thu nhập cá nhân cuối năm.
Dòng lệnh giao dịch ngân hàng hiện lên sắc nét, không thể chối cãi:
*“Tài khoản chuyển: BUI QUANG DUY – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank).* *Số tiền: 4.500.000 VNĐ.* *Nội dung chuyển khoản: TT tien cong phuc che hop go go soi.”*
Ninh Tường Vi nín thở, cô bước lên sát màn hình, dùng hai ngón tay chỉ vào bức ảnh chụp cận cảnh góc bản lề và lẫy trượt của chiếc hộp gỗ sồi đang mở toang ngăn đáy bí mật. Cô nhấp chuột phóng to bức ảnh lên mức tối đa hai trăm phần trăm.
Dưới lớp gỗ sồi hun khói bồ hóng màu nâu đen sẫm màu, tại góc trái phía trong cùng của ngăn đáy vừa lộ ra, có một vết khắc chìm cực kỳ tinh vi bằng mũi dao trổ thép siêu nhỏ. Đó là một hình mũi tên mảnh dẻ chỉ phương vị bắc, và lồng ngay dưới chân mũi tên là một ký hiệu hình học trừu tượng gồm ba đường sóng uốn lượn cắt ngang một vòng tròn đồng tâm.
Một ký hiệu mật mã gia tộc mà Vi đã từng nhìn thấy trong tập bản vẽ lưu trữ cơ mật thời Đông Dương tại kho tài liệu bảo tàng.
Một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng Ninh Tường Vi, từ gáy lan nhanh xuống tận các đầu ngón tay. Đôi mắt cô sáng rực lên giữa ánh sáng xanh nhạt của màn hình máy tính, phản chiếu toàn bộ chân tướng của một mạng lưới tội phạm tinh vi đang dần lộ diện ra ánh sáng.
Vi chậm rãi xoay người lại, đối diện với ánh mắt sắc lẹm của Lục Khang và vẻ mặt bàng hoàng của người thợ cả Lê Bách. Giọng cô run rẩy vì xúc động tột cùng, nhưng từng âm tiết thốt ra lại đanh thép, rành rọt và chuẩn xác đến nghẹt thở:
“Chiếc hộp này từng nằm ở xưởng của anh, nhưng người mang nó đến chính là Bùi Quang Duy!”