Hồ Sơ Phố CổCh.25 / 38
Chapter 25

Vết Nứt Ở Bách Mộc

Tiếng cãi vã gay gắt vang dội ngay sảnh chính Bảo tàng Tư nhân Vạn Lịch khi một nhà sưu tập danh tiếng đập mạnh chiếc hộp gỗ mục ruỗng lên bàn tiếp đón.

Mặt gỗ cẩm lai của chiếc bàn lễ tân khẽ rung lên bần bật, làm đổ nghiêng ống cắm bút bằng đồng thau nặng trịch và khiến những tờ bướm giới thiệu trưng bày bay xáo xác xuống nền gạch bông cổ kính mang hoa văn thời thuộc địa. Cú va đập chát chúa kéo theo một đám bụi gỗ vàng nhạt, xốp và mịn như bột cám, bốc thốc lên từ các kẽ nứt li ti chạy dọc thân hộp. Nó lập tức giải phóng vào bầu không khí vốn dĩ luôn phảng phất hương trầm thanh tịnh một mùi ẩm mốc ngai ngái trộn lẫn thứ hương liệu vô cùng khó tả—mùi nồng tanh của mùn gỗ rác phân hủy lâu ngày trong môi trường hầm ẩm, pha tạp với mùi hăng gắt, nhức buốt sống mũi của thứ hóa chất công nghiệp khô nhanh quét vội.

Người vừa trút cơn thịnh nộ lôi đình là ông Hoàng Đình, một gương mặt quen thuộc bậc nhất trong giới sành sỏi đồ mỹ nghệ và cổ vật kinh kỳ, người nổi tiếng bởi tính khí nóng như lửa than và khối tài sản đồ sộ chuyên đắp vào các món đồ gỗ chạm thế kỷ mười tám, mười chín. Khuôn mặt vuông vức đầy đặn của ông đỏ gay từng mảng vì giận dữ, hai cánh mũi phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập, bàn tay hộ pháp đeo chiếc nhẫn ngọc bích to bản vẫn ấn chặt không rời lên nắp chiếc hộp gỗ hình chữ nhật dài chừng bốn mươi phân, rộng hai mươi lăm phân.

“Ông Lịch đâu? Mau gọi ông Đỗ Vạn Lịch ra đây nói chuyện cho ra nhẽ!” Hoàng Đình gầm lên, chất giọng đanh thép và ồm ồm lấn át cả tiếng quạt trần ba cánh đang quay vù vù trên trần thạch cao đắp nổi. “Một bảo tàng tư nhân mang danh gìn giữ hồn cốt di sản Thăng Long, mở cửa đón tiếp khách quý trong nước lẫn đoàn thẩm định quốc tế, mà lại đi làm cái trò môi giới lưu manh hạ đẳng thế này à? Các người đem cái danh tiếng mấy mươi năm gây dựng của bảo tàng ra để bảo lãnh cho một khúc củi mục rỗng ruột hay sao?”

Nguyễn Hà An—lúc này đã bị giáng chức xuống phụ trách quầy đón tiếp và lễ tân sau vụ bê bối thư nặc danh đầy tai tiếng—đang tái mét mặt mày đứng nép sát vào góc quầy gỗ. Hai bờ vai cô ta run lên bần bật, đôi bàn tay gầy guộc toan với ra giữ lấy chiếc bình gốm cắm cành hoa lay-ơn trắng đặt bên mép bàn đang chực rơi, miệng lắp bắp phân trần trong sợ hãi:

“Bác... bác Hoàng Đình, xin bác hạ hỏa, bình tĩnh một chút... Giám đốc đang dở cuộc họp giao ban nội bộ trên tầng hai... Chuyện này... chuyện này nhất định là có sự hiểu lầm nào đó từ khâu vận chuyển...”

“Hiểu lầm cái chén kiểu nhà cô ấy!” Hoàng Đình quát vỗ mặt, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào sống mũi Hà An rồi tiện đà giộng mạnh mu bàn tay xuống nắp hộp thêm một lần nữa. Lực đập giáng xuống khiến một mảng gỗ mỏng tang ở góc hộp rụng lả tả xuống mặt bàn, vỡ vụn ra thành từng mẩu vụn như vỏ cây khô, để lộ bên trong lớp lõi xốp xơ xác, hoàn toàn không có những đường vân xoắn sít sao hay kết cấu đặc chắc nục của loài danh mộc.

“Bảo tàng các người tháng trước long trọng giới thiệu cho tôi món này thông qua sự thẩm định và tư vấn trực tiếp của ban chuyên môn! Nói rằng đây là hộp đựng sắc phong từ thời Lê trung hưng, chất liệu gỗ gụ ta quý hiếm vùng rừng Thanh Hóa, nguyên đai nguyên kiện, cốt gỗ còn hoàn hảo chín mươi phần trăm và có đầy đủ chứng chỉ thẩm định không một vết tì vết! Tôi vì tin cái uy tín của Đỗ Vạn Lịch, tin cái thương hiệu Vạn Lịch này nên mới không tiếc tiền bấm bụng bỏ ra cả trăm triệu bạc mua về đặt trang trọng trên bàn thờ gia tộc! Tối qua vừa thắp tuần nhang đầu tháng, cả nhà đang quây quần khấn vái thì bỗng nghe thấy tiếng mọt nghiến rào rào bên trong vách tráp như có đàn sâu bọ rúc rỉa! Tôi lấy làm lạ, chỉ tiện tay dùng đầu mũi dao trổ gõ nhẹ một cái vào góc khuất, cả cái thành hộp đã tự sụp xuống thành đống tro mùn thế này đây! Các người giải thích thế nào về cái chứng chỉ 'hoàn hảo' mà đích thân ông Lịch đã trao tận tay cho tôi kèm lời cam kết vàng ngọc?”

Tiếng gót giày da gõ dồn dập trên các bậc cầu thang gỗ lim dẫn từ gác hai xuống sảnh chính cắt ngang chuỗi gầm thét của nhà sưu tập. Đỗ Vạn Lịch xuất hiện trong bộ áo dài lụa tơ tằm màu mỡ gà quen thuộc, dáng dấp nho nhã thường ngày vốn được chau chuốt kỹ lưỡng giờ đây đã hoàn toàn sứt mẻ. Vành mắt ông thâm quầng trũng sâu vì những đêm dài thức trắng đối phó với các đợt thanh tra tài chính và lo lắng chuẩn bị cho phiên thẩm định gắt gao của Quỹ Bảo tồn Di sản Quốc tế sắp diễn ra vào tuần tới. Đôi môi mỏng của vị giám đốc bảo tàng run rẩy khi vừa bước xuống sảnh đã nhìn thấy đống bột gỗ mục nát vương vãi nhớp nháp trên nền gạch hoa.

“Anh Hoàng Đình! Kìa anh Đình, có chuyện gì hệ trọng thì anh em mình vào gian phòng khách trà sen phía sau, khép cánh cửa lại mà bảo ban nhau, sao lại nỡ đứng đây làm rùm bén lên ở nơi văn hóa thanh tịnh thế này?” Đỗ Vạn Lịch rảo bước thật nhanh tới, hai tay chắp lại trước ngực, cố gượng ép một nụ cười hòa giải nhưng khóe miệng và khóe mắt cứ co giật liên hồi.

“Trà sen cái nỗi gì? Tôi không rảnh rỗi đến đây để nhấp trà nuốt bánh với ngữ buôn gian bán lận, treo đầu dê bán thịt chó!” Hoàng Đình không hề nể nang, giận dữ thọc tay vào túi áo khoác dạ đắt tiền, rút soạt ra một tập giấy gấp tư mép đã quăn queo, dằn mạnh xuống mặt bàn ngay cạnh đống tro gỗ rác. “Ông tự mở to cặp mắt sành sỏi của ông ra mà nhìn xem đây là cái thứ gì! Giấy trắng mực đen, con dấu đỏ chót của chính cái bảo tàng này đóng giáp lai chứng nhận, và đây—tờ hóa đơn kiêm biên bản thẩm định niên đại đích danh do chính bảo tàng của ông chỉ định đơn vị kiểm định độc lập!”

Tấm giấy xơ bản màu ngà ngả vàng đập thẳng vào tầm mắt của những người có mặt. Đó là một tờ hóa đơn kiêm biên bản thẩm định kỹ thuật hiện vật bằng chất liệu giấy dó pha bông dày dặn, tiêu đề in nổi dòng chữ chân phương: *Biên bản Giám định & Phục hồi Cổ vật số 88/BB-BM*. Bên dưới, phần mô tả hiện vật được kê khai vô cùng mạch lạc: *Hộp gỗ gụ sơn then thếp vàng đựng tài liệu thư tịch, niên đại ước tính nửa cuối thế kỷ 18, tình trạng bảo tồn cốt gỗ 90%, đã xử lý triệt để mầm mống côn trùng gây hại bằng phương pháp hun trùng sinh học và phủ sáp dưỡng truyền thống*.

Nằm chễm chệ ở góc dưới bên phải văn bản là con dấu tròn mực đỏ tươi rói mang dòng chữ khắc chìm: *Xưởng Phục chế Mỹ nghệ Cổ truyền Bách Mộc*, kèm theo chữ ký bay bướm, dứt khoát với chiếc móc câu ngược bằng mực dạ kim màu tím thẫm quen thuộc của nghệ nhân Lê Bách—chủ xưởng mộc phục chế nức tiếng đất phố cổ Hàng Hòm, người từng được chính ông Lịch ca ngợi là bàn tay vàng trong làng gìn giữ đồ gỗ cổ kinh kỳ.

Đỗ Vạn Lịch run rẩy cầm tờ biên bản lên sát mắt. Đôi con ngươi của ông già sưu tập đảo qua đảo lại giữa con dấu tròn đỏ rực, nét chữ ký tím thẫm và mớ mùn cưa mục ruỗng đang bốc mùi chua nồng trên mặt bàn. Nỗi kinh hoàng tột độ hiện rõ trên từng nếp nhăn nơi khóe mắt và trán ông. Đối với một bảo tàng tư nhân đang đứng trước ngưỡng cửa sinh tử, chuẩn bị đón tiếp các chuyên gia của Quỹ Di sản Quốc tế để tranh thủ gói tài trợ bảo tồn trị giá một triệu rưỡi đô la, việc bị phanh phui công khai hành vi cấp chứng chỉ gian lận, thông đồng bảo kê cho đồ gỗ giả mục nát chẳng khác nào một đòn giáng chí mạng, đánh sập toàn bộ lâu đài danh dự mà ông đã nhọc công xây đắp suốt nửa đời người.

“Cái... cái chuyện này là thế nào? Không thể nào có chuyện vô lý như vậy được!” Đỗ Vạn Lịch thốt lên, giọng lạc đi giữa hai tầng âm vực vì hoảng loạn. Nhưng rồi ngay trong khoảnh khắc cận kề bờ vực sụp đổ, bản năng sinh tồn xảo quyệt và thói quen bảo vệ cái tôi bệnh hoạn trước mặt đám đông đã đẩy ông ta sang một phản xạ phòng vệ quen thuộc đến tàn nhẫn: chối bỏ trách nhiệm và đổ vấy tội lỗi cho người khác.

Ông Lịch ngẩng phắt đầu lên, trừng mắt nhìn đống mùn cưa rồi hướng thẳng về phía các nhân viên và mấy vị khách đang tò mò đứng xem, giọng bỗng chốc đanh thép, the thé đến rợn người:

“Anh Đình, anh phải tỉnh táo mà nhìn cho thấu đáo! Bảo tàng Vạn Lịch của chúng tôi trước nay chỉ đóng vai trò là cầu nối văn hóa, lưu trữ hồ sơ hiện vật dựa trên đánh giá chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở phục chế có uy tín lâu năm! Toàn bộ quy trình kiểm định cốt gỗ, bóc tách mối mộng, xác định tầng phủ bề mặt và cam kết chống mối mọt là do Xưởng Bách Mộc toàn quyền đảm nhiệm! Thằng Bách... thằng Lê Bách nó làm ăn gian dối! Nó đã cậy sự tin tưởng bấy lâu của tôi để qua mặt cả một hội đồng bảo tàng!”

Tiếng quát tháo mang đầy tính quy chụp của Đỗ Vạn Lịch vang dội khắp sảnh đón tiếp, đập vào các vách kính trưng bày đồ đồng và gốm men lam:

“Tôi đã nghi ngờ cái xưởng mộc ấy từ lâu rồi! Xưởng Bách Mộc cậy có chút tay nghề gia truyền ba đời, thời gian gần đây sinh tật nhận việc bừa bãi làm ẩu làm tả, thậm chí nghe đâu còn lén lút bắt tay với mấy tay buôn thợ dỏm ngoài bãi đê sông Hồng để tuồn phôi gỗ tạp, gỗ phế thải vào chế tác rồi đánh bóng lừa gạt các nhà sưu tập cả tin! Chúng nó dám dùng con dấu của phường hội để bảo lãnh cho một khúc củi mục rỗng ruột nhằm vơ vét tiền bạc, rồi bôi tro trát trấu vào mặt tôi, mượn tay người khác phá hoại danh dự của Bảo tàng Vạn Lịch này! Anh Đình cứ yên tâm, ngay trong ngày hôm nay, tôi sẽ làm công văn gửi Sở Văn hóa, tuyên bố chấm dứt toàn bộ mọi hợp đồng ủy thác phục chế và tước bỏ tư cách đối tác của xưởng Bách Mộc! Giới cổ vật đất Hà thành này sẽ không bao giờ có chỗ dung thân cho một quân lừa đảo tán tận lương tâm như Lê Bách nữa!”

Những lời lẽ cay độc, sắc nhọn tuôn ra xối xả như thác lũ từ miệng người đứng đầu bảo tàng. Ông ta cố tình nói thật to, nhấn mạnh từng từ ngữ để biến bản thân từ kẻ tiếp tay trở thành nạn nhân đáng thương của một vụ lừa đảo tay nghề. Vài vị khách tham quan đứng ở gian trưng bày gốm Chu Đậu gần đó bắt đầu xì xào bàn tán; một người phụ nữ trẻ đã kín đáo giơ chiếc điện thoại thông minh lên quay lại cảnh tượng hỗn loạn, ánh đèn màn hình chớp nháy phản chiếu sự căng thẳng tột bực trong không gian.

Từ góc hành lang mờ tối nối liền với kho lưu trữ tài liệu và phòng phục chế giấy bản phía cánh tả, Ninh Tường Vi khẽ khàng bước ra.

Cô mặc một chiếc áo len dệt kim cổ lọ màu be giản dị, quần âu tối màu thanh lịch, mái tóc đen nhánh được cặp gọn gàng sau gáy bằng chiếc kẹp kim loại mộc mạc. Trên tay cô vẫn đang cầm một chiếc panh gắp mẫu vật bọc nỉ đen chuyên dụng cùng cuốn sổ ghi chép bìa da nâu sờn gáy. Vi đã đứng ở ngưỡng cửa hành lang đủ lâu để nghe trọn từng câu chữ mạt sát cay nghiệt của Đỗ Vạn Lịch, đồng thời quan sát từng biểu cảm nhỏ nhất biến chuyển trên cơ mặt đang căng cứng của nhà sưu tập Hoàng Đình. Nhưng khác với sự bấn loạn của Hà An hay sự giận dữ mù quáng của hai người đàn ông lớn tuổi, ánh mắt sáng ngời và tĩnh lặng như mặt hồ mùa thu của Vi lập tức khóa chặt vào vật chứng duy nhất đang nằm trơ trọi giữa đống bụi bặm: chiếc hộp gỗ rách nát.

Vi bước tới gần chiếc bàn lễ tân, bước chân cô êm ái đến mức gần như không phát ra tiếng động trên sàn gạch, nhưng phong thái điềm tĩnh lạ thường toát ra từ cô lại khiến cơn lôi đình của Hoàng Đình bất giác chững lại.

“Chào bác Hoàng Đình,” Vi cất giọng, âm sắc của cô ấm áp, từ tốn nhưng mang một sức nặng tự nhiên của người làm công tác nghiên cứu khoa học thực nghiệm. “Cháu là Ninh Tường Vi, phụ trách công tác lưu trữ và đối chiếu hồ sơ hiện vật tại bảo tàng. Cháu hoàn toàn hiểu sự bức xúc và thất vọng của bác khi một món đồ dự kiến đặt nơi linh thiêng của gia tộc lại gặp phải sự cố nghiêm trọng đến nhường này. Nhưng trước khi chúng ta đưa ra những phán quyết vội vã có thể làm tổn hại vĩnh viễn đến danh dự của một người thợ thủ công cũng như uy tín của giới làm nghề, bác có thể vui lòng cho phép cháu kiểm tra cấu trúc vật lý của chiếc hộp này trong năm phút được không ạ?”

Hoàng Đình hạ cặp lông mày rậm rạp xuống, nhìn trừng trừng vào cô gái trẻ bằng ánh mắt đầy hoài nghi và giễu cợt:

“Cô kiểm tra? Cô gái trẻ như cô thì biết cái gì về đồ mộc cổ mà kiểm với tra? Giấy tờ có mộc đỏ rành rành ra đấy, tên thằng thợ Bách ký tươi rói, gỗ thì đã mục thành bột cám rỗng ruột thế này, còn điều gì để chối cãi hay bao biện cho nhau nữa?”

“Chính vì giấy tờ có dấu mộc và chữ ký danh giá của một nghệ nhân, chúng ta càng phải kiểm định cẩn trọng xem bản thân vật thể có thực sự mang những dấu vết vật lý tương xứng với danh tiếng của người phục chế hay không,” Vi đáp, ánh mắt cô trong veo, nhìn thẳng vào mắt Hoàng Đình mà không hề chớp. “Sự thật của một món đồ gỗ cổ chưa bao giờ nằm trọn vẹn ở tờ giấy biên bản hay những lời cam kết hoa mỹ bên ngoài, thưa bác. Sự thật nằm ở chính từng thớ gỗ, từng nhát đục, từng vệt cưa và cấu trúc của các mối mộng giấu kín bên trong.”

Đỗ Vạn Lịch thấy có người đứng ra đỡ đòn thì thở hắt ra một hơi dài, vội vã phụ họa để xoa dịu khách:

“Phải đấy, anh Đình! Anh cứ để cho cô Vi đây xem xét tường tận một lát. Cô Vi là chuyên viên lưu trữ có nghiệp vụ kiểm tra vật liệu và đối chiếu văn bản rất bài bản của chúng tôi.”

Không để lãng phí thêm một giây nào, Vi rút từ túi áo khoác ra một đôi găng tay cotton trắng mỏng, cẩn thận đeo vào từng ngón tay. Từng cử chỉ của cô đều toát lên sự chuẩn xác, nâng niu và tôn trọng tuyệt đối tính nguyên trạng của hiện vật, tạo nên một sự tương phản sâu sắc với cú giộng tay thô bạo ban nãy của người chủ sở hữu. Vi cúi thấp người xuống sát mặt bàn, rút từ túi áo ngực chiếc đèn pin soi mẫu mini có ánh sáng trắng chuẩn với chỉ số hoàn màu cao, bắt đầu rọi luồng sáng hẹp quét chậm rãi qua từng góc cạnh, từng thớ nứt của chiếc hộp.

Ấn tượng đầu tiên đập vào khứu giác nhạy bén của Vi chính là mùi của chất phủ.

Một chiếc hộp gỗ gụ ta đích thực có niên đại từ thế kỷ mười tám, sau khi trải qua quy trình phục chế và bảo tồn truyền thống chuẩn mực của đất kinh kỳ, bao giờ cũng tỏa ra một mùi hương trầm ấm, ngọt sâu và dịu nhẹ—thứ mùi đặc trưng sinh ra từ sự hòa quyện giữa tinh dầu tự nhiên tiết ra từ tim gỗ qua hàng trăm năm với lớp sáp ong rừng được gia nhiệt thẩm thấu vào từng tế bào gỗ. Nhưng chiếc tráp này, khi đưa mũi lại gần khoảng mười phân, lại bốc lên thứ mùi khét lẹt nồng nặc—đó là mùi của vecni công nghiệp khô nhanh gốc dung môi dầu thông rẻ tiền, một thứ hóa chất thường được các xưởng mộc làm hàng chợ dùng để quét phủ cấp tốc, nhằm tạo độ bóng bẩy giả tạo trên bề mặt chỉ sau vài chục phút sấy gió.

Vi khẽ đưa đầu ngón tay bọc vải mềm miết nhẹ lên bề mặt nắp tráp. Lớp sơn then bên ngoài nhìn thoáng qua dưới ánh sáng vàng của sảnh bảo tàng có vẻ đen thẫm, thâm nghiêm và nhuốm màu sương gió thời gian. Thế nhưng, khi luồng sáng trắng của chiếc đèn pin mini được rọi nghiêng một góc ba mươi độ, cô lập tức nhận ra lớp màng sơn này hoàn toàn phẳng lì một cách cơ học. Nó thiếu hẳn những vết nứt chân chim tế vi đan xen chằng chịt hình vảy rắn hay mai rùa—những dấu tích lão hóa tự nhiên không thể làm giả của sơn ta cổ truyền khi phải oằn mình chịu đựng sự biến đổi nhiệt ẩm khắc nghiệt qua hàng trăm mùa mưa nắng của khí hậu nhiệt đới gió mùa phương Bắc. Thay vào đó, trên bề mặt lớp vecni này lại hằn rõ những vệt gợn sóng lăn tăn song song nhau, dấu tích không thể chối cãi của những sợi chổi quét bằng lông nhân tạo để lại khi thợ sơn thao tác vội vã.

Vi nheo mắt lại, chuyển góc chiếu của đèn pin vào các mối ghép nối ở bốn góc thành hộp. Đây chính là khu vực then chốt phơi bày toàn bộ bản chất kỹ thuật của món đồ.

Chiếc hộp được tạo hình theo lối đóng tráp chữ nhật truyền thống, bốn vách góc ghép vuông vức với nhau. Theo tập quán và bí quyết mộc cổ truyền của các phường thợ vùng đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ mười tám trở về trước, những chiếc hộp dùng để đựng tài liệu quý, sắc phong hay kinh sách thờ tự bắt buộc phải sử dụng kỹ thuật mộng thủ công hoàn toàn—phổ biến nhất là mộng mang cá vát xéo hoặc mộng đuôi én đục giấu mộng. Người thợ xưa dùng những chiếc cưa tay lưỡi mỏng tang và những chiếc đục thép sắc ngọt để gọt tỉa từng thớ gỗ. Do làm bằng tay, các đường ghép nối luôn có độ chênh lệch vi mô tự nhiên, các ngón mộng ăn khít vào nhau bằng lực nêm ép cơ học tuyệt đối và chốt tre ngầm, hoàn toàn không cần cậy nhờ đến một chiếc đinh sắt hay một giọt keo dán công nghiệp nào.

Thế nhưng, dưới luồng ánh sáng hội tụ cực mạnh của chiếc đèn pin trên tay Vi, sự thật trần trụi đã hiện hình.

Từng đường xẻ của các ngón mộng mang cá ở bốn góc hộp thẳng tắp, đều đặn đến mức rợn người với một độ chính xác cơ khí tuyệt đối đến từng phần mười milimét. Không hề có dấu vết của lưỡi đục thép bạt hay vết nêm thủ công. Nghiêm trọng hơn cả, ở tận cùng đáy của mỗi khe mộng mang cá, thay vì là một mặt phẳng vát hơi gợn của nhát đục bạt bằng tay, lại xuất hiện một vệt khuyết tròn hình bán nguyệt rất nông—dấu tích cơ học đặc trưng độc nhất vô nhị chỉ có thể để lại bởi mép của lưỡi cưa đĩa tròn quay với tốc độ hàng nghìn vòng một phút trên bàn cưa máy chạy điện!

Hơn thế nữa, phần gỗ bên ngoài tuy được tẩm phẩm màu sẫm và bôi bùn đất giả cổ rất khéo, nhưng ngay tại mép của những đường cắt mộng máy này, những sợi dăm gỗ non vừa bị xé rách vẫn còn mang màu trắng hếu, mép gỗ sắc lẹm, chưa hề trải qua quá trình oxy hóa tự nhiên của thời gian. Kẻ chế tác ra chiếc tráp này đã dùng một cỗ máy cưa bàn hiện đại để cắt ghép các mối mộng mang cá trong chớp mắt, sau đó nhồi nhét bùn đất ẩm trộn mạt cưa và bột chì vào các khe hở cơ khí để ngụy tạo dấu vết thời gian, rồi quét phủ lên một lớp vecni sấy cấp tốc để bịt mắt thiên hạ.

Cốt gỗ bên trong quả thực đã bị mọt đục rỗng, nhưng đó hoàn toàn không phải là quá trình mục ruỗng tự nhiên kéo dài hàng thế kỷ của một khối gỗ lõi danh mộc. Đó là việc kẻ gian đã cố tình thu gom loại gỗ rác phế phẩm—phần giác gỗ non ngoài rìa vốn đã bị nấm mục và ấu trùng mọt tấn công từ trước trong các bãi phế liệu—đem về gia công cắt gọt thành hình chiếc hộp nhằm lừa gạt những ai chỉ nhìn lướt qua lớp vỏ ngoài tẩm ướp tinh vi.

“Bác Hoàng Đình, và thưa ông Đỗ Vạn Lịch,” Vi từ từ đứng thẳng người dậy, cẩn thận tắt đèn pin rồi tháo đôi găng tay cotton ra. Giọng nói của cô vang lên trong trẻo, rành rọt, từng âm tiết đều mang theo sức nặng của chứng cứ vật lý không thể bác bỏ, khiến cả khoảng sảnh rộng lớn bỗng chốc im phăng phắc. “Chiếc tráp này hoàn toàn không phải là cổ vật thế kỷ mười tám như thông tin ghi trên hồ sơ. Và quan trọng hơn cả, cháu khẳng định chiếc hộp này tuyệt đối không thể là sản phẩm do anh Lê Bách phục chế hay thẩm định chất lượng.”

Đỗ Vạn Lịch đang đứng tựa vào quầy lễ tân bỗng giật thót mình, mắt tròn xoe nhìn Vi:

“Cô Vi... cô vừa nói cái gì? Tại sao cô lại dám khẳng định chắc nịch như vậy khi chưa thông qua hội đồng bảo tàng?”

Vi không nao núng, cô cầm chiếc panh gắp mẫu vật, dùng đầu panh chỉ chuẩn xác vào đường nối góc ở thành hộp:

“Thứ nhất, kết cấu mộng góc ở đây là mộng mang cá được gia công hoàn toàn bằng máy cưa bàn công nghiệp. Những vết khuyết tròn hình bán nguyệt ở đáy rãnh mộng và độ chuẩn xác cơ học đồng nhất này chỉ có thể được tạo ra từ các máy chế biến gỗ sử dụng động cơ điện ba pha đời mới. Anh Lê Bách là nghệ nhân phục chế di sản có tay nghề gia truyền ba đời, người luôn kiên định gìn giữ kỹ thuật mộc truyền thống của phố Hàng Hòm bằng cưa tay lưỡi liễu và đục thép tôi nước lạc. Một người thợ có lòng tự trọng nghề nghiệp sâu sắc như anh Bách không bao giờ—và tuyệt đối không đời nào—lại dùng lưỡi cưa đĩa hiện đại để bổ mộng cho một hiện vật gỗ thế kỷ mười tám.”

Vi ngừng lại một nhịp thở, đưa đôi mắt điềm tĩnh nhìn thẳng vào tờ biên bản đang nằm trơ trọi trên bàn:

“Thứ hai, mùi dung môi trên chiếc hộp này là vecni công nghiệp khô nhanh chứa toluen nồng độ cao. Bất kỳ ai từng bước chân vào xưởng mộc Bách Mộc đều biết rõ, từ đời ông nội anh Bách đến nay, xưởng chỉ sử dụng duy nhất loại sơn ta ủ ẩm truyền thống và sáp ong tự nhiên nấu chảy để dưỡng hộ gỗ gụ. Anh Bách thậm chí còn dị ứng nặng với các loại sơn xịt hóa học công nghiệp. Nhưng điểm mấu chốt mang tính quyết định, thưa bác Đình, lại nằm chính ở tờ biên bản giám định số 88 này.”

Vi cầm tờ giấy xơ bản lên, giơ nghiêng ra trước luồng ánh sáng rọi xuống từ chiếc đèn chùm lớn ở giữa sảnh. Bằng nhãn quan tinh tường của một người từng làm phóng viên điều tra chuyên bóc tách hồ sơ giả mạo, cô chỉ rõ từng điểm bất thường trên mặt giấy:

“Mực của con dấu tròn mang tên Xưởng Phục chế Bách Mộc đúng là dấu mộc cao su thật được đóng bằng mực dấu chuyên dụng. Thế nhưng, chữ ký mực tím này... tuy nhìn lướt qua thì rất giống với nét ký móc câu ngược đặc trưng của anh Bách, nhưng khi nhìn nghiêng dưới ánh sáng phản quang, lực tì mực lại hoàn toàn đồng nhất, phẳng lì từ điểm khởi bút cho đến nét vuốt cuối cùng. Một người ký bằng bút dạ kim hay bút mực thật luôn tạo ra độ đậm nhạt khác nhau do áp lực ngón tay thay đổi giữa nét thanh và nét đậm. Đây là một chữ ký được can lại bằng bàn vẽ đồ họa hoặc in nhiệt mô phỏng với độ phân giải cao. Bác Hoàng Đình, chiếc hộp mục này là một món đồ giả được dựng vội bằng phôi gỗ rác phế thải, và ai đó đã dùng một tờ biên bản giả mạo tinh vi để lừa gạt bác, đồng thời cố tình cài chiếc hộp này vào bảo tàng nhằm kích nổ một vụ bê bối hủy hoại uy tín!”

Hoàng Đình đứng chết lặng tại chỗ. Ông ngơ ngác nhìn theo đầu panh của Vi chỉ vào những vệt cưa máy nhẵn thín dưới ánh đèn, rồi lại nhìn sang sắc mặt khi thì trắng bệch, khi thì xám ngoét của Đỗ Vạn Lịch. Cơn thịnh nộ hung hãn ban đầu trong mắt vị đại gia sưu tập dần dần tan biến, nhường chỗ cho một sự bàng hoàng và hoang mang tột độ:

“Cô... cô bảo đây là đồ ngụy tạo tinh vi nhằm gài bẫy à? Nhưng... nhưng nếu không phải thằng Bách làm, thì tại sao con dấu thật của xưởng nó lại nằm chình ình trên cái tờ giấy khốn kiếp này?”

“Đó chính là câu hỏi mấu chốt mà cơ quan điều tra chức năng cần phải làm rõ ngay lập tức,” một giọng nói trầm thấp, vang ấm nhưng đanh thép bất ngờ cất lên từ hướng cửa chính của bảo tàng.

Mọi ánh mắt trong sảnh lập tức đổ dồn ra cửa. Thanh tra Lục Khang bước vào. Anh mặc bộ thường phục với chiếc áo khoác gió sẫm màu gọn gàng bên ngoài chiếc áo sơ mi xám tro, vóc dáng cao lớn và bờ vai rộng toát lên vẻ uy nghiêm, đĩnh đạc của một sĩ quan dày dạn kinh nghiệm. Đi ngay phía sau anh là một cán bộ công an phường trong bộ sắc phục chỉnh tề, tay xách chiếc cặp tài liệu nghiệp vụ bằng da đen.

Khang đưa mắt quét nhanh một lượt toàn bộ hiện trường: đống bột gỗ mục nát vương vãi trên nền gạch hoa, chiếc hộp gỗ vỡ góc, tờ biên bản nằm trơ trọi, và nét mặt biến ảo khôn lường của từng nhân vật đang hiện diện. Anh khẽ gật đầu chào Vi—một cái gật đầu kín đáo nhưng chứa đựng trọn vẹn sự tin cậy tuyệt đối vào những phân tích khoa học chuẩn xác vừa rồi của cô.

“Tôi nhận được tin báo về vụ việc tranh chấp và có dấu hiệu gian lận thương mại phát sinh tại sảnh bảo tàng,” Khang cất lời, ánh mắt sắc bén như dao rọi thẳng vào Đỗ Vạn Lịch. “Thưa ông Lịch, việc ông đứng giữa sảnh lớn to tiếng quy kết tội danh lừa đảo cho một cơ sở phục chế thủ công khi chưa hề có kết luận giám định tư pháp của cơ quan chuyên môn không chỉ vi phạm nghiêm trọng quy tắc xử lý khiếu nại dân sự, mà còn có nguy cơ đẩy mối quan hệ hợp tác chuyên môn của bảo tàng vào ngõ cụt không thể hàn gắn.”

Đỗ Vạn Lịch lúng túng thấy rõ. Ông ta vội vã đưa tay vuốt lại vạt áo dài lụa màu mỡ gà, giọng nói thanh minh xẹp hẳn xuống, mất hẳn vẻ đanh thép hùng hồn ban nãy:

“Đồng chí Khang... tôi... tôi cũng là vì quá nóng lòng, quá bức xúc trước nguy cơ danh dự của bảo tàng bị bôi nhọ. Bác Hoàng Đình đây là khách quý lâu năm, lại là một nhà tài trợ tiềm năng cho đợt trưng bày sắp tới của chúng tôi...”

“Danh dự của một bảo tàng không bao giờ được bảo vệ bằng cách vội vã đổ lỗi cho người khác để phủi sạch trách nhiệm,” Khang lạnh lùng ngắt lời vị giám đốc. Anh quay sang viên cán bộ công an đi cùng, chỉ tay về phía chiếc bàn lễ tân: “Đồng chí tiến hành lập biên bản ghi nhận hiện trạng chiếc hộp gỗ bị hư hỏng, niêm phong tờ biên bản giám định số 88 cùng toàn bộ mẫu vật mùn gỗ này theo đúng trình tự thủ tục tiếp nhận nguồn tin tố giác tội phạm. Tuyệt đối không để ai xáo trộn vật chứng.”

Nói đoạn, Khang quay sang nhìn Vi, ánh mắt nghiêm nghị của anh dịu lại đôi chút, ánh lên sự cương quyết:

“Cô Vi, chúng ta cần phải đến Xưởng Phục chế Bách Mộc ngay bây giờ. Nếu quả thực có kẻ đang lợi dụng danh nghĩa và con dấu của xưởng để tuồn chứng chỉ khống cho cổ vật giả mạo, thì nghệ nhân Lê Bách chính là nạn nhân trực tiếp tiếp theo của một đường dây có tổ chức.”

***

Ngõ Hàng Hòm vào buổi ban trưa ngập tràn thứ âm thanh lách cách, lạch cạch quen thuộc của những phường thợ chạm khắc gỗ thủ công và mùi thơm nồng đượm của các loại gỗ mới xẻ. Đi sâu vào một khúc quanh hẹp lát gạch chỉ rêu phong ẩm ướt, nơi ánh nắng thu chỉ có thể lọt qua những khe hở hẹp giữa hai dãy nhà cổ mái ngói xô nghiêng, mùi gỗ thông, mùi mùn cưa và hương tinh dầu dổi thơm ngát quen thuộc dẫn lối đến trước cổng Xưởng Phục chế Bách Mộc.

Bình thường, xưởng mộc của gia đình Lê Bách luôn mở toang hai cánh cửa bức bàn bằng gỗ lim sơn then cũ kỹ để đón lấy gió trời và ánh sáng tự nhiên rọi vào từng góc đục chạm. Bên trong, tiếng bào gỗ xoèn xoẹt, tiếng búa gõ đục cộc cộc nhịp nhàng luôn rộn rã, râm ran từ tinh mơ cho đến lúc sẩm tối. Thế nhưng trưa nay, không gian nơi đây lại ngột ngạt và căng thẳng một cách kỳ dị.

Hai cánh cửa gỗ lim dày cộp đóng im ỉm, then cài bên trong chốt chặt. Đứng từ ngoài ngõ rêu phong có thể nghe rõ mồn một tiếng quát tháo gay gắt, phẫn uất của Lê Bách cùng tiếng đập bàn chát chúa dội ra từ phía sau cánh cửa:

“Tôi đã bảo các người cút ngay đi cơ mà! Xưởng Bách Mộc này ba đời nay làm nghề mộc phục chế, nâng niu gìn giữ từng thớ thớ gỗ của tiền nhân để lại, chưa bao giờ và không bao giờ làm ra cái thứ đồ phế thải rước nhục vào thân ấy! Đừng có đem mấy đồng tiền bẩn thỉu của các người ra đây mà hòng bịt miệng Lê Bách này!”

Ngay khi bước chân của Vi và Khang vừa chạm vào bậc thềm đá xanh rêu phủ trước cửa xưởng, cánh cửa gỗ lim bất ngờ bị giật tung ra từ bên trong. Hai gã đàn ông lạ mặt mặc áo khoác da màu đen cáu bẩn, dáng vẻ bặm trợn, mặt mày hầm hố lùi lũi bước vội ra ngoài. Một gã trong số đó có vết sẹo dài bên gò má còn cố ngoái cổ lại, buông một lời đe dọa the the qua kẽ răng vàng khè:

“Mày liệu cái thần hồn đấy Bách ạ! Giấy trắng mực đen dấu đỏ rành rành đã bung bét khắp các hội nhóm đồ cổ trên mạng rồi. Mày không ngoan ngoãn ngậm miệng nhận tiền đền bù thì công an người ta cũng gõ đầu tống giam mày trước tiên thôi con ạ!”

Nhìn thấy Lục Khang xuất hiện ngay trước bậc cửa với dáng dấp đĩnh đạc, ánh mắt sắc lạnh của một sĩ quan điều tra, hai gã đàn ông thoáng biến sắc. Chúng lập tức câm bặt, vội vã kéo sụp vành mũ lưỡi trai xuống che kín nửa khuôn mặt rồi lách qua khe hẹp của con ngõ, lẩn nhanh như chạch vào dòng người tấp nập nơi đầu phố Hàng Hòm.

Bên trong gian xưởng rộng chừng sáu mươi mét vuông, Lê Bách đứng sừng sững giữa những đống phôi gỗ lim, gỗ gụ ngổn ngang và những bộ khung tủ chè cổ đang trong quá trình bóc tách từng mối mộng. Đôi mắt của người thợ mộc ngoài ba mươi tuổi đỏ ngầu những tia máu vì uất ức và mất ngủ, hai bắp tay gân guốc cuộn lên rắn chắc dưới lớp áo cộc tay bạc màu vấy đầy bụi cưa và vệt sơn ta. Trên bàn tay phải thô ráp đầy những vết sẹo nghề nghiệp, anh đang lăm lăm một chiếc đục bén bằng thép nhíp xe sáng loáng, các khớp ngón tay siết chặt đến trắng bệch.

Nhìn thấy bóng dáng Vi và Khang bước qua ngưỡng cửa, khuôn mặt phong trần của Bách càng thêm đanh lại, từng thớ thịt trên gò má giật giật. Nỗi cay đắng và sự giận dữ dồn nén suốt từ sáng khiến anh không còn giữ nổi vẻ nhã nhặn thường ngày.

“Lại là người của bảo tàng phái đến đây để tra khảo, chất vấn tôi đấy à?” Bách gằn giọng qua kẽ răng, sải bước dài tới toan giật mạnh cánh cửa lim nặng trịch để tống khứ hai người ra ngoài. “Về mà bảo với lão Đỗ Vạn Lịch là Lê Bách này không rảnh rỗi tiếp chuyện phường tiểu nhân! Lão già hồ đồ ấy vừa mới gọi điện réo rắt chửi rủa tôi là quân lừa đảo tán tận lương tâm, đe dọa sẽ báo công an còng tay tôi vì một cái hộp gỗ mục nát nào đó mà tôi chưa từng nhìn thấy mặt mũi! Các người đi hết đi, xưởng này không tiếp!”

“Anh Bách! Xin anh bình tĩnh lại một chút!” Lục Khang nhanh như cắt đưa một bàn tay rắn chắc chặn ngay vào gờ mép của cánh cửa lim. Lực cản chuẩn xác, đầm chắc và vô cùng điềm đạm của viên thanh tra khiến cánh cửa gỗ chỉ khép lại được một nửa rồi dừng sững lại giữa không trung. “Tôi không đến đây với tư cách là người bảo vệ hay phát ngôn cho Đỗ Vạn Lịch. Tôi đến với tư cách là điều tra viên thụ lý tin báo về hành vi làm giả con dấu, tài liệu và ngụy tạo chứng chỉ giám định cổ vật.”

Vi bước lên thêm một bước, đứng sóng đôi bên cạnh Khang, ánh mắt cô trong sáng và chân thành nhìn thẳng vào đôi mắt đang bốc hỏa của người thợ thủ công tài hoa:

“Anh Bách, em vừa đích thân kiểm tra chiếc hộp gỗ mục mà ông Hoàng Đình mang đến đập nát ở sảnh bảo tàng ban nãy. Bốn góc hộp được gia công ghép mộng mang cá hoàn toàn bằng máy cưa bàn công nghiệp, đáy rãnh mộng vẫn còn nguyên vệt khuyết tròn của lưỡi cưa đĩa quay tốc độ cao. Lớp phủ bề mặt là vecni sấy nhanh chứa dung môi toluen nồng nặc. Em đã đứng trước mặt ông Đỗ Vạn Lịch, trước mặt nhà sưu tập và toàn thể nhân viên để khẳng định rằng: một sản phẩm cắt mộng bằng máy cưa đĩa và quét vecni công nghiệp rẻ tiền như thế tuyệt đối không bao giờ là tác phẩm phục chế của Xưởng Bách Mộc.”

Từng lời nói của Vi rơi vào không gian như những gáo nước mát lành dội thẳng vào ngọn lửa uất hận đang bốc cháy ngùn ngụt trong lồng ngực Lê Bách. Cánh tay đang gồng cứng để đẩy cánh cửa của người thợ mộc khẽ run lên rồi buông lỏng dần. Anh hạ chiếc đục thép xuống, trừng trừng nhìn Vi, đôi môi mỏng run rẩy thốt không nên lời:

“Cô... cô nhìn ra được... những vết khuyết tròn của lưỡi cưa đĩa ở đáy rãnh mộng ư?”

“Em nhìn thấy rất rõ,” Vi gật đầu, ánh mắt cô chan chứa sự thấu hiểu sâu sắc dành cho một người thợ chân chính bị bôi nhọ. “Và em cũng đã chỉ ra cho cơ quan chức năng thấy rằng chữ ký trên tờ biên bản giám định số 88 không phải do bàn tay anh ký sống bằng bút dạ kim. Lực tì của nét mực hoàn toàn phẳng lì, không hề có độ nhấn nhả cơ học của cổ tay, đó là chữ ký được can lại bằng công nghệ in nhiệt kỹ thuật số. Duy chỉ có một điều duy nhất khiến họ vin vào để buộc tội anh: con dấu tròn của Xưởng Phục chế Bách Mộc đóng trên văn bản đó đúng là con dấu thật.”

Lê Bách thở hắt ra một tiếng nặng nề như trút được một tảng đá đè nặng ngực, anh lảo đảo lùi lại vài bước, buông thõng hai cánh tay gân guốc. Anh quay lưng lại với hai người, bước chầm chậm về phía chiếc bàn thao tác lớn bằng gỗ lim nguyên khối đặt sừng sững giữa xưởng. Trên mặt phiến gỗ dày dặn ấy la liệt những chiếc đục bạt, đục vũm, bào tay bằng gỗ trắc, nhíp gắp, và những chiếc cữ đo góc gia truyền bằng đồng thau sáng bóng.

“Con dấu thật... khốn nạn thay, con dấu đó đúng là dấu thật của xưởng này!” Bách nói, giọng anh nghẹn đặc lại, nghe cay đắng tột cùng. “Nhưng cả đời làm nghề của tôi, tôi xin lấy danh dự ba đời tổ phụ ra thề, tôi chưa từng ký hay đóng dấu vào bất kỳ tờ biên bản nào chứng nhận cho một khúc củi mục như thế cả! Tôi bị người ta gài bẫy! Cả cái xưởng mộc gia truyền này đang bị một bàn tay vô hình, hiểm độc nào đó giăng bẫy nhằm đánh cắp và hủy hoại toàn bộ uy tín nghề nghiệp của gia đình tôi!”

Khang bước hẳn vào bên trong gian xưởng, đôi mắt nhà nghề của anh quét một vòng cẩn trọng qua từng ngóc ngách. Trái ngược với sự bụi bặm ngổn ngang của mùn cưa và phôi gỗ, không gian làm việc của Lê Bách lại ngăn nắp một cách đáng kinh ngạc đối với một xưởng mộc truyền thống. Từng chiếc cưa tay lưỡi liễu, từng bộ đục chạm từ lớn đến nhỏ đều được cài ngay ngắn theo thứ tự trên vách ván ép; những chiếc hộp đựng chốt tre ngâm dầu, ốc vít đồng, keo da trâu đều được xếp gọn gàng trong các ngăn kéo nhỏ dán nhãn chữ Nho cẩn thận. Ở góc chiếc bàn lim làm việc, một cuốn sổ nhật ký vật tư dày cộp bọc vải xanh đặt ngay ngắn cạnh tập hóa đơn bán lẻ và phiếu xuất xưởng.

“Anh Bách, anh có thể cho chúng tôi kiểm tra tập hóa đơn và biên bản gốc lưu trữ của xưởng được không?” Khang hỏi, chất giọng của anh hạ thấp xuống, vừa đủ để tạo sự an tâm và tin cậy nhưng vẫn giữ vững sự nghiêm cẩn của một cán bộ thực thi pháp luật. “Để chứng minh trước pháp luật rằng tờ biên bản số 88 kia là một tài liệu ngụy tạo bất hợp pháp, chúng ta bắt buộc phải tìm ra lỗ hổng vật lý trong quy trình quản lý con dấu và tập chứng từ gốc ngay tại chiếc bàn làm việc này.”

Lê Bách nuốt khan một ngụm nước bọt, hít một hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh. Anh với tay kéo cuốn sổ nhật ký vật tư dày cộm và tập hóa đơn xuất xưởng ba liên đặt ra giữa mặt bàn gỗ lim.

Tập biên bản của Xưởng Bách Mộc là loại chứng từ chuyên dụng tự in trên giấy xơ bản theo mẫu truyền thống của phường hội, có in sẵn số sê-ri màu đỏ nhảy tự động, gáy sổ được khâu tay chắc chắn bằng chỉ dù sáp theo đúng lối đóng sách cổ truyền. Bách lật giở từng trang giấy dày dặn, ngón tay chai sần run rẩy chỉ vào dãy số thứ tự in chìm:

“Đây các đồng chí xem! Từ số 01 cho đến số 85 đều có lưu đầy đủ liên màu xanh kèm chữ ký sống của khách hàng, ngày tháng nhận hiện vật và nhật ký vật liệu gỗ phục chế tương ứng. Mấy ngày hôm nay, sau cái buổi chiều thằng An Huy bên xưởng của lão Tạ Minh Thành ôm hết đồ đạc hành lý lẳng lặng biến mất, để lại một mớ bòng bong rắc rối liên quan đến mấy bộ khung tranh cổ, tôi bận tối mắt tối mũi ngược xuôi đi tìm tung tích của nó nên không hề để ý đến bàn giấy... Mãi đến sáng nay, khi lão Lịch gọi điện đến réo rắt chửi rủa, tôi cuống cuồng giở cuốn sổ này ra kiểm tra lại thì mới rụng rời tay chân phát hiện: toàn bộ các tờ biên bản từ số 86 đến số 90 trong cuốn này đã không cánh mà bay từ lúc nào!”

Ngay lập tức, ánh mắt tinh tế của Vi như bị hút chặt vào phần gáy của tập biên bản chứng từ.

Là một chuyên viên lưu trữ văn bản cổ được đào tạo chuyên sâu về cấu trúc vật liệu giấy và kỹ thuật phục chế thư tịch, phản xạ nghề nghiệp mách bảo Vi rằng câu trả lời luôn nằm ở những chi tiết liên kết vật lý nhỏ nhất. Cô bước nhanh lại gần chiếc bàn lim, khẽ cúi người xuống, đưa ngón tay bọc vải mềm nhẹ nhàng vạch mở phần gáy khâu của cuốn sổ.

Quả đúng như dự đoán của cô!

Tập biên bản được liên kết bằng phương pháp khâu tay truyền thống: người thợ dùng dùi đục sáu lỗ qua mép giấy rồi luồn sợi chỉ dù sáp màu trắng ngà đan chéo hình xương cá vô cùng chắc chắn. Thế nhưng, tại vị trí khoảng giữa của cuốn sổ—chính là nơi từng lưu giữ các tờ biên bản mang số sê-ri từ 86 đến 90—đường chỉ dù sáp đã bị lỏng lẻo một cách bất thường.

Vi ghé sát mắt quan sát dưới ánh sáng ban trưa rọi qua cửa sổ: có hai nút chỉ khâu đã bị một lưỡi dao mỏng và vô cùng sắc bén cắt đứt ngọt xớt. Vết cắt phẳng lỳ, dứt khoát, để lại hai đầu sợi chỉ dù bị tưa ra những sợi tơ li ti cực nhỏ. Kẻ lấy cắp không hề giật xé vội vã bằng tay khiến giấy bị rách nham nhở; hắn đã cẩn thận dùng một chiếc dao trổ rọc giấy chuyên dụng, lách khéo léo vào từng khe hở giữa các nếp gấp để tách rời nguyên vẹn cả cụm năm tờ biên bản khống chưa ghi nội dung nhưng đã được đóng sẵn con dấu đỏ giáp lai ở mép gáy mang số sê-ri từ 86 đến 90, sau đó miết phẳng lại các trang giấy liền kề nhằm che giấu hành vi đánh cắp trước mắt chủ xưởng!

“Những tờ giấy này không phải bị xé ngẫu nhiên trong cơn hoảng loạn,” Vi khẽ thốt lên, đầu ngón tay cô nhẹ nhàng lần theo hai đầu sợi chỉ tưa rách. “Kẻ thực hiện hành vi này đã dùng dao trổ rọc giấy siêu mỏng để bóc tách trọn vẹn cả tệp biên bản trắng, mang theo toàn bộ phần dấu mộc giáp lai nguyên vẹn ở gáy sổ. Thủ đoạn bóc tách này cực kỳ tỉ mỉ, điêu luyện và lạnh lùng. Hắn bắt buộc phải có một khoảng thời gian trống ngồi một mình ngay tại chiếc bàn làm việc này mà không hề bị bất kỳ ai quấy rầy hay để mắt tới.”

“Thời gian trống ngồi một mình tại bàn...” Bách lẩm bẩm nhắc lại từng từ của Vi. Đột nhiên, khuôn mặt phong trần của người thợ mộc biến sắc dữ dội, chuyển từ đỏ gay sang trắng bệch ra như không còn một giọt máu. Anh đưa tay ôm lấy trán, đôi mắt mở to bàng hoàng: “Hôm thứ Năm tuần trước... đúng rồi! Chính là thằng Bùi Quang Duy!”

Khang lập tức tiến sát lại một bước, ánh mắt nghiêm nghị: “Bùi Quang Duy? Anh hãy nhớ lại thật chi tiết xem, chiều hôm đó đã xảy ra chuyện gì?”

“Chiều hôm thứ Năm tuần trước, Bùi Quang Duy—tay phó giám đốc kiêm trợ lý đắc lực của Tạ Minh Thành bên Công ty Di sản Minh Thành—đã đích thân tìm đến xưởng của tôi,” giọng Bách run rẩy khi những mảnh ghép ký ức dần dần ăn khớp vào nhau. “Nó mang theo hai chiếc khung tranh gỗ dổi cổ bị nứt góc, nói năng ngọt nhạt nhờ tôi tư vấn kỹ thuật làm mộng giấu kín và xử lý lớp sơn then bong tróc. Nó kéo ghế ngồi ngay tại chính chiếc bàn làm việc này, đặt tập tài liệu và chiếc cặp da lớn lên bàn. Đang nói chuyện dở dang, nó bỗng than thở rằng công ty Minh Thành đang cần tìm một khối gỗ trắc đen cổ thụ để phục dựng hương án, nhờ tôi vào tận kho chứa phôi gỗ phía sau nhà tìm giúp nó một mẫu gỗ trắc chuẩn chỉ.”

Bách cắn chặt môi đến rớm máu, vẻ mặt đầy ân hận:

“Kho gỗ phía sau xưởng tối tăm và ngổn ngang, tôi phải bắc thang trèo lên tận gác xép lục lọi tìm kiếm mất chừng mười đến mười lăm phút mới lôi được mẩu gỗ trắc xuống... Khi tôi ôm khúc gỗ bước ra gian ngoài, tôi thấy thằng Duy đang đứng lúi húi bên cạnh chồng sổ sách này, tay nó cầm chiếc cốc trà sen như thể chỉ đang đi lại ngắm nghía mấy món đồ chạm. Lúc ấy tôi hoàn toàn không mảy may nghi ngờ! Tôi chỉ nghĩ đơn thuần nó là khách quý, lại là người của một công ty di sản lớn nên tò mò xem mấy chiếc đục gia truyền của tôi mà thôi... Ai ngờ đâu, chính trong mười phút ngắn ngủi ấy, con quỷ đội lốt trí thức ấy đã dùng dao trổ rọc đứt chỉ gáy sổ, trộm đi năm tờ biên bản trắng có dấu mộc của tôi!”

Lục Khang trầm ngâm gật đầu, những mắt xích đen tối và phức tạp của vụ án kinh tế đội lốt di sản văn hóa dần dần hiện rõ mồn một trong đầu người thanh tra dày dạn kinh nghiệm:

“Như vậy là đã quá rõ ràng. Bùi Quang Duy đã lên kế hoạch tỉ mỉ từ trước, lợi dụng lúc anh Bách rời khỏi bàn làm việc để dùng dao trổ tách lấy cụm biên bản khống từ số 86 đến số 90. Sau đó, bọn chúng đem tệp giấy có dấu mộc thật này về sào huyệt, sử dụng kỹ thuật in ấn đồ họa vi tính để in đè nội dung giám định giả mạo cho chiếc tráp mục, can lại chữ ký của anh Bách bằng máy in nhiệt rồi thông qua mạng lưới môi giới cổ vật ngầm để tuồn chiếc hộp cho ông Hoàng Đình dưới danh nghĩa bảo tàng Vạn Lịch giới thiệu bảo lãnh.”

“Mục đích thực sự của bọn chúng là một mũi tên bắn trúng ba đích vô cùng tàn độc,” Vi tiếp lời Khang, ánh mắt cô ánh lên sự căm phẫn khi bóc trần toàn bộ âm mưu đen tối của tập đoàn Minh Thành Heritage. “Thứ nhất, bọn chúng muốn đổ toàn bộ trách nhiệm và tội danh ngụy tạo khung hai đáy sang cho anh Bách sau khi tay thợ phục chế An Huy bỏ trốn, biến xưởng Bách Mộc thành kẻ chịu tội thay cho đường dây buôn lậu cổ vật. Thứ hai, bọn chúng mượn chính sự nóng nảy và tầm ảnh hưởng lớn của nhà sưu tập Hoàng Đình để kích nổ một vụ bê bối chấn động ngay tại sảnh chính, đúng vào thời điểm nhạy cảm nhất khi Bảo tàng Vạn Lịch đang chuẩn bị đón tiếp đoàn thẩm định quốc tế!”

Vi hít sâu một hơi, giọng cô đanh lại:

“Một khi vụ bê bối này bùng nổ trên truyền thông, uy tín của Bảo tàng Vạn Lịch sẽ hoàn toàn tan thành mây khói, gói tài trợ một triệu rưỡi đô la của Quỹ Bảo tồn Di sản Quốc tế chắc chắn sẽ bị đình chỉ vô thời hạn. Rơi vào bước đường cùng và hoảng loạn vì nợ nần, ông Đỗ Vạn Lịch sẽ không còn bất kỳ sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải quỳ gối chấp nhận toàn bộ các điều khoản thôn tính khắc nghiệt, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài chính đen và các gói cổ vật do Minh Thành Heritage bơm vào để duy trì sự sống cho bảo tàng. Và mục tiêu thứ ba—cũng là mục tiêu hiểm độc nhất đối với giới di sản đất Hà thành: Xưởng Phục chế Bách Mộc, chốt chặn chuyên môn độc lập duy nhất có đủ trình độ tay nghề, nhãn quan và sự liêm chính để vạch trần các thủ thuật làm giả tuổi gỗ của bọn chúng, sẽ vĩnh viễn bị tước bỏ tư cách hành nghề, bị gạt ra khỏi cuộc chơi và bị toàn bộ giới sưu tập cổ vật kinh kỳ nguyền rủa, tẩy chay!”

Không gian bên trong gian xưởng mộc cổ truyền bỗng chốc chìm vào một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở.

Tiếng gió mùa thu thổi qua những tán cây bàng già cỗi ngoài ngõ Hàng Hòm làm xào xạc những chiếc lá khô trên mái ngói rêu phong. Nắng trưa rọi xiên qua những ô cửa sổ gỗ, soi rõ từng hạt bụi mùn cưa đang lơ lửng nhảy múa trong không trung.

Lê Bách đứng chết lặng giữa gian xưởng của cha ông để lại. Đôi mắt người thợ mộc nhìn trân trân vào hai đầu sợi chỉ dù sáp tưa rách trên gáy cuốn sổ, rồi từ từ cúi xuống nhìn đôi bàn tay thô ráp, chai sần, chằng chịt những vết sẹo do lưỡi đục, lưỡi bào để lại sau hơn hai mươi năm ròng rã cống hiến cho từng thớ gỗ, từng nắp tráp, từng nếp nhà cổ kính của mảnh đất ngàn năm văn vật. Nỗi sỉ nhục nghề nghiệp và lòng tự trọng của một nghệ nhân chân chính bị chà đạp tàn nhẫn dâng lên ngùn ngụt trong lồng ngực anh, biến thành một cơn phẫn nộ cùng cực không thể nào kìm nén nổi.

Lê Bách vung mạnh cánh tay gân guốc, ném chiếc đục thép nhíp xe sáng loáng cắm phập xuống mặt bàn gỗ lim dày cộp.

*XOẢNG!*

Tiếng thép va đập chát chúa vào thớ gỗ lim vang lên đanh thép như một tiếng sét xé toang bầu không khí ngột ngạt, làm rung chuyển cả chồng sổ sách vật tư và khiến những dải phoi bào mỏng tang trên bàn bay tung tóe lên không trung.

Lê Bách nghiến chặt hai hàm răng trèo trẹo, từng đường gân xanh trên cổ anh nổi lên cuồn cuộn, ánh mắt anh rực lửa nhìn thẳng vào khoảng không vô định trước mặt. Giọng nói của người thợ mộc gằn lên từng tiếng rúng động, đanh thép dội vang khắp bốn bức tường gỗ của gian xưởng cổ kính:

“Tôi phục chế đồ để giữ hồn cho gỗ, không phải để mấy thằng buôn lậu mượn dấu xưởng lừa thiên hạ!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories