Món ăn trên mạng ở chợ Sín Mây
Gió trên yên núi Sín Mây không thổi thành luồng êm ả mà rít từng cơn buốt nhức qua những rặng sa mộc già cỗi, vặn xoắn cành lá khẳng khiu rồi thốc thẳng vào lòng chảo chợ phiên. Thứ không khí loãng và lạnh căm căm của độ cao gần hai nghìn mét mang theo mùi khói củi ẩm, mùi phân ngựa nồng ngái quyện chặt lấy hương thảo quả nướng cháy vỏ, xộc thẳng vào cánh mũi của bất kỳ ai vừa đặt chân lên dốc đá.
Mới hơn sáu giờ sáng, sương mù từ thung lũng sâu bên dưới Nậm Vài vẫn còn đùn lên cuồn cuộn, trắng xóa và đặc quánh như vôi sống, nuốt chửng những mép vực tai mèo lởm chởm. Ấy thế mà khu ẩm thực nằm sát vách taluy dương của phiên chợ đã ken đặc bóng người. Tiếng củi nỏ nổ lách tách trong những hố đất khoét sâu làm lò, tiếng bát sắt tráng men va vào nhau loảng xoảng, tiếng gót ủng lội bì bõm trên nền đất dăm ẩm ướt hòa lẫn với tiếng mặc cả xì xào bằng tiếng Mông, tiếng Giáy, tiếng Kinh. Tất cả đan bện vào nhau trong cái lạnh se sắt đầu đông.
Trần Mai kéo cao chiếc khăn len xám to bản che kín nửa khuôn mặt, chỉ để lộ đôi mắt sắc sảo đang nheo lại trước làn khói mù mịt. Từng bước đi của cô hơi gượng gạo, bàn chân phải đặt xuống đất một cách dè dặt vì chấn thương trẹo cổ chân từ bến xe Nậm Vài chiều hôm trước vẫn còn tấy đỏ bên dưới lớp tất dày. Cơn đau nhức âm ỉ chạy dọc lên cẳng chân mỗi khi gót giày giẫm phải đá hộc, nhưng Mai không hề giảm tốc độ. Cứ vài chục bước, cô lại đưa cổ tay lên liếc nhìn mặt đồng hồ kim loại đã trầy xước, rồi kín đáo quay đầu kiểm tra người đi sau.
Hải Yến bước sát sạt bên cạnh, hai vai hơi so lại dưới sức nặng của chiếc ba lô dã chiến chứa toàn bảng vẽ, giấy can và hộp cọ màu nước chuyên dụng. Sau trận cãi vã và những lời răn đe nghiêm khắc về tính kỷ luật mà Mai đặt ra hôm trước, vẻ lơ đễnh mộng mơ thường ngày của một cô sinh viên mỹ thuật mới ra trường đã tạm thời bị nén chặt. Yến không dám tạt ngang tạt ngửa vào những sạp bán thổ cẩm sặc sỡ hay những gùi lê rừng đầu mùa, ánh mắt cô dán chặt vào dải lều bạt chắp vá san sát phía trước, cố ghìm từng bước chân cho khớp với nhịp đi khập khiễng của đàn chị.
Quầy thắng cố của bà Giàng Thị Mỷ nằm ở khoảng đất thoải nhất của dãy hàng ăn, ngay sát nách quầy bánh ngô nương của bà Lý Thị Nụ. Hai gian hàng này không có vách ngăn bằng nứa hay ván gỗ, mà chỉ chung nhau một hàng cọc sa mộc chôn tạm bợ xuống nền đá dăm và một dải bạt dứa hai màu xanh cam đã bạc phếch vì sương gió, căng nghiêng nghiêng để che chắn mưa nắng thất thường của đỉnh đèo.
Tâm điểm của quầy bà Mỷ là chiếc chảo gang khổng lồ to như chiếc nong nhỏ, miệng chảo ám một lớp muội than dày cộp qua hàng chục năm đun nấu, đặt vững chãi trên chiếc kiềng sắt ba chân gác ngang một hố đất đỏ rực than củi nghiến. Bên trong lòng chảo sâu hoắm, thứ nước dùng màu nâu sẫm đang cuộn sóng sùng sục, đẩy lên bề mặt từng mảng bọt béo ngậy cùng những khúc lòng non, lòng già, thịt dải, thịt thủ và những giọt mỡ ngựa óng ánh. Mùi ngai ngái đặc trưng của lục phủ ngũ tạng loài ngựa núi quyện với mùi nồng cay của hạt sẻn rừng, mùi ngọt gắt của thảo quả nướng than và vị the đắng của quế chi hun khói bốc lên ngùn ngụt, tạo thành một luồng hơi nóng hổi đủ sức xua tan cái giá lạnh đang đóng băng từng đầu ngón tay.
Mai và Yến vừa dừng bước cách mép bạt chừng hai mét để lấy lại nhịp thở thì một nhóm khách du lịch trẻ gồm bốn, năm người từ phía bãi đỗ xe máy ùa tới. Họ trùm kín mít trong những chiếc áo khoác gió phản quang nhiều màu sặc sỡ, cổ đeo lủng lẳng những chiếc máy ảnh kỹ thuật số gắn ống kính dài ngoằng, tay lăm lăm những chiếc điện thoại thông minh đời mới với màn hình sáng choang liên tục quét quanh khu chợ.
Một cậu thanh niên dáng người gầy gò, đội chiếc mũ lưỡi trai thêu chữ nổi, chen hẳn lên phía trước. Cậu ta không thèm nhìn ngó xung quanh, bước thẳng vào mép lò rồi dí sát màn hình điện thoại vào ngay trước mặt bà Mỷ. Giọng cậu lanh lảnh, the the, át cả tiếng củi nổ và tiếng nước sôi ùng ục:
— Bác ơi! Bác có phải là chủ quán Thắng Cố Thảo Mộc Bản Mây như bài viết này chụp không? Bọn cháu xem bài giới thiệu trên mạng xã hội mê quá, đi phượt xe máy từ thị trấn Nậm Vài lên đây từ bốn giờ sáng đấy rét muốn đông cứng cả tay lái! Bác làm cho bọn cháu bốn suất đầy đủ nhé, nhưng nhớ bày vào mẹt tre đan lót lá chuối tươi giống hệt trong ảnh này này! Với lại nhớ rắc nhiều cái lá thơm có răng cưa tím tím này lên trên, thêm một đĩa hạt dổi rừng nướng than rải xung quanh nữa để bọn cháu chụp ảnh cho nó nổi bật. Trong bài trải nghiệm ẩm thực của anh Huy trên mạng có hàng vạn lượt chia sẻ, anh ấy bảo ăn món thắng cố ngựa này nhất định phải nhúng cái thứ lá rừng cay ngọt mọc trên vách đá cheo leo ấy mới đúng chuẩn công thức ẩm thực hoàng gia Tây Bắc!
Mấy cô cậu đi cùng lập tức hùa theo. Tiếng bấm máy ảnh tanh tách bắt đầu vang lên cùng những vệt đèn flash chớp sáng liên hồi rọi thẳng vào lòng chảo gang đang bốc khói mịt mù. Một cô gái trẻ mặc áo phao màu hồng phấn ghé sát mặt vào mép chảo, giơ điện thoại quay video ngắn, rồi bỗng ngước lên, đôi mày thanh tú chau lại vẻ thất vọng tràn trề:
— Ơ kìa bác ơi, sao bát ăn ở đây lại là bát sắt tráng men sứt sẹo cũ mèm thế này? Trong ảnh trên mạng của anh Huy chụp có mẹt tre đan hoa văn tỉ mỉ, lòng ngựa với thịt dải được thái mỏng dính xếp vòng tròn thành hình bông hoa hồng nhiều cánh đẹp mắt lắm cơ mà? Mẹt tre với đĩa gốm cổ đâu hết rồi bác? Bày vào cái bát sắt đen sì sì này chụp lên nhìn tối thui, dầu mỡ lênh láng thế kia thì lên hình trông thô thiển lắm, chẳng có tí chất thơ mộng vùng cao nào cả!
Bà Giàng Thị Mỷ lúc ấy đang lom khom cúi người bên miệng lò, hai tay cầm chiếc muôi sắt cán gỗ dài gần nửa mét để hớt từng mảng bọt váng trên mặt chảo. Nghe tiếng léo xéo inh ỏi bên tai, lại bị ánh đèn flash chớp nháy liên tục rọi thẳng vào mắt, bà khẽ ngưng tay. Đôi lông mày rậm rạp dưới vành khăn chàm đen tuyền nhíu chặt lại thành một rãnh sâu hoắm giữa trán. Bà không vội đáp lời, chỉ vung tay gạt phắt cánh tay đang giơ điện thoại của cậu thanh niên đội mũ lưỡi trai sang một bên để lấy khoảng trống cúi xuống vơ lấy một thanh củi nghiến tống mạnh vào cửa lò.
Thế nhưng người khách trẻ tuổi vẫn không hề nhận ra sự khó chịu đang dâng lên trong đôi mắt sắc lạnh của người đàn bà vùng cao. Cậu ta vẫn khom lưng, tiếp tục dí chiếc màn hình cảm ứng sáng rực vào tận mép tấm phản gỗ dùng làm bàn ăn:
— Bác nhìn kỹ lại xem nào! Đúng cái góc quán này rồi, cái cột gỗ sa mộc nứt toác ở góc bạt này không lẫn đi đâu được! Bác cho bọn cháu hỏi cái lá rừng viền tím răng cưa này tên chính xác là gì hả bác? Sao trong cái rổ rau nhúng của quán bác nhìn quanh chỉ toàn thấy rau cải mèo với mấy ngọn lá lốt thông thường thế này? Bác cất cái thứ lá đặc sản rừng sâu ở đâu thì mang hết ra đây đi, bọn cháu không xin không đâu, bọn cháu trả thêm tiền chụp ảnh cơ mà! Trả gấp đôi tiền một bát cũng được!
"Bốp!"
Một tiếng kim loại nện thẳng xuống mặt bàn gỗ vang lên khô khốc, đanh gọn và nảy lửa.
Bà Giàng Thị Mỷ dằn mạnh chiếc muôi sắt to bản xuống tấm phản thông xám xịt. Nước dùng thắng cố nóng rực bám trên thành muôi bắn tung tóe thành những vệt nâu sẫm trên thớ gỗ mộc. Cả nhóm khách trẻ giật bắn người, tiếng lách cách của máy ảnh và tiếng cười đùa ríu rít chợt tắt ngấm như bị bóp nghẹt. Mấy người đàn ông bản địa mặc áo chàm ngồi ở dãy bàn con bên cạnh đang xì xụp húp nước dùng cũng đồng loạt ngừng nhai, ngước đôi mắt đùng đục khói than lên nhìn chăm chú.
— Mẹt cái gì mà mẹt! Lá gì mà lá trái mùa!
Giọng bà Mỷ cất lên, khé nồng mùi khói bếp và đượm chất gằn từng tiếng một, sắc nhọn như một nhát dao quắm chém vào thân nứa.
— Chảo này của tao là chảo thắng cố chợ phiên! Tao dậy từ hai giờ sáng nhóm lửa gom than, mổ lòng, rửa ruột bằng nước tro bếp, xào thịt săn lại với muối hạt, thảo quả rồi đổ nước ninh suốt bốn tiếng đồng hồ để bà con các chòm bản xa xuống chợ có bát nước nóng mà húp cho ấm cái bụng, ấm cái bàn chân để tí nữa còn leo ngược dốc về nương! Tao bán vào bát sắt tráng men dày để giữ lấy cái hơi nóng, ăn một bát có sức gùi ngô, dắt ngựa cả buổi trời! Ở đâu ra cái thứ mẹt tre lót lá chuối bày biện lòng nguội ngắt như cúng ma thế hả? Lòng ngựa, mỡ ngựa mà chúng mày đòi bày la liệt trên cái mẹt tre giữa cái gió bấc buốt thấu xương này thì chỉ mười phút là mỡ nó đông lại thành từng mảng trắng dã như sáp nến, tanh tưởi sực lên mũi thì nuốt làm sao nổi qua cổ họng?
Cậu thanh niên cầm điện thoại đứng chôn chân tại chỗ, mặt mày đỏ lựng lên vì xấu hổ và bất ngờ trước cơn thịnh nộ dữ dội của người đàn bà bán quán:
— Nhưng... nhưng mà trên bài viết trải nghiệm của anh Huy có hàng vạn lượt tương tác, hàng nghìn bình luận khen ngợi đây này bác! Anh ấy bảo quán bác có bí quyết dùng một loại lá rừng có vị ngọt thanh như thảo dược quý, chỉ mọc trên những vách đá tai mèo dựng đứng không ai trèo tới...
— Thằng Huy nào tao không biết! Vẽ hươu vẽ vượn trên cái máy bé bằng bàn tay ấy rồi lũ chúng mày dưới phố cứ tin lấy tin để! — Bà Mỷ vung chiếc muôi sắt chỉ thẳng vào màn hình điện thoại, ngọn lửa giận dữ bốc lên ngùn ngụt trong đáy mắt. — Cái thứ lá răng cưa viền tím ngắt trong cái ảnh thằng ấy chụp là rau dớn tím mọc ven suối sâu tít dưới đáy thung lũng Nậm Vài, phải đợi đến tháng Năm tháng Sáu mùa mưa rào nước dâng ngập bờ mới mọc lên được vài ngọn non! Bây giờ đang là cữ gió bấc gầm rít, sương muối phủ trắng xóa cả nương đồi, cây cỏ trên vách đá chết rụi chết khô, tao đào đâu ra cái thứ lá làm cảnh ấy cho chúng mày hái về chụp ảnh?
Bà Mỷ thở hắt ra một hơi dài, khói sương phả ra từ khóe miệng bà trắng đục:
— Thằng ranh con ấy phiên chợ tháng trước lên đây ăn một bát thắng cố mười lăm nghìn, tự tay nó lén mang theo cái mẹt tre ở dưới chợ thị trấn với một mớ lá cây vớ vẩn nhặt ở bờ rào bờ suối nào tao không biết, nó ngồi bày vẽ, xoay bên nọ lật bên kia chụp choẹt suốt cả tiếng đồng hồ! Nó làm nguội ngắt cả nửa chảo thịt của tao, chắn hết cả lối vào của khách quen, rồi giờ nó về viết lăng nhăng lên mạng để lũ chúng mày kéo đàn kéo lũ lên đây hành hạ cái thân già này à? Đứa nào ăn được bát nóng hổi thì ngồi thụp xuống ghế, tao múc cho bát đầy đủ thịt dải lòng giòn có chan nước béo! Đứa nào không ăn thì dẹp ngay cái máy ảnh sang một bên cho người ta vào ăn bát thắng cố đi làm nương, đừng có đứng chôn chân ở cửa lò chắn hết cả gió thông khói của tao!
Mấy người khách trẻ trố mắt nhìn nhau, mặt cắt không còn hạt máu. Cậu thanh niên bối rối bấm tắt ngúm màn hình điện thoại, lí nhí vài câu phân bua không thành tiếng rồi cả nhóm lủi thủi kéo nhau dạt nhanh ra phía lối đi lát đá dăm, không dám quay đầu lại nhìn thêm một lần nào.
Một ông cụ người Mông ngồi ở góc bàn bên cạnh, chiếc áo chàm đã sờn rách ở cùi chỏ, khẽ bật ra một tiếng cười khà khà trong cổ họng. Ông bưng chiếc bát sắt tráng men còn bốc khói nghi ngút lên ngang miệng, phà hơi nóng vào hai bàn tay nứt nẻ rồi húp một ngụm lớn, sau đó ngẩng lên nói với bà Mỷ bằng chất giọng lơ lớ:
— Mỷ ơi, múc cho tao thêm nửa muôi nước béo nữa đi! Gió trên đỉnh đèo này thổi buốt đến tận tủy xương rồi, hơi sức đâu mà đứng cãi cọ với cái lũ người dưới phố ấy cho rát cái cổ họng!
Cách chảo thắng cố của bà Mỷ chưa đầy hai sải tay, bên kia hàng cọc sa mộc, tình hình ở quầy bánh của bà Lý Thị Nụ cũng chẳng êm ả hơn là bao.
Bà Nụ đang lúi húi bên chiếc chõ gang bốc khói ngùn ngụt đặt cạnh một chiếc vỉ sắt kê tạm trên bếp than hoa đỏ rực. Chiếc chõ gang dùng để đồ bột ngô chín tới, còn vỉ sắt bên cạnh là nơi bà đặt những miếng bánh ngô nương hình tròn dẹt, dày chừng nửa đốt ngón tay. Những chiếc bánh có màu vàng sẫm đặc trưng của hạt ngô già gác bếp, bề mặt bắt đầu se lại dưới sức nóng của than hồng, tỏa ra một thứ mùi thơm ngai ngái, mộc mạc và ngòn ngọt tự nhiên của tinh bột vùng cao khi gặp nhiệt.
Thế nhưng ngay trước sạp hàng đơn sơ của bà Nụ, hai cô gái trẻ khác mặc áo khoác lông thú nhân tạo cũng đang đứng săm soi một tấm biển cắm xiêu vẹo ở góc chiếc bàn gỗ tạp. Tấm biển làm bằng một mảnh bìa các-tông cũ xé vội từ thùng mì tôm, bên trên dùng bút dạ dầu màu đỏ viết nguệch ngoạc mấy chữ: *"Bánh ngô ngọt nướng mật ong rừng tuyết Shan"*.
— Cô ơi, cái bánh này bên trong có nhân phô mai kéo sợi với sốt kem hạt dẻ béo ngậy không cô? — Một cô gái cúi rạp người xuống gần vỉ than, dùng đầu ngón tay sơn móng đỏ chót chỉ trỏ vào từng chiếc bánh đang xèo xèo bốc khói. — Bọn cháu đọc bài review ẩm thực Sín Mây trên mạng, thấy người ta bảo bánh ngô tuyết Shan ở chợ này khi nướng lên sẽ có lớp nhân lỏng chảy tràn ra ngọt lịm và béo ngậy cơ mà? Sao bánh của cô trên vỉ nhìn thô ráp, sần sùi và khô khốc như mẩu lương khô thế này?
Bà Lý Thị Nụ khẽ thở dài, cánh tay gầy guộc cầm chiếc kẹp sắt lật nhẹ một chiếc bánh ngô vừa ngả sang màu vàng cháy cạnh. Gương mặt người đàn bà người Giáy hằn sâu những nếp nhăn nhọc nhằn quanh khóe mắt, đôi bàn tay chai sần vì quanh năm cầm cuốc tra ngô và quay cối đá run rẩy lộ rõ vẻ mệt mỏi cùng nỗi bối rối tột cùng:
— Không có phô mai với kem béo gì đâu hai cháu ơi... Bánh này là bánh ngô nương truyền thống của bà con người Giáy, người Mông mình từ bao đời nay thôi. Ngô nương già hạt đem tẽ ra, phơi trên gác bếp cho khô kiệt rồi mới đem xay thành bột nước bằng cối đá mất nửa ngày trời. Xay xong phải đăng cho ráo nước, đồ chín trong chõ rồi đem ra cối đá giã thật mịn mới nặn thành từng chiếc bánh thế này. Đem nướng trên than hoa cho vàng giòn lớp vỏ ngoài, ăn vào dẻo quánh, chấm với tí muối ớt xào hoặc cứ thế ăn trừ cơm trưa trên nương thôi...
— Thế tại sao trên biển lại ghi rõ rành rành là bánh ngô ngọt mật ong rừng tuyết Shan? — Cô gái đi cùng bĩu môi, vẻ mặt lộ rõ sự thất vọng và khó chịu ra mặt. — Treo cái biển kêu như chuông thế kia làm bọn cháu cứ tưởng là món tráng miệng kiểu mới hot trend trên mạng xã hội! Bánh ngô không có đường, không có sữa béo ngậy thế này thì khô khát cả họng, ai mà nuốt trôi được giữa cái trời rét này! Thôi đi đi mày ơi, sang góc bên kia tìm quán trà sữa hay đồ nướng xiên que ăn cho lành!
Hai cô gái quay ngoắt gót giày bỏ đi, tiếng đế giày nện côm cốp trên nền đá dăm rồi mất hút vào làn sương mù dày đặc.
Bà Lý Thị Nụ đứng trơ trọi bên vỉ than đang đỏ rực. Ánh lửa hắt lên gương mặt già nua của bà một vẻ cay đắng, xót xa. Bà đưa bàn tay run rẩy nhổ phắt tấm biển các-tông cắm ở góc bàn, vò nát nó trong lòng bàn tay rồi vứt toẹt xuống gầm chõ gang, nơi những mẩu tro tàn đang bay lả tả.
Trần Mai và Hải Yến đứng im lìm quan sát toàn bộ sự việc từ dưới mép bạt ướt át. Mai khẽ thở dài một tiếng thật khẽ, nén cơn đau buốt ở cổ chân bước từng bước chậm rãi lại gần quầy bánh. Nhìn thấy bóng người quen thuộc, bà Nụ ngước đôi mắt kèm nhèm lên, nhận ra ngay cô gái buôn chuyến dưới xuôi hay thu mua mật ong khoái và nấm hương khô của bản mình:
— Mai đấy à cháu? Trời rét mướt thế này mà đã lặn lội lên chợ từ sớm tinh mơ rồi à? Kìa, cái chân cẳng làm sao mà đi chấm phẩy, tập tễnh thế kia?
— Cháu bị trượt chân trẹo nhẹ khớp mắt cá hôm qua ở bến xe Nậm Vài thôi bà ạ, không đáng ngại đâu, — Mai cất giọng ấm áp, ánh mắt cô nhìn xuống những chiếc bánh ngô nương vàng ruộm đang tỏa hương ngào ngạt trên vỉ sắt. — Bác Mỷ bên cạnh vừa mắng xối xả một nhóm khách du lịch trẻ, bên quầy của bác cũng bị người ta kéo đến hỏi dồn những thứ lạ lẫm thế hả bác Nụ?
Bà Nụ cười một nụ cười gượng gạo đến xót lòng, đưa mu bàn tay áo chàm đã sờn quệt vội giọt mồ hôi đang rịn ra bên thái dương dù ngọn gió bấc ngoài kia vẫn đang thổi buốt lạnh:
— Khổ trăm bề cháu ơi! Cũng tại cái thằng Huy chuyên đi buôn chuyến trên thị trấn Nậm Vài ấy chứ ai! Đợt chợ phiên trước nó dẫn một đám người lên đây chụp ảnh quay phim gì đó, nó bảo bác lấy bút viết cái dòng chữ ấy cắm vào sạp thì khách du lịch dưới xuôi họ mới tò mò kéo vào mua đông. Bác thấy nó ăn mặc bảnh bao, mồm mép đỡ lời khéo léo, lại nghĩ bụng viết mấy chữ cho kêu một tí thì bán được thêm vài mẻ bánh kiếm thêm đồng ra đồng vào đong gùi gạo, mua gói muối cho mấy đứa nhỏ ở nhà. Ai ngờ đâu khách trên mạng kéo đến đông thật, nhưng toàn đòi những thứ sữa ngọt, phô mai kéo sợi, rồi mật ong tuyết Shan gì gì ở tận đẩu tận đâu trên trời! Bác bảo không có thì họ chê ỏng chê eo, bảo bà già này lừa đảo, treo đầu dê bán thịt chó!
Bà Nụ dừng lại, lấy chiếc kẹp sắt gõ nhè nhẹ vào thành vỉ than, giọng nghẹn lại:
— Mà đau nhất là bà con quen mặt trong bản đi chợ phiên, thấy cái biển chữ nghĩa lạ lẫm cắm ở quầy, tưởng mình đổi sang làm cái thứ bánh sang trọng bán đắt đỏ cho người thành phố nên họ cũng ngại ngùng, lẳng lặng đi lướt qua chứ không ghé vào mua ăn trừ bữa như mọi khi nữa. Ba bốn phiên chợ gần đây ế ẩm quá chừng cháu à... Bánh nướng không hết nguội ngắt lại phải mang về phơi khô cho lợn ăn. Nếu phiên này với phiên tới mà tình cảnh cứ kéo dài thế này, chắc hết mùa lạnh năm nay bác phải dọn cái sạp này chuyển sang bên chợ Khau Lếch bán thôi. Bên Khau Lếch xa hơn nửa ngày đường rừng nhưng bà con bên ấy chuộng cái bánh ngô thật thà mộc mạc, chứ ở cái đất Sín Mây này khách ảo trên mạng đông quá, mệt cái đầu, rát cái miệng mà chẳng kiếm nổi mấy đồng bạc lẻ mua dầu thắp đèn!
Hải Yến đứng sững phía sau lưng Mai. Từng lời trần tình mộc mạc, nghẹn ngào của bà lão người Giáy như những mũi kim sắc nhọn đâm thẳng vào tâm can cô. Bàn tay Yến vô thức bấu chặt lấy quai đeo của chiếc ba lô nặng trĩu.
Bên trong ngăn kéo ngoài cùng của chiếc cặp da đựng đồ vẽ mà cô đang mang trên lưng, có ba bản phác thảo hoàn chỉnh được cô cặm cụi dựng hình suốt một tuần lễ ròng rã trong căn phòng trọ chật chội ở Hà Nội. Đó là những bản vẽ bố cục mà chính Yến đã tỉ mỉ sao chép, lý tưởng hóa dựa trên đúng những bài đăng lung linh và các bức ảnh được chỉnh sửa màu sắc rực rỡ của Nguyễn Quang Huy trên mạng: một mẹt thắng cố đan bằng tre lót lá chuối xanh mướt, bên trên điểm xuyết những nhánh rau dớn tím mộng mơ; và một đĩa bánh ngô vàng ruộm không tì vết, được rưới đẫm thứ mật sánh như hổ phách với những cánh hoa dại cài duyên dáng bên mép đĩa.
Chính cô — một người vẽ tranh minh họa đang nhận hợp đồng xuất bản một bộ lịch văn hóa ẩm thực vùng cao — suýt chút nữa đã biến những thứ dối trá kệch cỡm ấy thành những ấn phẩm nghệ thuật chính thức, được in ấn hàng vạn bản để phát hành rộng rãi khắp cả nước, tiếp tay cho thứ ảo tưởng độc hại đang bóp nghẹt cuộc sống của những con người lam lũ nơi này.
Đúng vào lúc sự hổ thẹn đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng Yến, bầu trời phía trên đỉnh đèo bỗng nhiên tối sầm lại một cách dị thường.
Không gian xung quanh đột ngột chùng xuống. Gió trên yên núi Sín Mây đổi hướng trong chớp mắt, không còn rít từng cơn ngắt quãng nữa mà gầm rú lên dữ dội qua những rặng sa mộc cổ thụ. Mây đen từ các hẻm vực sâu phía sau lưng chợ cuồn cuộn bốc lên như những cột khói khổng lồ từ lòng đất, nuốt chửng hoàn toàn chút ánh sáng mặt trời le lói vừa mới ló dạng qua màn sương. Không khí đặc quánh lại, lạnh buốt thấu xương và ẩm ướt đến rợn người.
— Giông núi về rồi! Coi chừng có mưa đá đấy! Chằng bạt mau lên bà con ơi! — Tiếng một người đàn ông hét thất thanh từ phía đầu dãy hàng thịt lợn đen.
Chỉ trong tích tắc, một trận cuồng phong dữ dội từ đáy vực thốc ngược lên mặt đèo. Gió giật gián đoạn với sức mạnh kinh hoàng làm toàn bộ dải mái bạt của khu ẩm thực phồng căng lên rồi giật nảy bần bật như cánh buồm của một con thuyền rách nát giữa cơn bão biển.
Một tiếng "rắc" chói tai vang lên khô khốc: chiếc cọc sa mộc chôn tạm ở ranh giới giữa quầy bà Mỷ và quầy bà Nụ bị gió xoáy vặn gãy ngang gốc.
Góc bạt dứa dùng chung giữa hai quán lập tức sụp thụp xuống. Nước mưa và hơi sương tích tụ thành vũng lớn trên nóc bạt cùng những luồng gió giật điên cuồng kéo theo một khối nước nặng trĩu đổ ụp xuống ngay khoảng trống giữa hai chiếc bếp lửa. Gió bạt ngọn lửa đỏ rực của lò thắng cố táp mạnh sang một bên, than củi cháy đỏ bắn tung tóe lên mặt đất dăm ẩm ướt. Một dòng nước mưa đục ngầu bắt đầu tràn lênh láng qua gờ đất nung của chiếc lò khoét tạm, chực xối thẳng vào chảo nước dùng đang sôi sùng sục của bà Mỷ và đe dọa dập tắt vỉ than hồng của bà Nụ.
— Úi giời đất ơi! Cháy rụi lò mất thôi! Bạt sập rồi Mỷ ơi, đỡ lấy! — Bà Nụ hét lên kinh hoàng, hai tay quýnh quáng ôm chặt lấy chân chiếc chõ bánh ngô đang chực ngã nghiêng về phía rãnh nước.
— Giữ lấy cái cọc! Cứu lấy chảo nước dùng mau lên! — Bà Giàng Thị Mỷ lao bổ ra khỏi miệng lò, một tay tóm chặt lấy mép bạt ướt sũng đang quất phần phật vào không khí, một tay cố ghì chặt lấy đoạn cọc gỗ gãy nham nhở. Nhưng sức giật của cơn gió núi quá khủng khiếp, người đàn bà luống tuổi bị kéo giật ngược về phía sau, chân trượt dài trên lớp bùn nhão, suýt chút nữa ngã dúi dụi vào đống than hồng đang bốc khói mù mịt.
Không một giây do dự, Trần Mai vứt phắt chiếc túi xách đựng sổ sách xuống mép sạp, hoàn toàn quên bẵng đi bàn chân phải đang sưng tấy đau nhức. Cô lao tới như một mũi tên, dùng cả hai tay ôm chặt lấy thân chiếc cọc phụ bằng tre còn sót lại:
— Yến! Cầm lấy đầu dây thừng bên kia! Níu chặt vào tảng đá hộc mau lên!
Tiếng thét của Mai xé toạc màn mưa gió, kéo Hải Yến bừng tỉnh khỏi cơn bàng hoàng. Không mảy may nghĩ ngợi đến bộ quần áo sạch sẽ hay đôi giày đắt tiền, Yến quẳng mạnh chiếc ba lô chứa toàn bộ họa cụ quý giá lên kệ gỗ khô ráo trên sạp của bà Nụ, rồi nhảy ào vào giữa khoảng đất nhầy nhụa bùn non và nước buốt giá. Đôi giày thể thao của cô ngập sâu trong bùn lầy lội. Yến chộp lấy sợi dây thừng căng bạt đang quất vun vút trong gió bão, lớp gai xơ ráp của sợi dây siết mạnh vào lòng bàn tay khiến da thịt cô rát bỏng như bị cào cấu.
— Kéo căng ra! Kéo ngược hướng gió giật! — Mai hét lớn trong tiếng gió gầm rú đinh tai nhức óc.
Nước mưa buốt lạnh xối xả tạt thẳng vào mặt Yến, rát buốt như hàng ngàn mũi kim châm. Khối bạt dứa ngấm nước nặng trĩu như một tấm chì khổng lồ đè nặng lên đôi cánh tay mảnh khảnh. Yến cắn chặt môi đến bật máu, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể ngả người ra phía sau, dốc hết sức bình sinh ghì chặt sợi dây thừng thô ráp, luồn nhanh hai vòng qua một mấu đá hộc lớn cắm sâu bên vách taluy dương.
Cùng lúc đó, Mai nhanh nhẹn vớ lấy một thanh tre khô dài dưới gầm quầy của bà Nụ, dùng vai tì mạnh đẩy điểm nối giữa hai mái bạt nhô cao lên thành hình chóp nhọn, tạo thành một rãnh thoát nước dốc thẳng ra mép vực đá, cách xa hai miệng lò đang đỏ lửa.
Bà Mỷ nhanh tay chộp lấy chiếc nắp gỗ nặng trịch đậy sập lên miệng chảo thắng cố, ngăn những giọt nước mưa đục ngầu không bắn vào nồi nước dùng béo ngậy. Bà Nụ thì vơ vội mấy tấm bao tải gai khô ráo phủ trùm kín lên vỉ bánh ngô và miệng chõ hấp.
Trong mười lăm phút hỗn loạn nghẹt thở giữa cơn cuồng phong của đỉnh Sín Mây, bốn người đàn bà — hai người bán hàng luống tuổi bản địa và hai cô gái trẻ từ dưới xuôi lên — ken chặt vai vào nhau. Họ dùng từng thớ cơ bắp, từng giọt mồ hôi và sức lực bình sinh để ghì giữ từng góc dây thừng, chêm từng thanh nẹp gỗ, bảo vệ hai bếp lửa sinh kế mong manh giữa đất trời gầm gào giận dữ.
Rồi cơn giông núi đến nhanh bao nhiêu thì cũng tan đi nhanh bấy nhiêu, đúng như tính khí thất thường của mây ngàn Sín Mây. Tiếng gió rít lùi dần về phía thung lũng sâu, nhường chỗ cho những hạt mưa phùn giăng mắc mỏng mảnh như tơ nhện. Mặt đất khu ẩm thực loang lổ những vũng nước đục ngầu, và mùi khói than nồng nặc bốc lên từ những khe đất ẩm ướt.
Cả bốn người đứng thở dốc giữa gian hàng xiêu vẹo, người nào người nấy ướt sũng từ đầu đến chân vì nước mưa và mồ hôi lạnh. Vạt áo chàm của bà Mỷ ướt thẫm, bết chặt vào người; mái tóc hoa râm của bà Nụ dính bết vào trán; chiếc áo len xám của Mai lấm lem bùn đất đỏ quạch; còn Yến đứng dựa lưng vào tảng đá hộc, hai bàn tay rướm máu và đỏ rát vì cọ xát với dây thừng gai, ống quần dính đầy sình lầy.
Thế nhưng bên dưới lớp nắp gỗ, chảo thắng cố vẫn reo sôi ùng ục ấm áp, và bên dưới lớp bao tải gai, vỉ than hồng của bà Nụ vẫn âm ỉ tỏa ra thứ nhiệt lượng chở che cho những mẻ bánh nương còn nguyên vẹn.
Bà Mỷ thở phào một hơi dài thườn thượt, đưa bàn tay thô ráp vuốt lớp nước mưa nhễ nhại trên mặt, rồi quay sang nhìn Mai và Yến bằng một ánh mắt hoàn toàn khác hẳn vẻ gắt gỏng cay nghiệt ban nãy:
— May quá trời đất ơi... Không có hai đứa mày nhanh chân nhanh tay níu giữ góc bạt thì cả cái chảo này đổ ụp xuống hố bùn rồi! Cái chảo này mà đổ thì tao mất trắng vốn liếng cả tuần chạy chợ, mà mẻ bánh của bà Nụ cũng cháy sạch thành than vụn! Vào đây, vào sát trong này ngồi cho khuất ngọn gió bấc!
Bà Nụ cũng vội vã dùng vạt tạp dề lau khô chiếc ghế gỗ dài, vừa kéo hai cô gái vào vừa giục giã bằng giọng run run:
— Ngồi xuống đây hai cháu! Mau lên, hơ tay vào bếp than cho ấm lại, người ngợm lạnh cóng hết cả thế kia thì ốm chết mất thôi! Mai ơi, cái chân đau thế kia mà lúc nãy mày nhảy phắt qua rãnh nước như con sóc rừng thế cháu!
Mai khẽ mỉm cười, ngồi xuống mép chiếc ghế dài, đưa tay nắn nhẹ vào cổ chân đang nhức nhối:
— Lúc nãy nhìn thấy nước mưa chực đổ ụp vào lò của hai bác, cháu hoảng quá nên quên mất cả đau chân. Giữ được hai bếp lửa nguyên vẹn là may mắn lắm rồi bác ạ.
Yến đứng lặng bên mép tấm phản gỗ. Cô nhìn xuống đôi bàn tay trầy xước, dính đầy bùn đất và muội than của mình, rồi nhìn sang chảo gang đóng cặn khói đen kịt của bà Mỷ, nhìn chiếc chõ gỗ cũ kỹ cùng vỉ nướng ám khói nồng đượm của bà Nụ. Một cảm giác hổ thẹn sâu sắc lại trào dâng, bóp nghẹt lồng ngực cô gái trẻ.
Chậm rãi, Yến bước lại gần chiếc ba lô của mình, kéo khóa ngăn ngoài cùng. Cô rút ra tập giấy vẽ khổ lớn bọc cẩn thận trong bìa cứng chống ẩm. Bằng những ngón tay còn run rẩy vì lạnh và xúc động, cô lật giở ba bức vẽ phác thảo mà mình đã kỳ công dựng hình suốt những đêm thức trắng ở Hà Nội.
Bức vẽ thứ nhất: chảo thắng cố đặt trên một chiếc bàn gỗ mun bóng lộn không tì vết, bên cạnh là một chiếc mẹt tre đan hoa văn cầu kỳ lót lá chuối xanh ngắt, xếp đầy những lát lòng ngựa thái mỏng đều đặn như những cánh hoa hồng, điểm xuyết những ngọn rau dớn tím mộng mơ và những hạt dổi nướng rải rác xung quanh như những hạt ngọc. Bức vẽ thứ hai: đĩa bánh ngô vàng óng ả, mịn màng không một vệt muội than, rưới đẫm mật ong rừng sóng sánh như hổ phách, trang trí bằng những bông hoa tam giác mạch li ti và một chiếc chén gốm phủ men lam sang trọng.
Yến mang hai bức tranh phác thảo ấy lại mép bàn, nhẹ nhàng đặt chúng xuống ngay trước mặt bà Mỷ và bà Nụ.
Mai ngước mắt lên nhìn Yến, thoáng chút ngạc nhiên trước hành động của bạn mình.
— Bác Mỷ... bác Nụ... — Giọng Yến run lên bần bật, nhưng đôi mắt cô nhìn thẳng vào hai người phụ nữ lớn tuổi, không hề trốn tránh. — Cháu xin lỗi hai bác. Cháu chính là người đã vẽ những bức tranh này ở Hà Nội trước khi đặt chân lên mảnh đất này... Cháu chưa từng gặp hai bác, chưa từng thấy chảo thắng cố thật sự của chợ phiên Sín Mây, nhưng cháu đã lấy đúng những hình ảnh và những lời miêu tả hoa mỹ trong bài viết của anh Huy trên mạng để dựng sẵn bố cục cho bộ lịch ẩm thực mà cháu nhận hợp đồng minh họa. Cháu đã nghĩ... vẽ như thế này cho nó đẹp mắt, cho nó vừa lòng những người xem tranh ở dưới thành phố...
Bà Mỷ cúi đầu, nheo đôi mắt rậm rạp nhìn vào bức vẽ chiếc mẹt thắng cố lót lá chuối. Bà Nụ cũng nhìn trừng trừng vào đĩa bánh ngô rưới mật ong và hoa dại. Không khí dưới mái bạt dứa bỗng chốc chùng xuống tịch mịch, chỉ còn tiếng than củi nổ lách tách trong lò và tiếng gió rít nhè nhẹ qua khe bạt.
— Xấu hổ lắm bác ạ... — Yến nghẹn ngào, hai hốc mắt cay xè rơm rớm nước mắt. — Sáng nay, khi tận mắt chứng kiến nhóm khách trẻ cầm điện thoại đòi mẹt tre, đòi rau dớn trái mùa rồi làm loạn quầy hàng của bác Mỷ... khi nghe bác Nụ kể chuyện phải cắm tấm biển sai lệch tên tuổi để rồi ế ẩm mất hết cả khách quen trong bản... cháu mới hiểu ra những hình ảnh giả tạo, hào nhoáng này độc hại đến mức nào. Nó không phải là nghệ thuật, cũng chẳng phải là tôn vinh ẩm thực vùng cao. Nó là sự dối trá đang gián tiếp phá hoại chính nhịp sống, công việc và chén cơm thật sự của những người lao động lam lũ như hai bác!
Nói dứt lời, trước sự bàng hoàng sững sờ của cả Mai, bà Mỷ và bà Nụ, Yến đưa hai bàn tay trầy xước nắm chặt lấy mép những tờ giấy vẽ đắt tiền.
"Xoẹt! Xoẹt!"
Những tiếng xé dứt khoát vang lên giòn giã trong không gian tĩnh lặng. Từng mảnh giấy vẽ ép lạnh định lượng ba trăm gam dày dặn bị xé toạc làm đôi, làm tư, rơi lả tả xuống mặt bàn gỗ tạp lấm lem bùn đất.
— Yến! — Mai khẽ thốt lên một tiếng, đôi mắt mở to nhìn người bạn đồng hành.
Yến hít một hơi thật sâu để lồng ngực tràn ngập thứ không khí lạnh buốt của núi rừng, vội vã đưa mu bàn tay quệt đi giọt nước mắt vừa lăn xuống má. Cô mở khóa ba lô, rút ra cuốn sổ tay trắng tinh cùng hộp màu nước dã chiến đặt ngay ngắn lên mặt bàn. Yến kéo một chiếc ghế đẩu thấp lại gần bếp than, ngồi xuống đối diện với bà Mỷ và bà Nụ:
— Cháu xé bỏ hết những thứ sai lệch này rồi. Bây giờ, cháu muốn xin phép hai bác... cho cháu được ngồi ở đây, nghe hai bác kể lại từ đầu. Chảo thắng cố này nấu từ những phần thịt nào, nhóm lửa lúc mấy giờ sáng, mùa nào thì ăn kèm với thứ rau gì? Và mẻ bánh ngô nương của bác Nụ làm từ giống ngô gì, tên gọi thật sự từ đời ông bà để lại là gì? Cháu muốn vẽ lại tất cả từ sự thật trần trụi nhất, từng vết muội than bám quanh chảo gang, từng vết nứt trên vỉ nướng, để khi bộ lịch này được in ra, không một người khách nào có thể mang một hình ảnh dối trá đến làm phiền quầy hàng của hai bác thêm một lần nào nữa!
Bà Mỷ nhìn chăm chú vào đống giấy vụn rải rác trên bàn, rồi nhìn xuống đôi bàn tay lấm lem bùn đất và trầy xước của Yến. Nét mặt nghiêm nghị, sắc lạnh như đá núi của người đàn bà Mông chợt chùng xuống, khóe môi khẽ run run rồi nở thành một nụ cười hiền hậu, kín đáo.
Bà với lấy chiếc bát tráng men sạch sẽ nhất trên giá gỗ, dùng chiếc muôi sắt cán dài khuấy đều một vòng chảo thắng cố rồi múc một muôi đầy ắp thịt dải, lòng non giòn sần sật cùng thứ nước dùng nâu sẫm, sóng sánh bốc khói nghi ngút, đặt cạch một cái thật chắc nịch xuống trước mặt Yến:
— Ăn đi cho ấm cái bụng đã rồi hẵng hỏi han! Khổ thân con bé, tập giấy vẽ nhìn đẹp và đắt tiền thế kia mà xé ngọt xớt như xé lá chuối rừng!
Bà Nụ cũng cười xòa, dùng chiếc kẹp sắt gắp hai chiếc bánh ngô nướng vàng ruộm, giòn rụm vừa se mặt từ vỉ than đặt sang chiếc đĩa sứ sứt góc bên cạnh bát thắng cố:
— Ăn kèm với bánh ngô nướng nóng này cháu! Thắng cố nóng hổi phải cắn kèm miếng bánh ngô giòn này nó mới dậy vị béo ngậy, mới đúng cái nếp đi chợ phiên của đồng bào mình từ xưa đến nay!
Dưới mái bạt dứa nồng đượm khói lam chiều và mùi thảo mộc ấm sực, trong khi cơn mưa phùn ngoài kia vẫn lất phất bay trên những ngọn sa mộc khẳng khiu, hai người phụ nữ lớn tuổi bắt đầu mở lòng kể chuyện.
Bà Mỷ vừa đảo đều chiếc muôi sắt vừa chỉ cho Yến từng thứ gia vị truyền thống làm nên linh hồn của chảo thắng cố: quả thảo quả khô phải nướng cháy xém vỏ ngoài trên than củi nghiến rồi mới đập dập để lấy trọn tinh dầu; hạt sẻn rừng chỉ được cho một lượng vừa đủ để tạo độ the cay dịu nhẹ ở đầu lưỡi chứ không được lấn át vị ngọt đậm của tủy xương ngựa; và toàn bộ phần thịt, lòng phải được xào thật săn với chính mỡ ngựa trước khi đổ nước sôi vào ninh lửa nhỏ suốt nhiều giờ liền.
— Mùa đông rét buốt thấu xương như thế này thì chỉ có rau cải mèo đắng cay nhúng tái vào nước dùng nóng là hợp nhất trần đời, — bà Mỷ vừa múc thêm nước dùng cho Mai vừa giải thích. — Người đi chợ đi bộ mươi mười lăm cây số đường rừng vượt dốc trong sương muối, người lạnh như cục đá, húp một bát nước dùng cải mèo này vào là mồ hôi vã ra như tắm, người nhẹ bẫng đi như cất được gánh nặng. Bày vẽ làm cảnh bằng mẹt tre với rau suối trái mùa thì chỉ có lũ người lười nhác dưới phố thừa tiền vẽ chuyện rách việc!
Bà Nụ thì tỉ mỉ chỉ cho Yến cách nhận biết giống ngô nương hạt nhỏ, chắc nịch và có màu vàng sậm được thu hoạch trên những sườn núi dốc đứng, phơi khô trên gác bếp suốt mấy tháng trời ròng rã:
— Tên của nó mộc mạc lắm cháu ơi, từ đời ông bà cụ kỵ truyền lại chỉ gọi là *bánh ngô nướng than* hay *bánh ngô nương* thôi. Chẳng có tuyết Shan hay mật ong rừng gì hết cả. Cái vị ngọt này là ngọt từ chính hạt ngô già chắt chiu từng giọt phù sa ít ỏi của đất dốc vùng cao, giã bằng cối đá thủ công nên nó dẻo quánh tự nhiên như nếp nương. Mùa thu hoạch ngô rộ nhất vào cữ tháng Chín, tháng Mười, thì đến mùa đông buốt giá này mới có mẻ bánh ngon đem xuống chợ phiên đổi gạo...
Yến cắm cúi lắng nghe, nuốt trọn từng lời kể mộc mạc như nuốt lấy từng hạt ngọc của cuộc sống lao động. Đầu ngòi bút chì trên tay cô lia thoăn thoắt trên mặt giấy trắng tinh. Từng nét vẽ sắc sảo, chân thực dần dần hiện lên: từng thớ thịt dải săn chắc, từng vệt muội than xù xì bám quanh đáy chảo gang, dáng đứng hiên ngang, chắc nịch của bà Mỷ bên chiếc muôi sắt cán dài, và đôi bàn tay thoăn thoắt với những ngón chai sần của bà Nụ bên vỉ than hoa rực rỡ.
Mai ngồi ngay bên cạnh, cẩn thận mở cuốn sổ tay con, dùng bút bi ghi chép lại chính xác từng mốc thời gian mùa vụ, từng tên gọi nguyên bản bằng tiếng địa phương và điều kiện thời tiết thực tế để làm hệ thống tư liệu chú thích đối chiếu cho cuốn lịch.
Đến gần trưa, mưa ngớt hẳn. Lớp sương mù dày đặc bắt đầu tản dần về phía chân trời xa xôi, để lộ ra khoảng trời xanh ngắt và trong vắt trên đỉnh yên núi Sín Mây. Dòng người đổ về chợ phiên ẩm thực bắt đầu đông đúc, nhộn nhịp trở lại.
Đang ngồi phác thảo nốt mảng màu nước lót nền cho chảo thắng cố, Mai bỗng khựng tay lại khi nghe thấy một giọng nói quen thuộc cất lên từ phía lối đi rải đá dăm dẫn vào quầy.
— Ơ kìa! Chào hai cô em gái nhé! Không ngờ lại có duyên gặp nhau ở đất Sín Mây này sớm thế!
Nguyễn Quang Huy, trong chiếc áo khoác phao hàng hiệu màu cam đất nổi bật, tay cầm chiếc gậy chống leo núi bằng hợp kim sáng loáng và chiếc điện thoại gắn trên gimbal chống rung chuyên nghiệp, đang tươi cười rảo bước tiến lại gần quầy hàng. Huy nhìn thấy chảo thắng cố bốc khói của bà Mỷ, hai mắt anh ta sáng rực lên như bắt được vàng:
— Bác Mỷ ơi! Hôm nay em dẫn hẳn một nhóm khách sành ăn toàn dân chơi xe phân khối lớn lên ủng hộ quán bác đây! Bác có làm được cái mẹt tre xếp lòng ngựa thành hình bông hoa như hôm nọ em hướng dẫn không để em quay clip phát trực tiếp cho kênh ẩm thực của em? Đảm bảo sau buổi trưa nay quán bác nổi như cồn trên mạng luôn!
Bà Giàng Thị Mỷ vừa nhìn thấy bản mặt của Huy, nụ cười hiền hậu trên môi lập tức biến mất không còn một dấu vết. Bàn tay gân guốc của bà siết chặt lấy cán chiếc muôi sắt, các khớp ngón tay trắng bệch ra như muốn quăng thẳng chiếc muôi vào người gã thanh niên xảo quyệt.
Nhưng trước khi bà kịp cất tiếng mắng chửi, Mai đã chống hai tay xuống mặt bàn gỗ, đứng phắt dậy. Dù cổ chân phải vẫn còn đau nhói khiến bước đi của cô hơi tập tễnh, nhưng từng bước tiến lên của Mai dứt khoát và sắc bén như một lưỡi dao quắm. Cô bước thẳng ra mép sạp, đứng chặn ngay trước mặt Huy.
— Anh Huy, đứng lại đấy đã, — giọng Mai lạnh tanh, dõng dạc và vang lên rành rọt át cả tiếng ồn ào của khu chợ.
Huy ngớ người ra một nhịp, hạ chiếc gậy chống leo núi xuống, cười xòa vẻ gượng gạo:
— Kìa Mai, làm cái gì mà mặt mày căng thẳng như chuẩn bị đánh nhau thế em? Chuyện bao hạt giống ngô đỏ hôm qua ở bến xe Nậm Vài anh chỉ trêu đùa một tí thôi mà, việc gì phải để bụng...
— Chuyện bao hạt giống hôm qua để giải quyết sau, — Mai cắt ngang lời Huy không một chút kiêng nể. — Còn bây giờ, anh mở to mắt ra mà nhìn vào quầy của bác Mỷ và bác Nụ xem. Anh có biết sáng nay vì bài viết bịa đặt vô căn cứ của anh mà bao nhiêu lượt khách kéo đến đây làm loạn, đòi mẹt tre lót lá chuối, đòi rau dớn tím trái mùa, rồi chê bai xúc phạm đồ ăn của người ta không? Anh có biết bác Nụ vì tin lời xúi dại của anh mà treo cái biển sai tên, suýt nữa thì mất trắng cả khách quen trong bản, phải tính chuyện bỏ chợ Sín Mây chuyển sang Khau Lếch bán không?
Mặt Huy hơi biến sắc. Anh ta đảo mắt nhìn quanh quất, thấy mấy người khách đi cùng mình đang tò mò nhìn sang, bèn lúng túng biện bạch bằng giọng phân bua:
— Kìa... anh làm truyền thông du lịch, anh phải thêm thắt ngôn từ, bày biện góc máy cho nó có concept nghệ thuật thì người dưới xuôi người ta mới tò mò kéo lên đây chứ! Nhờ có bài viết của anh mà quán của bác Mỷ mới đông khách nườm nượp thế kia còn gì nữa...
— Đông khách ảo để kéo lên hành hạ người ta à?
Hải Yến lúc này cũng bước ra khỏi mép bạt, hai tay cầm cuốn sổ phác thảo vừa vẽ xong, đứng sóng đôi ngay bên cạnh Mai. Ánh mắt Yến nhìn thẳng vào gương mặt lúng túng của Huy, kiên định và không hề có một chút né tránh:
— Anh làm truyền thông mà anh tự tiện bịa đặt ra những thứ rau trái mùa không có thật, biến món thắng cố truyền thống phải ăn nóng để giữ ấm của đồng bào thành món mẹt nguội tanh nguội ngắt chỉ để phục vụ cho mấy bức ảnh sống ảo của anh? Anh gọi thứ đó là quảng bá ẩm thực vùng cao à? Đấy là lừa dối độc giả và đang trực tiếp phá hoại chén cơm của những người lao động chân chính nơi này!
Mấy người khách đi cùng đoàn phượt của Huy và bà con xung quanh khu chợ bắt đầu túm tụm lại xem. Nhìn thấy bà Mỷ quắc mắt cầm chiếc muôi sắt đứng sừng sững phía sau, lại nhìn vẻ mặt kiên quyết không nhượng bộ nửa bước của Mai và Yến, trán Huy bắt đầu rịn ra những giọt mồ hôi hột dù ngọn gió bấc trên đỉnh đèo vẫn đang thổi buốt giá.
— Thôi được rồi... thế hai cô em muốn anh phải làm thế nào bây giờ? — Huy hạ giọng, ngượng ngùng nói nhỏ chỉ đủ cho mấy người nghe thấy.
— Rút điện thoại ra ngay tại chỗ này, — Mai dằn từng tiếng một, sắc lạnh như một mệnh lệnh thép. — Mở bài viết ẩm thực Sín Mây của anh ra. Sửa lại toàn bộ thông tin sai lệch: thắng cố của bác Mỷ không có mẹt tre lót lá chuối, không có rau dớn trái mùa; bánh ngô của bác Nụ là bánh ngô nương nướng than hoa truyền thống, không có mật ong tuyết Shan hay phô mai kem béo gì hết! Ghi rõ ràng mùa vụ thu hoạch ngô và cách phục vụ thực tế của quầy hàng. Nếu anh không sửa đính chính công khai ngay tại phiên chợ này trước mặt bà con, tôi sẽ chụp ảnh toàn bộ hai quầy hàng thực tế, đối chiếu với từng lời bịa đặt trên mạng của anh và gửi thẳng cho ban quản lý du lịch huyện cùng các hội nhóm ẩm thực mà anh đang tìm cách kiếm tiền từ đó!
Huy cắn chặt môi, mặt đỏ bừng lên vì nhục nhã trước ánh mắt soi mói của đám đông xung quanh. Biết mình hoàn toàn đuối lý và không thể giở trò lươn lẹo trước sự cứng rắn của Mai và những bằng chứng rành rành trên cuốn sổ vẽ của Yến, anh ta đành bấm bụng móc chiếc điện thoại từ túi áo phao ra. Những ngón tay run rẩy gõ từng dòng chữ đính chính lại bài viết ngay trước sự giám sát chặt chẽ, không rời mắt của Mai.
Khi Huy cùng nhóm khách lủi thủi quay đầu rút lui vào dòng người đi chợ phiên đông đúc, không khí dưới mái bạt mới thực sự vỡ òa. Bà Mỷ vỗ mạnh vào vai Mai một cái thật kêu, bật ra tiếng cười ha hả vang động cả một góc chợ:
— Con bé này được! Cái miệng lưỡi của mày sắc bén y như con dao phát nương của người Mông tao! Đáng mặt người đi buôn chuyến chợ phiên!
Hai bên quầy hàng lại rộn rã tiếng cười nói chan hòa. Mùi bánh ngô nướng thơm lừng và mùi thắng cố đậm đà lại tiếp tục tỏa ra, ấm sực và chân thực giữa đất trời. Phiên chợ Sín Mây hôm ấy khép lại trong ánh nắng hanh hao trải dài khắp các sườn đèo, khi những dải mây mù cuối cùng đã tan hẳn về phía chân trời xa.
***
Tối hôm đó, tại căn phòng trọ nhỏ hẹp và ẩm thấp nằm ở rìa thị trấn Nậm Vài, tiếng gió rít qua những khe hở của cánh cửa gỗ vẫn đều đặn từng cơn buốt nhức.
Bàn chân phải của Mai đã được đắp một lớp lá thuốc rừng nghiền nát do chính tay bà Nụ hái cho lúc tan chợ, đang gác cẩn thận lên chiếc ba lô dã chiến để giảm sưng tấy. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn tuýp cũ, cô ngồi cặm cụi đối chiếu lại từng trang sổ sách thu mua nấm hương và ghi chép chi phí gửi hàng vào kho lạnh chiều hôm qua.
Bên chiếc bàn con cạnh ngọn đèn bàn vàng vọt, Hải Yến cẩn thận dùng điện thoại chụp lại bản phác thảo màu nước hoàn chỉnh vừa hoàn thành ở chợ Sín Mây. Bức tranh chân thực và sống động đến từng chi tiết: chảo thắng cố bốc khói ngùn ngụt trên nền than củi đỏ rực, chiếc muôi sắt cán dài vắt ngang miệng chảo ám muội than, những chiếc bát sắt tráng men mộc mạc bốc hơi nghi ngút; bên cạnh là vỉ than hoa của bà Nụ với những chiếc bánh ngô nương rám vàng giòn rụm. Phía dưới bức tranh, Yến cẩn thận nắn nót ghi lại toàn bộ phần chú giải chi tiết về tên gọi nguyên bản, xuất xứ của giống ngô nương trên đất dốc, chu kỳ mùa vụ của quả thảo quả và cách ăn giữ ấm truyền thống của đồng bào vùng cao.
Yến hít một hơi thật sâu, đính kèm tệp ảnh dung lượng cao cùng bảng ghi chú rồi bấm nút gửi email cho biên tập viên Vũ Minh An tại Hà Nội. Trong lồng ngực cô dâng lên một cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm lạ kỳ — cảm giác của một người nghệ sĩ lần đầu tiên dám vứt bỏ những lớp vỏ bọc hào nhoáng giả tạo để đối diện với sự thật trần trụi và tôn nghiêm của cuộc sống lao động.
Cô tắt máy tính bảng, rót một cốc nước ấm mang lại cho Mai:
— Mai này, chân cậu đỡ buốt hơn chưa?
Mai đón lấy cốc nước ấm, ngẩng đầu lên nhìn Yến, ánh mắt đã dịu lại rất nhiều so với hai ngày căng thẳng trước đó:
— Đỡ nhiều rồi, thuốc lá rừng của bà Nụ công nhận nhạy thật. Tranh phác thảo đã gửi đi Hà Nội rồi à?
— Ừ, tớ vừa gửi cho anh An xong. Lần này tớ ghi chú kỹ lắm, từng mùa vụ một, không sót một chữ nào mà hai bác kể lại, — Yến cười, ánh mắt lấp lánh niềm hy vọng.
"Ting."
Tiếng chuông báo tin nhắn vang lên phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng trọ.
Màn hình chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn sáng bừng lên trong bóng tối mờ mờ. Hải Yến vội vàng bước lại, cầm máy lên. Tin nhắn phản hồi từ biên tập viên Vũ Minh An hiện rõ từng dòng, ngắn gọn, lạnh lùng và trút thẳng một gáo nước lạnh buốt vào sự háo hức của cô:
*"Trang vẽ đẹp, màu khói và ánh lửa rất có chất. Nhưng phần chữ mùa vụ và chú giải nguồn gốc quá rườm rà, choán hết một phần ba diện tích trang lịch. Bên phát hành và đối tác thương mại muốn bỏ bớt toàn bộ phần chữ này để chừa chỗ quảng bá nhãn hàng và bộ nhận diện thương hiệu. Em sửa lại bố cục, xóa bớt khung ghi chú đi nhé."*
Yến đứng sững sờ giữa phòng, ánh sáng màn hình điện thoại hắt lên gương mặt cô tái nhợt, trong khi gió bấc ngoài ô cửa sổ vẫn rít lên từng hồi buốt lạnh.