Hẹn Nhau Ở Phiên Chợ TớiCh.2 / 12
Chapter 2

Túi hạt giống ở bến xe Nậm Vài

Bến xe Nậm Vài bốc lên một thứ mùi đặc quánh và ngột ngạt: mùi khói dầu diesel khét lẹt quyện chặt với mùi phân trâu vương trên vệt bánh xe, mùi bã ngô ủ men chua nồng từ xưởng rượu thủ công sát vách và mùi đất ẩm mốc của những ngày mưa dầm dề chưa ráo mặt.

Mặt sân bến vốn được rải lớp đá dăm cấp phối lu lèn sơ sài, qua cả tuần mưa phùn ri rỉ đã bị bánh xe tải hạng nặng cày xới nát bấy, biến thành một bãi lầy nhớp nháp với những vũng nước đục ngầu, đỏ quạch như nước vôi tôi trộn lẫn bùn đất bazan. Cứ cách dăm phút, một chiếc xe tải thùng hoán cải lại gầm rú gắt gỏng lùi đuôi vào mép bãi để hạ hàng, cặp bánh đôi to bản chém sâu xuống rãnh bùn nhão, bắn tung những vệt vữa lầy sền sệt lên dãy hàng rào tre đực xiêu vẹo của mấy hàng quán cóc dựng tạm ven lộ.

Trần Mai đứng nép mình bên cạnh cây cột bê tông loang lổ rêu mốc, nơi những mảng vữa trát đã bong tróc trơ cả khung sắt han gỉ của mái hiên nhà chờ. Hai bàn tay cô thọc sâu vào túi chiếc áo khoác gió hai lớp lấm tấm bụi đường, nhưng những đầu ngón tay vẫn lạnh buốt vì hơi ẩm quấn riết lấy từng thớ vải. Cứ chừng hai ba phút, Mai lại rút chiếc điện thoại thông minh cũ kỹ có mép kính nứt chân chim ra khỏi túi, gạt ngón tay mở màn hình chỉ để nhìn chằm chằm vào những con số hiển thị thời gian.

Mười một giờ hai mươi lăm phút.

Chiếc xe tải hai tấn chở nông sản từ xã trên đỉnh dốc đổ xuống đã trễ hẹn gần hai tiếng đồng hồ. Lúc chín giờ rưỡi sáng, khi Mai đứng chờ dưới chân dốc Nậm Vài thì người tài xế quen của Hợp tác xã mới chật vật bắt được sóng điện thoại, hổn hển báo tin một vạt ta-luy dương ở đoạn dốc Bản Cầm vừa sạt lở dữ dội sau trận mưa như trút đêm qua. Đất đỏ nhão nhoét cùng hàng chục khối đá hộc từ trên sườn núi tràn xuống, bịt kín nửa mặt đường nhựa độc đạo. Chiếc máy xúc bánh xích của hạt giao thông công chính huyện phải hì hục gạt từng gầu đất, dọn tạm một vệt hẹp trơ đá răm để xe thô sơ và xe tải nhỏ nhích từng mét qua khe núi.

Mai nghiến chặt quai hàm, hai hàm răng siết lại thành một tiếng ken két khẽ khàng trong vòm miệng. Gót đôi giày ba-ta vải thô bám đầy vệt đất đỏ của cô giẫm lạo xạo trên nền đá vụn trơn trượt. Cô đi đi lại lại trong khoảng không gian chật chội chưa đầy bốn bước chân của mái hiên, ánh mắt sốt ruột không ngừng dán chặt về phía khúc cua tay áo ngoằn ngoèo mờ mịt sương muối phía chân đèo.

Nỗi lo âu đang thiêu đốt ruột gan Mai không đơn thuần nằm ở chuyến xe tải đang kẹt cứng trên vách đá. Cách chỗ cô đứng chừng ba mươi mét, chiếc xe khách hai mươi chín chỗ sơn màu đỏ đun chạy tuyến cố định từ Nậm Vài về bến xe trung tâm dưới xuôi đã nổ máy ầm ĩ từ mười phút trước. Khói dầu xả ra mù mịt từ ống xả gỉ sét ngoằn ngoèo dưới gầm xe, rung lên bần bật theo từng nhịp nhồi ga đầy sốt ruột của gã tài xế đang liên tục thò đầu ra ngoài cửa sổ để hối thúc hành khách.

Ngay sát chân cột bê tông nhà chờ, đặt nép sát mép chân Mai, là một thùng các-tông lớn dán chằng chịt băng dính bản rộng màu vàng đục. Bên trong thùng hàng ấy là ba mươi cân nấm hương khô nương — thứ nấm thơm nức mũi, cánh dày cộm, chân ngắn và sần sùi — mà Mai đã phải lặn lội suốt hai tuần lễ qua bốn chòm bản heo hút của xã Pả Lùng để gom góp từng gùi nhỏ. Toàn bộ số nấm ấy được mua bằng tiền túi cá nhân do Mai chắt bóp ứng trước cho các hộ dân, gom đủ khối lượng để kịp gửi về cho mối phân phối quen dưới thành phố. Mẹ cô ở dưới xuôi đang ngồi trông từng giờ từng phút để đón chuyến hàng trưa nay; bà cần kịp phân loại, cắt chân nấm và đóng gói hút chân không để kịp giao cho khách đặt ăn rằm vào sáng sớm ngày mai.

Gửi xe khách tuyến này không chỉ giúp tiết kiệm được khoản cước phí đắt đỏ gấp ba lần so với bưu cục chuyển phát nhanh của huyện, mà điều sống còn hơn cả là xe sẽ chạy thẳng một mạch trong ngày, giúp những cánh nấm hương giòn rụm không bị ẩm ướt, hấp hơi bởi cái khí hậu nồm ẩm tai quái đang bao trùm khắp các thung lũng miền núi.

Đây là chuyến xe khách duy nhất trong buổi trưa chạy thẳng về bến xe phía Nam. Nếu lỡ mất chuyến mười một giờ bốn mươi lăm phút này, toàn bộ thùng nấm sẽ phải nằm vất vưởng lại góc bến ẩm ướt này đến tận sáng ngày hôm sau. Trong cái thời tiết mưa bụi mịt mù rỉ rả không ngớt, chỉ cần qua một đêm, nấm sẽ hồi ẩm, mất đi mùi thơm nương đặc trưng, chân nấm sẽ thâm sì và nguy cơ mốc trắng lan rộng là điều nắm chắc trong tay. Khi đó, không chỉ tiền vốn ứng trước trôi tuột theo dòng nước lũ, mà tiền đền bù hợp đồng cho mối buôn dưới xuôi cũng đủ sức bẻ gãy toàn bộ nguồn vốn xoay vòng ít ỏi mà Mai đang chắt chiu từng đồng.

— Mai này, cậu bước sang bên này nhìn thử xem, góc bóng đổ từ mép mái tôn gỉ xuống cái nia tre đằng này nhìn có chiều sâu lạ lùng lắm, — tiếng Hải Yến bất chợt gọi với sang từ bậc thềm ẩm ướt của quán nước chè chén kế bên.

Yến ngồi thu lu trên một chiếc ghế nhựa thấp tè màu xanh đã bạc phếch, hai đầu gối co cao lên ngực để làm điểm tựa vững chãi cho cuốn sổ phác thảo khổ A4 bìa cứng. Chiếc mũ len sợi thô màu mù tạt kéo sụp xuống tận mí mắt, để lộ ra những lọn tóc mai dính bết vào hai bên thái dương. Các ngón tay thon dài của Yến lấm lem những vệt chì than 4B đen sì và những vệt vữa màu nước màu xám tro, xanh rêu chưa kịp khô.

Trong khi Mai đứng ngồi không yên, từng đường gân trên trán giật lên vì áp lực thời gian, thì Yến dường như lại đang lững lờ trôi trong một chiều không gian hoàn toàn cách biệt. Ánh mắt cô chăm chú quan sát người đàn bà Mông bán bánh khảo ngồi co ro bên mẹt tre, săm soi từng vệt bùn bết cứng trên vành bánh xe tải, và theo dõi từng làn khói trắng mỏng tang bốc lên từ chiếc chõ ngô luộc nghi ngút của quán nước. Đối với Yến, sự chậm trễ của chuyến xe hay cảnh lầy lội của bến bãi vùng cao không phải là một trở ngại thực tế; nó đơn thuần chỉ là một khoảng lặng ngẫu nhiên được kéo dài ra, cho phép cô kịp nhồi nhét thêm vài nét ký họa thực địa sống động vào tập tài liệu minh họa cho dự án bộ lịch ẩm thực vùng cao mà Vũ Minh An đang liên tục nhắn tin giục giã từng tuần.

Mai liếc mắt nhìn bạn, lồng ngực thít chặt lại trong một tiếng thở dài kìm nén:

— Cậu cất ngay tập sổ vẽ với cọ vào ba lô đi, Yến. Xe tải sắp sửa vượt qua đoạn sạt lở xuống tới nơi rồi, còn xe khách dưới xuôi thì chỉ mười lăm phút nữa là khóa chặt cốp xe đấy. Lát nữa xe tải vừa cập bãi là tớ với cậu phải chia nhau chạy việc ngay lập tức, một người đỡ hàng, một người kiểm đếm, không có thời gian đứng ngắm nghía hay vẽ vời gì ở đây đâu.

Yến chỉ đáp lại bằng một tiếng “ừ” lơ đãng đến mức vô hồn, đầu ngón tay trỏ của cô vẫn miệt mài miết nhẹ một đường than chì lên mép giấy để tạo độ chuyển cho mảng tường tôn loang lổ vết nước mưa.

Đúng lúc ấy, một người đàn ông mặc chiếc áo khoác giả da màu đen bóng bẩy, cổ quấn chiếc khăn rằn len dày cộp bước tà tà ra khỏi quán phở sáng gần đó. Tay gã cầm theo một chiếc cốc nhựa chứa cà phê hòa tan nghi ngút khói, mùi hương liệu nồng nặc át cả vị ngô ủ men xung quanh. Đó là Nguyễn Quang Huy, một tay đầu mối chuyên gom hàng nông sản có tiếng ở khu vực thị trấn huyện, người mà cánh lái xe buôn chuyến lẫn dân cửu vạn ở cái bến xe Nậm Vài này chẳng ai còn lạ mặt. Huy trạc ngoài ba mươi tuổi, dáng người đậm đà, đôi mắt một mí ti hí nhưng cực kỳ linh hoạt, khuôn miệng lúc nào cũng nở sẵn nụ cười xởi lởi, thân thiện, song mỗi khi ánh mắt gã quét qua những sọt hàng, thùng hàng vừa hạ tải thì tia nhìn ấy lại lạnh tanh và sắc lẹm chẳng khác nào một lưỡi dao cạo.

— Kìa, cô Mai! Vẫn chịu khó đứng chôn chân ở góc cột này ngóng chuyến xe của lão Vàng A Sính đấy à? — Huy bước lại gần mép hiên, cất giọng đon đả pha lẫn chút châm chọc quen thuộc của phường buôn bán sành sỏi lọc lõi. — Tôi vừa mới gọi điện cho thằng cu lái phụ trên đỉnh đèo xong, nó bảo máy xúc bánh xích cào xong một góc rồi, chiếc xe tải chở hàng đang bò như rùa qua đoạn rãnh đá, chắc dăm bảy phút nữa là bổ nhào xuống tới cái bến lầy này thôi. Cơ mà này, tôi nhìn cái xe khách đi tỉnh đằng kia người ta đang thu dọn bậc lên xuống rồi đấy nhé. Cô em không nhanh chân mang cái thùng các-tông nấm hương kia sang gửi là lát nữa xe nó lăn bánh thì nằm lại bến đến tận sáng mai, nấm mốc hết cho mà xem.

Mai quay nghiêng người lại, cố giữ cho nét mặt của mình phẳng lặng và chuyên nghiệp theo đúng thói quen của người làm nghề giao thương:

— Cảm ơn anh Huy đã báo tin. Việc giờ giấc của xe khách tôi tự biết cách canh chừng được.

Huy nhấp một ngụm cà phê, ánh mắt đảo một vòng từ thùng nấm hương dán băng dính vàng dưới chân Mai sang cuốn sổ ký họa dở dang của Hải Yến, rồi gã bật ra một tràng cười khà khà đầy vẻ bề trên:

— Nghe mấy tay tài xế đồn là chuyến xe trưa nay lão Vàng A Sính đích thân áp tải xuống một bao tải hạt giống ngô nương đỏ cổ Tả Reng đúng không? Tôi lạ gì cái tính của lão Sính, lão ôm khư khư cái giống ngô ấy mấy năm nay như ôm của báu, chỉ chia sẻ quanh quẩn cho mấy hộ trên xã rẻo cao. Này cô Mai, tôi nói thật lòng, việc gì cô phải tự làm khổ cái thân mình như thế? Nhìn xem, bến bãi thì bùn lầy ngập mắt cá chân, xe khách thì sắp sửa xả khói chạy mất. Lát nữa xe tải vừa trờ tới mép sân này, cô nhượng lại đứt đuôi toàn bộ cái bao hạt giống ấy cho tôi. Tôi trả hẳn cho cô giá gấp rưỡi so với giá lão Sính đưa ra, tiền mặt sòng phẳng đếm trao tay ngay tại đuôi xe tải, không thiếu một nghìn. Cô vừa nhẹ nợ khâu trung chuyển, vừa cầm tiền tươi thóc thật đút túi, lại vừa rảnh tay ôm cái thùng nấm hương kia tót lên xe khách mà về xuôi sớm cho ấm nước. Một công đôi ba việc tiện lợi, việc gì phải đứng đây chịu rét rồi chia chác từng bơ ngô cho mệt xác ra?

Bàn tay Mai đang đút trong túi áo khẽ siết chặt lại. Ánh mắt cô đanh lại, chiếu thẳng vào vẻ mặt tự mãn đến mức nhờn nhợt của gã buôn thị trấn:

— Anh Huy nhầm hàng rồi đấy. Bao hạt giống mà bác Sính gửi xuống chuyến xe này không phải là loại hàng thương phẩm mang ra bến xe để đem đấu giá hay bán sang tay kiếm lời.

Huy cười khẩy, lắc lắc cái đầu bóng mượt như thể đang nghe một đứa trẻ con nói chuyện viển vông, ngây ngô giữa chốn chợ đời:

— Hàng hóa gì mà chẳng là hàng hóa hả cô em! Nông sản một khi đã bốc lên xe đưa ra khỏi cửa rừng, qua bàn tay vận chuyển bốc dỡ thì quy ra đều là tiền bạc cả thôi. Cô làm ăn ở đây mà không chịu cập nhật xu hướng thị trường gì cả. Dạo gần đây dân sành ăn dưới thành phố chuộng mấy cái giống ngô đỏ, nếp cẩm bản địa này ghê gớm lắm. Hôm nọ tôi viết mấy bài về nếp nương, thắng cố với nông sản cổ truyền đăng lên mạng xã hội, người ta vào xem rầm rầm, nút thích với bình luận nhảy tanh tách, cả triệu lượt xem chứ ít ỏi gì! Mấy chuỗi nhà hàng đặc sản trên thị trấn với đám khách đi tour trải nghiệm đang lùng sục mua bằng được giống ngô đỏ Tả Reng này về gieo quanh homestay làm cảnh, rồi bẻ bắp non nấu chè phục vụ khách chụp ảnh check-in sống ảo. Tôi mà thu gom trọn gói cả lô này về, chế biến đóng túi chân không dán cái nhãn “đặc sản nương đá di sản”, bán giá gấp ba, gấp bốn lần ngoài chợ mà thiên hạ vẫn tranh nhau đặt mua ầm ầm kìa. Lão Sính già cả rồi, tính tình gàn dở bảo thủ không nói làm gì, chứ cô em trẻ trung, nhanh nhẹn làm buôn chuyến thế này mà không biết thức thời nắm lấy cơ hội à?

— Thức thời theo cái kiểu của anh là làm đứt bữa ăn, đứt mùa màng của người khác đấy, anh Huy ạ, — giọng Mai lạnh tanh, từng âm sắc thốt ra dứt khoát và rắn đanh như đá hộc rơi xuống suối. — Bao hạt giống này là phần bác Sính đã nhận lời từ mùa trước để dành riêng cho ba hộ dân ở bản Khe Đăm bên kia con suối lớn. Năm ngoái trên đấy bị một trận lũ ống quét qua lúc nửa đêm, vùi lấp mất sạch các vạt nương giống dự trữ, nếu không có ngô đỏ này để gieo dặm cho vụ này thì ba nhà họ lấy cái gì tra hạt cho kịp con nước tuần sau? Người ta đã gọi điện nhờ tôi đón xe ở bến này để chuyển tiếp sang xe ôm đưa về tận bản cho họ ngay trong ngày. Tiền cước vận chuyển bác Sính đã trả đủ, tôi chỉ nhận trách nhiệm trung chuyển đúng người, đúng hẹn. Hạt ngô này là để duy trì sự sống của cả một bản làng, không phải thứ đồ chơi để anh gom về quay phim làm nội dung câu khách trên mạng hay đóng gói bán cho người ta ngắm cảnh chụp hình.

Nụ cười nham nhở trên môi Huy bỗng sượng lại, khóe miệng gã giật giật. Gã tặc lưỡi một tiếng thật to, nhún đôi vai bọc trong lớp áo da giả vẻ thương hại cho sự cứng đầu của Mai:

— Gớm thật, cô em cứ làm như nghiêm trọng lắm, chuyện bé xé ra to! Thiếu giống thì bảo mấy nhà dưới Khe Đăm ấy cuốc bộ ra cửa hàng vật tư nông nghiệp ngoài chợ huyện mà mua mấy bao ngô lai F1 của công ty giống cây trồng, gieo xuống đất bắp nào bắp nấy to tổ bố, hạt vàng óng, năng suất tính bằng tấn gấp đôi cái giống ngô nương còi cọc ấy chứ đùa à? Việc gì mà cứ phải khư khư ôm lấy cái giống ngô cổ năng suất thấp tè lè ấy? Tiền cầm về tay thì không muốn, lại cứ thích vác đá ghè chân, ôm rơm cho rặm bụng.

— Giống ngô lai F1 của công ty anh đem trồng thử lên mấy hốc đá tai mèo sắc nhọn vùng Khe Đăm xem nó có sống nổi qua ba tuần sương muối buốt giá không, hay là thối rễ chết rụi từ lúc mới nhú mầm? Anh buôn bán quanh quẩn ở mấy cái kho hàng ấm êm ngoài thị trấn thì anh biết cái gì về khí hậu với thổ nhưỡng của đất Khe Đăm? — Mai cắt ngang lời gã không một chút kiêng nể. — Anh có tiền thì đi tìm mối khác mà gom hàng. Chuyện giao nhận ở bến xe này không phiền đến anh phải tính toán hộ.

Huy hừ một tiếng cộc cằn trong cổ họng, mặt gã sầm lại. Gã vứt toẹt mẩu tàn thuốc lá đang hút dở xuống vũng bùn đục ngầu dưới chân, nghiến mũi giày da bóng lộn lên đó rồi quay ngoắt người bỏ đi, miệng lẩm bẩm mấy câu chửi thề bực dọc về cái thứ dân buôn chuyến “nhãi ranh, cứng đầu cứng cổ, không biết đường làm giàu”.

Đúng lúc căng thẳng vừa lắng xuống thì một hồi còi hơi chói tai vang lên từ khúc quanh dẫn vào cổng bến. Chiếc xe tải hai tấn sơn màu xanh bộ đội, toàn bộ cabin và thùng xe phủ một lớp bùn đất đỏ dày cộp như thể vừa được trục vớt từ dưới lòng suối lên, đang lặc lè chồm qua gờ giảm tốc để bò vào bãi. Tấm bạt dứa màu xanh cam che trên thùng xe bị cành cây rừng cào rách tơi tả vài vệt, nước mưa đọng trũng trên mép bạt tạt tràn xuống sàn gỗ rào rào khi chiếc xe phanh kít lại, rung lên bần bật giữa khoảng sân trống.

Cánh cửa bên phụ bật mở tanh tách, Vàng A Sính bước xuống.

Người đàn ông Mông trạc ngoài năm mươi tuổi có vóc dáng thấp đậm, đôi vai bè ra và bắp chân săn chắc như thân một cây nghiến mọc trên vách đá. Ông mặc chiếc áo chàm dệt tay truyền thống đã bạc phếch màu ở hai bên bả vai, bên dưới là chiếc quần thụng gấp nếp gọn gàng nhét sâu vào đôi ủng cao su màu đen bết đầy đất đỏ quạch. Đôi mắt sâu hoắm, đuôi mắt chằng chịt những nếp nhăn gió sương của Sính quét nhanh một lượt khắp cái bến xe ồn ào, hỗn tạp và đầy mùi khói bụi, dừng lại vài giây ở đống hàng hóa buộc chặt trên sàn xe rồi ông mới bước vòng ra phía sau thành thùng.

Mai thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, mọi nỗi ức chế vừa nãy tạm thời lắng xuống. Cô vội vã rảo bước qua những vũng nước lầy lội để lại gần:

— Bác Sính! Đoạn trên đèo sạt lở dữ dội lắm hả bác? Cháu đứng dưới này ngóng mà ruột gan nóng như cào!

Sính khẽ gật đầu, đưa cánh tay gầy guộc nổi rõ những đường gân xanh chùi vệt bùn khô dính trên gò má sạm nắng. Giọng ông trầm đục, nhát gừng theo cách nói chuyện kiệm lời quen thuộc:

— Cả một mảng ta-luy dương tụt xuống, đất đá lấp kín rãnh thoát nước rồi tràn ra giữa tim đường. Xe phải đứng chôn chân chờ máy xúc dọn xong mấy tảng đá hộc to bằng cái cối xay mới dám lách bánh qua. May mà bánh xe không trượt xuống mép vực.

Vừa dứt lời, Sính với hai cánh tay rắn rỏi lên thùng xe tải, cẩn thận kéo ra một chiếc bao tải gai thô ráp. Chiếc bao chỉ nhỏ bằng một nửa bao tải đựng gạo năm mươi cân thông thường, nhưng phần miệng bao được túm chặt bằng những vòng dây đay bện xoắn kép cực kỳ chắc chắn. Không những thế, miệng bao còn được khâu dằn cẩn thận bằng một đường chỉ sợi lanh nhuộm chàm to bản, các mũi khâu đều tăm tắp để tránh tuyệt đối nguy cơ hạt bị bục ra ngoài khi xe rung lắc trên những đoạn đường đèo lởm chởm đá hộc. Sính ôm chiếc bao tải gai xuống bằng cả hai tay, động tác của ông chậm rãi, nâng niu và cẩn trọng hệt như đang bế trên tay một đứa trẻ sơ sinh, rồi ông nhẹ nhàng đặt nó lên mặt một chiếc hòm gỗ đựng phụ tùng khô ráo kê sát góc bến xe.

Nguyễn Quang Huy đứng trong quán nước chè thấy chiếc xe tải đã tới bèn lật đật bước xăm xăm lại gần, đôi mắt ti hí dán chặt vào chiếc bao tải gai, bàn tay gã đã móc sẵn chiếc ví da cá sấu dày cộp từ túi quần sau:

— Bác Sính ơi! Chuyến này bác đích thân mang ngô đỏ Tả Reng xuống thật đấy à? Bác để lại toàn bộ cái bao này cho tôi đi, tôi trả bác sáu chục nghìn một cân, gấp ba lần giá ngô thương phẩm ngoài chợ phiên thị trấn đấy nhé! Tiền tươi đây này, đếm đủ trao tay ngay lập tức, bác không phải mất công gửi xe ôm chuyển đi đâu cho nhọc người!

Vàng A Sính chậm rãi ngước mắt lên nhìn Huy. Ánh nhìn của người đàn ông vùng cao sắc lạnh, sâu thẳm và dứt khoát đến mức khiến gã buôn sành sỏi ở thị trấn phải bất giác chùn chân lùi lại nửa bước. Sính không thèm hé môi đáp lại Huy lấy nửa lời. Ông quay hẳn người sang phía Mai, đặt bàn tay chai sạn với những khớp ngón tay to bè lên trên nút thắt của chiếc bao tải:

— Mai này. Đọc lại cho tôi nghe tên của ba nhà nhận ngô. Cả số điện thoại của người ta nữa, đọc cho rõ ràng.

Mai nhanh chóng rút cuốn sổ tay bọc bìa da nhỏ gài ở mép túi áo khoác gió ra, giở đúng trang đã ghi chú cẩn thận từ hôm trước, đọc rành rọt từng chữ:

— Nhà anh Vàng A Chư, nhà ông Thào Seo Lử, với nhà cô Giàng Thị Dua ở bản Khe Đăm. Người đại diện đứng ra nhận chung chuyến này là anh Chư, ba số cuối điện thoại là bảy hai chín. Anh Chư hẹn trưa nay sẽ chạy xe máy ra đứng đón ở ngã ba bến đò Nậm Vài.

Sính chăm chú lắng nghe, đối chiếu từng chi tiết trong đầu rồi mới khẽ gật đầu, những đường nét căng thẳng trên khuôn mặt khắc khổ của ông giãn ra đôi chút. Ông rút con dao nhíp nhỏ có cán bọc sừng dê gài ở thắt lưng ra, nhưng ông không hề cắt đứt sợi dây đay mà chỉ tỉ mẩn nới lỏng một nút rút đã được thắt rất khéo léo từ trước.

Huy đứng trơ trọi bên cạnh, thấy bản thân bị phớt lờ hoàn toàn bèn bực dọc nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh nước bùn:

— Đúng là đồ vẽ chuyện! Bán cho ai mà chẳng thu về tiền, bày đặt mật khẩu với người nhận làm như hàng quốc cấm! Cứ việc ôm nhau lên nương đá mà nhặt tiền lẻ nhé lão già lẩm cẩm!

Nói đoạn, Huy hậm hực quay ngoắt gót chân bỏ tọt vào quán nước, móc chiếc điện thoại thông minh màn hình lớn ra lướt tanh tách để trút cơn giận dữ bị bẽ mặt.

Sính nhìn theo bóng lưng của Huy, buông ra một tiếng thở dài nặng trịch như đá tảng. Ông quay sang nhìn Mai, giọng nói chùng hẳn xuống, chan chứa nỗi âu lo trĩu nặng:

— Năm nay đất Tả Reng mất mùa ngô nặng nề lắm, cô Mai à. Trận mưa đá hồi cuối tháng tư quét rạp mất hơn nửa thung lũng nương rẫy, rồi tiếp sau đó là đợt nắng hạn kéo dài cả tháng trời làm đất nứt toác. Lượng hạt giống mà gia đình tôi cùng mấy hộ trên ấy cố công giữ lại được trong vụ này eo hẹp đến thắt ruột. Cả cái bao này chỉ vỏn vẹn hai mươi cân thôi, chia đều cho ba nhà dưới Khe Đăm thì mỗi nhà nhận chưa đầy bảy cân, vừa đủ để tra dặm vào mấy hốc đá nương chính cho kịp thời vụ chứ chẳng thừa ra lấy một bơ nào. Nếu chuyến này mà sơ sẩy làm ẩm mốc hay thất lạc mất giống, thì sang năm cả vùng rẻo cao này chẳng còn lấy một hạt ngô đỏ nguyên chủng mà nhân ra nữa đâu.

Mai gật đầu đồng cảm sâu sắc, ánh mắt cô nhìn bao tải ngô với một sự kính cẩn tự nhiên:

— Cháu hiểu lòng bác mà. Cháu đã liên lạc trước với anh Chư rồi, anh ấy đang sốt ruột đứng chờ ở ngã ba bến đò, bao hàng này vừa chuyển sang xe máy là anh ấy sẽ chở thẳng một mạch về bản để các nhà chia nhau làm đất, tra hạt ngay trong buổi chiều nay.

Trong lúc Mai và ông Sính đang cúi người kiểm tra lại chiếc thẻ bìa các-tông ghi số cân kẹp ở quai bao, Hải Yến đã lẳng lặng rời khỏi quán nước chè và bước lại gần mép hòm gỗ từ lúc nào không hay.

Đôi mắt nghệ sĩ của Yến ngay lập tức bị hút chặt vào chiếc bao tải gai thô mộc. Chất vải gai dệt thủ công có màu nâu xám nhạt, xù xì những sợi tơ thô ráp, bạc màu vì dãi dầu sương nắng, nhưng điểm xuyết trên nền bao thô kệch ấy lại là những đường chỉ thêu hoa văn hình chữ thập và răng cưa bằng sợi lanh nhuộm chàm cổ truyền — dấu hiệu đánh dấu gia tộc và nguồn giống riêng biệt của những người giữ hạt đất Tả Reng. Và khoảnh khắc ông Sính hé mở miệng bao tải để luồn tay vào kiểm tra độ khô ráo của lớp hạt bên trong, Yến nhìn thấy những hạt ngô nương trào nhẹ lên mép vải.

Đó hoàn toàn không phải là màu vàng nhạt hay vàng cam nhàn nhạt của thứ ngô lai công nghiệp đại trà mà cô vẫn thường thấy bày bán la liệt ở các khu chợ vùng đồng bằng. Những hạt ngô nương cổ Tả Reng khoác lên mình một sắc đỏ thẫm kỳ lạ — thứ màu đỏ trầm mặc, sâu thẳm và bóng bẩy như những viên đá mã não thô vừa được vớt lên từ đáy suối lạnh. Hạt nào hạt nấy mẩy tròn, căng mọng, rắn đanh và cứng cáp như sỏi đá. Sự tương phản thị giác gay gắt giữa sắc đỏ thẫm mê hoặc của ngô, màu xanh chàm sâu thẳm của sợi chỉ lanh và chất thô ráp, mộc mạc của thớ bao gai đã tạo nên một bố cục màu sắc có sức lay động thị giác mãnh liệt, nguyên sơ và đậm đặc tính thẩm mỹ bản địa.

Lồng ngực Yến phập phồng, cô hít vào một hơi thật sâu. Tư duy của một người từng có nhiều năm làm công việc thiết kế bao bì thương phẩm và minh họa sách nghệ thuật trong cô bùng cháy lên dữ dội. Đây chính là thứ chất liệu thị giác đắt giá mà cô đang tìm kiếm đỏ mắt suốt cả tuần qua! Đây chính là hình ảnh biểu tượng trung tâm mà Vũ Minh An đã liên tục nhắn tin đòi hỏi: một góc nhìn cận cảnh, sang trọng, mang đậm hơi thở "di sản ẩm thực vùng cao" để đưa lên trang bìa của tháng Mười — tháng của mùa gieo hạt và thu hoạch trong bộ lịch cao cấp sắp tới!

— Trời đất ơi, màu sắc tuyệt vời quá! — Yến thốt lên khe khẽ, hai mắt rực sáng lên đầy phấn khích. Cô vội vã rút hộp bút chì than và ống cọ tỉa ra khỏi túi xách vải bố. — Bác ơi, ngô này màu đỏ tự nhiên như thế này thật đấy ạ? Bác làm ơn cho cháu xin đúng vài phút thôi! Bác đổ giúp cháu một vốc nhỏ hạt này ra cái nia đan đằng quán nước kia được không ạ? Cháu chỉ cần xếp lại góc bao tải gai, rải vài chục hạt ngô đỏ ra ngoài mặt nan tre để bắt ánh sáng tự nhiên phác thảo thật nhanh một bức vẽ thôi! Năm phút thôi bác ơi, cháu thề là chỉ đúng năm phút đồng hồ thôi!

Vàng A Sính ngẩn người ra, hai bàn tay thô ráp của ông vẫn ghì chặt lấy mép bao tải:

— Không được đâu cô bé à. Hạt giống này người ta quý như con ngươi mắt mình, đếm từng bơ một để chia nhau, đổ ra cái nia bụi bặm ấy gió thổi bay bụi bẩn bám vào, rồi lỡ rơi vãi xuống đất bùn thì phí phạm lắm. Hơn nữa, phong tục người Mông giữ giống kiêng kỵ việc để người lạ xới lộn xộn hạt lên trước khi tra xuống hốc đá.

— Cháu hứa là không làm rơi rớt một hạt nào đâu mà bác! Cháu chỉ xin chụp vài kiểu ảnh tư liệu và ký họa thật nhanh sắc đỏ của hạt lên giấy vẽ thôi! Bác xem này, tranh của cháu vẽ đẹp và chi tiết lắm, cháu vẽ xong đưa vào bộ lịch là người dưới xuôi sẽ biết đến giống ngô đỏ quý giá của bác nhiều hơn, bộ lịch này xuất bản hàng nghìn cuốn dưới Hà Nội cơ mà bác! — Yến cuống quýt nài nỉ, giọng nói dồn dập đầy vẻ van lơn, bàn tay cô đã nhanh nhảu với lấy chiếc nia tre cũ kỹ kê bên quầy bán bánh khảo gần đó đặt ụp lên mặt chiếc hòm gỗ.

Mai đang kiểm tra lại dây chằng, vừa quay người lại nhìn thấy cảnh tượng đó thì tim cô thắt lại một nhịp, mồ hôi lạnh toát ra sau gáy. Cô giật mình liếc nhìn mặt đồng hồ: mười một giờ ba mươi lăm phút.

— Yến! Cậu đang làm cái trò gì thế hả? Dừng tay lại ngay lập tức! — Mai quát khẽ, giọng căng thẳng và sắc nhọn như dao cạo. — Không có bày vẽ, nia nheo gì ở đây hết! Xe khách đằng kia tài xế đang đạp ga bấm còi giục ầm ĩ rồi kìa! Thùng nấm hương của tớ còn chưa kịp vần sang để cân đo và trả tiền cước cho phụ xe đâu!

— Mai ơi, cậu chờ tớ đúng năm phút thôi mà! — Yến khẩn khoản quay lại nhìn bạn, ánh mắt dán chặt vào những hạt ngô đỏ rực rỡ như bị thôi miên. — Bố cục này hiếm có và đắt giá vô cùng, Mai ơi! Cậu không nhìn thấy cái màu đỏ mã não này khi đặt cạnh đường chỉ chàm và nếp bao gai nó sang trọng và có chiều sâu thế nào à? Đây là linh hồn của cả trang lịch nông sản mùa gieo hạt, tớ đi suốt cả chuyến này chỉ để tìm một khoảnh khắc thị giác như thế này thôi, tớ không thể bỏ lỡ nó được! Cậu chạy sang bảo phụ xe người ta nể tình chờ thêm vài ba phút đi, xe khách vùng cao này người ta thiếu gì lúc trễ năm mười phút để chờ khách cơ chứ!

— Đây hoàn toàn không phải là chuyện năm hay mười phút! — Mai bực tức gắt lên thành tiếng, nhưng Yến đã nhanh tay đỡ lấy mép bao tải gai, hướng ánh mắt van nài khẩn thiết về phía ông Sính. Người đàn ông Mông thật thà, chất phác, cả đời sống trên nương rẫy vốn không quen đối diện với sự nài ép quyết liệt của phụ nữ thành thị, đành lúng túng buông lỏng tay ra một chút.

Một vốc hạt ngô đỏ thẫm trút xuống mặt nia tre, phát ra những tiếng lách cách giòn giã hệt như những viên sỏi nhỏ va đập vào nhau.

Yến lập tức quỳ sụp một bên gối xuống nền đất đá ẩm ướt bên cạnh chiếc hòm gỗ, lật phắt trang giấy trắng tinh của cuốn sổ phác thảo. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt đưa những nét chì than định hình mảng khối, rồi rút chiếc cọ tỉa lông mềm chấm vội vào khay màu nước cá nhân, pha thật nhanh mảng màu đỏ thẫm ngả chút nâu đất trầm ấm. Yến hoàn toàn đắm chìm vào thế giới thị giác của riêng mình: chăm chú ngắm nghía từng đường gờ nổi trên vỏ hạt ngô, ngây ngất trước nếp gấp thô mộc của mép vải gai, mải mê căn chỉnh góc nghiêng của luồng ánh sáng mờ đục xuyên qua màn sương mù xám xịt của bến xe.

— Bác Sính ơi, bác làm ơn dịch cái mép bao sang bên phải một tí teo giúp cháu… vâng, đúng rồi, để lộ cái đường hoa văn chỉ chàm ra ngoài mép nia…

Mai đứng trơ trọi giữa khoảng sân bến xe lầy lội, lồng ngực cô nghẹn ứ lại vì giận dữ và bất lực. Cô nhìn Yến đang cắm cúi vẽ như kẻ mộng du, rồi lại nhìn sang chiếc xe khách hai mươi chín chỗ đằng xa.

Gã tài xế xe khách thò hẳn cái đầu húi cua ra ngoài cửa kính buồng lái, bấm liên hồi một tràng còi hơi chói tai đến đinh tai nhức óc:

— Xe đi xuôi chạy đây! Ai gửi hàng, ai lên xe thì bước nhanh cái chân lên! Tôi đóng cốp đây, không chờ đợi ai nữa đâu!

Mai hốt hoảng quay phắt lại nhìn Yến:

— Yến! Đã xong chưa? Thu dọn cọ với sổ ngay lập tức cho tớ!

— Đợi tớ thêm một nét nữa thôi, một nét phết bóng đổ ở chân bao này nữa là xong ngay! — Yến vừa lia cọ thoăn thoắt vừa nói vội, đầu ngón tay run rẩy vì tập trung, không buồn ngẩng mặt lên nhìn bạn lấy một giây.

Mai không thể nhẫn tâm bỏ mặc chiếc bao tải hạt giống sống còn của ông Sính và ba hộ dân Khe Đăm bơ vơ giữa một bến xe đầy rẫy những con mắt dòm ngó, ranh mãnh như gã buôn Huy, nhưng cô cũng không thể chạy lại túm tóc lôi xềnh xệch Yến đi khi bạn đang quỳ rạp dưới đất. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, Mai đành nghiến chặt quai hàm, một mình cô cúi rạp người xuống, luồn hai cánh tay ôm trọn lấy chiếc thùng các-tông nấm hương nặng ba mươi cân lên trước ngực. Trọng lượng của thùng hàng đè nặng lên cơ thể mảnh khảnh khiến đôi chân cô chùng xuống, nhưng Mai vẫn cắn răng hớt hải chạy băng qua những vũng bùn lầy lội về phía chiếc xe khách.

Thế nhưng, lớp bùn non ở bến xe Nậm Vài sau nhiều ngày mưa phùn đã nhão nhoét và trơn trượt hệt như mỡ nước. Đôi giày vải bata mòn vẹt của Mai vừa giẫm mạnh lên một rãnh đá dăm trơn tuột thì trượt phắt một cái. Cơ thể cô mất đà loạng choạng dữ dội, Mai suýt ngã sấp mặt xuống vũng nước đỏ quạch, nhưng bằng tất cả bản năng của người giữ hàng, cô gồng cứng toàn bộ cơ bắp ở cánh tay và lưng để giữ cho đáy thùng các-tông không bị đập xuống bùn nhão. Cú trượt chân bất ngờ khiến khớp cổ chân phải của Mai trẹo đi, một cơn đau nhói buốt chạy dọc từ mắt cá lên tận sống lưng khiến cô khựng người lại mất vài giây quý giá.

Đến khi Mai tập tễnh nén đau ôm được thùng hàng chạy ra tới mép đường nhựa thì cánh cửa xe khách đã đóng sầm lại một tiếng “rầm” khô khốc.

Gã tài xế nhấn ga dứt khoát. Ống xả gỉ ngoằn ngoèo dưới gầm xe lập tức phụt ra một luồng khói đen kịt, khét lẹt trùm kín lấy mặt mũi và thân hình Mai. Chiếc xe hai mươi chín chỗ lừ lừ lăn bánh, cặp bánh sau chém mạnh xuống vũng nước bùn bên lề đường, hất tung một mảng nước đục ngầu văng bết bát lên hai bên ống quần và vạt áo khoác gió của cô. Chiếc xe tăng tốc, lao vút ra con đường quốc lộ dẫn xuống đèo, bỏ lại sau lưng khoảng sân bến xe lạnh ngắt, nhơ nhớp và ẩm ướt.

Chuyến xe duy nhất trong buổi trưa chạy thẳng về xuôi đã đi mất.

Mai đứng sững sờ bên mép đường nhựa lở dở, hai cánh tay cô vẫn ghì chặt lấy thùng các-tông nấm hương nặng trĩu bên hông. Những giọt mồ hôi túa ra trên trán cô, chảy ròng ròng xuống hai bên thái dương bất chấp những cơn gió núi Nậm Vài đang thổi qua buốt rát như chém vào da thịt. Khớp cổ chân phải nhức nhối từng chặp theo từng nhịp tim đập, nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với cảm giác bất lực, tủi nghẹn và uất ức đang dâng tràn lên, ứ nghẹn nơi cuống họng cô gái trẻ.

Phía bên kia góc sân bến xe, Hải Yến vừa cúi đầu thổi nhẹ cho se bớt vệt màu nước cuối cùng trên trang giấy vẽ. Cô đứng dậy, vươn vai một cái thật thoải mái, khuôn mặt rạng rỡ một nụ cười mãn nguyện vô bờ bến. Hai mắt cô lấp lánh niềm vui sướng của một kẻ vừa săn tìm được một báu vật thị giác vô giá:

— Xong rồi! Đẹp ngoài sức tưởng tượng bác Sính ạ! Bác nhìn vào bức tranh này mà xem, lên màu trông từng hạt ngô đỏ sang hẳn lên, hệt như những hạt ngọc mã não quý giá…

Yến hớn hở quay người lại định khoe với bạn, nhưng nụ cười trên môi cô bỗng chốc đông cứng lại như gặp băng tuyết.

Mai đang lê từng bước chân nặng nề, tập tễnh quay trở lại góc bến xe. Cô đi thẳng tới chân cột bê tông nhà chờ, dằn mạnh thùng các-tông nấm hương xuống khoảng đất khô ráo hiếm hoi. Tiếng thùng giấy nện xuống nền xi măng ẩm mốc vang lên một tiếng “bịch” khô khốc, nặng nề.

Quần áo Mai lấm lem bùn đất đỏ quạch, những giọt bùn bắn lên tận vạt áo khoác và cằm cô. Khuôn mặt cô tái mét đi vì lạnh và vì kiệt sức, hai bờ môi mím chặt thành một đường thẳng tắp run rẩy, và đôi mắt cô nhìn trừng trừng vào Hải Yến — một ánh nhìn bừng bừng lửa giận xen lẫn sự lạnh lùng tàn nhẫn mà trong suốt những năm tháng làm bạn thân từ thời đại học đến nay, Yến chưa từng bao giờ nhìn thấy.

— Mai… xe… chiếc xe khách chạy mất rồi à cậu? — Yến ấp úng, nụ cười trên môi tắt ngấm hoàn toàn, bàn tay đang cầm cuốn sổ phác thảo run lên bần bật.

— Phải. Xe chạy rồi. Đi mất hút rồi. — Giọng Mai run rẩy dữ dội, không phải vì cái lạnh thấu xương của vùng cao mà vì một cơn thịnh nộ khủng khiếp đang bị dồn nén đến tận cùng giới hạn của sự chịu đựng.

Vàng A Sính đứng bên cạnh chiếc hòm gỗ, nhìn thấy bộ dạng lấm lem bùn đất và khuôn mặt tái nhợt của Mai thì lặng lẽ cúi đầu xuống. Ông không nói một lời nào, chỉ lẳng lặng dùng đôi bàn tay thô ráp, chai sần của mình cẩn thận gom từng hạt ngô đỏ thẫm trên mặt nia tre trút ngược trở lại vào miệng bao tải gai. Động tác của ông tỉ mẩn, nâng niu, không để một hạt nào vương vãi ra khe nẹp gỗ. Gom xong hạt cuối cùng, Sính kéo chặt miệng bao, buộc lại mối dây đay rồi thắt thêm hai vòng nút chết chắc chắn. Xong xuôi, ông lẳng lặng ôm chiếc bao tải đứng nép sang một bên mép hiên, ái ngại nhìn hai cô gái trẻ.

Mai bước dấn lên một bước về phía Yến, bước chân tập tễnh đè nghiến lên nền đá dăm lạo xạo:

— Cậu đã thỏa mãn chưa, Đỗ Hải Yến? Bức tranh của cậu đẹp đẽ và thơ mộng lắm đúng không? Nó đã đủ chất nghệ thuật, đủ vẻ sang trọng, đủ bắt mắt để cậu chụp ảnh gửi nộp cho anh Vũ Minh An thanh toán tiền nhuận bút thiết kế chưa?

— Mai… tớ thành thật xin lỗi cậu, tớ không thể ngờ chiếc xe khách lại chạy nhanh đến thế… Tớ cứ nghĩ là xe vùng cao thì phụ xe người ta sẽ du di chờ thêm vài ba phút… — Yến lúng túng lùi lại nửa bước, khuôn mặt cô đỏ ửng lên vì xấu hổ, bàng hoàng và sợ hãi trước cơn giận dữ của bạn.

— Cậu không nghĩ? Cậu chưa bao giờ chịu dùng cái đầu của mình để nghĩ cho công việc và chén cơm của người khác! — Mai gằn giọng, từng từ ngữ sắc lẹm thốt ra như những lưỡi dao xé toang bầu không khí ngột ngạt của bến xe. — Cậu tưởng cả cái bến xe Nậm Vài này, cả cái vùng núi non heo hút này sinh ra là để quay xung quanh cuốn sổ vẽ của cậu chắc? Cậu có biết ba mươi cân nấm hương khô nằm trong cái thùng giấy kia là bao nhiêu mồ hôi nước mắt của người ta không? Đó là toàn bộ số tiền túi tớ phải chắt bóp ứng trước cho bà con ở Pả Lùng suốt hai tuần lễ vừa rồi đấy! Xe không đi được, chiều nay trời nồm ẩm rỉ rả thế này, ba mươi cân nấm nằm lại cái xó bến xe ẩm mốc này qua đêm sẽ bị hút ẩm ngược trở lại, chân nấm sẽ thâm xì, mốc trắng bốc lên, lúc ấy ai đền tiền cho tớ? Mối hàng dưới xuôi sáng mai không nhận được nấm để giao cho khách ăn rằm, họ hủy hợp đồng, họ phạt cọc, họ cạch mặt tớ ra, thì ai đứng ra gánh vác món nợ đó cho tớ? Cuốn sổ vẽ của cậu có xé ra từng trang để đem trả nợ thay cho tớ được không?

Yến đứng chết trân tại chỗ, hai tai cô lùng bùng, cổ họng nghẹn đắng lại không thốt nên lời:

— Tớ… tớ sẽ chịu toàn bộ tiền cước chuyến xe sáng mai… tớ sẽ gom tiền bù lại phần nấm hỏng cho cậu nếu chẳng may có rủi ro…

— Cậu lấy cái gì ra mà bù? — Mai nhìn thẳng vào mắt Yến, câu hỏi trần trụi và tàn nhẫn như một nhát búa nện thẳng vào nỗi âu lo thầm kín nhất của cô họa sĩ trẻ. — Khoản tiền ba mươi phần trăm tạm ứng từ bên nhà xuất bản cho dự án lịch này cậu còn phải đem đi trả nợ tiền thuê nhà trọ dưới quận Đống Đa, rồi phần còn lại cậu dồn hết vào mua đống màu nước ngoại nhập với đống giấy vẽ ép lạnh ba trăm gam kia kìa! Cậu tự lo cho cái thân cậu còn chưa xong, cậu lấy tiền đâu ra mà đòi bù đắp cho người khác? Cậu nghĩ tiền bạc, công sức và thời gian mưu sinh của người khác là thứ rẻ rúng đến mức cậu chỉ cần buông một câu xin lỗi rồi vung tay hứa hẹn đền bù là xong chuyện hay sao?

Yến cúi gằm mặt xuống đất, đôi vai gầy run lên khe khẽ. Từng lời Mai nói ra trần trụi, chuẩn xác và buốt rát như xát muối vào lòng tự trọng nghề nghiệp mà bấy lâu nay cô vẫn cố công gìn giữ. Cuốn sổ phác thảo đang kẹp chặt bên sườn cô bỗng chốc trở nên nặng trĩu, nóng rực như một thanh sắt nung đỏ khiến những đầu ngón tay cô tê dại đi. Bức ký họa hạt ngô đỏ rực rỡ, lộng lẫy vừa nãy còn khiến cô say sưa tự hào, giờ đây bỗng hiện lên như một sự trơ trẽn, kệch cỡm và tàn nhẫn đến cay đắng.

— Và cậu nhìn lại cái bao tải hạt giống này đi! — Mai vung tay chỉ thẳng về phía bao tải gai thô ráp mà Vàng A Sính đang ôm trước ngực. — Cậu nài nỉ người ta trút hạt ra nia tre chỉ để vẽ cho bằng được một góc tranh thương phẩm bắt mắt, sang trọng! Cậu gọi nó là hạt ngọc, cậu muốn biến nó thành sản phẩm trưng bày, thành thứ đặc sản cao cấp lung linh trên bàn ăn của người thành phố! Cậu có lắng tai nghe bác Sính nói gì lúc nãy không? Năm nay đất Tả Reng mất mùa trắng nương! Hai mươi cân hạt giống này là toàn bộ niềm hy vọng sống của ba hộ dân nghèo bên Khe Đăm cho cả một vụ mùa sắp tới đấy! Người ta phải đếm từng hạt, chắt chiu từng bơ để chia nhau đem tra dặm vào từng hốc đá tai mèo sắc nhọn, để mong có bắp ngô mà ăn qua những ngày giáp hạt đói kém năm sau! Nó là mồ hôi, là sinh kế cộng đồng, là mạng sống của con người ta, chứ không phải là một món đồ trang trí vô tri vô giác để cậu tự tiện dàn cảnh chụp ảnh, vẽ vời kiếm giải thưởng hay khoe mẽ trên mạng xã hội như cái thằng cha Huy buôn chuyến kia!

Hải Yến từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt cô run rẩy nhìn sang Vàng A Sính.

Người đàn ông Mông già vẫn đứng lặng phắc bên cạnh chiếc hòm gỗ, hai cánh tay gầy guộc ôm chặt lấy bao tải gai thô ráp trước ngực như ôm lấy chính sinh mệnh của bản làng mình. Trong đôi mắt sâu hoắm đầy nếp nhăn của ông không có nét giận dữ gay gắt hay cay nghiệt như Mai, mà chỉ có một sự trĩu nặng của nỗi nhọc nhằn, âu lo của những con người cả đời gắn chặt số phận bấp bênh của mình với từng hốc đá khô cằn và từng cơn sương muối khắc nghiệt trên đỉnh núi cao.

Trong đôi mắt ấy, vốc ngô đỏ thẫm đổ ra nia tre lúc nãy chưa từng là sắc màu của cái đẹp hay nghệ thuật lãng mạn; nó là nỗi thắc thỏm về những buổi cày cuốc trên nương dốc, là sự phấp phỏng âu lo về những cơn gió lạnh đầu mùa và là miếng ăn sống còn của những đứa trẻ thơ nơi bản nghèo xa xôi.

Một cảm giác bàng hoàng pha lẫn tủi hổ và ê chề dâng lên chẹn ngang lồng ngực Yến, khiến cô nghẹt thở.

Đây đã là lần thứ hai trong chuyến đi thực địa này, sau sự cố chiếc thau nhôm ở quầy bánh ngô của bà Duyên, cái góc nhìn nghệ thuật duy mỹ đầy tính áp đặt của cô lại một lần nữa va đập tàn nhẫn vào hiện thực mưu sinh trần trụi. Cô đã quá quen với việc ngồi trong những quán cà phê máy lạnh dưới phố thị, biến mọi chất liệu đời sống thành những bao bì bắt mắt, thành những khung hình trau chuốt phục vụ cho thị hiếu lãng mạn hóa của cư dân đô thị, mà quên mất một điều cốt tử: phía sau mỗi sản phẩm nông sản vùng cao là những ràng buộc sinh tồn cụ thể, là những giọt mồ hôi nhọc nhằn và những nhịp điệu lao động khắc nghiệt không bao giờ cho phép bị gián đoạn chỉ vì một nét cọ vu vơ của người ngoài cuộc.

Mai hít một hơi thật sâu, luồng không khí buốt lạnh tràn vào buồng phổi giúp cô nén bớt cơn thịnh nộ đang sôi trào trong huyết quản. Cô quay người lại, móc chiếc điện thoại nứt màn hình ra, bấm số gọi cho một người quen có nhà kho bán buôn kiên cố ở gần ngã ba thị trấn. Bằng giọng nói trầm tĩnh nhưng kiên quyết, Mai nhờ vả người ta cho gửi tạm thùng nấm hương vào gian kho khô ráo có máy sấy qua đêm, chấp nhận chịu thêm một khoản chi phí lưu kho và vận chuyển phát sinh ngoài dự tính.

Thu xếp xong xuôi nơi cất giữ an toàn cho thùng nấm, Mai bước lại gần chỗ ông Sính. Cô khẽ cúi đầu, nói lời xin lỗi chân thành với người đàn ông lớn tuổi vì sự ồn ào và lộn xộn vừa xảy ra, rồi cùng ông khiêng bao tải gai ra bến xe ôm gần cổng chợ để gửi chuyển tiếp về ngã ba bến đò cho anh Vàng A Chư, đúng như lời cam kết ban đầu.

Gió lạnh từ đỉnh đèo Nậm Vài thốc xuống bến xe ngày một mạnh, cuốn theo những đám bụi đá dăm mịt mù và những hạt mưa phùn buốt giá.

Khi bóng chiếc xe máy chở bao hạt giống của ông Sính khuất hẳn sau rặng tre già ven bờ suối, Mai mới quay trở lại dưới mái hiên nhà chờ. Cô kéo mạnh chiếc khóa ba lô du lịch, rút ra cuốn sổ tay ghi chép lịch trình công việc dày cộp, lật tanh tách từng trang giấy đã ghi kín các mốc thời gian rồi chìa thẳng ra trước mặt Hải Yến. Đôi mắt Mai nhìn thẳng, kiên quyết và dứt khoát, không còn vương lại một chút nhượng bộ hay cả nể nào:

— Đây là toàn bộ lịch trình chi tiết cho chuyến đi phiên chợ Sín Mây vào cuối tuần này. Giờ xe khách xuất bến từ Nậm Vài là năm giờ ba mươi phút sáng. Chợ họp ngay trên yên ngựa đỉnh núi, gió rất to, mưa mù thất thường và người dân bản địa dọn hàng về rất sớm. Tớ cần cậu ngồi xuống đây, thống nhất chính xác tuyệt đối từng khung giờ một: lúc nào đến chợ, lúc nào được phép hỏi chuyện, và đúng mấy giờ thì phải dọn toàn bộ đồ nghề bước chân lên xe để quay về. Tớ đồng ý đi cùng cậu là để làm việc, tớ tôn trọng hợp đồng vẽ lịch của cậu, nhưng tớ không thể tiếp tục đứng chôn chân ở những góc bến xe lầy lội này để chờ đợi cậu một cách vô lý và đem cả sinh kế của tớ ra đánh cược thêm một lần nào nữa.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories