Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyCh.4 / 26
Chapter 4

Hai phiên bản một đơn

Mười một giờ trưa hôm sau, mùi mỡ hành xèo xèo bốc lên từ chiếc chảo sâu lòng của cô Hạnh không tài nào xua tan nổi cảm giác bức bối đang đè nặng trong từng mét vuông chật chội của quán Cơm Nhà Bà Lan. Sự ngột ngạt ấy không chỉ đến từ hơi nóng của dầu sôi hay tiếng xào nấu liên hồi, mà rễ sâu của nó đã cắm vào khoảnh khắc hai chiếc điện thoại của Hà và Khải tiếp nhận đơn hàng của cùng một người theo hai cách thức hoàn toàn trái ngược nhau, mở màn cho một vụ va chạm không thể nào cứu vãn.

Cái nóng rát bỏng của buổi trưa tháng Tư quánh đặc lại dưới mái tôn hiên đường Vườn Me, phả từng luồng hơi hầm hập như lò than vào khoảng quầy thu ngân hẹp téo. Chiếc quạt tường cũ kỹ cắm ở góc cột sắt rỉ sét cứ quay lắc rắc từng nhịp mệt nhọc, cánh nhựa run bần bật, chỉ kịp thổi ra thứ gió khét lẹt mùi khói xe ngoài lộ lẫn với mùi hành phi cháy cạnh từ mép bếp dạt lên. Mẹ cô, bà Lan, sau chuyến đi khám khớp đầy lo âu và bực bội vào chiều hôm trước, sáng nay hai khớp đầu gối sưng tấy, buốt nhức dữ dội đến mức không nhấc nổi bước chân xuống nền gạch bông. Bà đành phải nằm nghiêng trên chiếc giường xếp bằng vải bạt xám kê nép sát vách kho hàng phía sau, nơi chỉ có một cánh cửa lùa gỗ ngăn cách với gian rửa chén. Thỉnh thoảng, nghe tiếng dao thớt dộng mạnh hay tiếng khách gọi bàn ngoài cửa, bà lại gượng chống khuỷu tay nhổm dậy, ánh mắt kèm nhèm âu lo nhìn xuyên qua tấm rèm vải hoa đã bạc màu, bồn chồn khó tả nhưng bất lực chẳng thể làm gì hơn ngoài việc thở dài sườn sượt.

Mọi việc trưa nay, từ cân đong mắm muối đến tính tiền bọc hộp, dồn hết lên đôi bàn tay thoăn thoắt của cô Hạnh dưới bếp và dáng người mảnh khảnh của Hà nơi quầy trước.

Bi kịch thực chất đã nhen nhóm từ lúc chín giờ sáng. Khải dắt chiếc Dream cà tàng của mình ra khỏi bực tam cấp, nổ máy giòn giã để chạy một vòng gom giao các phần cơm chay và đồ kho sớm cho mối quen. Sẵn trớn tiện đường chở thêm một bọc phụ tùng kim khí giao cho xưởng cơ khí nhỏ nằm vắt qua đường ray xe lửa, Khải tạt ngang qua sảnh tòa nhà văn phòng bảy tầng nơi Đặng Thanh Thảo làm việc để trả nốt hai chiếc cặp lồng đựng canh bằng inox giữ nhiệt mà Thảo mượn từ cuối tuần trước chưa kịp gửi lại.

Khải vừa gạt chân chống nghiêng, còn chưa kịp tắt máy xe thì cánh cửa kính thủy lực dày cộp của tòa nhà đã bật mở. Thảo từ bên trong vội vã sải bước ra, chân mang giày cao gót nện cồm cộp trên thềm đá hoa cương. Gương mặt cô trang điểm kỹ càng nhưng hằn rõ nét căng thẳng tột độ của một phụ trách hậu cần đang ngập trong việc đột xuất. Một tay Thảo kẹp xấp tài liệu dày cộp còn thơm mùi mực in, tay kia quơ chùm chìa khóa phòng họp leng keng:

“Trời đất ơi, may quá chừng là gặp anh Khải ở ngay đây! Em đang định bấm máy gọi mà sợ quán đang giờ lu bu không ai bốc!” Thảo vuốt vội lọn tóc mai dính bết bên thái dương vì nóng, giọng gấp gáp như thể chỉ chậm một giây là lỡ dở cả việc lớn. “Bữa trưa nay bên đoàn kiểm toán thuế với mấy sếp đối tác đột ngột kéo đến họp gấp, không báo trước gì hết ráo! Thành ra phát sinh thêm tám người ăn trưa nữa. Quán làm bù thêm cho em tám suất cơm trưa y như tiêu chuẩn mấy phần cơm văn phòng bình thường nghe, tổng cộng thành hai mươi ba suất! Nhớ dặn dưới nhà làm cho tươm tất, giao đúng mười một giờ bốn mươi hoặc trễ lắm là mười một giờ bốn lăm để người ta giải lao là có cơm ăn liền, trễ là chết em với sếp đó!”

Khải lúc ấy đầu óc đang bận rộn như một mớ bòng bong. Chân anh vẫn còn đặt trên bàn đạp số, một bên tai váng vất tiếng còi xe inh ỏi ngoài ngã tư, trong bụng thì nhấp nhổm lo không kịp chạy sang tuốt bãi xe bên quận Mười Một lấy mấy món phụ tùng then chốt cho tiệm sửa của ông Bình trước mười một giờ trưa theo lời hẹn. Nhưng nghe mối ruột dặn dò, cái phản xạ thâm căn cố đế của một gã đàn ông buôn bán vỉa hè sợ mất mối, sợ bị chê là chảnh chọe lập tức trỗi dậy lấn át mọi suy xét. Khải gật đầu lia lịa, tay vỗ bôm bốp lên yên xe:

“Rồi rồi! Tám suất nữa chứ gì, chuyện nhỏ! Cô Thảo cứ yên tâm tuyệt đối, cơm nhà tôi lúc nào mà chẳng sẵn ê hề trong nồi, đồ ăn nóng sốt đầy ra đó! Đúng mười một giờ bốn mươi tui chở thẳng tới tận cửa sảnh này cho cô, không trễ một phút nào đâu mà lo!”

Dứt lời, chẳng đợi Thảo kịp dặn thêm câu nào về thực đơn hay yêu cầu kiêng cữ, Khải vặn ga rồ máy, chiếc Dream nhả một làn khói xanh mờ đục rồi lao vút đi, hòa lẫn vào dòng xe cộ chen chúc giữa trưa nắng bụi mù mịt của đường phố Sài Gòn. Suốt dọc đường chạy xe qua các cây cầu, đầu óc Khải mải miết luồn lách qua các ngõ tắt, tính xem làm sao ghé tiệm phụ tùng, bốc đồ, chở về tiệm ông Bình rồi mới quay về quán bốc cơm đi giao. Ý nghĩ tấp xe vào lề đường, rút chiếc điện thoại ra bấm một cuộc gọi ngắn hay gửi lấy một dòng tin nhắn vỏn vẹn vài chữ cho con bé Hà ở quầy thu ngân hoàn toàn trôi tuột khỏi tâm trí anh như bọt xà phòng.

Trong cái nếp nghĩ hời hợt, bỗ bã xưa nay của Khải, việc nhận thêm tám hộp cơm trưa chỉ đơn giản là một cái gật đầu ngoài đường. Quán cơm bình dân nhà mình bán cả ngày, nồi cơm to đùng, cái chảo thịt kho lúc nào cũng đầy ắp, chuyện xúc thêm dăm ba muỗng cơm, gắp thêm vài miếng thịt xắt dày xắt mỏng thì có gì to tát đâu mà phải quan trọng hóa vấn đề, hơi đâu mà dừng xe giữa trời nắng chang chang để gọi điện báo trước cho rườm rà.

Khải không hề biết rằng, ngay trong chính buổi sáng hôm ấy, ở quầy thu ngân của quán Cơm Nhà Bà Lan, Hà đang cặm cụi thiết lập lại toàn bộ nhịp điệu làm việc theo đúng phương pháp mà Duy đã cẩn thận vạch ra cho cô từ hôm trước.

Ngay từ lúc tám giờ sáng, khi mặt trời mới vừa le lói rọi những vệt sáng xiên khoai qua kẽ lá me xuống mặt đường nhựa, chiếc điện thoại thông minh đặt trang trọng cạnh chiếc máy in nhiệt mini trên quầy đã rung lên từng hồi đều đặn. Tin nhắn Zalo từ tài khoản của Đặng Thanh Thảo nhảy ra trên màn hình sáng loáng, ngắn gọn và rành mạch theo đúng tác phong văn phòng:

*“Em chốt mười lăm suất cơm trưa hôm nay nhé Hà. Mười suất thịt kho trứng cút, năm suất cá basa kho tộ, lấy canh rau ngót, nhớ không bỏ ớt vào phần của chị nhé.”*

Nhìn dòng tin nhắn hiện lên rõ ràng, lòng Hà dâng lên một cảm giác an tâm nhẹ nhõm. Cô không vội vàng trả lời qua quýt bằng miệng như mọi bận. Đôi ngón tay thon thả của cô bấm bàn phím, cẩn thận gõ lại từng chữ xác nhận:

*“Dạ, em nhận đơn mười lăm suất của chị Thảo, gồm 10 thịt kho trứng cút và 5 cá basa kho tộ, canh rau ngót không ớt phần chị. Quán giao lúc mười một giờ bốn mươi lăm ạ.”*

Chỉ nửa phút sau, màn hình hiện lên biểu tượng ngón tay cái màu vàng mà Thảo bấm đồng ý. Cầm chắc xác nhận trong tay, Hà liền với tay lấy cuộn giấy in nhiệt trắng tinh, xé một tờ phiếu phẳng phiu, nắn nót ghi bằng mực xanh rõ từng chi tiết: số lượng mười lăm phần, cơ cấu món ăn, giờ giao hàng và ghi chú không ớt. Sau đó, cô cẩn thận kẹp tờ phiếu vào chiếc khay nhựa màu xanh lá cây – chiếc khay mà Duy đã khuyên cô nên dùng làm trạm trung chuyển thông tin duy nhất giữa quầy và bếp – rồi đem đặt ngay ngắn lên bệ đá hoa cương sát cạnh thớt sơ chế của cô Hạnh.

“Cô Hạnh ơi,” Hà đứng bên mép cửa ngăn, cất giọng chậm rãi và rõ ràng át đi tiếng nước chảy róc rách trong bồn rửa, “đơn cơm trưa văn phòng của chị Thảo hôm nay chốt đúng mười lăm suất nha cô. Mười suất thịt kho trứng cút với năm suất cá basa kho tộ. Con để phiếu trong khay xanh rồi đó cô.”

Cô Hạnh lúc ấy đang đứng sừng sững bên chiếc thớt gỗ nghiến to bản, hai bàn tay thô ráp đẫm mùi hành tỏi đang thoăn thoắt lia lưỡi dao bén ngót xắt từng khúc cá basa tươi rói, dày dặn và đều tăm tắp. Nghe tiếng Hà dặn, cô Hạnh ngừng tay trong tíc tắc, đưa cẳng tay áo bà ba đã bạc màu lên lau vệt mồ hôi đang rịn ra trên trán, rồi ngẩng đầu gật một cái chắc nịch:

“Ừ, tao canh thịt với cá vừa khít chừng đó đó con. Sáng nay thằng Khải đi chợ sớm xách về có ba ký rưỡi thịt ba chỉ hà. Tao pha miếng vừa ăn, trừ hao phần mỡ teo lại với xương sụn thì tao chia được đúng ba mươi lăm phần thịt cho cả quán ăn tại chỗ lẫn mấy mối mang về. Nhận mười lăm suất văn phòng bên đó là vừa vặn khít khao, không dư một lạng mà cũng chẳng sợ thiếu một miếng nào của khách vãng lai tới trưa.”

Hà mỉm cười, lòng dạ nhẹ nhõm quay trở lại quầy thu ngân. Nhìn chiếc khay nhựa màu xanh lá giữ tờ phiếu đơn ngay ngắn, phẳng phiu, không còn cảnh những mẩu giấy ghi nhớ vụn vặt dán chằng chịt, bay phần phật rồi rơi rụng vào thùng rác như những tuần trước, cô thấy lòng mình có một niềm tin mới mẻ.

Suốt hai tiếng đồng hồ tiếp theo, từ chín giờ đến mười một giờ, gian nhà trước vận hành êm ru như một cỗ máy được tra dầu mỡ đúng cữ. Hà đón từng lượt khách quen: mấy chú thợ hồ từ công trình sửa nhà bên hẻm số tư ghé mua ba hộp cơm sườn, anh giao hàng công nghệ tạt vào ăn vội dĩa cơm cá kho. Hà bấm máy in phiếu, thu tiền, xếp từng bọc canh rau ngót xanh ngắt được buộc dây thun cẩn thận vào giỏ nhựa. Mùi cá kho tộ quyện với mùi tiêu đen thơm nức mũi, tiếng dầu sôi lách tách, tiếng muỗng nĩa chạm vào đĩa sứ lanh canh tạo nên một nhịp điệu buôn bán trật tự, lớp lang đến mức Hà thoáng mơ tưởng rằng quán cơm gia đình của mẹ rốt cuộc cũng có thể bước sang một trang mới: văn minh, bình yên, không còn cảnh người này gào người kia thét, không còn những buổi trưa chạy đôn chạy đáo trong hoảng loạn.

Nhưng cái ảo ảnh bình yên mong manh ấy vỡ toang ra thành trăm mảnh vụn vào đúng mười một giờ bốn mươi phút.

*Rééét!*

Tiếng thắng xe máy rít lên chói tai, nghiến mòn vệt cao su đen sì xuống mép bực tam cấp xi măng ngoài cửa. Cánh cửa lưới chống ruồi bị đẩy bung ra một cách thô bạo. Khải lao xộc vào nhà như một cơn lốc cuốn theo mùi khói bụi đường trường và mùi mồ hôi nồng nặc. Chiếc áo khoác gió sờn rách hai bên cùi chỏ ướt đẫm mồ hôi lưng, dính bết vào da thịt. Chiếc nón bảo hiểm nửa đầu màu đỏ bầm còn chưa kịp cởi quai, lủng lẳng bên cằm làm gương mặt Khải càng thêm nhăn nhó, đỏ gay gắt vì nắng nôi và mệt mỏi. Anh không thèm nhìn trước ngó sau, sấn thẳng một mạch vào khu bàn inox soạn đồ, hai tay quơ quào trong không khí, giọng the thé giục giã:

“Xong chưa? Đơn công ty con Thảo đâu rồi? Xếp hộp mau lên! Hai mươi ba hộp gom chung vào hai cái túi ni lông bự loại mười ký cho tao chở đi một lượt! Mau lên coi, bên đó người ta họp xong xuôi hết rồi, con Thảo nó đang đứng ở sảnh gọi điện hối ầm ĩ lên đây này!”

Hà lúc đó đang cầm chiếc khăn ẩm lau lại mặt bàn số ba sau khi một tốp thợ vừa đứng dậy. Nghe thấy con số “hai mươi ba” thốt ra từ miệng anh trai, bàn tay cô khựng lại giữa không trung. Cô quay phắt lại, mắt mở to:

“Anh Khải nói cái gì hai mươi ba suất? Đơn của chị Thảo sáng nay chốt có mười lăm suất thôi mà!”

Khải trừng mắt nhìn trừng trừng vào mặt em gái, vẻ mặt vừa sửng sốt vừa tức tối tột độ, như thể Hà vừa thốt ra một điều gì đó điên rồ và vô lý nhất trên đời:

“Mười lăm suất cái con khỉ mốc! Hồi chín giờ tao ghé ngang tòa nhà trả hai cái cặp lồng, con Thảo nó từ phòng họp chạy xổ ra dặn miệng tao rành rành là phát sinh thêm tám người họp đột xuất! Tao nhận lời nó chắc nịch rồi! Mau bỏ hộp đi, đứng trơ cái mặt ra đó nhìn cái gì nữa?! Trễ giờ người ta phạt tiền bây giờ!”

Từ sâu trong góc bếp tối om, tiếng kim loại va đập vang lên chát chúa. Cô Hạnh buông phịch chiếc muôi múc cơm bằng nhôm dày xuống thành nồi cơm điện công nghiệp quân dụng. Tiếng *keng* rợn người khiến cả mấy người khách đang ngồi nhai cơm ở bàn số năm ngoài cửa cũng phải giật thót mình dừng đũa. Cô Hạnh bước xăm xăm ra, hai tay chống nạnh, tạp dề dính đầy vết mỡ cá và nước màu kho thịt, mặt cô đỏ bừng lên như gấc chín vì sức nóng hầm hập của lò bếp và ngọn lửa giận dữ bất thình lình bốc lên ngùn ngụt:

“Này Khải! Mày ăn nói cái kiểu chợ búa gì đấy hả Khải?! Đơn của con Thảo sáng nay con Hà nó nhận qua Zalo đàng hoàng, có tin nhắn, có phiếu in ghi rõ mười lăm suất tao để sờ sờ trong cái khay xanh đằng kia từ hồi tám giờ rưỡi sáng! Mày nhận miệng với người ta ngoài đường lúc nào? Có ai trong cái quán này, từ con Hà tới tao, nghe mày thông báo một tiếng nào không?! Sáng nay chính mày xách về đúng ba ký rưỡi thịt, tao kho vừa khít ba mươi lăm miếng, giờ khách ngồi bàn ăn mất mười miếng rồi, cơm trong nồi tao chia đúng mười lăm hộp cho nó là cạn đáy! Mày đào đâu ra thêm tám suất thịt kho với cơm nóng cho mày bây giờ? Mày chỉ cho tao coi?!”

Khải sững sờ trong một tích tắc ngắn ngủi. Bàn tay đang định giật lấy mấy chiếc hộp xốp trắng khựng lại giữa chừng. Nhưng rồi, sự bối rối và đuối lý nhanh chóng bị bản tính gia trưởng, hung hăng thường ngày đè bẹp. Anh dộng mạnh nắm đấm thô kệch xuống mặt bàn inox đóng hộp, làm mấy chồng muỗng nhựa nảy tung lên:

“Thì thiếu thì đập thêm mấy quả trứng mà chiên, xào thêm miếng rau, vét cái nồi cơm cháy ra mà độn vào cho đủ số lượng! Buôn bán quán cơm bình dân chứ có phải nhà hàng năm sao đâu mà mấy người cứ khư khư từng cọng rau miếng thịt như đo lọ nước mắm vậy?! Khách ruột người ta cần kíp, người ta mới nhờ tới mình! Giờ mình lắc đầu nguầy nguậy là mất đứt cái mối béo bở, có hiểu không hả?! Đứng đó cãi tay đôi với tao thì được tích sự gì, làm mau lên cho tao đi giao!”

“Mày nói nghe dễ như nuốt nước miếng vậy hả thằng Khải?!” Cô Hạnh không nhịn được nữa, rống ngược lại, giọng run lên vì nghẹn ức và uất hận. “Trứng ở đâu ra sẵn mà chiên? Muốn chiên trứng cũng phải đập vỏ, nhóm bếp ga, xắt hành, nêm muối! Cơm trong nồi thì cạn trơ đáy tới lớp cháy vàng rồi, muốn có cơm mềm cho người ta ăn thì phải vo gạo cắm điện chờ nửa tiếng đồng hồ nó mới bật nút! Tao là người nấu, tao làm công ăn lương chứ tao có phải bà tiên cầm đũa thần đâu mà mày bước vào dộng bàn dộng ghế một cái là đồ ăn tự chui từ dưới đất chui lên?! Sáng nào đi chợ cũng vội vội vàng vàng như ai đuổi sau đít, mua đồ thì keo kiệt sát nút từng lạng, giờ xảy ra chuyện thì đổ hết lên đầu tao hả?!”

Tiếng ồn ào cãi vã chát chúa xé toạc không gian buổi trưa oi ả. Từ trong góc kho hàng, cánh cửa lùa kẹt kẹt kéo ra. Bà Lan gượng chống chiếc gậy tre nhúc nhắc bước từng bước tập tễnh ra ngoài, gương mặt già nua nhăn nhúm lại vì những cơn đau nhức buốt tận tủy xương ở hai khớp gối:

“Thôi… thôi mà mấy đứa ơi… Bác xin mày Hạnh ơi, Khải ơi… Đừng có làm ầm ĩ trước mặt khách khứa như vậy, người ta cười choi chói vào mặt kìa con…”

Mấy người khách ngồi ở hai bàn phía trước bắt đầu ngoái đầu lại xì xào, ánh mắt đầy ái ngại và khó chịu. Một người đàn ông trung niên buông đũa, đứng dậy móc bóp trả tiền sớm rồi vội vã dắt xe đi thẳng, không thèm uống nốt ly trà đá.

Hà đứng chôn chân giữa quầy thu ngân và ngưỡng cửa bếp, hai tai lùng bùng, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cảm giác nghẹn ứ nơi cổ họng khiến cô gần như không thở nổi. Trước mắt cô là một cảnh tượng đau đớn đến cùng cực: một bên là người anh trai ruột thịt luôn tự cho mình cái quyền phán xét mọi thứ chỉ vì anh phải phơi mặt ngoài đường hít khói bụi, một bên là người phụ bếp đứng tuổi đang run rẩy vì bị dồn ép vào sự hỗn loạn vô lý. Và kẹt ở giữa chính là bản thân cô — người mà mới chỉ một giờ đồng hồ trước đây còn ngây thơ tin rằng một chiếc khay nhựa màu xanh lá và một tờ phiếu in nhiệt phẳng phiu có thể cứu vớt được cái quán ăn rệu rã này khỏi sự tùy tiện.

Không còn con đường nào khác để lựa chọn. Đơn hàng đã lỡ, thời gian không thể quay ngược lại.

Cô Hạnh vừa nuốt nước mắt vừa lầm bầm chửi đổng trong miệng, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy vơ vét từng mẩu thịt kho vụn vằn còn sót lại dưới đáy chiếc nồi gang lớn, dùng dao băm nhỏ ra chia đều cho các hộp. Khải nhảy xổ vào góc bếp, vơ lấy bốn quả trứng vịt cuối cùng nằm chỏng chơ trong chiếc rổ nhựa, đập vội vào chiếc chảo gang cáu cặn mỡ, đảo qua đảo lại cho chín dở sống dở, khét lẹt mùi dầu cũ. Cơm trắng đã cạn kiệt, Khải cầm chiếc muôi sắt cạo sồn sột vào đáy nồi gang, cạy từng mảng cơm cháy vàng sẫm, khô khốc nhét độn vào đáy của tám chiếc hộp xốp phát sinh, rồi phủ lên trên vài cọng rau muống xào nguội ngắt và nửa miếng trứng chiên queo quắt. Hai hộp cuối cùng thậm chí chẳng còn miếng trứng nào, chỉ đành rưới chút nước kho thịt mằn mặn lên lớp cơm cháy để lấp liếm.

Khải chụp lấy những chiếc nắp hộp xốp, dập ghim tanh tách một cách điên cuồng, nhét tất cả vào hai chiếc bao tải ni lông lớn. Khi anh trói được hai bọc cơm to tướng ấy lên chiếc baga sau của con Dream tàn và rồ ga phóng bạt mạng ra đường, chiếc đồng hồ tròn treo trên vách tường loang lổ vết ố của quán đã điểm mười hai giờ hai mươi lăm phút.

Chuyến giao cơm định mệnh ấy đã trễ tràng đúng bốn mươi phút so với giờ hẹn danh dự với Đặng Thanh Thảo.

Chưa đầy mười lăm phút sau khi bóng Khải khuất sau rặng me đầu hẻm, chiếc điện thoại đặt trên mặt quầy của Hà bắt đầu rung lên bần bật. Tiếng chuông reo dồn dập như tiếng còi báo động trong một vụ hỏa hoạn.

Hà đứng chết lặng vài giây, lồng ngực thắt lại. Cô hít một hơi thật sâu, đôi bàn tay ướt đẫm mồ hôi run rẩy quẹt ngón tay lên màn hình để nhận cuộc gọi:

“Dạ, Cơm Nhà Bà Lan nghe—”

“Lê Thu Hà! Quán cơm của nhà các người làm ăn cái kiểu trò hề gì vậy hả?!”

Đầu dây bên kia không có lấy một lời chào hỏi tối thiểu. Giọng nói của Đặng Thanh Thảo rít lên qua loa thoại, nghẹn ngào trong cơn thịnh nộ tột cùng, át cả tiếng ồn ào xôn xao của cả một phòng làm việc phía sau lưng cô:

“Chị Thảo… em thật sự xin lỗi chị, trưa nay dưới quán em phát sinh—”

“Xin lỗi cái gì mà xin lỗi!” Thảo gắt lên, từng lời từng chữ như những nhát búa giáng thẳng vào màng nhĩ của Hà. “Mười hai giờ bốn mươi phút anh Khải mới vác cái mặt sang tới đây! Mười hai giờ bốn mươi! Khách kiểm toán với bên đối tác người ta ngồi chực ở phòng họp từ mười một giờ rưỡi, người ta đói lả cả ruột gan ra, người ta nhìn đồng hồ rồi nhìn mặt sếp tôi! Sếp tôi không chịu nổi nhục nhã đã phải muối mặt dẫn cả đoàn người ta kéo ra cái nhà hàng hải sản đầu phố để ăn trưa rồi! Các người có biết tôi bị sếp mắng vuốt mặt không kịp trước bao nhiêu con người không?!”

Cổ họng Hà khô khốc, cô bám chặt lấy gờ gỗ của quầy thu ngân, móng tay bấm sâu vào thớ gỗ:

“Chị Thảo, em biết bên em trễ giờ là sai hoàn toàn, nhưng mà…”

“Chưa hết đâu!” Giọng Thảo lạc hẳn đi vì uất ức. “Mấy anh em trong phòng tôi đói quá, bấm bụng mở mấy cái hộp cơm mang lên ra ăn. Mở ra thì thấy cái gì? Hộp thì độn toàn cơm cháy khô khốc cứng như đá ngói, hộp thì có đúng một mẩu trứng chiên cháy đen thui, thịt thà thì vụn nát như đồ ăn thừa của ai để lại! Còn tám cái suất phát sinh tôi dặn anh Khải mang sang đây làm cái trò gì nữa hả?! Để cúng à?! Đối tác người ta đi ăn nhà hàng hết rồi, giờ tám hộp cơm cháy khét lẹt này ai ăn? Tôi ăn chắc?!”

“Chị Thảo… sáng nay em nhận đơn trên Zalo của chị chỉ có mười lăm suất…”

“Tôi không rảnh để đứng đây nghe mấy người đùn đẩy trách nhiệm cho nhau!” Thảo cắt ngang không thương tiếc. “Bát nháo nó vừa vừa phai phải thôi chứ! Quen biết ủng hộ bao lâu nay mà các người đối xử với khách hàng như phường lừa đảo vậy hả? Chiều nay đúng một giờ rưỡi tôi mang trả lại toàn bộ tám cái suất cơm phát sinh nguyên xi đó về quán. Các người liệu mà hoàn đủ tiền cọc tám suất đó lại cho tôi ngay lập tức, không thiếu một cắc! Và nghe cho rõ đây: từ tuần sau, cắt hết! Công ty tôi dẹp cái vụ đặt cơm năm ngày một tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu đi! Tôi chỉ đặt cầm chừng hai ngày thứ Ba với thứ Năm cho mấy người đỡ chết đói thôi! Còn nếu tái diễn thêm một lần trễ giờ hay làm ăn bậy bạ kiểu này nữa thì dẹp hẳn luôn, vĩnh viễn không bao giờ có chuyện công ty tôi bước chân vào quán này một lần nào nữa!”

*Tút… tút… tút…*

Âm thanh báo ngắt cuộc gọi khô khốc vang lên đều đặn trong ống nghe, buốt lạnh như một gáo nước đá dội thẳng vào đỉnh đầu.

Hà từ từ hạ cánh tay xuống, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì đã bóp chiếc điện thoại quá chặt. Toàn thân cô mềm nhũn, phải dựa lưng vào vách tường gạch phía sau để khỏi khuỵu xuống. Đơn cơm trưa cố định năm ngày một tuần của công ty Thảo không đơn thuần là một mối hàng; đó là cái phao cứu sinh lớn nhất của quán Cơm Nhà Bà Lan trong suốt nửa năm qua. Khoản tiền thanh toán đều đặn vào mỗi chiều thứ Sáu từ công ty Thảo chính là nguồn tiền mặt duy nhất giúp mẹ cô chắc chắn có đủ tiền thanh toán hóa đơn điện ba pha, tiền đổi bình gas công nghiệp và gom góp từng đồng cho món tiền thuê mặt bằng nghiệt ngã của ông Tín vào cuối mỗi tháng. Việc bị cắt giảm từ năm ngày xuống còn hai ngày đồng nghĩa với việc doanh thu cốt lõi bị bốc hơi hơn sáu mươi phần trăm. Một lỗ thủng khổng lồ vừa bị xé toạc ra ngay giữa chiếc thuyền nan vốn đã tròng trành mục nát.

Đúng lúc đó, tiếng động cơ xe máy ầm ĩ lại dội vào từ ngoài bực cửa. Khải hậm hực dắt xe bước vào, gương mặt xám ngoét như tro tàn, mồ hôi và bụi đường bết lại thành từng vệt đen đúa trên hai gò má. Anh vung tay, ném phịch chiếc túi ni lông đựng tám hộp cơm bị Thảo thẳng thừng trả về lên mặt bàn số một. Cú ném mạnh khiến một hộp xốp bị bẹp góc, nước sốt thịt kho loãng toẹt bên trong tràn ra ngoài mép nilông, bốc lên một mùi dầu mỡ ngai ngái, khó chịu.

Nhìn thấy Hà đứng thẫn thờ sau quầy với gương mặt không còn giọt máu, Khải không những không hề tỏ ra hối hận hay hỏi han lấy một lời, mà ngược lại, sự xấu hổ khi bị đối xử tệ hại bên ngoài lập tức chuyển hóa thành một cơn cáu kỉnh hung bạo:

“Con Thảo nó gọi điện chửi bới rồi chứ gì? Đổ thừa cho tao chứ gì?! Tao đã bảo từ đầu rồi, làm ăn buôn bán vỉa hè là phải biết linh động cái đầu! Lúc mười một giờ bốn mươi thấy tao chạy xe về hối cơm thì lanh cái tay cái chân lên, hai ba người xúm lại đập chục quả trứng vịt, xắt thêm mấy trái cà chua xào ào một cái là xong tám hộp cơm chứ có cái quái gì đâu! Cứ đứng trơ cái mặt ra đó cãi lý cãi cọ, bám khư khư lấy cái tờ phiếu vớ vẩn trong cái khay nhựa xanh của thằng Duy bày trò! Máy móc cho cố vô, bài đặt quy trình với chả quy tắc, giờ mất mối lớn rồi đó, vừa lòng tụi bây chưa?!”

Một cảm giác nghẹn đắng, cay xè trào dâng từ đáy dạ dày lên tận cuống họng của Hà. Mọi sự nhẫn nhịn, mọi nỗ lực gìn giữ hòa khí trong gia đình suốt bao tháng ngày qua dường như đứt phựt như một sợi dây đàn căng quá mức. Cô bước ra khỏi quầy, đứng đối diện thẳng thắn với Khải, hai mắt cô long lên, giọng run rẩy nhưng từng tiếng thốt ra đanh thép đến không ngờ:

“Anh Khải! Sao anh dám mở miệng ra đổ lỗi cho em là máy móc?! Chị Thảo nhắn tin cho em từ tám giờ sáng chốt đúng mười lăm suất. Em đã in phiếu, đã bàn giao vào bếp cho cô Hạnh, cô Hạnh đã canh đúng định lượng để nấu nướng tươm tất. Anh nhận thêm tám suất của người ta ngoài đường từ lúc chín giờ, anh có gọi về cho em một cuộc điện thoại nào không? Anh có bước chân vào bếp nhìn xem trong nồi còn bao nhiêu thịt, trong thùng còn bao nhiêu gạo không mà anh dám vỗ ngực nhận lời người ta?! Anh nhận bằng cái miệng của anh, anh hứa cho sướng cái miệng của anh ngoài đường rồi anh chạy về anh bắt cô Hạnh với em phải biến phép ra đồ ăn cho anh đi giao?! Anh làm trễ của người ta bốn mươi phút, anh bắt người ta ăn cơm cháy với trứng vụn, giờ người ta mắng thì anh quay sang chửi em với cô Hạnh là máy móc sao?!”

“Mày câm cái miệng mày lại!” Khải đỏ mặt tía tai, gân cổ nổi cuồn cuộn lên như những con giun đất dưới làn da rám nắng. “Tao chạy ngoài đường vì cái quán này chứ tao đi chơi cho sướng thân tao chắc?! Tao thấy mối có thêm tiền thì tao nhận, tao làm vì cái nhà này chứ vì ai mà mày đứng đó mày lên giọng dạy đời tao?!”

“Thôi đi! Bác xin hai đứa mày… Im hết đi cho mẹ nhờ!”

Bà Lan từ góc nhà lê từng bước nặng nhọc tới, chiếc gậy tre run rẩy gõ mạnh côm cốp xuống nền gạch bông. Đôi mắt kèm nhèm của người mẹ già đỏ hoe, ngân ngấn nước mắt vì sự bất lực và đớn đau tột cùng:

“Khách khứa… khách khứa người ta đi ngang nhìn vào kìa con ơi… Đừng để người ta cười vào bàn thờ ba mày…”

Khải hừ mạnh một tiếng đầy cay cú, quệt mạnh tay áo lên trán lau mồ hôi rồi quay ngoắt người, hầm hầm bước ra góc hiên ngồi thụp xuống bực thềm. Anh rút ra một điếu thuốc lá nhăn nhúm, bật lửa tanh tách rồi rít lấy rít để, từng luồng khói thuốc đặc quẹt phả mù mịt ra nền đường nắng gắt đang bốc hơi ngùn ngụt.

Hà đứng lặng đi vài giây, cố nén giọt nước mắt uất nghẹn không cho lăn xuống má. Cô quay gót bước chầm chậm về lại quầy thu ngân, kéo ngăn kéo gỗ cũ kỹ ra. Tiếng *két* ma sát của rãnh gỗ khô dầu vang lên khô khốc.

Hà nhìn xuống cọc tiền lẻ nằm mỏng dính ở góc ngăn kéo — đây là toàn bộ số tiền bán hàng từ sáng đến giờ, khoản tiền mà cô đã cẩn thận chia sẵn trong đầu để sáng mai trả tiền rau muống, tiền thịt tươi cho bạn hàng ngoài chợ và tích cóp từng chút một cho khoản tiền nhà ba triệu sáu của ông Tín vào cuối tháng. Hà cắn chặt môi đến mức bật máu. Cô thò tay rút ra ba trăm hai mươi nghìn đồng — đúng bằng giá trị của tám suất cơm văn phòng bốn mươi nghìn bị trả về — vuốt phẳng phiu từng mép tờ tiền polyme nhàu nhĩ rồi cẩn thận nhét vào một chiếc phong bì giấy màu nâu nhạt.

Đó là tiền túi, là thâm hụt trực tiếp của quán, một khoản lỗ đắng ngắt sinh ra từ một lời gật đầu ẩu đả ngoài đường. Trong tâm trí Hà, hình ảnh cuốn sổ tay bìa đen giấu dưới đáy ba lô lại hiện lên nhức nhối như một vết thương hở miệng; những dòng mực đỏ ghi nợ và những khoản bù lỗ dường như đang chuẩn bị nuốt trọn thêm một trang giấy trắng nữa.

***

Đúng một giờ ba mươi phút chiều, quán Cơm Nhà Bà Lan hoàn toàn vắng bóng khách.

Bà Lan sau những cơn xúc động và đau đớn đã kiệt sức, uống xong hai viên thuốc giảm đau liều cao thì nằm thiếp đi trên chiếc giường xếp sau vách kho, hơi thở nặng nề mệt mỏi. Cô Hạnh dọn dẹp xong đống xoong chảo ngổn ngang dưới bếp, gương mặt lạnh như tiền, không nói không rằng giật chiếc tạp dề vắt lên chiếc đinh mười phân đóng trên tường rồi xách nón bảo hiểm dắt xe ra về, thậm chí không buồn liếc nhìn Khải lấy một cái.

Không gian trong quán chìm vào một sự im lặng nặng nề, quánh đặc như một khối chì rỉ sét. Chỉ còn lại tiếng chiếc quạt tường quay ù ù từng chập và mùi nước lau sàn hương sả ẩm ướt bốc lên từ nền gạch bông loang lổ.

*Cạch.*

Cánh cửa kính phía trước bị đẩy mở ra. Đặng Thanh Thảo bước vào.

Thảo vẫn mặc bộ đồ công sở ban sáng: chiếc áo sơ mi màu xanh nhạt cắm thùng trong chân váy đen, nhưng mái tóc đã được búi gọn lại sau gáy. Gương mặt cô trang điểm kỹ càng nhưng không giấu nổi những nét mệt mỏi, bực dọc sau một buổi trưa kinh hoàng phải giải trình với cấp trên. Kẹp dưới nách Thảo là một chiếc bìa kẹp hồ sơ màu xanh dương bằng nhựa cứng, bên trong chứa bảng kê chi tiết toàn bộ các bữa ăn trưa của cả phòng ban trong hai tuần làm việc vừa qua.

Khải đang ngồi ủ rũ ở chiếc bàn số một gần cửa, thấy Thảo bước vào thì giật mình, lúng túng đứng bật dậy. Anh cố nặn ra một nụ cười xã giao méo xẹo, gượng gạo:

“Cô Thảo… thiệt tình trưa nay ngoài đường nó kẹt xe quá chừng, với lại dưới bếp nó kẹt đột xuất mấy món—”

“Tôi không bước chân sang đây vào giờ này để đứng nghe phân trần chuyện kẹt xe hay kẹt bếp, anh Khải,” Thảo lạnh lùng ngắt lời, giọng nói dứt khoát và sắc lạnh như một đường dao lam. “Tôi mang bảng kê sang để đối chiếu dứt điểm toàn bộ tiền cơm tuần này. Trừ sạch tám suất cơm trưa nay ra, còn lại bao nhiêu tôi chuyển khoản một lần cho xong nợ nần, khỏi nhùng nhằng.”

Khải sượng sùng cứng họng, hai bàn tay buông thõng bên hông, đứng chôn chân tại chỗ như một pho tượng đá vụng về.

Hà từ phía sau quầy thu ngân chậm rãi bước ra. Cô không vội vã cúi đầu lí nhí xin lỗi theo phản xạ tự ti như mọi bận, cũng không hề tìm cách bao biện hay đổ lỗi để gỡ gạc thể diện cho quán. Hà nhìn thẳng vào Thảo, ánh mắt mệt mỏi nhưng giữ một sự bình tĩnh lạ lùng:

“Chị Thảo, em mời chị vào trong này ngồi. Anh Khải, anh cũng vào đây đi. Ba người chúng ta ngồi xuống nói chuyện cho rõ ràng một lần duy nhất.”

Hà chủ động kéo chiếc ghế gỗ ở bàn số bảy — chiếc bàn bốn chỗ nằm nép mình sát bên khung cửa sổ cuối quán, nơi nhìn thẳng ra khoảng sân sau hẹp có đặt một chậu húng quế xanh mướt và giàn mồng tơi leo lơ thơ. Một chân của chiếc bàn này bị ngắn hơn các chân còn lại nửa phân, từ lâu đã được Duy chêm bằng một miếng nhựa màu cam cũ kỹ để giữ cho mặt bàn không bị lắc lư. Những luồng gió trưa muộn thổi qua khe cửa sổ mang theo chút hơi mát hiếm hoi của cây lá, làm dịu bớt cái ngột ngạt đang đè nặng trong phòng ăn.

Thảo thoáng ngập ngừng trước thái độ chững chạc, không hề né tránh của Hà. Vẻ hung hăng phòng thủ ban nãy của cô chùng xuống đôi chút. Thảo kéo chiếc ghế đối diện ngồi xuống. Khải ngần ngừ mất vài giây, mặt mũi vẫn còn hầm hầm bực bội, nhưng rồi cũng lầm lũi kéo chiếc ghế ở đầu bàn ngồi phịch xuống, hai tay khoanh chặt trước ngực, mắt nhìn gườm gườm xuống sàn nhà.

Hà đặt chiếc phong bì nâu đựng ba trăm hai mươi nghìn đồng tiền hoàn trả lên mặt bàn gỗ, nhẹ nhàng đẩy về phía trước mặt Thảo:

“Đây là số tiền ba trăm hai mươi nghìn đồng, tiền bồi hoàn cho tám suất cơm trưa nay bên công ty chị không thể sử dụng được. Quán em gửi lại chị trước để chị cân đối lại sổ sách bên phòng.”

Thảo nhìn chiếc phong bì giấy phẳng phiu, ánh mắt cô hơi lay động, sự gay gắt ban đầu dịu đi thấy rõ, nhưng giọng cô vẫn giữ nguyên vẻ nghiêm nghị của một người làm việc văn phòng vừa phải hứng chịu toàn bộ cơn thịnh nộ của cấp trên:

“Tôi không phải là người hẹp hòi muốn làm khó làm dễ quán của các người. Nhưng trưa nay tôi mất trắng toàn bộ uy tín trước mặt sếp tổng và bên đoàn kiểm toán. Một bữa cơm trưa tính ra chẳng đáng bao nhiêu tiền bạc, nhưng đối tác người ta nhìn vào cái cảnh giao cơm trễ bốn mươi phút, mở hộp cơm ra thì lộn xộn, nhếch nhác như đồ ăn thừa, người ta sẽ đánh giá cả cái cung cách quản lý của công ty tôi là luộm thuộm, thiếu chuyên nghiệp.”

“Em hiểu rất rõ điều đó,” Hà trả lời, giọng cô rành rọt, trầm tĩnh và dứt khoát. “Và em thành thật nhận lỗi vì sự cố trưa nay của quán đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc cũng như uy tín của chị. Nhưng bây giờ, em muốn cả ba người chúng ta cùng mở điện thoại ra, đặt lên chiếc bàn này, xem lại toàn bộ quá trình trao đổi thông tin từ sáng tới giờ để biết chính xác nó đã bị hỏng hóc từ mắt xích nào.”

Khải nhíu mày, giọng gắt gỏng xen vào:

“Mày lại muốn vạch lá tìm sâu cái gì nữa hả Hà? Chuyện trót lỡ rồi thì trả tiền xong là xong, bới móc ra làm gì cho rách việc!”

“Không thể coi là xong được, anh Khải!” Hà quay sang nhìn thẳng vào mắt anh trai, ánh mắt cô kiên định đến mức Khải phải bất giác dời tầm nhìn đi chỗ khác. “Nếu hôm nay ba người không ngồi lại làm cho ra lẽ, ngày mai ngày mốt chuyện tương tự lại xảy ra. Lúc đó quán mình không còn một người khách nào để mà bán nữa đâu!”

Thảo mở chiếc túi xách da, lấy chiếc điện thoại thông minh đặt lên mặt bàn gỗ. Hà cũng lấy chiếc máy của mình đặt song song cạnh đó. Khải chần chừ một lúc lâu, mặt mày khó đăm đăm, cuối cùng cũng bực dọc thò tay vào túi quần móc chiếc điện thoại cũ kỹ có góc màn hình nứt chân chim ném cộp một cái lên bàn.

Hà chạm nhẹ vào màn hình của mình, mở ứng dụng Zalo:

“Đây là lịch sử trao đổi giữa em và chị Thảo sáng nay. Lúc tám giờ mười hai phút, chị Thảo nhắn tin cho em chốt đơn mười lăm suất. Đúng tám giờ mười lăm phút, em nhắn tin xác nhận chi tiết từng món và giờ giao là mười một giờ bốn mươi lăm. Em in phiếu, chuyển vào khay xanh cho cô Hạnh chuẩn bị. Đến đúng mười một giờ bốn mươi phút, bếp của quán đã hoàn thành chính xác mười lăm suất đó, không thiếu một hộp nào và chất lượng hoàn toàn bảo đảm.”

Thảo cúi xuống nhìn vào màn hình của Hà, khẽ cắn môi. Rồi cô mở khóa chiếc điện thoại của mình, lướt ngón tay vào nhật ký cuộc gọi và ứng dụng nhắn tin:

“Đúng, sáng sớm tôi chỉ chốt mười lăm suất với Hà. Nhưng đến hơn chín giờ, phòng họp đột ngột báo thêm người. Tôi chạy vội xuống sảnh thì tình cờ gặp anh Khải tới trả cặp lồng. Tôi có nói trực tiếp bằng miệng với anh Khải là phát sinh thêm tám suất. Ngay sau khi quay lại thang máy, tôi có soạn một tin nhắn bổ sung gửi đi…”

Ngón tay Thảo đang lướt trên màn hình bỗng nhiên khựng lại.

Đôi mắt cô mở to, nhìn trừng trừng vào dòng tin nhắn trên màn hình máy mình, sắc mặt cô thoáng biến đổi, từ vẻ tự tin chuyển sang sự sững sờ khó tin.

“Sao vậy chị Thảo?” Hà khẽ hỏi.

Thảo ngẩng đầu lên, gương mặt trang điểm kỹ càng bắt đầu đỏ ửng lên vì ngượng ngùng:

“Tôi… tôi gửi tin nhắn bổ sung lúc chín giờ mười lăm phút… Nhưng tôi lại bấm gửi vào số Zalo cá nhân của anh Khải chứ không gửi vào Zalo của quán. Và… lúc đó trong thang máy sóng yếu, mạng chập chờn… tin nhắn báo gửi lỗi, có cái dấu chấm than màu đỏ lòm ở bên cạnh mà tôi bận họp gấp quá, cất máy vào túi luôn nên không kiểm tra lại xem nó đã gửi đi thành công hay chưa…”

Khải như người vớ được cọc giữa dòng nước xiết, chộp ngay lấy chiếc điện thoại cũ của mình, bấm mở khóa rồi giơ thẳng màn hình ra trước mặt Thảo, cao giọng như muốn đòi lại công đạo:

“Đó! Thấy chưa! Mấy người thấy rõ ràng chưa?! Cô Thảo có gửi được tin nhắn nào qua máy tôi đâu! Tôi chạy xe ngoài đường gió thổi ù ù hai bên tai, nghe cô dặn miệng thêm tám suất thì trong đầu tôi chỉ nhớ đinh ninh con số tám suất đó thôi chứ tôi có nhận được cái tin nhắn nào đâu mà bảo tôi không đọc!”

“Nhưng anh Khải,” tiếng nói của Hà cất lên, không hề cao giọng, nhưng sự điềm tĩnh và chuẩn xác trong từng câu chữ của cô lập tức kéo Khải tụt ngược trở lại thực tế phũ phàng. “Anh nghe chị Thảo dặn miệng lúc chín giờ sáng. Từ chín giờ sáng cho đến mười một giờ bốn mươi phút trưa, anh có trọn vẹn hai tiếng bốn mươi phút đồng hồ. Trong suốt hai tiếng bốn mươi phút đó, anh có dừng xe lại để bấm một cuộc gọi về cho em không? Anh có nhắn một chữ nào vào máy của quán để báo cho bếp biết không?”

Khải nghẹn họng. Gương mặt đỏ gay của anh co giật nhẹ, bàn tay thô ráp đặt trên đầu gối siết chặt lấy lớp vải quần bò:

“Tao… tao bận chạy qua quận Mười Một lấy đồ cho ông Bình… Tao nghĩ trong bụng là cơm quán nhà mình lúc nào chẳng sẵn một nồi to, thêm dăm ba hộp thì tới giờ chạy về xúc vào là xong ngay…”

“Không có bất cứ thứ gì trong căn bếp này tự nhiên mà có sẵn cả, anh Khải à!” Hà nói, từng lời cô thốt ra như đục vào đá. “Mỗi miếng thịt cô Hạnh kho, mỗi lon gạo cô Hạnh đong vào nồi đều dựa trên chính xác số lượng thịt anh xách từ chợ về mỗi sáng. Sáng nay anh đi chợ mua ba ký rưỡi thịt, anh bảo cô Hạnh chia ba mươi lăm phần ăn. Em nhận chốt mười lăm phần cho chị Thảo, hai mươi phần còn lại để bán cho khách vãng lai tới quán. Anh không hề báo cho bếp một tiếng, anh tự ý nhận thêm tám phần bằng cái miệng của anh ngoài đường, thì lấy đâu ra thịt, lấy đâu ra cơm cho anh xúc vào hộp? Anh nhận đơn ngoài luồng, anh bắt bếp phải chịu trận, rồi khi xảy ra đổ vỡ thì anh đổ hết lỗi lên đầu mọi người?!”

Một khoảng im lặng tuyệt đối bao trùm lấy chiếc bàn số bảy.

Chỉ còn tiếng những chiếc lá húng quế ngoài bậu cửa sổ khẽ rung rinh, cọ vào nhau xào xạc trong làn gió trưa muộn. Miếng nhựa màu cam chêm dưới chân bàn phát huy trọn vẹn tác dụng của nó, giữ cho mặt bàn gỗ phẳng lặng, vững chãi tuyệt đối, không hề rung rinh lấy một ly dù cả ba con người đang ngồi quanh nó đều đang tì tay lên mặt gỗ với những cảm xúc ngổn ngang, bẽ bàng.

Thảo nhìn chiếc phong bì đựng ba trăm hai mươi nghìn đồng nằm trơ trọi trên bàn, rồi ngước nhìn sang gương mặt cương nghị của Hà và vẻ mặt bối rối, cúi gằm của Khải. Toàn bộ sự phẫn nộ, cay cú ban trưa của cô dường như đã bốc hơi hoàn toàn, nhường chỗ cho sự áy náy chân thành của một người làm việc văn phòng có học thức và hiểu rõ quy tắc vận hành:

“Tôi… tôi cũng có lỗi lớn trong chuyện này. Tôi báo thêm số lượng quá sát giờ, lại dặn miệng vội vã ở sảnh thang máy rồi nhắn tin cẩu thả mà không kiểm tra lại tình trạng gửi. Lẽ ra đối với một đơn hàng phát sinh lớn như vậy, tôi phải gọi điện thoại trực tiếp cho người phụ trách nhận đơn tại quầy để xác nhận hai chiều.”

Thảo thở dài một hơi dài, mở chiếc bìa hồ sơ màu xanh ra, cầm chiếc bút bi mực xanh gạch một đường dứt khoát qua mục tám suất cơm trưa nay trên bảng kê chi tiết:

“Tiền tám suất cơm trưa nay tôi xin phép nhận lại theo đúng nguyên tắc. Nhưng… tôi sẽ không cắt giảm hợp đồng xuống còn hai ngày như lúc nãy tôi nói trong lúc nóng giận nữa. Tôi sẽ giữ nguyên lịch đặt cơm bốn ngày một tuần cho phòng tôi, từ thứ Ba đến thứ Sáu.”

Hà ngẩng đầu lên nhìn Thảo, đôi mắt cô thoáng ánh lên một tia nhẹ nhõm, một gánh nặng nghìn cân nơi lồng ngực như vừa được dỡ bỏ bớt một phần.

“Tuy nhiên,” Thảo gõ nhẹ đầu bút bi xuống mặt bàn gỗ, giọng cô trở nên nghiêm túc và rành mạch hơn bao giờ hết, “bắt đầu từ ngày mai, tôi chỉ làm việc với một đầu mối thông tin duy nhất. Tôi chỉ nhắn tin và chốt số lượng vào số điện thoại của quầy do Hà nắm giữ. Bất kỳ ai khác — kể cả anh Khải khi sang giao cơm có trực tiếp gặp tôi hay nhận lời dặn dò gì đi chăng nữa — tôi cũng xem như vô giá trị nếu như chưa có tin nhắn xác nhận cuối cùng gửi từ máy của Hà trước mười giờ sáng. Hai người có đồng ý như vậy không?”

“Dạ được, chị Thảo,” Hà trả lời ngay lập tức, không một phần nghìn giây do dự. “Em cam kết từ ngày mai, quán chỉ nấu và giao những đơn hàng đã được quầy xác nhận bằng văn bản qua tin nhắn.”

Thảo nhanh nhẹn ký tên vào góc bảng kê, rút điện thoại ra thao tác chuyển khoản toàn bộ số tiền cơm còn lại của tuần qua tài khoản ngân hàng cho Hà. Xong xuôi, cô đứng dậy thu dọn tài liệu vào túi xách. Trước khi bước chân ra đến cửa kính, Thảo dừng lại vài giây, quay đầu nhìn hai anh em:

“Thú thật là tôi với mấy anh em trong công ty rất thích cơm của bác Lan nấu, vì đồ ăn sạch sẽ, nêm nếm vừa miệng như cơm mẹ nấu ở nhà. Nhưng làm ăn buôn bán lâu dài thì bắt buộc phải rõ ràng, chuyên nghiệp. Cứ ỷ vào quen biết rồi làm việc theo kiểu tùy hứng, tiện đâu làm đó thì sớm muộn gì các người cũng tự đánh mất hết chén cơm của mình thôi.”

*Cạch.*

Tiếng cánh cửa kính khép lại sau lưng Thảo. Tiếng gót giày cao gót xa dần rồi tan biến hẳn vào tiếng ồn ào của xe cộ ngoài đường Vườn Me.

Quán ăn lại rơi vào sự vắng lặng ngột ngạt quen thuộc. Trên mặt bàn số bảy, tách trà đá đã tan hết tự bao giờ, chỉ còn lại những vệt nước đọng tròn xoe, loang lổ trên mặt gỗ nâu sẫm.

Hà ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ, cảm thấy một sự mệt mỏi rã rời, kiệt quệ tựa hồ như vừa trải qua một trận ốm thập tử nhất sinh đang đè nặng lên hai bờ vai mảnh khảnh. Nhưng kỳ lạ thay, tận sâu trong tâm trí cô, mọi thứ lại trở nên sáng rõ và sắc nét hơn bao giờ hết. Vụ đổ vỡ trưa nay không phải là một tai nạn xui xẻo ngẫu nhiên, càng không phải xuất phát từ việc cô “máy móc” hay cô Hạnh “khó tính gắt gỏng”. Nó chính là hậu quả tất yếu, không thể tránh khỏi của một lỗ hổng vận hành chết người đã tồn tại bấy lâu nay: một quán ăn không thể nào tồn tại nếu có tới hai người cùng độc lập nhận đơn và quyết định theo hai phương thức hoàn toàn tréo ngoe nhau. Một lời hứa tùy tiện bằng miệng ngoài đường của Khải có thể dễ dàng quét sạch toàn bộ mồ hôi, công sức và sự nỗ lực của những con người đang chôn chân bên bếp lửa và bàn thu ngân.

Khải vẫn ngồi trơ ra ở đầu bàn, hai bàn tay đan chặt vào nhau, mặt mày xầm xì như một đám mây đen vần vũ. Anh gõ gõ những đầu ngón tay chai sần, thô ráp xuống mặt bàn gỗ, tạo nên những tiếng cộc cộc khô khốc. Vẻ mặt anh là một mớ bòng bong hỗn độn: vừa bẽ bàng, nhục nhã vì bị một đứa con gái văn phòng vạch trần sai sót ngay trước mặt em gái, vừa cay cú, không cam tâm thừa nhận cái tư duy buôn bán chụp giật bấy lâu nay của mình là sai trái.

Bất thình lình, Khải ngẩng phắt đầu lên. Anh hất hàm về phía quầy thu ngân, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ, càu nhàu bằng một cái giọng the thé, cay độc đầy hằn học:

“Mày hay lắm! Mày giỏi giang lắm rồi Hà! Ngồi đó mà phân tích với chả lý sự cùn! Khách người ta giảm từ năm ngày xuống còn có bốn ngày một tuần, mất toi đứt mấy chục suất cơm béo bở, mất cả đống tiền triệu, rồi tiền đâu mà bù vào tiền thuê nhà của ông Tín cuối tháng này? Tiền đâu mà mua thuốc khớp cho mẹ mày uống hả?! Tất cả cũng chỉ tại cái thói làm việc cứng nhắc, bài đặt máy móc theo sách vở của mày mà ra! Không biết tùy cơ ứng biến thì chỉ có nước cạp đất mà ăn!”

Khải đứng phắt dậy, mũi giày bảo hộ lao động đá mạnh vào chân chiếc ghế gỗ làm nó trượt dài, phát ra một tiếng *két* chói tai, rợn người trên nền gạch bông:

“Chiều nay lo mà dọn dẹp quán cho sớm sủa đi! Tao tính kỹ rồi, từ ngày mai cái quán này bắt buộc phải mở thêm ca tối, nấu thêm món nhậu bình dân, bán miết tới chín mười giờ đêm để mà cày cuốc bù vào cái khoản doanh thu vừa bị mày làm mất trưa nay!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories