Ghế chờ phòng khám
Mùi cồn sát trùng bảy mươi độ ngai ngái, xộc thẳng vào sống mũi, hòa lẫn với thứ mùi mồ hôi chua nồng tích tụ trong một không gian kín đặc người, biến bầu không khí ở hành lang tầng trệt phòng khám đa khoa khu vực thành một khối ngột ngạt khó thở. Trên trần bê tông loang lổ những vệt ố vàng do nước mưa thấm từ tầng trên xuống, chiếc quạt ba cánh bằng sắt bám đầy một lớp bụi đen quánh đang chầm chậm đảo qua đảo lại. Mỗi lần cánh quạt quay qua khớp nối rỉ sét, nó lại phát ra một tiếng lạch cạch khô khốc, trút xuống từng đợt gió nóng hầm hập không đủ làm dịu đi cái rát bỏng của một buổi trưa Sài Gòn đang lừng lững ập tới.
Hà ngồi nép mình ở mép ngoài cùng của dãy ghế nhựa màu xanh dương đã bạc màu và xước xát nham nhở. Chiếc kim phút trên mặt đồng hồ đeo tay nhích thêm một vạch nhỏ, vượt qua mốc mười một giờ năm phút một cách tàn nhẫn và dửng dưng. Tiếng kim giây nhảy tạch tạch bên tai như một lời nhắc nhở sắc nhọn về khoảng cách ba cây số đang ngăn cách cô với con hẻm Vườn Me. Ở nơi đó, một quán cơm gia đình đang bước vào giờ tan tầm khốc liệt nhất trong ngày.
Dọc theo hành lang dài hun hút, người ta ngồi ken đặc. Những cụ già lưng còng rạp, hai bàn tay run rẩy ôm lấy bọc sổ khám bệnh đã quăn mép; những người mẹ trẻ một tay bồng đứa con nhỏ đang quấy khóc ngằn ngặt vì khát sữa, một tay không ngừng phẩy phẩy chiếc quạt nan rách tơi tả. Thỉnh thoảng, tiếng ho hen húng hắng đầy đờm dãi lại bật lên từ góc tường, nối tiếp bởi tiếng thở dài thườn thượt của những người đã ngồi chôn chân suốt từ sáu giờ sáng chỉ để chờ một kết quả xét nghiệm máu hay một tờ phiếu chụp phim. Cứ chốc chốc, chiếc loa phóng thanh gắn ở góc trần lại rè rè rít lên một tràng âm thanh chói gắt, rồi giọng một cô điều dưỡng vô cảm vang lên, đọc đều đều những cái tên dài ngoằng không cảm xúc, nhấn chìm toàn bộ sự sốt ruột của đoàn người vào một vòng xoáy chờ đợi tưởng chừng bất tận.
Hà đan chặt hai bàn tay vào nhau, đặt trên đùi. Lòng bàn tay cô rịn ra một lớp mồ hôi dính ráp, trơn trượt. Mười đầu ngón tay bấm chặt vào mu bàn tay đối diện đến trắng bệch, nhưng cô dường như không cảm nhận được cảm giác đau đớn ấy. Trong tâm trí cô, mọi suy nghĩ cứ cuộn xoáy rồi va đập dữ dội vào hình ảnh buổi sáng nay tại quán, cái khoảnh khắc vội vã lúc tám giờ rưỡi mà giờ đây đang biến thành nguồn cơn của nỗi cắn rứt khôn nguôi.
Lúc ấy, nắng sớm mới chỉ vừa rọi xiên qua giàn lưới lan che trước hiên. Ở sàn nước phía sau bếp, cô Hạnh phụ bếp đang lục đục kéo chiếc ghế đòn nhựa ra ngồi, tiếng vòi nước xả xối xả vào chiếc thau nhôm to đùng chứa đầy rau muống nước kêu ràn rạt. Mùi hành phi mẻ đầu tiên của ngày mới còn bảng lảng trong không khí, ngòn ngọt và thơm ngậy. Đúng lúc đó thì Duy bước qua bậu cửa. Anh vẫn đeo chiếc ba lô vải màu xám tro quen thuộc, dáng đi thẳng thớm, chuẩn mực, trên gương mặt góc cạnh không gợn một nét biểu cảm thừa thãi. Anh đến sớm hơn giờ bắt đầu ca làm việc mười lăm phút như một thói quen cơ học không bao giờ xê xích.
Khi nhìn thấy Duy cởi chiếc áo khoác gió bên ngoài, để lộ chiếc áo thun đen đồng phục có in dòng chữ “Cơm Nhà Bà Lan” đã hơi sờn cổ, Hà đã ngập ngừng bước tới gần quầy thu ngân. Cô nhớ như in cảm giác bồn chồn lúc ấy, khi những ngón tay cô cứ bứt rứt vò nát một góc gấu áo thun của mình, ánh mắt lấm lét nhìn sang phía mẹ đang ngồi xoa bóp khớp gối trên chiếc phản gỗ góc nhà.
*“Anh Duy ơi,”* cô đã nói với anh bằng một giọng thì thào, vừa tha thiết vừa mang đầy vẻ van nài, *“lát mẹ em nhức chân quá đi không nổi, em phải chở mẹ ghé phòng khám đầu đường một lát. Anh trông quầy hộ em chút xíu nghen.”*
Duy khi ấy đang đứng cúi đầu kiểm tra lại xấp giấy in hóa đơn nhiệt vừa thay mới. Nghe tiếng cô, anh ngẩng lên. Cây bút bi kẹp giữa những ngón tay thon dài của anh khựng lại một nhịp. Đôi mắt đen sâu thẳm, tĩnh lặng như mặt nước giếng khơi khẽ nheo lại, nhìn xoáy vào sự lúng túng lộ rõ trên gương mặt cô:
*“Cô Lan đau nhiều lắm hả? Khoảng chừng nào Hà về?”*
Đó là câu hỏi then chốt. Đó là cơ hội duy nhất để cô rành mạch. Đáng lẽ cô phải sòng phẳng nói cho anh biết rằng đi khám bệnh ở một cơ sở y tế công lập tuyến quận chưa bao giờ là một chuyến đi dạo. Đáng lẽ cô phải nói thẳng rằng từ khâu bốc số thứ tự, ngồi đợi gọi tên vào phòng khám sơ bộ, nhận chỉ định chụp X-quang, xếp hàng trước phòng chụp phim, rồi lại tiếp tục ngồi đợi bác sĩ đọc kết quả và kê toa thuốc, toàn bộ chuỗi mắt xích ấy sẽ ngốn đứt ít nhất hai đến ba tiếng đồng hồ của buổi sáng. Nhưng cái tính dĩ hòa vi quý ăn sâu vào máu thịt, nỗi sợ hãi cố hữu rằng người khác sẽ lắc đầu từ chối nếu biết khối lượng công việc quá nặng nề, cùng với thói quen tệ hại là luôn muốn giảm nhẹ mọi rắc rối trước mặt mọi người đã khiến cô tự bịt mắt mình lại.
Cô đã nở một nụ cười gượng gạo, buông ra cái cụm từ quen thuộc mà chính cô cũng không ngờ nó lại tai hại đến nhường này:
*“Dạ chút xíu thôi anh, em chở mẹ đi chụp cái hình khớp rồi về liền hà, không lâu đâu.”*
Cái “chút xíu” ấy rốt cuộc chỉ là một tấm màn che đậy sự thiếu chuẩn bị. Duy gật đầu nhận lời không phải vì anh sẵn sàng bao biện cho một ca làm việc kéo dài vô tận, mà bởi vì anh tin vào cái mốc thời gian mười lăm, hai mươi phút mà cô gián tiếp ám chỉ. Anh không hề biết, và cay đắng hơn là chính Hà cũng cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên: ở cái đất Sài Gòn này, bước chân vào bệnh viện thì không bao giờ có khái niệm “chút xíu”. Giờ đây, cái chữ “chút xíu” ấy đang biến thành một chiếc thòng lọng vô hình, từng phút từng giây siết nghẹt lấy cổ họng Hà, dìm cô xuống đáy sâu của nỗi âu lo và bất lực.
Bên cạnh Hà, bà Lan ngồi tựa hẳn lưng vào bức tường quét vôi xanh đã rêu mốc. Hai mắt bà nhắm nghiền, hàng mi thưa thớt khẽ rung bần bật sau mỗi nhịp thở nặng nề. Chiếc chân phải của bà duỗi thẳng đuột ra phía trước nền gạch bông trơn láng một cách gượng gạo, chiếc dép tổ ong màu ngà dưới bàn chân khẽ nghiêng hẳn sang một bên mép ngoài để giảm bớt mọi phản lực dội lên khớp gối.
Ẩn bên dưới lớp vải hoa màu tím thẫm đã sờn rách chỉ ở đường viền gấu quần, cái đầu gối của bà sưng múp lên như một cái bát úp, thô kệch và biến dạng, to hơn hẳn bên gối trái vốn đã gầy guộc khẳng khiu. Khớp gối ấy nóng rực, tỏa ra một thứ nhiệt lượng âm ỉ mà ngay cả khi ngồi cách một khoảng ngắn, Hà vẫn như cảm nhận được từng cơn giật nhói đang cắn xé bên trong thớ thịt của mẹ. Thỉnh thoảng, một người bệnh nào đó đi ngang qua vô tình quẹt nhẹ tà áo hay mép túi xách vào ống quần hoa, khóe miệng bà Lan lại giật nảy lên một cái, hai hàng chân mày bạc màu cau chặt lại, hằn sâu một rãnh nếp nhăn nhức nhối giữa hai đầu mày. Bà không dám rên to, chỉ có những tiếng hít hà rất khẽ, nghẹn ứ nơi cuống họng, như sợ rằng nếu mình thốt ra một tiếng kêu đau đớn, đứa con gái ngồi bên cạnh sẽ lại càng thêm hoảng loạn.
“Số ba mươi tư! Bệnh nhân Nguyễn Thị Lan! Phòng khám số hai!”
Tiếng loa phát thanh treo ngay trên đầu đột ngột rít lên một hồi chói óc, xé toạc màng nhĩ và cắt phăng dòng suy nghĩ đang rối bời như tơ vò của Hà.
Cô giật thót mình, vội vã đứng bật dậy. Đôi chân ngồi lâu một chỗ tê dại khiến cô suýt loạng choạng ngã chúi về phía trước. Không kịp định thần, Hà luống cuống xoay người, cúi rạp xuống luồn cánh tay qua nách mẹ:
“Tới lượt mình rồi mẹ ơi! Số ba mươi tư rồi! Mẹ vịn chắc lấy vai con nè, từ từ dồn lực qua chân trái nghen, coi chừng hẫng chân là ngã đó mẹ!”
Bà Lan run rẩy mở mắt, trong đáy mắt đùng đục của bà phủ một lớp màng nước mờ ảo vì đau đớn. Bà khẽ rên lên một tiếng “ư hử” nghẹn ngào, bàn tay gầy guộc nổi đầy những đường gân xanh ngoằn ngoèo và chằng chịt những vết sẹo bỏng mỡ cũ mới bấu chặt lấy bắp tay Hà. Những móng tay khô ráp của bà bấm sâu qua lớp áo thun mỏng, đau điếng, nhưng Hà chỉ cắn răng chịu đựng, gồng cứng toàn bộ cơ lưng để làm điểm tựa cho mẹ.
Phải mất gần nửa phút đồng hồ trôi qua trong sự vật lộn âm thầm, bà Lan mới run rẩy dồn được chút trọng lượng tàn tạ của cơ thể sang bên chân trái để nhấc nổi thân hình gầy còm đứng thẳng dậy. Từng bước một, nặng nề và tập tễnh, gót chân phải của bà kéo lê trên nền gạch phát ra những tiếng sột soạt ma sát khô khốc. Hà cẩn thận ghì chặt lấy mẹ, nửa đỡ nửa kéo, nhích từng phân một qua cánh cửa gỗ dán ọp ẹp đã tróc từng mảng sơn xanh của phòng khám chuyên khoa ngoại số hai.
Bên trong phòng khám, không khí dịu đi đôi chút nhưng lại đặc quánh mùi thuốc sát trùng và mùi ẩm mốc phả ra từ chiếc máy lạnh cổ lỗ sĩ gắn trên tường, đang rung lên bần bật và phát ra những tiếng rin rít chói tai. Một vị bác sĩ nam trạc ngoài năm mươi tuổi, dáng người đậm, mái tóc hoa râm cắt ngắn và đôi mắt sắc sảo giấu sau cặp kính lão gọng kim loại dày cộp, đang cắm tấm phim X-quang đen trắng khổ lớn lên chiếc hộp đèn chiếu sáng gắn chặt trên vách tường đối diện.
Ánh sáng trắng lạnh lẽo, chói lòa từ hộp đèn xuyên qua lớp nhựa phim trong suốt, phơi bày toàn bộ cấu trúc xương bên trong khớp gối của bà Lan một cách trần trụi và tàn nhẫn.
Bác sĩ dùng đầu ngòi chiếc bút bi bấm kim loại chỉ thẳng vào một khoảng hẹp đen ngòm, nơi hai đầu xương tiếp giáp với nhau:
“Kết quả chụp phim và siêu âm khớp có đủ cả rồi đây. Bác nhìn vào chỗ này này. Toàn bộ khớp gối bên phải của bác đã bị thoái hóa nặng, đã bước sang giai đoạn độ ba rồi chứ không còn là viêm khớp thông thường nữa đâu.”
Ông dừng lại một chút, ngòi bút bi gõ nhẹ cọc cọc lên tấm phim, tiếp tục phân tích với một giọng điệu lạnh lùng, dứt khoát:
“Nhìn vào khe khớp này xem, khoảng cách sinh lý bình thường giữa xương đùi và mâm chày giờ đã hẹp lại gần như biến mất hoàn toàn, hai đầu xương dính sát sạt vào nhau. Lớp sụn chêm đóng vai trò như miếng đệm giảm xóc ở giữa đã bị bào mòn vẹt đi, rách nát gần hết. Ở bờ rìa mâm chày và cả mặt sau của xương bánh chè, gai xương đã mọc lởm chởm, sắc nhọn như răng cưa thế này. Chưa hết, hình ảnh siêu âm cho thấy trong bao hoạt dịch đang có hiện tượng tràn dịch mức độ vừa đến nhẹ. Toàn bộ ổ khớp đang trong tình trạng phản ứng viêm dữ dội. Đây chính là lý do vì sao chân bác sưng phù to tướng, nóng đỏ, và mỗi lần bác bước đi hay cử động là gai xương cọ xát trực tiếp vào màng xương, gây ra những cơn buốt nhức thấu trời thấu đất lan tận xuống mắt cá chân.”
Hà đứng tựa vào lưng ghế bệnh nhân, hai bàn tay buông thõng bên hông bỗng dưng run lên bần bật. Trái tim cô như vừa bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, rơi tõm xuống đáy vực sâu lạnh toát. Dù từ mấy tháng nay, nhìn dáng đi khập khiễng và những đêm mẹ ngồi ôm gối xoa dầu gió xanh đến sáng, cô đã lờ mờ đoán được bệnh tình của mẹ không hề đơn giản, nhưng khi hai chữ “độ ba” sắc lạnh như một bản án cất lên từ miệng vị bác sĩ chuyên khoa, cô vẫn thấy choáng váng đến mức đất trời như chao đảo.
“Bác sĩ... thoái hóa độ ba là... là nặng lắm rồi phải không ạ?” Cổ họng Hà khô khốc, cô phải nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh mới cất nổi thành lời, giọng run rẩy ngắt quãng. “Có... có cách nào uống thuốc hay tiêm thuốc gì cho nó tan mấy cái gai xương đó đi, rồi rút hết cái dịch sưng ra liền được không bác sĩ? Mẹ con còn phải đi lại, còn buôn bán nữa...”
Vị bác sĩ tháo cặp kính lão xuống, đặt cạch một tiếng khô khốc lên mặt bàn làm việc bừa bộn những tập hồ sơ bệnh án. Ông ngước mắt lên, nhìn hai mẹ con với một ánh mắt vừa nghiêm nghị, vừa pha lẫn sự mệt mỏi cố hữu của một người đã phải lặp đi lặp lại cùng một lời giải thích vô vọng này với hàng trăm bệnh nhân nghèo mỗi ngày:
“Gai xương và mòn sụn không phải là mụn nhọt hay cục mỡ thừa mà đòi uống thuốc cho nó tự tiêu biến hay mọc lại được, cô hiểu không?” Giọng ông trầm xuống nhưng đanh thép: “Lớp sụn khớp của con người một khi đã bị thoái hóa, bị bào mòn và xơ hóa đến mức độ ba như thế này thì y học hiện nay không có loại thần dược nào có thể tái tạo lại nguyên vẹn như thời trẻ được nữa. Bây giờ, mỗi bước chân mẹ cô đi là hai đầu xương trần trụi đang nghiến thẳng vào nhau.”
Ông quay sang nhìn thẳng vào gương mặt tái mét của bà Lan, ánh mắt trở nên gay gắt hơn:
“Tôi cảnh báo trước cho bác và gia đình biết, nếu bác cứ tiếp tục giữ cái thói quen đứng hàng giờ liền bên bếp lửa nóng, khiêng vác những nồi niêu nặng cả chục ký lô, đi lên đi xuống cầu thang thì cái khớp gối này sẽ nhanh chóng bị phá hủy hoàn toàn. Đến lúc nó chuyển biến sang giai đoạn thoái hóa độ bốn, khe khớp dính chặt, trục chân bị biến dạng vòng kiềng, bác sẽ không còn bước đi nổi dù chỉ một bước. Lúc đó, con đường duy nhất còn lại là phải phẫu thuật mổ cắt bỏ toàn bộ phần khớp hư để thay khớp gối nhân tạo bằng kim loại!”
Hai chữ “thay khớp” như một tiếng sét đánh ngang tai, nổ tung giữa căn phòng khám nhỏ hẹp.
“Mà mổ thay khớp ở cái tuổi ngoài sáu mươi này,” bác sĩ nhấn mạnh từng chữ, âm lượng như đóng đinh vào không khí, “chi phí cho một bên gối ít nhất cũng phải sáu, bảy chục triệu đồng sau khi đã trừ bảo hiểm, đó là chưa kể tiền thuốc men bồi dưỡng hậu phẫu. Sau mổ thì đau đớn vô cùng, phải tập vật lý trị liệu ròng rã hàng tháng trời, nguy cơ nhiễm trùng, thải ghép hoặc biến chứng tim mạch huyết khối luôn rình rập, khả năng hồi phục để đi lại bình thường cũng cực kỳ gian nan. Bác với cô liệu có gánh nổi cái chi phí và những rủi ro đó không?”
Căn phòng chìm vào một sự im lặng chết chóc. Tiếng quạt gió của chiếc máy lạnh cũ kỹ rên rỉ từng hồi như tiếng thở dài của sự bế tắc.
Bà Lan ngồi chết lặng trên chiếc ghế xoay bọc da giả đã rách mép. Bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn của bà đang đặt trên đầu gối phải bất giác co rúm lại, mười đầu ngón tay bấu chặt lấy lớp vải quần hoa như muốn bóp nát cơn đau đang âm ỉ cắn sâu trong tủy xương. Một hơi thở dài thườn thượt, nén chặt đến mức nghe như một tiếng nấc nghẹn ngào, từ từ thoát ra từ lồng ngực lép kẹp của người đàn bà góa bụa đã dành trọn hơn ba mươi năm cuộc đời để đứng bên chiếc bếp lò rực lửa.
Thế nhưng, sự bàng hoàng và nỗi sợ hãi tột cùng ấy chỉ kịp lướt qua đôi mắt đục mờ của bà trong tích tắc. Như một phản xạ tự nhiên của một người cả đời đã quen gánh vác, quen nuốt nước mắt vào trong để làm chỗ dựa cho con cái, bà Lan chớp chớp mắt, cố xua đi lớp màng lệ đang chực trào ra. Khóe miệng nhăn nheo của bà khẽ giật giật, rồi bà gượng gạo nở một nụ cười méo mó, ánh mắt hấp háy nhìn vị bác sĩ, cố dùng cái giọng điệu xuề xòa của người lao động bình dân để biến một tai ương thành chuyện vặt vãnh:
“Trời đất ơi... mổ xẻ thay khớp chi cho tốn kém tiền bạc dữ vậy bác sĩ ơi. Già cả rồi, cái máy xài mấy chục năm thì nó rệu rã, ai mà chẳng đau lưng mỏi gối chút đỉnh. Tôi... tôi nghe mấy bà bạn già cùng xóm chỉ mối, bảo về kiếm cây thuốc bắc thuốc nam gì đó sắc nước uống cho mát gan lợi tiểu, rồi lấy lá lốt với ngải cứu ngoài vườn đem rang với muối hột bọc vô khăn chườm nóng lên đầu gối là nó rút hết ba cái nước ứ dịch ra liền hà, êm ru liền hà. Bác sĩ... bác sĩ coi thương tình kê giùm tôi mấy liều thuốc tây nào cho thiệt mạnh, uống vô là nó dứt liền cái cơn buốt nhức này giùm cái, để trưa nay tôi còn kịp đón xe về quán đặng xào nấu đồ ăn trưa cho mối mang người ta ăn. Mấy đứa nhỏ ở quán lóng ngóng tay chân dữ lắm, không có cái tay tôi đứng canh lửa, nêm nếm là tụi nó làm trật lất hết trơn, khách người ta chê người ta bỏ đi hết thì chết dở...”
“Bác Lan!”
Vị bác sĩ đập mạnh chiếc bút bi xuống mặt bàn kính một tiếng *chát*, cắt phăng lời phân trần của bà. Gương mặt ông đanh lại, giọng nói trở nên gắt gao và bực bội thực sự:
“Tôi ngồi đây khám bệnh cho bác bằng kiến thức y khoa, bằng hình ảnh chụp chiếu rành rành chứ tôi không có ngồi đây để dọa ma dọa quỷ kiếm tiền của bác! Tôi nói để bác hiểu cái mức độ nguy hiểm mà biết đường giữ gìn cái chân, chứ không phải để bác đem mấy cái mẹo vặt đắp lá đắp muối dân gian ra mà đôi co với tôi! Không có một loại lá lốt, ngải cứu hay nồi thuốc nam thần kỳ nào trên đời này có thể làm cho cái lớp sụn đã mòn vẹt, đã tiêu biến của bác nó tự mọc dày lại được đâu! Bác mà cứ tiếc ba cái đồng bạc buôn bán, cứ cố chấp đứng bếp xào nấu vài ba hôm nữa, ổ khớp nó viêm cấp tính bùng phát lên, dịch tràn ra căng tức thì lúc đó có muốn bò lết trong nhà bác cũng bò không nổi chứ đừng có mơ tới chuyện đứng xào rau với nấu thịt!”
Ông kéo mạnh tập toa thuốc lại gần, ngòi bút bi ngoáy lia lịa trên mặt giấy phát ra những tiếng sột soạt gay gắt:
“Từ ngày hôm nay, tôi ra lệnh cấm tuyệt đối: bác phải cắt giảm tối đa thời gian đứng, không được đứng liên tục quá mười lăm phút; tuyệt đối cấm ngồi xổm, cấm leo cầu thang dốc, và không được khiêng vác bất cứ vật gì nặng trên ba ký lô! Tôi sẽ kê cho bác một đơn thuốc gồm thuốc kháng viêm giảm phù nề, thuốc giảm đau bậc hai và thuốc bổ sung dịch khớp. Nhưng tôi nói thẳng, thuốc này chỉ là giải pháp tạm thời để dập tắt cơn đau cấp, linh hồn của việc điều trị thoái hóa khớp độ ba này là bác bắt buộc phải nghỉ ngơi và bất động tương đối! Bác không chịu nghe lời, tuần sau quay lại đây mà khớp nó sưng to gấp đôi thì tôi cũng chịu, không cứu nổi cái chân của bác đâu!”
Bà Lan cụp hẳn mí mắt xuống. Đôi bờ vai gầy nhom dưới lớp áo hoa màu tím khẽ sụp xuống một cách bất lực. Đôi môi mỏng nhăn nheo của bà mím chặt lại thành một đường thẳng thớm, không dám thốt thêm một lời nào nữa. Bà ngồi im như một pho tượng đá cũ kỹ, hai bàn tay đan vào nhau trên vạt quần, run rẩy đón nhận từng lời phán xét nặng nề.
Đứng bên cạnh mẹ, Hà cảm thấy lồng ngực mình nghẹn đắng lại, một cảm giác xót xa buốt nhói dâng lên tận cuống họng làm sống mũi cô cay xè. Cô hiểu mẹ mình hơn bất cứ ai trên cõi đời này. Đối với một người đàn bà góa bụa cả đời chỉ biết lấy góc bếp làm giang sơn, lấy tiếng mỡ reo xèo xèo và mùi cơm sôi làm nguồn sống như bà Lan, thì cái quán Cơm Nhà Bà Lan trên đường Vườn Me chưa bao giờ đơn thuần chỉ là một công cụ kiếm tiền mưu sinh. Nó là danh dự, là lòng kiêu hãnh, là minh chứng duy nhất cho thấy sự tồn tại của bà vẫn còn có giá trị, rằng bà vẫn là một người có ích, vẫn có thể dang rộng đôi cánh tay gầy guộc để che chở và nuôi nấng hai đứa con đã khôn lớn. Bây giờ, bắt bà phải rời xa chiếc chảo xào, cấm bà không được bước chân vào gian bếp, khác nào bắt bà phải thừa nhận rằng mình đã trở thành một kẻ tàn phế, một gánh nặng vô tích sự đang đè oằn lên vai con cái.
Vừa dìu được mẹ bước những bước tập tễnh ra khỏi cánh cửa phòng khám số hai để tiến về phía quầy nhận bệnh chờ lấy toa thuốc điện tử, chiếc túi quần sau của Hà bỗng rung lên bần bật.
Tiếng chuông báo tin nhắn quen thuộc của ứng dụng Zalo réo lên dồn dập, liên tiếp ba hồi *ting ting* sắc lạnh vang lên giữa không gian ồn ào của hành lang bệnh viện.
Hà giật mình, một tay cô vội ghì chặt lấy nách mẹ để bà không bị trượt chân trên nền gạch, tay kia vội vã thọc sâu vào túi quần, móc chiếc điện thoại thông minh đã nứt một góc kính cường lực ra xem. Màn hình sáng bừng lên dưới ánh đèn huỳnh quang nhợt nhạt. Đập vào mắt cô là ba dòng tin nhắn ngắn ngủi, rành mạch đến tàn nhẫn được gửi đi từ tài khoản của Phạm Duy:
*“Hà ơi, bây giờ là 11:30 rồi.”*
*“Tôi đã ở lại quá giờ hẹn của Hà để phụ gom đủ năm mươi suất cơm công nhân giao đi.”*
*“11:30 tôi bắt buộc phải rời quán để kịp giờ sang quận khác chuẩn bị cho buổi thực hành của lớp sửa điện dân dụng theo lịch đã đăng ký từ trước, tôi không thể ở lại thêm được. Lớp học nghề của tôi cố định hai buổi tối mỗi tuần, nhưng hôm nay có lịch thực hành xưởng sớm đầu giờ chiều. Tiền thu trưa tôi đã bỏ vào khay nhựa màu xanh, chìa khóa quầy tôi gửi lại dưới hũ tăm. Tôi xin phép về.”*
Những dòng chữ in hoa và dấu câu ngay ngắn, chỉn chu đến mức lạnh lùng như nhảy múa trước mắt Hà, biến thành những nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ.
Mười một giờ ba mươi phút!
Đầu óc Hà ong lên một tiếng chói gắt. Đó chính là khung giờ tử thần, đỉnh điểm của sự hỗn loạn tại quán Cơm Nhà Bà Lan. Đó là lúc tiếng còi xe tan ca từ xưởng gỗ nội thất Thành Đạt ở đầu đường bắt đầu rộ lên, từng tốp công nhân đói lả chuẩn bị ùa vào quán; đó là lúc những shipper mặc áo xanh, áo cam bắt đầu dựng xe kín vỉa hè; đó là lúc nồi canh chua cá điêu hồng đang sôi sùng sục cần người múc, những đĩa cơm sườn nướng khói nghi ngút cần người bưng bê, và chiếc máy in đơn nhiệt kết nối với các ứng dụng đặt món sẽ bắt đầu tuôn ra những dải giấy dài dằng dặc như thác lũ.
Cô Hạnh thì chỉ là một người phụ bếp chất phác, cả đời chỉ quen cặm cụi ngồi xổm lặt từng cọng rau muống, cạo từng củ gừng, rửa từng tảng thịt, đến mặt chữ trên tờ hóa đơn đôi khi còn phải đánh vần từng tiếng thì làm sao biết bấm máy tính tiền, làm sao biết thao tác xác nhận đơn hàng trên màn hình cảm ứng? Mẹ thì đang đứng dựa vào vai cô, toàn bộ nửa thân dưới tê dại vì khớp gối sưng múp không thể tự nhấc nổi gót chân. Còn Duy — người điều phối duy nhất giữ cho guồng quay của quán không bị trật bánh — thì đã dứt khoát bước ra khỏi cửa theo đúng nguyên tắc không tì vết của anh.
Quán ăn lúc này thực sự đã trở thành một bãi chiến trường không người chỉ huy.
“Có chuyện gì vậy con?”
Nhận thấy cánh tay con gái đang run rẩy một cách bất thường, bà Lan khó nhọc ngẩng đầu lên, ánh mắt đục mờ quét qua vẻ mặt trắng bệch của Hà, giọng bà thều thào đầy vẻ thăm dò và lo lắng.
“Dạ... dạ không có gì đâu mẹ,” Hà vội vã nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, cố nặn ra một nụ cười gượng gạo để che đậy sự hoảng loạn đang gào thét trong lồng ngực: “Anh Duy nhắn tin báo là... là đồ ăn trưa ở quán hôm nay bán chạy lắm, gần hết sạch đồ ăn rồi mẹ.”
Lại thêm một lời nói dối nữa. Một lời nói dối dơ dáy được thốt ra chỉ nhằm mục đích dĩ hòa vi quý, để mẹ không lên cơn đau tim hay xúc động mạnh mà quỵ ngã ngay tại chỗ. Nhưng khi phóng tầm mắt nhìn về phía quầy nhận toa và phát thuốc bảo hiểm y tế, nơi một hàng dài dằng dặc những con người mệt mỏi đang chen chúc, xô đẩy nhau để nộp sổ, Hà hiểu rằng cô đang rơi vào một cái bẫy không lối thoát do chính sự nhu nhược của mình tạo ra.
Cô không thể phân thân. Cô không thể nhẫn tâm bỏ mặc người mẹ tàn tật, đi đứng không vững ngồi trơ trọi một mình giữa cái biển người hỗn loạn, ngột ngạt này để phóng xe máy về quán dọn dẹp mớ bòng bong. Mẹ đi vệ sinh còn không tự đi nổi, làm sao có thể tự mình bưng một ly nước uống, tự mình chen lấn giữa những kẻ hung hãn để chìa cuốn sổ y bạ lấy từng vỉ thuốc?
Trong cơn hoảng loạn tột cùng, những ngón tay ướt đẫm mồ hôi của Hà run rẩy lướt vội trên màn hình điện thoại, bấm vào dãy số gọi khẩn cấp quen thuộc nhất: Lê Minh Khải.
Tiếng tút dài kéo ra đơn điệu và lạnh lẽo. Một hồi. Hai hồi. Ba hồi. Bốn hồi. Mỗi một nhịp chuông ngân vang là một nhát dao cứa vào sự kiên nhẫn đang cạn kiệt của Hà. Đến tận hồi chuông thứ năm, đầu dây bên kia mới có tiếng bấm máy cái *xoạch*, kèm theo đó là một chuỗi âm thanh hỗn tạp, điếc tai của đường phố Sài Gòn giữa trưa: tiếng còi xe tải gầm rú đinh tai nhức óc, tiếng gió rít ràn rạt qua micro tai nghe và tiếng động cơ xe máy đang gầm gừ nặng nhọc trong làn khói bụi đặc quánh.
“Gì đó mày?! Đang chạy xe ngoài đường nắng muốn bể đầu đây, có chuyện gì nói lẹ lên!”
Giọng Khải cộc cằn, the thé vang lên, xen lẫn những tiếng thở dốc hổn hển của một kẻ đang phải gồng mình điều khiển chiếc xe chở hàng cồng kềnh giữa dòng kẹt xe.
“Anh Khải... anh... anh đang ở đâu vậy?” Giọng Hà run rẩy, lạc hẳn đi: “Anh quay xe ghé qua quán phụ quầy giùm em một chút được không? Anh Duy phải đi học lớp điện rồi, em... em đang kẹt cứng ở phòng khám với mẹ, chưa có lấy thuốc xong—”
“Cái gì?!”
Tiếng thét của Khải nổ bùng qua loa điện thoại, gay gắt và chói tai đến mức khiến Hà phải giật bắn mình, vô thức đưa chiếc máy ra xa tai vài phân.
“Mày giỡn mặt với tao đó hả Hà?! Mày có bị điên không?! Tao đang chở hai cái thùng các-tông phụ tùng xe máy nặng tổ bố bên tuốt quận Mười Một, đang trên đường giao gấp cho khách mối ruột của bên tiệm sửa xe! Giờ này mày kêu tao quẹo đầu xe chạy về Vườn Me? Mày có biết từ bên này chạy về đó ngược đường, kẹt xe mất mẹ nó hơn nửa tiếng đồng hồ không?! Bể mối giao hàng của tao, người ta phạt hợp đồng rồi trừ tiền thì ai đền cho tao? Mày đền hay con mẹ mày đền?!”
“Nhưng mà quán đang không có một ai đứng quầy hết anh ơi!” Nước mắt tủi nhục và uất nghẹn bắt đầu ứa ra nơi khóe mi Hà. Cô cố cắn chặt môi dưới, hạ giọng xuống mức thấp nhất có thể để những người bệnh xung quanh không dòm ngó, nhưng từng chữ thốt ra đều run lên bần bật: “Khách bắt đầu tràn vô quán rồi, cô Hạnh thì chữ nghĩa không rành, đâu có biết bấm máy in đơn hay thu tiền! Bác sĩ vừa mới chụp phim xong, bác sĩ bảo chân mẹ bị thoái hóa nặng độ ba rồi, tràn dịch khớp gối, sụn mòn hết trơn rồi, nguy cơ phải mổ thay khớp gối tốn mấy chục triệu đó anh Khải! Em đâu có muốn bỏ quán đâu, tại chân mẹ đau quá đi không nổi mà!”
Ở đầu dây bên kia, tiếng Khải bỗng im bặt. Chỉ còn lại tiếng gió rít và tiếng còi xe bóp inh ỏi xung quanh anh. Sự im lặng kéo dài ba giây ấy không mang lại chút nhẹ nhõm nào, mà nó giống hệt như khoảng lặng chết chóc trước khi một cơn giông sét kinh hoàng giáng xuống.
Và rồi, tiếng gầm của Khải lại nổ tung, lần này mang theo toàn bộ sự phẫn uất, cay đắng và thù hằn của một kẻ luôn cảm thấy cả cuộc đời mình bị trói buộc và kéo lê bởi những rắc rối của cái gia đình này:
“Độ ba độ bốn cái con khỉ gì thì sáng sớm bước chân ra khỏi cửa mày cũng phải biết đường mà tính toán sắp xếp chứ! Đi khám cái chân từ tám giờ sáng mà mày dây dưa, lề mề tới trưa trật trưa trờ chưa xong! Mày mướn thằng Duy làm cái giống gì mà để đúng ngay cái giờ cao điểm dầu sôi lửa bỏng nó xách đít nó bỏ về?! Mày làm ăn quản lý kiểu gì vậy hả con Hà?! Có một cái quán cơm với ba cái chuyện cỏn con trong nhà mà mày thu xếp cũng không ra hồn, cứ hễ đụng chuyện có biến là réo tên tao lên mà tế! Tao cày ngoài đường bạt mạng kiếm từng đồng chứ tao đi chơi đĩ hay đi đánh bạc đâu mà mày hành tao?! Mẹ kiếp, thiệt tình chứ, khổ như một con chó!”
Từng lời chửi thề thô bỉ, cộc cằn của Khải nện thẳng vào màng nhĩ Hà, chát chúa và buốt nhói như những cái tát trời giáng. Cổ họng cô nghẹn ứ lại, một khối u uất chẹn ngang ngực làm cô không thở nổi:
“Anh... anh đừng có chửi mẹ với chửi em như vậy...” Giọng Hà nghẹn ngào trong tiếng nấc cụt: “Em nhờ anh không được thì thôi... để em tự tính liệu...”
“Thôi cái mả mẹ mày chứ thôi! Đứng yên đó đi, tao quẹo đầu xe chạy về liền đây! Khổ như chó với cái nhà này!”
*Cụp!*
Khải dập máy một cách tàn nhẫn. Tiếng tút tút kéo dài vô hồn vang lên trong chiếc ống nghe nóng ran.
Hà đứng trơ trọi giữa làn gió khô khốc của hành lang phòng khám. Bàn tay cầm chiếc điện thoại ướt đẫm mồ hôi buông thõng xuống. Cô hít một hơi thật sâu, ngửa mặt lên nhìn trần nhà để ngăn không cho hai giọt nước mắt nóng hổi lăn xuống gò má. Khải là như vậy. Bản tính của anh từ xưa đến nay vẫn luôn là như vậy. Anh sẽ cằn nhằn, sẽ nguyền rủa, sẽ xỉ vả và ném vào mặt cô những lời lẽ cay nghiệt nhất vì cô đã phá nát kế hoạch kiếm tiền của anh, nhưng rốt cuộc anh vẫn sẽ quẹo đầu xe quay về. Chỉ có điều, cái giá phải trả cho sự “quay về” đầy ức chế ấy luôn là những ngày dài không khí gia đình đặc quánh sự thù địch, những cái liếc xéo đầy khinh bỉ, và một cảm giác tội lỗi nặng ngàn cân đè trĩu lên vai Hà, biến cô thành một kẻ tội đồ vụng về, vô dụng trong mắt anh trai mình.
Phải mất thêm gần bốn mươi phút nữa trong sự chen lấn và chờ đợi mòn mỏi, Hà mới cầm được bọc thuốc tây to tướng từ tay cô dược sĩ phát thuốc. Cô cẩn thận nhét bọc thuốc vào chiếc giỏ xách vải, một tay ôm chặt lấy eo mẹ, tay kia giữ lấy cánh tay khẳng khiu của bà, từng bước một khó nhọc dìu bà Lan lê bước ra khỏi cổng phòng khám.
Mười hai giờ kém mười lăm trưa.
Mặt trời đứng bóng trút xuống mặt đường nhựa một thứ ánh sáng chói chang, gay gắt như muốn thiêu đốt mọi sinh vật. Hơi nóng hầm hập từ mặt đường bốc lên mang theo mùi khói xe nồng nặc và mùi bụi đất khô khốc. Chiếc xe Wave Alpha cũ kỹ của Hà dựng ở góc bãi xe không có mái che đã nóng rực như một thanh sắt nung. Hà vội vã rút chiếc khăn tay đã sờn chỉ trong túi ra, lau vội lớp bụi bám trên yên xe rồi lấy thân mình che bớt ánh nắng gay gắt, run rẩy đỡ bà Lan ngồi lên phía sau.
Mỗi cử động nhấc chân phải của bà Lan lúc này đều là một cực hình. Gương mặt người mẹ già tái mét không còn một giọt máu, mồ hôi mẹ mồ hôi con túa ra ướt đầm hai bên thái dương, dính bết những sợi tóc bạc vào vầng trán nhăn nheo. Nhưng suốt dọc đường ra bãi xe, môi bà mím chặt, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, tuyệt nhiên không hé răng than thở lấy nửa lời đau đớn.
Chiếc xe máy nổ máy giòn giã sau vài cú đạp chân vội vã của Hà, rồi từ từ hòa vào dòng người đông đúc, ngột ngạt đang chen chúc nhau trên con đường nhựa hướng về ngõ Vườn Me. Tiếng động cơ xe máy cũ kỹ rung lên bần bật dưới sàn để chân. Gió trưa thốc thẳng vào mặt Hà rát bỏng, cuốn theo những hạt bụi li ti cay xè khóe mắt.
Ngồi ở phía sau xe, bà Lan đưa hai bàn tay gầy guộc, ram ráp đầy những vết chai sần bám nhẹ vào vạt áo chống nắng đã bạc màu của con gái. Tiếng gầm rú của xe tải, tiếng còi xe inh ỏi xung quanh dường như dần lùi xa lại phía sau khi giọng nói của bà cất lên. Giọng bà nhỏ nhẹ, khàn đặc vì khát nước, nhưng từng từ từng chữ lại rành rọt, găm thẳng vào tai Hà:
“Hà nè con...”
“Dạ mẹ? Mẹ mệt lắm hả?” Hà hơi giảm bớt tay ga, nghiêng đầu về phía sau để đón lấy tiếng nói của mẹ.
Bà Lan im lặng mất vài giây, như thể bà đang phải gom hết chút sức lực tàn tạ còn lại trong lồng ngực để thốt ra điều mà bà đã trăn trở, dằn vặt suốt từ lúc nhìn thấy tấm phim X-quang trong phòng khám. Những ngón tay gầy guộc của bà khẽ siết chặt lấy vạt áo con gái:
“Mấy đứa tụi bây... đừng có đứa nào bàn tính cái chuyện đóng cửa quán ăn nghe hông con. Mà... mà cũng đừng có đứa nào cấm cản mẹ bước chân vô bếp...”
Trái tim Hà nhói lên một cái, buốt giá. Giọng cô chùng xuống, nghẹn ngào:
“Bác sĩ dặn mẹ rõ ràng như vậy rồi mà mẹ không nghe sao? Khớp gối của mẹ hỏng nặng lắm rồi, mòn hết sụn rồi mẹ ơi. Bác sĩ bảo đứng bếp lửa cả ngày, chân mẹ chịu sao thấu? Tụi con lo cho sức khỏe của mẹ, lo cho cái chân của mẹ sau này chứ có ai muốn cấm cản, muốn làm mẹ buồn đâu...”
“Mẹ biết chứ... mẹ biết tụi bây có lòng lo cho cái thân già này,” giọng bà Lan run rẩy, lẫn trong tiếng gió trưa hầm hập là một nỗi xót xa đến nghẹn ngào. “Nhưng mà cái quán cơm đó... nó là mồ hôi, là nước mắt, là cả cái cuộc đời này của mẹ gầy dựng nên đó Hà ơi. Từ cái hồi ba tụi bây đột ngột qua đời bỏ lại ba mẹ con bơ vơ giữa đất khách quê người, nếu không có cái quán cơm đó, không có cái bếp lửa đỏ mỗi ngày thì mẹ lấy tiền đâu ra mà mua gạo, lấy tiền đâu đóng học phí cho hai anh em bây ăn học tới nơi tới chốn như ngày hôm nay? Mẹ... mẹ già rồi, chân cẳng mẹ đau mẹ biết chứ. Giờ mẹ không đứng xào nấu liên tục cả buổi được nữa thì mẹ kéo cái ghế đòn mẹ ngồi nhặt rau, mẹ nếm thử nước xốt, mẹ ngó chừng coi nồi cá kho bữa nay mặn lạt ra sao giùm cho tụi bây. Chứ tụi bây mà tự ý quyết định đóng cửa quán, hay tụi bây gạt mẹ ra ngoài lề, cấm mẹ không cho ngó ngàng tới cái bếp... là mẹ sống không nổi đâu con ơi...”
Lời nói của bà Lan không mang một chút giận dỗi hay ép uổng con cái, mà đó là lời van lơn tha thiết, đau đớn của một con người đang nhìn thấy cái phần giá trị thiêng liêng nhất, cái ý nghĩa sống duy nhất của cuộc đời mình đang có nguy cơ bị tước đoạt sạch trơn. Bà không sợ những cơn buốt nhức thấu xương của khớp gối thoái hóa, bà chỉ sợ bị chính những đứa con ruột thịt xem như một phế nhân thừa thãi, một gánh nặng vô dụng phải ngồi một chỗ chờ người khác nuôi báo cô trong chính ngôi nhà của mình.
Hà cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, vị tanh nồng lan tỏa nơi đầu lưỡi. Nước mắt cô nhòe đi vì gió bụi và vì nỗi bất lực tột cùng đang đè nặng lên tâm can. Cô không thể mở miệng hứa với mẹ rằng mọi chuyện sẽ ổn thỏa, bởi vì chính bản thân cô cũng đang chới với giữa một mớ bòng bong không tìm thấy lối ra. Nếu chiều theo ý mẹ, để mẹ tiếp tục bước vào gian bếp lửa rực cháy, cái khớp gối ấy sẽ nhanh chóng hỏng hoàn toàn, và viễn cảnh một ca phẫu thuật thay khớp tốn kém hàng chục triệu đồng cùng đôi nạng gỗ sẽ đổ ập xuống đầu gia đình. Nhưng nếu cấm đoán mẹ, tước đoạt đi cái tạp dề của mẹ, thì tâm hồn của người đàn bà góa bụa ấy sẽ héo mòn và chết dần chết mòn trong sự cô độc. Còn nếu đóng cửa quán ăn, thì tiền đâu để trả viện phí, tiền đâu để trả khoản tiền thuê mặt bằng năm triệu rưỡi cho ông Tín vào cuối tháng này?
Chiếc xe máy quẹo vào con đường Vườn Me rợp bóng cây tạp nhưng ngột ngạt mùi khói than tổ ong và dầu mỡ. Từ đằng xa, quán Cơm Nhà Bà Lan đã hiện ra mờ ảo dưới cái nắng trưa gay gắt.
Và cảnh tượng đập vào mắt khiến tim Hà thắt nghẽn lại, mọi hy vọng về một sự yên ả tan biến như bong bóng xà phòng.
Ngay trước cửa quán, chiếc xe máy cà tàng chở hàng của Khải dựng chỏng chơ ngay mép vỉa hè, chân chống sắt quẹt một đường dài xước xát trên nền xi măng bụi bặm. Khải đang đứng ở góc bàn đóng đơn bên ngoài hiên, chiếc áo khoác gió màu xanh bạc phếch ướt sũng mồ hôi dính bết vào tấm lưng gầy guộc. Gương mặt anh đỏ gay gắt như gà chọi vì nắng gắt và vì cơn thịnh nộ đang sôi sục bên trong, hai quai hàm bạnh ra hầm hố, gân cổ nổi lên cuồn cuộn.
Anh đang dùng những động tác thô bạo, cộc cằn vơ từng hộp cơm xốp trắng đã chan sẵn canh ném thẳng vào chiếc giỏ sắt chở hàng buộc sau yên xe máy. Mỗi lần một chiếc hộp bị ném xuống, nắp xốp lại kêu lên tiếng *bẹp* giòn tan và biến dạng, nước sốt thịt kho bên trong bắn tung tóe qua khe hở, trào cả ra mép giấy bóng kính.
“Đơn với chả từ! Mẹ kiếp, giờ này mới bắt đầu đưa đơn thì đem đi mà giao cho ma nó ăn à!”
Khải vừa làm vừa lầm bầm chửi đổng, tiếng chửi ném thẳng vào không khí oi bức, mặt mũi hằm hằm sát khí.
Cách đó chỉ chừng hai bước chân, ngay cạnh chiếc tủ sắt cá nhân kê sát góc tường gạch, Phạm Duy đang đứng sừng sững. Anh đã cởi bỏ chiếc áo thun đồng phục của quán, thay lại chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ sọc gọn gàng, chiếc ba lô vải màu xám tro đã được khoác ngay ngắn trên một bên vai. Duy đang cầm chùm chìa khóa nhỏ, cẩn thận tra chìa vào ổ khóa tủ đồ của mình rồi bấm mạnh chiếc khóa lại.
Tiếng *lách cách* của chiếc ổ khóa kim loại vang lên khô khốc, đanh gọn và rành mạch giữa khung cảnh hỗn loạn, như một lời tuyên bố dứt khoát rằng thời gian làm việc của anh đã chính thức khép lại, và mọi sự lộn xộn, đổ vỡ đang diễn ra xung quanh hoàn toàn nằm ngoài phạm vi trách nhiệm của anh.
Duy xoay người lại, tay cầm chiếc nón bảo hiểm nửa đầu màu đen, chuẩn bị bước xuống bậc tam cấp để ra dắt xe thì chạm mặt Khải.
Khải lập tức dừng tay, trừng mắt nhìn trừng trừng vào Duy. Đôi mắt anh đỏ ngầu những tia máu, long lên sòng sọc, ngập tràn sự khinh bỉ và cay cú của một kẻ vừa phải vứt bỏ mối làm ăn béo bở ngoài đường để chạy về dọn bãi chiến trường cho người khác. Khải nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh cống thoát nước trước hiên quán, giọng the thé đầy mỉa mai và khiêu khích:
“Đi học sửa điện hả? Giỏi dữ he! Đúng là thứ có ăn có học có khác! Quán xá nhà người ta đang dầu sôi lửa bỏng, người nhà thì bệnh hoạn đi viện chưa về tới nơi, nhân viên thì đủng đỉnh xách đít đi học nghề làm thầy đời! Đúng là cái thứ người ngoài, thứ làm công ăn lương, có cháy nhà chết người thì cũng mặc xác đúng không?!”
Duy dừng bước chân lại ngay mép bậc tam cấp. Anh không hề né tránh ánh nhìn nảy lửa như muốn ăn tươi nuốt sống của Khải, nhưng trên gương mặt góc cạnh của anh, tuyệt nhiên không xuất hiện một gợn sóng cảm xúc nào. Đôi mắt anh vẫn giữ nguyên một vẻ điềm tĩnh, lạnh lùng đến mức tàn nhẫn. Duy nhìn thẳng vào mắt Khải, giọng anh trầm xuống, phát âm tròn vành rõ chữ, không hề cao giọng hơn một tông nhưng từng từ thốt ra đều sắc bén như dao cạo, chặt đứt mọi sự công kích vô lý:
“Hợp đồng làm việc ca sáng của tôi với quán là từ chín giờ ba mươi đến mười bốn giờ chiều. Hôm qua tôi đã ở lại phụ quán ngoài giờ đến mười bốn giờ ba mươi, và sáng hôm nay tôi đã có mặt từ chín giờ sáng, làm việc liên tục không nghỉ, đã tự tay đóng xong toàn bộ năm mươi suất cơm hộp giao cho xưởng. Lớp sửa điện dân dụng của tôi vốn học buổi tối, nhưng lịch thực hành xưởng trưa nay tôi đã thông báo công khai và xin phép gia đình từ ngày đầu tiên nhận việc để giữ đúng lịch học cá nhân. Tôi làm việc đúng theo thời gian và thỏa thuận, tôi không bỏ ca và không làm sai bất cứ điều gì.”
“Mày—” Khải sấn tới nửa bước, hai nắm đấm siết chặt lại gân guốc, chiếc áo khoác rung lên bần bật: “Mày dám đem cái giọng lý sự cùn đó ra nói chuyện với tao hả thằng ranh con?!”
“Anh Khải! Dừng lại đi anh Khải!”
Tiếng thét lạc cả giọng của Hà vang lên xé toạc bầu không khí căng thẳng khi cô vừa chống chân chiếc xe Wave Alpha xuống trước cửa quán.
Cô luống cuống buông tay lái, một tay giữ chặt lấy bắp tay bà Lan, vội vã đỡ người mẹ đang run rẩy bước xuống xe. Sự xuất hiện của hai người phụ nữ, đặc biệt là dáng vẻ tiều tụy, xiêu vẹo cùng cái chân phải sưng múp đang kéo lê từng bước khó nhọc của bà Lan, như một xô nước đá dội thẳng vào ngọn lửa giận dữ đang chực bùng nổ giữa hai người đàn ông.
Khải nhìn thấy dáng vẻ tàn tạ của mẹ, nắm đấm đang giơ lên của anh khựng lại giữa không trung. Cơn giận dữ bốc hỏa trong mắt anh thoáng chốc bị chặn đứng bởi một cảm giác xót xa và bối rối, nhưng vẻ mặt hầm hố và cay cú thì vẫn không hề giãn ra. Anh hậm hực quay ngoắt người đi, ném mạnh chiếc hộp cơm cuối cùng vào giỏ xe cái *rầm*, làm nước canh bên trong bắn tung cả lên yên xe, rồi giật phắt chiếc nón bảo hiểm đã trầy xước đội mạnh lên đầu.
Duy đưa mắt nhìn sang Hà. Ánh mắt anh lướt nhanh qua gương mặt nhợt nhạt, mồ hôi nhễ nhại và đôi mắt sưng húp, đỏ hoe vì gió bụi và sự kiệt sức của cô, rồi dừng lại trên bàn tay cô đang run rẩy ôm chặt lấy cánh tay mẹ. Một thoáng áy náy rất mờ nhạt lướt qua nơi khóe mắt anh, nhưng rồi vẻ mặt ấy nhanh chóng khép lại thành một sự lạnh lùng chuyên nghiệp. Duy khẽ cúi đầu, cất tiếng chào bà Lan bằng một giọng lễ phép nhưng xa cách:
“Cháu chào cô. Cháu xin phép đi học kẻo trễ giờ của lớp.”
Nói đoạn, Duy dứt khoát bước qua bậc tam cấp, dắt chiếc xe máy số của mình ra lề đường, nổ máy rồi hòa vào dòng xe cộ hầm hập giữa trưa nắng mà không hề ngoái đầu lại nhìn lấy một lần.
Anh rời đi, để lại phía sau lưng một khoảng trống hoác đến rợn ngợp của ca trực trưa, một góc quầy thu ngân trống rỗng với chiếc khay nhựa màu xanh trơ trọi đựng tiền lẻ, và hai người anh em ruột thịt đang đứng nhìn nhau bằng những ánh mắt rực lửa của sự mệt mỏi, thất vọng và oán trách ngút ngàn.
“Đứng trơ cái mặt ra đó làm gì nữa?! Đỡ mẹ vô nhà nằm đi!”
Khải gắt gỏng thét lên, giọng khàn đặc và chát chúa vì bụi đường. Anh rút chìa khóa xe, toan đạp mạnh cần khởi động để phóng xe đi giao nốt số cơm hộp đã trễ giờ cho khách.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc bàn tay chai sần của Khải vừa chạm vào tay ga chiếc xe máy, chiếc điện thoại thông minh đang kẹp trên giá đỡ đầu xe bỗng rung lên bần bật.
Âm thanh thông báo tin nhắn đặc trưng vang lên một hồi dài, dồn dập và liên tục. Màn hình điện thoại tự động sáng bừng lên dưới ánh nắng trưa chang chang. Trên màn hình khóa, dòng tin nhắn gửi đến từ tài khoản Zalo mang tên Đặng Thanh Thảo — người phụ nữ vừa mới chiều hôm qua làm ầm ĩ cả quán cơm vì vụ ngộ độc mỡ hành và thẳng thừng tuyên bố hủy bỏ toàn bộ hợp đồng đặt cơm tháng — hiện rõ mồn một từng con chữ:
*“Anh Khải ơi, bên công ty tôi ngày mai có đoàn kiểm toán về đột xuất. Phòng tôi muốn đặt ba mươi suất cơm trưa đặc biệt cho ngày mai, giao đúng 11:30. Quán nhận được không để tôi chốt danh sách liền bây giờ?”*
Khải đứng sững lại như một pho tượng đá giữa trời trưa nắng gắt. Bàn tay đang nắm chặt tay ga của anh khựng lại giữa không trung, cứng đờ. Đôi mắt đỏ ngầu những tia máu của anh dán chặt vào từng con chữ đang phát sáng trên màn hình, không chớp lấy một cái.