Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyCh.26 / 26
Chapter 26

Hẹn nhau ở bàn số bảy

Nắng sớm rọi qua khung cửa sổ cuối quán lên mặt gỗ bàn số bảy, nơi chân bàn chêm nhựa nay đã đứng vững vàng, đón một buổi bán trưa diễn ra theo đúng nhịp độ quen thuộc.

Vệt nắng đầu ngày bò chầm chậm qua gờ chỉ tường tróc sơn rồi rớt xuống mặt gỗ sao cũ kẹo màu cánh gián. Không còn tiếng cập cậy khó chịu mỗi bận ai đó tì nhẹ cùi chỏ, chiếc bàn nằm ở góc khuất nhất của gian phòng giờ đây phẳng lặng như mặt nước hồ không gợn sóng. Dưới chân nó, miếng đệm cao su giảm chấn có rãnh chống trượt mà Duy tỉ mỉ gọt bằng dao trổ cách đây nửa tháng đã ăn khít vào mạch vữa lồi lõm của sàn gạch bông, giữ cho bốn góc bàn một thế đứng tuyệt đối an nhiên.

Hà đứng sau quầy thu ngân, hai bàn tay phẳng phiu miết nhẹ lên gáy cuốn sổ cái bọc bìa mềm mới tinh. Bề mặt giấy dày dặn, chia từng cột kẻ thẳng tắp bằng mực xanh lơ, chưa vướng một vệt dầu mỡ hay nếp gấp vội vã nào. Phía trên đầu cô, tấm bảng phấn viền gỗ sồi treo sát mép cửa ra vào đã được lau sạch từ chập tối hôm trước bằng giẻ vắt ráo nước; mặt bảng khô đi để lại một màu đen tuyền thăm thẳm, làm nền cho những nét chữ viết bằng phấn trắng nắn nót, tròn trịa, phân định rành rẽ từng mục của thực đơn bốn món cốt lõi: sườn ram mặn, thịt kho tàu trứng cút, cá hú kho tộ và canh cải ngọt thịt bằm.

Ở góc dưới cùng bên phải, ô chữ đề “Món mềm trong ngày: Cá basa kho rục xương” được đóng khung vuông vức bằng hai đường phấn kẻ đôi. Không còn những dòng chữ nguệch ngoạc chen chúc ở lề bảng để chèn thêm món này món nọ theo hứng; không còn cảnh người đứng bếp phải chốc chốc nghển cổ ra hỏi tủ đông còn sót khúc cá thu hay miếng thịt ba chỉ nào để chiều lòng một đòi hỏi bất chợt từ khách quen; và cũng không còn cảnh Hà phải ngập ngừng giải thích vì sao cùng một món mà hôm nay mặn hơn hôm qua. Mọi định lượng, từ mớ rau cải ngọt mỡ màng, từng dải sườn heo non chặt đều ba phân, cho đến từng khúc cá basa béo ngậy được khứa xéo thân mình, đều khớp sít sao với tờ phiếu tiếp nhận nguyên liệu mà cô Hạnh và Khải đã cùng nhau kiểm đếm, ký nhận từ lúc bảy giờ sáng.

Đúng mười giờ, tiếng lách cách của then cài vang lên dứt khoát. Cánh cửa kính trượt khung nhôm được kéo nhẹ sang một bên, để lọt vào một làn gió sớm mang theo hơi ẩm ngai ngái của cây cối ven bờ kênh. Tiếng chuông gió bằng đồng treo trên góc mép cửa khẽ ngân lên một tiếng “coong” trong trẻo, ngân dài rồi tắt lịm vào không gian tĩnh lặng, báo hiệu ca bán trưa chính thức bắt đầu.

Không gian bên trong quán lập tức được sưởi ấm bởi mùi thơm nồng nàn lan tỏa từ gian bếp inox phía sau. Đó là thứ mùi đường thắng vừa tới độ cánh gián đậm đà, không khét đắng mà ngọt lịm, quyện chặt với mùi tiêu sọ đập dập cay nồng và hương nước mắm cốt cá cơm sôi liu riu trong những chiếc tộ đất nung. Không khí ẩm mịn mùi khói bếp, thơm tho và ấm cúng như một lời cam đoan thầm lặng về sự no đủ.

Máy in nhiệt đặt ngay ngắn bên góc quầy thu ngân bỗng phát ra tiếng ro ro êm ả. Dải giấy in trắng muốt từ từ nhả ra theo từng nhịp răng cưa, mang theo đơn hàng đầu tiên của buổi trưa. Đó là phiếu đặt cơm quen thuộc của Đặng Thanh Thảo từ công ty truyền thông nằm ở tòa nhà kính bóng loáng bên kia ngã tư: đúng mười tám suất cơm trưa văn phòng, gồm mười suất sườn ram và tám suất cá kho rục, thời gian nhận hàng ấn định chính xác vào lúc mười một giờ hai mươi lăm phút.

Hà đón lấy dải giấy, xé nhẹ theo đường răng cưa bằng một chuyển động ngón tay thuần thục. Mắt cô lướt nhanh qua dòng ghi chú in hoa đậm nét nằm ở chân phiếu: “Đúng mười một giờ hai mươi lăm phút tại sảnh A, không lấy hành lá cho ba suất cá kho”. Không có tiếng chuông điện thoại bàn reo lên dồn dập giục giã; không có những tin nhắn Zalo gửi riêng vào máy cá nhân của Hà lúc mười giờ rưỡi để xin đổi từ cá sang sườn hay nài nỉ thêm bớt phần nọ phần kia; và tuyệt nhiên không còn sự bồn chồn thảng thốt của những ngày tháng cũ, khi người bán lẫn người mua đều bị cuốn vào một vòng xoáy của sự tùy tiện đội lốt thân tình. Mốc giờ chốt đơn chín giờ ba mươi sáng đã được thiết lập thành một ranh giới mềm mại nhưng kiên định, và sự tự giác từ cả hai phía đã biến công việc phục vụ thành một nhịp điệu dễ thở.

Hà đặt phiếu in vào chiếc khay nhựa màu xanh dương trên quầy ngăn cách giữa phòng khách và khu vực soạn chia.

Ở phía bên kia bàn inox đóng gói, Duy đã đứng sẵn ở đó tự bao giờ. Anh đón lấy dải giấy bằng một động tác dứt khoát, ngón tay miết phẳng nếp gấp của tờ giấy rồi cài gọn gàng vào chiếc nẹp nhôm gắn ngang tầm mắt, ngay phía trên ô băng dính màu vàng sáng được dán vuông vắn trên mặt bàn inox để phân định khu vực làm việc của riêng anh.

“Mười tám suất của chị Thảo, mười sườn, tám cá rục, ba phần không hành,” Duy cất giọng đọc to, âm lượng điềm đạm, rõ ràng, vừa vặn truyền qua khung cửa sổ giao thức ăn bằng nhôm kính vào sâu trong gian bếp nóng.

“Bếp nhận đơn mười tám suất,” tiếng cô Hạnh vọng ra rổn rảng giữa tiếng lách tách của dầu mỡ. Giọng người phụ nữ luống tuổi vẫn giữ trọn nét chất phác, nhưng đã hoàn toàn gột bỏ sự cáu bẳn hay cuống quýt của những ngày phải xoay xở với hàng chục món xào nấu vụn vặt. “Cá rục đượm lửa từ chín giờ, xương nhừ tơi, sườn ram đã lên màu bóng lưỡng. Mười một giờ mười lăm là có sẵn trên khay để ngoài bàn đóng hộp cho chú Duy.”

Duy khẽ gật đầu, kéo chồng hộp bã mía ép hình chữ nhật lại gần mép ô băng dính vàng. Tay anh thoăn thoắt tách từng chiếc hộp, xếp thành ba hàng ngay ngắn, mỗi hàng sáu hộp thẳng tắp như những viên gạch mới ra lò. Ngón tay thon dài, rắn rỏi của người thợ từng quen cầm mỏ hàn và kìm bấm giờ đây lướt trên những chiếc nắp hộp bằng một sự chính xác tuyệt đối. Anh gài từng đôi đũa muống bọc giấy kraft màu nâu vào rãnh nắp, rồi dùng chiếc bút lông dầu màu đỏ chấm một dấu tròn rõ nét lên góc ba hộp bã mía dành riêng cho phần cá kho không rắc hành hoa.

Mọi thao tác diễn ra nhịp nhàng, êm ả như một cỗ máy cơ khí đã được tra đủ dầu mỡ và vận hành đúng thông số. Không có tiếng kim loại va chạm xoang xoảng vì giận dữ, không có tiếng thở dài nén sau lớp khẩu trang vải, và không có một ai phải bỏ dở công việc của mình để chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm một cái nắp hộp thất lạc.

Hà đứng tựa nhẹ vào mép quầy gỗ, lặng lẽ ngắm nhìn đôi bàn tay của Duy. Những vết chai sần nơi khớp ngón tay anh, vệt sẹo mờ ở mu bàn tay do xước kim loại ngày trước, tất cả đều toát lên một vẻ vững chãi và đáng tin cậy. Đã có một thời gian rất dài, cô từng bị giam cầm trong ý nghĩ rằng một quán cơm gia đình chỉ có thể tồn tại bằng sự nhân nhượng vô bờ bến: người làm con phải nhẫn nhịn người làm mẹ, người phục vụ phải tự bẻ cong mình để vừa vặn với từng thói quen đỏng đảnh của thực khách, và người chủ phải căng từng sợi dây thần kinh ra để nhớ xem ai thích ăn nước mắm nhiều ớt, ai thích góc sườn nhiều mỡ, để rồi chỉ một sơ suất nhỏ cũng đủ châm ngòi cho nỗi dằn vặt triền miên.

Giờ đây, nhìn dải giấy in trắng muốt nằm ngay ngắn trên thanh nẹp nhôm và những chiếc hộp bã mía xếp đều tăm tắp, Hà nhận ra rằng trật tự không hề đồng nghĩa với sự lạnh lùng. Ngược lại, chính sự minh bạch của quy trình mới là thứ che chở cho lòng tốt không bị bào mòn, trả lại cho mỗi con người trong quán ăn này quyền được thở sâu, được làm việc với sự tập trung tĩnh tại và lòng tự trọng nguyên vẹn.

Mười một giờ mười lăm phút, chiếc chuông đồng lại khẽ rung. Tiếng xích xe máy lạch cạch quen thuộc ngừng lại trước hiên quán.

Khải bước vào, trên người mặc chiếc áo khoác gió màu xanh thẫm còn vương chút bụi đường. Anh không còn lao xô vào quầy với gương mặt đỏ gay vì nắng hay hấp tấp hỏi xem món nào xong trước, món nào thiếu nguyên liệu như trước kia. Động tác của anh thong thả, gạt chân chống nghiêng của chiếc xe số ngoài thềm, tháo chiếc nón bảo hiểm nửa đầu móc vào ghi-đông rồi mới bước qua ngạch cửa, đưa tay kéo chiếc khăn rằn lau mồ hôi trên trán.

Trên bàn đóng gói, Duy đã xếp gọn gàng mười tám hộp cơm nóng hổi vào chiếc thùng xốp giữ nhiệt bọc bạt xanh, dây ràng đã được cài sẵn hai bên quai xách. Kẹp trên nắp thùng là tờ phiếu giao hàng có ghi rõ số lượng, giờ xuất bến và chữ ký kiểm soát của người đóng gói.

“Đúng mười một giờ hai mươi lăm có mặt tại sảnh A cho chị Thảo nhé anh Khải,” Duy nói, đưa chiếc nẹp cài đơn kèm cây bút bi cho Khải.

“Yên tâm, từ đây chạy qua ngã tư rồi rẽ vào Vườn Me qua tòa nhà đó đúng năm phút, kể cả chờ đèn đỏ,” Khải cười, ký nhanh một chữ nguệch ngoạc vào góc phiếu rồi xốc chiếc thùng xốp lên bằng hai tay. Bắp tay rắn rỏi của anh gồng lên nhẹ nhàng, bước chân vững chãi tiến ra cửa. “Anh đi đây, tầm mười hai giờ kém mười lăm là anh lượn về phụ dọn bàn đợt hai.”

Tiếng máy xe nổ giòn tan rồi hòa vào dòng xe cộ ban trưa trên đường Vườn Me. Hà nhìn theo bóng lưng thẳng thớm của anh trai mình qua khung kính trượt, khóe môi bất giác cong lên một nụ cười kín đáo. Sự rành mạch không chỉ cứu vãn quán ăn, mà dường như còn trả lại cho Khải sự đĩnh đạc của một người đàn ông biết rõ phần việc và giới hạn trách nhiệm của mình.

Từ mười một giờ ba mươi đến mười hai giờ mười lăm, quán bước vào khung giờ cao điểm nhất trong ngày.

Dòng người từ các văn phòng chi nhánh ngân hàng, các công ty dịch vụ lân cận bắt đầu đổ về. Họ đi thành từng nhóm nhỏ hai ba người hoặc đi một mình, bước chân rộn rã trên bậc tam cấp lát đá mài. Nhưng không có cảnh ồn ào chen lấn hay tiếng gọi với vào bếp đòi ưu tiên. Thực khách bước vào, ánh mắt tự nhiên hướng về tấm bảng phấn đen treo sát cửa, đọc lướt qua thực đơn bốn món rồi dừng lại ở quầy thu ngân để gọi món và nhận thẻ số bằng gỗ tiện tròn.

Hà mỉm cười đón từng lượt khách, ngón tay lướt nhẹ trên màn hình cảm ứng của máy thu ngân, bấm lệnh in phiếu và thối tiền thừa một cách chuẩn xác. Khách cầm thẻ số, tự tìm cho mình một chỗ ngồi ưng ý. Chỉ trong vòng chưa đầy năm phút sau khi an tọa, một khay cơm nóng sốt với đĩa thức ăn thơm phức, bát canh cải ngọt nghi ngút khói và chén nước mắm ớt cắt lát mỏng đã được đặt nhẹ nhàng trước mặt họ.

Bàn số một, bàn số ba, rồi dãy bàn bốn chỗ kê dọc theo bức tường quét vôi vàng nhạt lần lượt kín chỗ. Không khí trong quán râm ran tiếng chuyện trò vừa phải, tiếng muỗng nĩa chạm vào đĩa sứ, tiếng đá lạnh lách cách trong những ly trà thơm mùi lá dứa. Khi một lượt khách đứng lên, Duy hoặc Hà lập tức bước lại gần với chiếc khăn ẩm đã được giặt sạch và vắt ráo trong thau nước pha tinh dầu sả chanh. Vệt nước lau bàn loang ra mỏng dính rồi bốc hơi gần như ngay lập tức dưới làn gió hiu hiu của quạt trần, để lại mặt gỗ sao sạch bóng, mát rượi và thơm tho cho người khách tiếp theo.

Mười hai giờ ba mươi, dòng khách công sở bắt đầu vãn dần. Ánh nắng bên ngoài ngả sang màu vàng gắt của buổi trưa đứng bóng, chiếu xiên qua tán cây me bên vệ đường, rải những đốm sáng lung linh lên vỉa hè.

Tiếng động cơ của một chiếc xe máy cũ kỹ khẽ khựng lại trước bậc thềm quán. Đó là tiếng máy đặc trưng của chiếc Honda Dame cà tàng mà ông Bình, người thợ sửa xe ở góc ngã ba, đã chạy suốt mấy chục năm qua.

Ông Bình chống chân xe xuống đất, cẩn thận gạt thanh chống nghiêng cho xe đứng vững dưới bóng râm của cây bàng non trước quán. Ông đưa hai bàn tay đen nhẻm vết dầu nhớt lên mép áo sơ mi bảo hộ lao động màu xám tro, phủi nhẹ lớp bụi đường bám trên ngực áo rồi mới bước qua bậc cửa. Không còn dáng vẻ ngập ngừng nép sau cánh cửa kính như trước, cũng không còn bàn tay ôm khư khư lấy một bên má sưng húp vì cơn đau răng hành hạ; bước chân của người thợ già hôm nay khoan thai, đôi mắt sau cặp kính lão trễ xuống sống mũi ánh lên nét nhẹ nhõm, bình thản.

“Bữa nay còn cá kho rục xương không cô Hà?” Ông Bình cất giọng trầm ấm, vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn về phía chiếc bàn quen thuộc ở góc trong cùng.

“Dạ còn chú Bình ơi, phần của chú lúc nào bếp cũng giữ nóng trên nồi đất nhỏ,” Hà ngẩng lên khỏi quầy, nụ cười tươi tắn nở trên môi. Cô với tay lấy chiếc ly thủy tinh thành dày, rót đầy một ly trà đá mát lạnh rồi bước ra đón ông. “Chú cứ vào bàn số bảy ngồi đi ạ, con mang cơm ra liền.”

Ông Bình gật đầu, bước thẳng đến bàn số bảy. Chiếc ghế gỗ được kéo ra mà không hề phát ra một tiếng cọt kẹt hay chao đảo nào. Ông ngồi xuống, đặt hai bàn tay thô ráp, gân guốc lên mặt gỗ sao mát rượi. Đôi mắt ông nhìn xuống chân bàn, nơi miếng cao su màu đen nằm im lìm, ghìm chặt chân gỗ vào nền gạch hoa văn cổ. Ông đưa tay ấn thử một lực khá mạnh lên mép bàn, chiếc bàn vẫn đứng trơ trơ, vững như một khối đá tạc.

“Cái bàn này từ bữa được chêm lại tới giờ chắc nịch ghê nghen,” ông Bình tấm tắc, ngước nhìn Hà khi cô đặt ly trà đá xuống trước mặt ông. “Ngồi ăn ở cái bàn không lắc lư, thấy cái bụng mình nó cũng yên tâm, không sợ va quẹt đổ tháo gì hết trơn.”

“Dạ, đồ đạc nó ngay ngắn thì người ngồi mới thấy thoải mái được chú,” Hà vừa nói vừa đặt chiếc khay gỗ đựng phần cơm trưa của ông lên bàn.

Đó là một đĩa cơm trắng xới vừa vặn, từng hạt gạo dẻo mềm còn bốc khói nhẹ. Kế bên là chiếc tộ đất nhỏ màu đen bóng, bên trong là khúc cá basa kho đậm màu cánh gián, nước kho keo lại bám quanh thớ thịt cá nâu óng ánh, phủ lên trên một lớp tiêu đen xay vỡ thơm lừng. Cạnh đó là bát canh cải ngọt nấu thịt nạc bằm, cọng cải xanh mướt được cắt ngắn vừa tầm muỗng, nước canh trong veo điểm vài giọt mỡ hành óng ánh.

Khúc cá basa này được cô Hạnh hầm rục theo một quy trình lửa riêng biệt: đun sôi bùng trong mười lăm phút đầu rồi ủ liu riu trên bếp than hồng suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Phần xương sống cá mềm nhừ đến mức chỉ cần dùng chiếc muỗng inox ấn nhẹ là gãy vụn ra, hòa tan vào thớ thịt béo ngậy mà không để lại bất kỳ một mảnh dăm sắc nhọn nào. Đó là món ăn được thiết kế riêng cho những người già có hàm răng yếu, những người mà một bữa ăn nhiều khi lại là một nỗi lo âu vô hình về sự nghẹn ngào hay đau đớn.

Ông Bình cầm muỗng, xắn một miếng cá đưa vào miệng. Khúc cá tan ra êm dịu trên đầu lưỡi, vị mặn mòi của nước mắm nhĩ quyện cùng vị ngọt béo tự nhiên của mỡ cá và hương thơm ấm nồng của tiêu sọ khiến đôi mày hoa râm của ông giãn ra. Ông nhai chậm rãi, nuốt từng miếng một cách ngon lành, không phải cau mày nén đau, cũng không cần phải ngượng ngùng dùng tay gắp xương bỏ ra mép đĩa.

Thỉnh thoảng, ông ngước nhìn chiếc quạt trần đang quay đều đều phía trên, buông vài câu chuyện vụn vặt với Hà đang đứng chùi mấy chiếc lọ gia vị gần đó. Ông kể về cậu sinh viên trường đại học giao thông sáng nay dắt chiếc xe máy bị đứt dây curoa vào tiệm ông với vẻ mặt mếu máo, và ông đã giúp cậu ta căn chỉnh lại bộ nồi chỉ lấy đúng tiền công một bữa cơm trưa; ông kể về cây me trước ngõ nhà ông dạo này bắt đầu trổ những chùm hoa li ti báo hiệu mùa mưa sắp tới.

Không có một lời đòi hỏi bếp phải xào riêng cho ông một đĩa rau muống nhiều tỏi ngoài thực đơn; không có những lời than thở về cảnh ngộ nghèo khó để mong được bớt năm ba ngàn; và cũng không có sự né tránh ánh mắt của người phục vụ. Giữa người bán cơm và người ăn cơm lúc này là một khoảng không gian tôn trọng lẫn nhau, sự tôn trọng được xây dựng trên một quy ước sòng phẳng mà ấm áp.

Ăn xong hạt cơm cuối cùng, ông Bình đặt muỗng đũa ngay ngắn lên mép đĩa sứ. Ông rút chiếc khăn giấy lau miệng cẩn thận, rồi thò tay vào túi áo ngực đã sờn chỉ, rút ra một xấp tiền giấy được gấp đôi, vuốt phẳng phiu từng nếp gấp.

Ông đặt lên mặt bàn ba tờ tiền giấy: một tờ hai mươi nghìn đồng màu xanh lơ, một tờ mười nghìn đồng màu nâu đỏ và một tờ năm nghìn đồng màu xanh lá cây cho suất cơm trưa ba mươi lăm nghìn đồng. Kế bên, ông cẩn thận đặt thêm một tờ hai mươi nghìn đồng còn khá mới.

“Tiền cơm trưa ba mươi lăm ngàn, với hai mươi ngàn tiền nợ cũ kỳ này nhen cô Hà,” ông Bình nói, ngón tay đẩy nhẹ xấp tiền về phía cô, trên khuôn mặt đầy nếp nhăn nở một nụ cười nhẹ nhõm, chân thành. “Tính luôn bữa nay là tôi trả dứt sáu mươi ngàn tiền thiếu đợt trước rồi đó nghen. Cô mở sổ ghi giùm tôi một tiếng cho rành rọt, để tối về tôi ngủ cho thẳng giấc.”

Hà bước lại gần bàn số bảy, đón lấy số tiền từ tay ông. Cô mở ngăn kéo quầy thu ngân, lấy ra cuốn sổ tay bìa cứng nhỏ dùng để theo dõi các khoản công nợ của khách quen trong xóm. Lật đến trang giấy có ghi ba chữ “Bùi Văn Bình” nắn nót, cô nhìn thấy hai con số hai mươi nghìn đã được gạch bỏ bằng mực đỏ của hai tuần trước. Dưới cùng là con số hai mươi nghìn cuối cùng còn sót lại.

Hà cầm chiếc bút bi mực xanh, đặt thước kẻ thẳng thớm rồi gạch một nét dứt khoát qua con số ấy. Phía dưới, cô ghi rõ ràng dòng chữ: “Ngày 18/4: Đã hoàn tất thanh toán nợ cũ (0đ)”, kèm theo chữ ký nhỏ gọn của mình.

Cô xoay cuốn sổ lại cho ông Bình nhìn thấy:

“Dạ, con ghi nhận chú đã trả hết nợ cũ rồi ạ. Sổ sách xong xuôi, từ mai chú cứ ghé ăn cơm bình thường, không còn vướng bận khoản nào nữa chú nhé.”

Ông Bình nhìn vào dòng chữ mực xanh, đôi mắt ông sáng lên một niềm vui giản dị mà sâu sắc. Ông thở phào một hơi dài, lồng ngực gầy guộc phập phồng như vừa trút bỏ được một gánh nặng vô hình đã đè nặng lên vai suốt mấy tuần lễ:

“Cảm ơn cô Hà nhiều nghen. Cảm ơn cái quán này dữ lắm. Có chỗ nấu đồ ăn mềm miệng cho người già, lại cho người ta trả dần từng bữa đàng hoàng như vầy, chứ không có coi người ta như kẻ đi xin ăn. Tôi quý là quý cái chỗ đó, cái tình nó nằm ở chỗ người ta tôn trọng mình, cô hiểu hông?”

“Dạ, con hiểu chứ chú,” Hà đáp, giọng cô ấm áp và chân thành. “Làm ăn sòng phẳng thì cái tình nó mới bền được chú ạ.”

Ông Bình đứng dậy, vẫy tay chào Hà và Duy đang đứng sau quầy rồi bước ra hiên. Dáng người ông thẳng thớm hơn hẳn, bước chân sải dài tự tin bước về phía chiếc xe Honda Dame. Hà nhìn theo bóng lưng của ông lăn bánh ra đường Vườn Me, lòng cô dâng lên một cảm giác thanh thản lạ kỳ.

Cô từng nghĩ từ chối cho nợ hay đòi tiền một người già nghèo khó là tàn nhẫn, từng nghĩ rằng sự dễ dãi xuề xòa mới là biểu hiện của lòng từ bi. Nhưng giờ đây cô hiểu rằng, sự cả nể mù quáng chỉ tước đoạt đi lòng tự trọng của người khác, biến họ thành những kẻ phụ thuộc mang đầy mặc cảm. Đặt ra một khuôn khổ công bằng, cho họ cơ hội được trả nợ sòng phẳng theo khả năng của mình, đó mới chính là sự tôn trọng lớn nhất mà con người có thể dành cho nhau.

Kim ngắn đồng hồ treo tường nhích dần về con số ba, kim dài chỉ thẳng vào số mười hai. Đúng mười lăm giờ.

Ca bán trưa chính thức khép lại.

Duy bước ra phía trước cửa, tháo tấm biển gỗ treo lủng lẳng bên cánh cửa kính, lật ngược lại mặt sau có khắc dòng chữ sơn trắng: “QUÁN NGHỈ PHỤC VỤ — HẸN GẶP LẠI VÀO 10H00 SÁNG MAI”. Anh cài chốt dưới của cánh cửa kính, tiếng lẫy kim loại kêu “cách” một tiếng giòn giã, dứt khoát. Quán ăn lập tức lùi lại vào một không gian tĩnh mịch, tách biệt hoàn toàn khỏi nhịp sống xe cộ hối hả ngoài đường lớn.

Phía sau gian bếp, cô Hạnh đang thực hiện những động tác cuối cùng để bàn giao ca làm.

Mặt bàn inox sơ chế thực phẩm và bệ bếp gas công nghiệp đã được cọ rửa sạch sẽ bằng nước rửa chén pha chanh, lau lại hai lần bằng khăn bông khô cho đến khi bề mặt kim loại sáng bóng, không còn vương lại một vệt mỡ hay một mẩu hành vụn nào. Từng chiếc xoong nhôm quân dụng, chảo gang sâu lòng đều được rửa sạch, úp nghiêng trên giá phơi inox nhiều tầng để róc nước.

Cô Hạnh cúi người kiểm tra van khóa bình gas tổng, vặn chặt núm khóa bằng đồng theo chiều kim đồng hồ, rồi dùng bàn tay xoa nhẹ lên khớp nối để chắc chắn không có mùi gas nào rò rỉ. Sau đó, cô kéo tấm rèm vải thô che ngăn cách khu vực bếp nấu và lối đi ra nhà vệ sinh phía sau.

“Cô xong việc rồi nghen Hà, Duy,” cô Hạnh vừa nói vừa cởi chiếc tạp dề màu xanh đậm viền trắng, giũ nhẹ cho phẳng rồi treo lên chiếc móc sắt gắn sau cánh cửa bếp.

Bên trong tạp dề, bà mặc chiếc áo sơ mi hoa nhí bằng vải lanh mát mẻ, mái tóc muối tiêu được búi gọn gàng bằng chiếc kẹp càng cua. Bà bước lại gần chậu rửa tay, rửa sạch xà phòng rồi với lấy chiếc túi xách giả da màu đen đã sờn mép đặt trên kệ tủ.

“Bếp núc cô bàn giao sạch bong rồi đó. Muối, đường, tiêu trong mấy cái hũ thủy tinh cô đã châm đầy đủ cho sáng mai, nước mắm cũng rót sẵn ra ca lường rồi. Giờ cô đi bộ ra trạm đón xe buýt chuyến ba giờ mười lăm về cho kịp cữ thuốc chiều của ông già.”

Hà bước tới, trên tay cầm tờ phiếu chấm công trong ngày của cô Hạnh. Cô nhìn vào dòng ghi chú giờ kết thúc ca làm việc: đúng mười lăm giờ không phút, đã có chữ ký xác nhận của Duy ở góc phải. Hà ký thêm một chữ ký nhỏ của mình rồi đưa lại cho cô Hạnh một bản lưu.

“Dạ, cháu cảm ơn cô Hạnh nhiều lắm. Hôm nay bếp ra món đều và ngon lắm cô. Cô về cẩn thận nghen, cho tụi cháu gửi lời hỏi thăm sức khỏe chú ở nhà ạ,” Hà nói, mắt ánh lên vẻ biết ơn chân thành.

“Ừ, từ ngày quán mình đổi giờ bán, chỉ dứt điểm ca trưa tới ba giờ thế này, cái thân già của cô nó khỏe ra bao nhiêu,” cô Hạnh cười sảng khoái, đuôi mắt hằn sâu những nếp nhăn đôn hậu. “Về tới nhà vừa vặn ba giờ rưỡi, kịp tắm rửa cho ông cụ, đút chén cháo rồi cho ổng uống thuốc, chiều tối hai vợ chồng ngồi coi ti vi thong thả. Đi làm mà cái đầu không phải thấp thỏm lo chuyện nhà, chân tay làm việc nó cũng nhẹ nhõm, không thấy mệt nhọc gì hết trơn.”

Bà vẫy tay chào Hà và Duy rồi dứt khoát đẩy nhẹ cửa bước ra ngoài. Tiếng bước chân của bà trên bậc thềm thoăn thoắt, thanh thản.

Không còn cảnh dùng dằng khó xử như những tháng trước, khi đồng hồ đã điểm bốn giờ chiều mà người làm công vẫn phải nán lại vì chủ quán bận việc riêng chưa kịp kiểm tiền, hay những lời nhờ vả ngập ngừng “cô ở lại phụ con lặt thêm mớ rau muống rồi hãy về”. Ranh giới về thời gian đã được thiết lập một cách rõ ràng và tôn trọng tuyệt đối, mang lại sự bình an cho cả người thuê lẫn người làm.

Cô Hạnh rời đi chừng năm phút thì cánh cửa kính trượt lại khẽ mở ra một lần nữa.

Bà Lan bước vào. Trên tay bà là một chiếc giỏ mây đan mộc mạc, bên trong lấp ló những bọc giấy báo gói cẩn thận. Gương mặt bà hồng hào, rạng rỡ dưới ánh nắng chiều vàng vọt hắt qua khung cửa. Chiếc nẹp kim loại cồng kềnh với những khớp khóa cơ khí từng bó chặt lấy chân phải của bà suốt mấy tháng ròng rã nay đã hoàn toàn biến mất; dưới gấu chiếc quần lụa đen rộng rãi, bà chỉ quấn một vòng băng thun trợ lực mỏng màu da để giữ ấm cho khớp gối khi phải đi bộ đường dài.

Bà Lan vừa trở về sau buổi sinh hoạt chiều ở câu lạc bộ dưỡng sinh khu phố cùng cô Nga và các bà bạn già. Trông bà nhẹ nhõm, thanh thản hơn bao giờ hết, không còn chút dấu vết nào của sự bồn chồn hay nét u uất của người từng nghĩ mình là gánh nặng cho con cái.

Bà đặt chiếc giỏ mây lên chiếc bàn phụ gần quầy thu ngân, tháo chiếc nón lá treo lên giá gỗ rồi đưa tay chỉ vào mấy bọc giấy:

“Mẹ ghé sạp trái cây của cô Bảy ở đầu chợ, thấy có mấy trái xoài cát Hòa Lộc da vàng ươm với ít mãng cầu xiêm chín cây thơm lừng nên mua về để tối nhà mình ăn tráng miệng. Đồ ăn này là mẹ mua bằng tiền túi riêng của mẹ cho cả nhà ăn nghen, không có dính dáng gì tới tiền đi chợ của quán đâu đó!”

Nghe mẹ nhấn mạnh từng chữ với vẻ mặt nghiêm nghị pha chút hóm hỉnh, Hà không kìm được bật cười khúc khích:

“Dạ, con biết rồi mà mẹ. Con đâu có dám trừ vào sổ của quán đâu. Mà chân mẹ hôm nay đi lại thế nào rồi mẹ? Đi bộ từ nhà văn hóa về tới đây có thấy mỏi không?”

“Êm ru rồi con ơi,” bà Lan đưa bàn tay vỗ nhẹ vào đầu gối phải của mình, ánh mắt lấp lánh niềm vui sướng của một người vừa tìm lại được sự tự do của thân thể. “Hôm qua bác sĩ bên phòng khám bảo dịch trong khớp gối đã tiêu sạch rồi, sụn phục hồi rất tốt nhờ không phải đứng bếp gánh nặng liên tục như đợt trước nữa. Sáng nay mẹ tập trọn vẹn bài dịch cân kinh mười hai thức với các cô bên câu lạc bộ, xoay người đứng tấn không thấy nhói một chút nào hết trơn.”

Đúng lúc đó, tiếng pô xe máy giòn giã quen thuộc lại vang lên ngoài sân. Khải gạt chân chống xe, bước vào quán với chiếc điện thoại thông minh đang mở sáng màn hình trên tay. Gương mặt anh rạng rỡ, bước đi thong dong chứ không còn vẻ tất bật, hớt hải của một người luôn cảm thấy mình đang trễ nải một điều gì đó.

“Ủa, mẹ về rồi hả mẹ?” Khải cất tiếng chào, rồi bước lại gần bàn số bảy, giơ màn hình điện thoại về phía bà Lan và Hà. “Đây nè, ứng dụng lịch nhắc việc trên điện thoại nó vừa hú chuông báo rồi. Chiều thứ Tư tuần tới là lịch tái khám định kỳ hai tuần một lần của mẹ ở bệnh viện quận. Ca này rơi vào tuần chẵn, thuộc trách nhiệm của con trai mẹ nhen. Con đã gọi điện báo cho mối giao phụ tùng xe dời lịch lấy hàng sang sáng thứ Năm rồi, chiều thứ Tư con lấy xe máy chở mẹ đi khám từ lúc một giờ rưỡi trưa cho đỡ phải chen chúc bốc số.”

Hà lặng nhìn anh trai mình, trong lồng ngực khẽ dâng lên một luồng cảm xúc ấm áp, dịu dàng.

Đã từng có những ngày cô phải sống trong cảm giác ngột ngạt của sự đùn đẩy vô hình: mẹ ốm đau thì con gái đương nhiên phải lo, việc nhà bề bộn thì phụ nữ đương nhiên phải gánh, còn người đàn ông chỉ cần viện cớ bận mưu sinh là có thể đứng ngoài mọi trách nhiệm chăm sóc. Cô từng phải vừa đứng quầy vừa thấp thỏm lo giờ đưa mẹ đi khám, vừa phải mở lời nài nỉ anh trai phụ giúp trong sự bực bội và dằn vặt.

Giờ đây, sự chủ động của Khải không xuất phát từ những lời thúc giục hay trách móc, mà đến từ một bảng phân công công việc minh bạch đã được cả gia đình cùng nhau thống nhất trên mặt bàn số bảy này. Trách nhiệm được gọi đúng tên, lịch trình được lên rõ ràng, và điều đó không chỉ giúp bà Lan nhận được sự chăm sóc chu đáo từ cả hai người con, mà còn trao lại cho Hà sự thanh thản tuyệt đối trong tâm trí — một sự giải phóng êm đềm khỏi những món nợ cảm xúc vô hình.

“Anh nhớ lịch chu đáo vậy là tốt rồi,” Hà nói, mắt cô ánh lên tia nhìn tán thưởng.

“Chuyện, đã thống nhất phân công rõ ràng rồi, anh mày đâu phải loại người nói lời rồi nuốt lời,” Khải nháy mắt hóm hỉnh, cất chiếc điện thoại vào túi quần jean rồi xắn cao hai tay áo sơ mi. “Mà thôi, trưa giờ chạy xe mấy cuốc đói bụng cồn cào rồi. Bữa cơm muộn chiều nay có gì ngon không, để anh bưng hết ra bàn số bảy luôn nào!”

Bữa cơm chiều muộn của cả gia đình cùng với Duy được dọn ra ngay trên mặt bàn số bảy vững chãi.

Nồi cơm trắng hạt tròn dẻo thơm còn bốc khói nghi ngút được đặt ở một góc bàn; đĩa sườn ram mặn óng ánh màu mật mía còn lại một phần vừa vặn cho bữa ăn gia đình; bát tô canh cải ngọt xanh mướt nấu với thịt nạc bằm ngọt lịm; và một đĩa rau muống luộc giòn rụm kèm theo chén nước mắm dầm ớt hiểm cay nồng.

Năm chiếc ghế gỗ được kéo ra, quây quần quanh chiếc bàn bốn chỗ đã được kê ngay ngắn. Không còn sự chật chội, bức bối của những bữa ăn vội vã chen chúc giữa đống hóa đơn và sổ sách; không gian quanh bàn số bảy giờ đây tràn ngập sự ấm cúng, thư thái của một gia đình thực sự được sum vầy sau giờ lao động.

Bà Lan ngồi ở vị trí đầu bàn, khoan thai cầm chiếc muôi gỗ múc canh vào từng chiếc bát nhỏ cho các con. Không còn mùi khói bếp nồng nặc hay mùi mỡ hành ám vào từng sợi tóc, không còn những tiếng rên rỉ khe khẽ mỗi khi phải co duỗi chân, bà ngồi đó với phong thái của một người mẹ thực sự được an hưởng tuổi già, được nhìn ngắm con cái trưởng thành trong sự hòa thuận và trật tự.

Duy ngồi cạnh Khải. Hai người đàn ông vừa ăn vừa râm ran trò chuyện về việc gắn thêm một thanh nẹp chịu lực cho chiếc giá để mũ bảo hiểm ngoài hiên để khách treo đồ được chắc chắn hơn, thỉnh thoảng lại gật đầu đồng tình về một giải pháp kỹ thuật nào đó.

Ăn được nửa bữa, Khải và một miếng cơm lớn, nhai ngon lành rồi ngước mắt nhìn sang Hà với vẻ mặt tinh nghịch:

“Ê Hà, quán mình dạo này chỉ bán trưa, buổi tối nghỉ sớm khỏe re như vầy, liệu tối nay có việc gì lặt vặt cần làm thêm không ta? Hay có đơn cơm hộp nào cần soạn trước, ướp thịt trước gì không thì bảo anh, tối nay anh rảnh rỗi không có hẹn bạn bè gì hết, anh chạy phụ cho một tay?”

Bà Lan cũng dừng đũa, ngước mắt lên nhìn con gái với vẻ tò mò, trong khi Duy khẽ ngừng nhai, ánh mắt điềm tĩnh của anh hướng về phía Hà, mang theo một tia sáng ấm áp và kiên nhẫn chờ đợi.

Hà thong thả đặt chiếc bát sứ xuống mặt bàn gỗ. Cô dùng chiếc khăn giấy ăn chấm nhẹ khóe môi, rồi ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt anh trai mình, sau đó chuyển ánh nhìn sang người mẹ già đang ngồi đối diện. Nụ cười trên môi cô nở ra thật tự nhiên, nhẹ nhõm, không hề có một chút ngập ngừng, lúng túng hay áy náy nào:

“Tối nay quán mình đóng cửa đúng quy định rồi anh Khải. Và tối nay em đã có hẹn riêng.”

Lời thông báo vang lên thật gọn gàng, dứt khoát và bình thản giữa không gian êm ả của gian phòng.

Đó không phải là một lời xin phép rụt rè của một đứa con sợ mẹ phật ý; không phải là một sự phân trần, biện hộ dài dòng nhằm xoa dịu cảm giác có lỗi vì đã không dành trọn vẹn buổi tối để phục vụ gia đình; và càng không phải là một hành động nổi loạn bốc đồng. Đó là sự xác lập ranh giới tự nhiên, đĩnh đạc của một người phụ nữ trưởng thành, người biết rõ giá trị của lao động và hiểu thấu quyền được làm chủ thời gian cũng như cuộc đời của chính mình.

Khải ngẩn người ra mất một nhịp, đôi mắt chớp chớp như đang tiêu hóa câu trả lời dứt khoát của em gái. Rồi khóe miệng anh giãn ra, anh bật cười thành tiếng, đưa tay vỗ nhẹ xuống đùi:

“À à, hiểu rồi nha! Có hẹn riêng thì cứ đi chơi cho thoải mái đầu óc. Cửa nẻo tối nay để đó anh khóa ngoài cho, việc nhà có mấy cái chén bát chứ có gì đâu mà lo. Cứ đi đi!”

Bà Lan khẽ mỉm cười hiền hậu. Bà gắp một miếng sườn ram nạc nhất trong đĩa, đặt nhẹ nhàng vào bát cơm của con gái, giọng bà trầm xuống đầy vẻ âu yếm:

“Đi chơi đi con. Quán xá dạo này làm ăn ngăn nắp, đâu ra đó rồi, ai cũng cần có giờ nghỉ ngơi của người nấy. Con gái hai mươi bảy tuổi đầu rồi, phải có cuộc sống riêng, có bạn có bè chứ cứ cắm cúi vào cái quầy thu ngân với mấy cuốn sổ tính tiền mãi sao được.”

Lời nói và cái gật đầu của mẹ cùng anh trai như một làn gió mát lành thổi qua tâm can Hà, cuốn trôi đi những tàn dư cuối cùng của thói quen cam chịu, cả nể từng đè nặng lên vai cô suốt bao năm tháng thanh xuân. Cô ngước mắt nhìn sang Duy; anh khẽ nghiêng đầu nhìn cô, một nụ cười kín đáo nhưng chan chứa sự đồng điệu sâu sắc hiện lên nơi khóe mắt. Giữa họ không cần nhiều lời hoa mỹ, chỉ một ánh nhìn cũng đủ để thấu hiểu sự tự do mà cả hai vừa cùng nhau kiến tạo.

Bảy giờ ba mươi tối.

Cái nóng oi ả đặc trưng của một ngày nắng Sài Gòn đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho những làn gió mát rượi thổi từ phía mặt nước kênh Nhiêu Lộc vào sâu trong các con hẻm nhỏ. Con đường Vườn Me lúc này khoác lên mình một vẻ tĩnh lặng hiếm hoi dưới những vòm lá me sum sê đang xào xạc trong gió đêm. Ánh đèn đường màu vàng ấm áp rọi qua kẽ lá, in những vệt bóng lung linh, đan cài như hoa văn ren trên mặt đường nhựa phẳng phiu.

Hà và Duy sánh bước bên nhau trên vỉa hè lát gạch men xám chạy dọc bờ kè kênh.

Hà mặc chiếc váy hoa nhí màu xanh nhạt bằng chất vải thô đũi mềm mại, mái tóc dài được buộc lỏng phía sau gáy, để vài lọn tóc tơ bay lòa xòa bên mang tai theo từng cơn gió thổi qua. Duy diện chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh đen giản dị, quần tây phẳng phiu, bước đi khoan thai bên cạnh cô. Anh giữ một khoảng cách vừa vặn, không quá xa cách nhưng đủ tinh tế để cô cảm thấy hoàn toàn thoải mái và tự do trong từng nhịp bước.

Không có sự hối hả của những ca làm việc cần đối soát từng phiếu đơn; không có tiếng máy in nhiệt ro ro giục giã; và không có bất kỳ một áp lực vô hình nào đè nặng lên đôi vai của hai người. Họ bước đi như thể thời gian lúc này là một dòng chảy êm đềm, không thuộc về bất kỳ một hóa đơn hay định mức kinh doanh nào.

“Lớp học bo mạch máy lạnh công nghiệp của anh thế nào rồi?” Hà cất tiếng hỏi, ánh mắt cô hướng về những đốm sáng lấp lánh phản chiếu trên mặt nước kênh gợn sóng lăn tăn.

“Tối thứ Ba với thứ Năm tuần này tôi bắt đầu học buổi đầu tiên,” Duy đáp, giọng nói trầm ấm và điềm đạm hòa vào tiếng lá me xào xạc phía trên đầu. “Thầy giáo khen phần thực hành đấu nối mạch điện ba pha đợt trước tôi làm rất chuẩn, thao tác gọn gàng. Khóa này học chuyên sâu ba tháng, lịch học từ bảy giờ đến chín giờ tối, rất khớp với giờ quán mình đóng cửa và dọn dẹp xong xuôi.”

Anh nghiêng đầu nhìn cô, ánh mắt mang theo sự quan tâm dịu dàng:

“Còn lớp vẽ màu nước của Hà thì sao? Sáng thứ Hai tuần tới bắt đầu rồi đúng không?”

“Dạ đúng rồi anh,” Hà mỉm cười, đôi mắt cô rạng ngời niềm háo hức thuần khiết, thứ cảm xúc tưởng chừng như đã bị chôn vùi dưới những lo toan cơm áo gạo tiền từ nhiều năm trước. “Em đã chuẩn bị sẵn hộp cọ vẽ với tập giấy ba trăm gam mà Mai tặng sinh nhật năm ngoái rồi. Quán mình nghỉ trọn vẹn ngày thứ Hai, em có thể dành cả buổi sáng ở trung tâm văn hóa mà không cần phải bận tâm xem ai đang đứng quầy hay ai đang chạy xe giao hàng ngoài đường. Buổi chiều về nhà, em tính sẽ ngồi bên khung cửa sổ cạnh bàn số bảy, vẽ lại góc chậu húng quế với giàn hoa giấy ngoài sân quán mình.”

“Tôi tin là Hà sẽ vẽ rất đẹp,” Duy nói một cách chân thành, giọng anh không vướng một chút nịnh nọt nào. “Hà có đôi mắt quan sát rất tinh tế. Hà luôn nhận ra được những chi tiết nhỏ bé, những điểm mất cân bằng mà người khác thường bỏ qua. Khi một người có thể nhìn thấu trật tự của sự vật, họ sẽ đặt được những nét vẽ rất bình yên.”

Hà khẽ đỏ mặt trước lời nhận xét của Duy, lòng cô dâng lên một niềm cảm kích sâu xa.

Hai người dừng bước bên lan can sắt bảo vệ bờ kênh. Dưới chân họ, dòng nước kênh Nhiêu Lộc lững lờ trôi, phản chiếu ánh đèn neon của những tòa nhà cao tầng phía xa xa. Gió từ mặt nước thổi thốc lên, mang theo hơi sương mát lạnh mơn man da thịt, xua tan đi tất cả những mỏi mệt sót lại của một ngày dài.

Duy đưa tay lên nhìn đồng hồ đeo tay. Mặt số dạ quang phản chiếu ánh sáng mờ mờ, kim phút đang chỉ về con số tám giờ bốn mươi lăm.

Anh quay sang nhìn Hà, giọng nói vẫn giữ trọn vẻ điềm tĩnh và tôn trọng:

“Chúng ta đi dạo thêm khoảng nửa tiếng nữa nhé? Đến chín giờ mười lăm tôi đưa Hà về đầu hẻm. Như vậy Hà về đến nhà là chín giờ rưỡi, vừa đủ thời gian tắm rửa, nghỉ ngơi để ngủ một giấc thật sâu trước ca trưa ngày mai.”

Hà ngước nhìn Duy, trái tim cô khẽ rung lên một nhịp đập êm ả.

Cách anh quan tâm đến cô không phải là sự chiếm hữu, không phải là những lời tán tỉnh nồng nhiệt muốn kéo dài cuộc hẹn bất chấp sự mệt mỏi của đối phương. Anh tôn trọng thời gian của cô, tôn trọng nhịp sinh học và công việc của cô cũng như cách anh tôn trọng chính bản thân mình. Trong mối quan hệ này, không ai phải gồng mình lên để làm vừa lòng người khác, không ai phải hy sinh những khoảng trời riêng, những giấc ngủ hay những đam mê cá nhân để chứng minh tấm lòng của mình.

Ranh giới rõ ràng, sự minh bạch và lòng tôn trọng lẫn nhau đã trở thành chiếc đệm cao su giảm chấn vững chãi nhất, giữ cho mối liên kết giữa hai tâm hồn luôn đứng vững vàng, thăng bằng và an yên giữa muôn vàn xáo động của cuộc sống bộn bề.

“Dạ, chín giờ mười lăm mình về,” Hà gật đầu, nụ cười trên môi cô rạng rỡ và trong trẻo như giọt sương mai.

Hai người tiếp tục sóng bước bên nhau dưới vòm lá me xanh rì rào trong gió đêm. Phía xa xa, dòng xe cộ trên đại lộ vẫn miệt mài tuôn chảy như một dòng sông ánh sáng bất tận, nhưng trong góc phố nhỏ này, cuộc sống đã tìm lại được trọn vẹn nhịp điệu bình yên vốn có của nó.

Ánh đèn đường Vườn Me bật sáng khi hai người sánh bước bên nhau, bình yên và không còn vội vã.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories