Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyCh.25 / 26
Chapter 25

Số tiền còn lại sau bữa trưa

Những hàng cột số trên trang giấy kẻ ô được Hà gạch chân bằng mực đỏ khi cả nhóm tập hợp đông đủ tại bàn số bảy vào sáng thứ Hai ngày nghỉ của tuần thứ tám.

Nắng ban mai rọi qua vòm me rậm rạp ngoài vỉa hè, xuyên qua kẽ lá rải từng vệt sáng lốm đốm, tròn xoe trên mặt bàn inox đã được lau chùi sạch bong, không vương lại một gợn mỡ hay một hạt bụi mịn nào của những bữa cơm tất bật ngày thường. Sáng nay quán không mở cửa đón khách. Phía ngoài, tấm biển hiệu bằng tôn sơn nền xanh chữ trắng mang dòng chữ “CƠM NHÀ BÀ LAN — PHỤC VỤ CƠM TRƯA: 10H00 – 15H00 (NGHỈ THỨ HAI HÀNG TUẦN)” vẫn nằm nép mình sau chốt khóa cẩn thận nơi mép cánh cửa sắt kéo hờ phân nửa. Khoảng không gian trước hiên quán im ắng, chỉ có tiếng lá me khô thi thoảng lạo xạo bay trên mặt đường nhựa mỗi khi có chiếc xe máy chạy lướt qua con phố Vườn Me.

Bên trong gian nhà, trên mặt bàn số bảy kê sát vách, khói lam từ chiếc ấm tích ủ trà lài nóng mẹ mới pha nghi ngút bốc lên, mang theo hương thơm thanh khiết, ngai ngái làm dịu hẳn cái hanh hao của buổi sáng đầu tuần. Đặt ngay ngắn cạnh ấm trà là cuốn sổ cái bọc da màu xanh lá đã sờn nhẹ ở các góc gáy, một xấp biên lai thu chi kẹp bằng năm chiếc kẹp bướm kim loại phân chia rành mạch theo từng tuần lễ, một chiếc máy tính bấm tay con cóc cũ kỹ và năm chiếc tách sứ trắng tráng men bóng.

Hà khẽ đưa ngón trỏ đẩy lại gọng kính cận trên sống mũi, hít một hơi thật sâu để lồng ngực căng tràn bầu không khí trong lành rồi ngước mắt nhìn bốn gương mặt thân thuộc đang ngồi quây quần quanh bàn.

Bà Lan ngồi ở chiếc ghế dựa kê sát bức tường quét vôi vàng nhạt. Chiếc nẹp khớp gối cố định bằng kim loại và vải thun màu đen to bản mà bà từng phải đeo cứng ngắc suốt mấy tháng ròng nay đã không còn nữa; thế vào đó là chiếc băng thun trợ lực mỏng màu da, ôm vừa vặn lấy đầu gối phải, để lộ đôi ống quần lụa đen buông lơi thoải mái. Ngồi bên cạnh bà là cô Hạnh. Người đầu bếp trung niên mặc chiếc áo bà ba màu lam giản dị, hai bàn tay thô ráp, chai sạn vì mấy mươi năm bưng chảo cầm dao được đan vào nhau đặt ngay ngắn trên mặt bàn, nét mặt toát lên sự tĩnh tại, an nhiên của một người thợ nấu đã tìm lại được nhịp điệu thong dong cho gian bếp của mình.

Đối diện với họ, Khải ngồi khoanh tay, lưng tựa vào thành ghế gỗ. Mái tóc của anh được chải gọn gàng sang một bên, cằm cạo nhẵn nhụi, trên gương mặt rạng rỡ không còn vết thâm quầng hay vẻ bơ phờ, cau có của những ngày xưa cũ — cái thời mà mỗi ban mai anh đều phải vừa ngậm vội nửa ổ bánh mì nguội ngắt vừa vặn hết ga chiếc xe Dream tàn phóng bạt mạng ra chợ đầu mối giữa làn khói bụi đặc quánh. Và ngay bên cạnh Hà, Duy ngồi thẳng lưng, tay cầm chiếc bút bi bấm bằng nhựa màu đen. Cuốn sổ tay ghi chép ca làm bìa da xám của anh mở sẵn ngay trước mặt, từng trang giấy hiện rõ những dòng chữ viết tay bằng mực xanh, đều đặn, ngắn gọn và thẳng tắp như được kẻ thước.

“Hôm nay là tròn tám tuần chúng ta đưa vào thử nghiệm mô hình chuyển hẳn sang bán bữa trưa,” Hà mở đầu, thanh âm phát ra rành rọt, tròn vành rõ chữ. Trong giọng nói của cô, người ta không còn tìm thấy chút ngập ngừng, rụt rè hay cái thói quen vô thức buông lời xin lỗi trước khi trình bày một vấn đề như ngày trước nữa. “Đúng theo nguyên tắc công khai tài chính đã cam kết, hôm nay em xin báo cáo bảng tổng kết chi tiết của toàn bộ giai đoạn tám tuần vừa qua để cả nhà cùng nắm rõ từng khoản mục.”

Hà lật giở trang sổ cái sang phần tổng kết cuối cùng. Trên trang giấy kẻ carô trắng tinh, các con số được cô chia tách thành từng cột mục rõ ràng, phân định mạch lạc giữa dòng tiền vào và các khoản chi phí thực tế:

“Trong tám tuần vừa qua, tổng doanh thu của toàn bộ các ca trưa đạt đúng một trăm lẻ hai triệu bốn trăm nghìn đồng. Doanh thu bình quân mỗi ngày bán hàng dao động ổn định trong khoảng từ một triệu chín trăm nghìn đồng cho đến hai triệu bốn trăm nghìn đồng. Riêng những ngày thứ Năm và thứ Sáu, khi quán nhận thêm đơn đặt cơm trưa cố định mười tám suất đóng hộp giao sang tòa nhà tài chính cho văn phòng của chị Thảo, doanh thu chạm ngưỡng hai triệu sáu trăm nghìn đồng một ngày. Về các khoản chi phí vận hành: thứ nhất là tiền mua nguyên liệu tươi sống gồm thịt, cá, rau củ và gia vị thanh toán trực tiếp cho sạp của cô Vân ngoài chợ Vườn Me, tổng cộng trong tám tuần là bốn mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng. Toàn bộ số tiền này đã được anh Khải và em thanh toán dứt điểm vào sáng Chủ Nhật hằng tuần, không còn tồn đọng một đồng nợ gối đầu hay bất kỳ khoản xin khất nợ nào sang tháng sau như trước đây.”

Khải khẽ gật đầu, ngón tay trỏ gõ nhè nhẹ xuống mặt bàn inox theo một nhịp điệu hài lòng, xác nhận những gì em gái vừa nêu là hoàn toàn chuẩn xác.

Hà đưa mắt nhìn xuống trang giấy, tiếp tục đọc to từng con số được ghi chép cẩn thận:

“Khoản chi phí cứng thứ hai: tiền thuê mặt bằng thanh toán cho chú Tín trong hai tháng qua là mười một triệu đồng chẵn, tính đúng theo đơn giá năm triệu rưỡi một tháng. Tiền nhà đều được chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của chú đúng vào ngày mùng một hằng tháng, không trễ hẹn dù chỉ một ngày. Khoản thứ ba: tiền đổi gas bếp công nghiệp, tiền điện chiếu sáng, điện quạt mát, tiền nước máy sinh hoạt và toàn bộ chi phí mua bao bì hộp giấy, muỗng gỗ phục vụ việc đóng gói mang về là tám triệu sáu trăm nghìn đồng. Mức chi phí tiện ích và bao bì này đã giảm hơn bốn mươi phần trăm so với thời điểm quán còn duy trì ca bán buổi tối lê thê kéo dài đến tận đêm khuya.”

Hà ngưng lại một giây, nhấp một ngụm trà lài ấm để giọng không bị khô rồi nói tiếp về phần lương bổng:

“Về chi phí nhân sự: quán đã thanh toán đầy đủ hai tháng tiền lương cứng cho cô Hạnh với mức sáu triệu năm trăm nghìn đồng một tháng, tổng cộng hai tháng là mười ba triệu đồng; trả đủ tiền công theo giờ cho Duy là bảy triệu hai trăm nghìn đồng, tương ứng với đúng một trăm bốn mươi tư giờ làm việc thực tế được ghi nhận trong bảng chấm công; trích trả tiền công giao hàng và phụ trách thu mua nguyên liệu cho anh Khải là tám triệu đồng cho hai tháng; và phần thù lao phụ trách vị trí thu ngân, kiểm soát kho cùng điều phối vận hành của em là tám triệu đồng.”

Đến đây, Hà ngẩng đầu lên, ánh mắt lướt qua gương mặt của từng người rồi dừng lại ở dòng mực đỏ được cô dùng thước gạch chân hai lần ở đáy trang giấy:

“Sau khi đã trừ dứt điểm toàn bộ các khoản chi phí cứng, tiền nguyên liệu tươi sống và tiền công lao động của tất cả các thành viên, số tiền thặng dư thực tế còn lại của quán sau tám tuần là bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng. Căn cứ đúng theo thỏa thuận đã ghi trong biên bản cuộc họp lần trước, em đề xuất trích trọn vẹn bốn triệu đồng chuyển thẳng vào tài khoản quỹ sửa chữa và dự phòng rủi ro của quán; hai mươi nghìn đồng lẻ còn lại sẽ được nhập trực tiếp vào ngăn kéo đựng tiền lẻ thối của quầy thu ngân. Như vậy, quỹ dự phòng của quán chúng ta — sau khi từng rơi vào tình trạng cạn kiệt hoàn toàn vì sự cố vỡ đường cống thoát nước và phải tôn nâng nền bếp cách đây hai tháng — nay đã chính thức có số dư tích lũy trở lại.”

Khi giọng nói của Hà dừng lại, không gian trong gian phòng rơi vào một khoảng im ắng lạ kỳ. Đó không phải là sự im lặng nặng nề, căng thẳng của những ngày đối diện với nguy cơ đóng cửa, mà là một khoảng lặng nhẹ nhõm, khoan khoái. Chiếc quạt tường cũ kỹ gắn trên góc vách quay tút năng đều đặn, phả ra từng luồng gió mát rượi thổi qua mép khăn trải bàn.

Khải nghiêng hẳn người sang phía cuốn sổ cái, chăm chú nhìn từng con số thẳng hàng do chính tay em gái nắn nót ghi chép. Anh ngắm nghía hồi lâu rồi từ từ ngả hẳn tấm lưng to bè ra sau chiếc ghế dựa, thở hắt ra một hơi thật dài như vừa trút bỏ được một khối đá nặng ngàn cân khỏi lồng ngực:

“Nói thiệt lòng với mọi người, cái hồi mới ký vô cái biên bản thử nghiệm tám tuần này, nhìn cái bảng dự toán thấy doanh thu tổng sụt mất một khúc so với hồi mở quán bán thông từ sáng sớm tới chín giờ tối, trong bụng anh sốt ruột tới mức đêm nào cũng trằn trọc mất ngủ. Hồi đó mình nông cạn, cứ đinh ninh trong đầu là mở cửa càng nhiều tiếng thì tiền vô túi càng nhiều. Cứ mỗi tối kiểm hộc tủ thấy cọc tiền dày cùi là tự huyễn hoặc bản thân thấy yên tâm, thấy quán mình làm ăn ngon lành. Có ai ngờ đâu tiền vô thì thấy nhiều mà tiền rỉ ra khắp các kẽ hở cũng như nước lũ tràn bờ. Nào là tiền gas đỏ lửa hâm đi hâm lại mấy nồi nước lèo suốt buổi chiều vắng hoe, tiền bóng đèn cao áp thắp sáng choang ngoài vỉa hè cho muỗi bu, rồi tiền mấy dĩa đồ nhậu xào sẵn ế chỏng trơ tới chín rưỡi đêm đành phải cắn răng trút vô thùng rác... Chưa kể những bận giao hàng trễ giờ nhậu, khách cằn nhằn bắt đền tiền, trừ hao đủ thứ. Giờ ngồi đây nhìn vô từng dòng con số này mới vỡ lẽ ra: doanh thu tổng tuy thấp hơn thời kỳ đỉnh điểm bán cả ngày gần hai mươi phần trăm, nhưng đây là đồng tiền sạch sẽ, đồng tiền thật sự ở lại trong túi mình. Quan trọng nhất là quán dứt điểm hẳn cái cảnh cứ hễ tới mùng một đầu tháng là hai anh em lại nhìn nhau méo mặt, bấm bụng móc từng đồng tiền túi cá nhân ra bù vô cho đủ tiền thuê nhà.”

“Đúng là như vậy đó chú Khải,” cô Hạnh cất giọng tiếp lời, nụ cười đôn hậu làm những nếp nhăn nơi khóe mắt cô giãn ra nhẹ nhõm. “Người làm bếp như tôi sợ nhất là cái cảnh đứng nấu mà trong lòng nơm nớp lo âu. Cứ không biết trưa nay bán được bao nhiêu phần, rồi chiều tối có khách nhậu ghé vô lai rai hay không để mà canh chừng thêm than bớt lửa. Cứ phập phồng như vậy thì cái đầu nó căng thẳng, nấu nướng chẳng thể nào tập trung trau chuốt được. Từ ngày thu gọn thực đơn lại còn đúng bốn món chính cho bữa trưa, buổi sáng chú Khải chở thịt cá tươi về bao nhiêu ký là tôi chia ra đúng bấy nhiêu suất ăn, ướp đúng liều lượng gia vị. Canh đúng giờ nhóm bếp, nấu xong nồi nào là khách ăn hết sạch nồi đó. Tới cuối ca, trong bếp chỉ còn lại lưng tô canh cải ngọt với vài ba miếng sườn vụn để mấy cô cháu dọn mâm ngồi ăn cơm trưa với nhau. Đúng hai giờ rưỡi chiều là gian bếp được lau chùi sạch bong kin kít, xoong chảo úp ráo nước lên giá. Tôi thong thả cởi tạp dề, đi bộ ra đầu đường đón chuyến xe buýt số ba lúc ba giờ chiều về nhà, kịp giờ sắc ấm thuốc bắc rồi đỡ ba tôi ngồi dậy uống thuốc, không còn phải vừa đảo chảo xào lăn vừa run sợ trễ giờ như mấy năm trước nữa.”

Hà khẽ khàng khép hai mép bìa cuốn sổ cái màu xanh lại. Đầu ngón tay cô miết nhẹ lên lớp da bọc ngoài. Trong khoảnh khắc ấy, cô cảm nhận rất rõ ràng rằng tảng đá vô hình đè nặng lên tâm trí cô suốt bao tháng ngày mòn mỏi rốt cuộc đã hoàn toàn tan biến. Quán cơm của gia đình cô không tạo nên một cơn sốt kinh doanh chấn động nào, cũng không trở thành một điểm đến ẩm thực ồn ào đến mức thực khách phải xếp hàng dài dằng dặc ngoài lòng đường. Lượng khách vãng lai ghé qua rõ ràng là ít hơn hẳn so với những đêm quán còn sáng đèn le lói đón từng tốp khách nhậu say khướt lúc nửa đêm. Nhưng bù lại, sự bấp bênh rình rập, cái cảnh chắp vá nợ nần đầu này đắp đầu kia, và cả những giọt nước mắt ấm ức nuốt ngược vào trong mỗi lần phải tự móc tiền túi ra đền bù những đơn giao sai trễ — tất cả những thứ đó đã vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng. Bàn số bảy giờ đây không còn là nơi bày ra những mảnh hóa đơn rách mép nhàu nhĩ hay những cuộc tranh cãi căng thẳng nghẹn lời giữa các thành viên, mà đã trở thành nơi mọi con số được đặt lên mặt bàn trong sự minh bạch, sòng phẳng và tôn trọng lẫn nhau.

Bà Lan khẽ dịch chuyển chiếc ghế gỗ, với tay lấy chiếc túi vải dù nhỏ màu cỏ úa đang treo sau lưng ghế. Bằng những ngón tay hơi run rẩy vì dấu vết tuổi tác, bà cẩn thận kéo khóa kéo, rút ra một phong bì giấy màu nâu nhạt đặt nhẹ lên mặt bàn inox. Bà ngước nhìn Khải, rồi quay sang nhìn con gái, trong đôi mắt đã đục mờ vì năm tháng ánh lên một niềm hân hoan rạng rỡ mà đã rất lâu rồi Hà mới lại được nhìn thấy trên gương mặt mẹ mình.

“Sáng thứ Bảy vừa rồi, Khải nó mượn xe chở mẹ sang bệnh viện quận tái khám theo đúng cái lịch hẹn tuần chẵn của bác sĩ,” bà Lan chậm rãi nói, từng lời nói đều chứa chan sự phấn khởi không hề giấu giếm. “Bác sĩ chuyên khoa xương khớp kiểm tra rất kỹ, cho mẹ đi chụp chiếu lại rồi siêu âm đầu gối. Kết quả cho thấy toàn bộ phần dịch ứ trong bao hoạt dịch khớp gối phải đã tiêu biến hoàn toàn, các mô quanh khớp không còn dấu hiệu sưng tấy hay phù nề nữa. Bác sĩ khen mẹ nhiều lắm, bảo là nhờ mẹ biết nghe lời khuyên, không còn đứng một chỗ liên tục năm sáu tiếng đồng hồ bên bếp lửa hầm hập, lại chịu khó uống thuốc đúng giờ, đúng cữ nên các sụn khớp đang có dấu hiệu hồi phục rất khả quan. Bác sĩ cho phép tháo bỏ cái nẹp sắt cứng ngắc kia rồi, chỉ dặn dò là những lúc nào phải đi bộ ra ngoài đường xa thì mang cái băng thun trợ lực mỏng này để giữ trục khớp cho an toàn thôi.”

Bà Lan đưa tay vỗ nhè nhẹ lên tờ giấy kết luận khám bệnh có con dấu đỏ chót của bệnh viện được gấp ngay ngắn bên trong phong bì:

“Bác sĩ còn dặn mẹ là từ nay người già như mẹ càng nên vận động nhẹ nhàng vào buổi sáng cho khí huyết lưu thông, các khớp xương khỏi bị khô cứng. Tình cờ chiều hôm qua, cô Nga bên ban cán sự tổ dân phố có tạt qua nhà chơi, rủ mẹ đăng ký tham gia câu lạc bộ dưỡng sinh ngoài sân nhà văn hóa khu phố. Mấy bà tập từ sáu giờ đến bảy giờ sáng mỗi ngày. Mẹ nghe hợp lý quá nên đã gật đầu nhận lời cô Nga rồi! Kể từ sáng mai, cứ đúng sáu giờ sáng là mẹ đi bộ thong thả ra sân tập dưỡng sinh, múa quạt với mấy bà bạn già trong xóm. Tập xong xuôi, mẹ ghé quán đầu hẻm ăn tô hủ tiếu nóng rồi túc tắc về nhà tưới mấy chậu rau thơm, tỉa mấy nhánh ớt kiểng ngoài hiên. Quán mình mười giờ mới mở cửa đón khách thì tầm chín rưỡi mẹ đi bộ tà tà ra đây. Mẹ ngồi ngay cái bàn số bảy này, nhặt giùm cô Hạnh mớ ngò gai, bóc vài củ hành củ tỏi phụ việc lặt vặt, rồi tới trưa thì dọn cơm ngồi ăn chung với tụi con. Mẹ nhất quyết không bước chân vô đứng bếp nấu nướng nữa đâu. Giao hết mọi việc nấu nướng cho cô Hạnh với hai đứa con điều hành, mẹ thấy yên tâm trong bụng trăm phần trăm rồi!”

Khải nghe mẹ nói một thôi một hồi bằng giọng điệu hào hứng như trẻ nhỏ được quà thì không nén nổi liền bật cười giòn tan:

“Trời ơi, mẹ giữ đúng lời hứa như vậy là tụi con mừng rớt nước mắt rồi đó mẹ. Bữa chở mẹ vô phòng khám, đứng ngoài cửa nghe bác sĩ thông báo cái khớp gối tiến triển tốt mà con như cất được gánh nặng trong lòng. Chứ cứ như hồi đầu năm, mẹ cứ vừa uống mấy viên thuốc giảm đau liều cao vừa ráng lết cái chân sưng vù vô bếp xào xào nấu nấu thì có ngày khớp nó thoái hóa nặng, phải đưa đi mổ thay khớp gối nhân tạo tốn mấy chục triệu bạc mà người lại chịu đau đớn.”

“Chính vì mọi việc đều đang diễn tiến theo chiều hướng tích cực nhất,” Hà tiếp lời anh trai, ánh mắt cô nhìn quanh một lượt qua từng gương mặt đang ngồi quanh bàn, “cho nên buổi họp sáng nay của chúng ta có một mục đích quan trọng nhất: đó là đưa ra quyết định chính thức xem chúng ta có tiếp tục duy trì mô hình bán bữa trưa sáu ngày mỗi tuần này lâu dài hay không. Em xin ý kiến biểu quyết cụ thể của từng người.”

Duy là người giơ cánh tay lên đầu tiên. Cử chỉ của anh gọn gàng, dứt khoát, trên nét mặt không có chút do dự nào: “Tôi hoàn toàn đồng ý duy trì mô hình này lâu dài. Đây là một phương thức vận hành rất ổn định, phân luồng công việc rõ ràng giữa các bộ phận, quan trọng nhất là chúng ta kiểm soát được tuyệt đối các rủi ro phát sinh về dòng tiền và chi phí tồn kho.”

“Tôi cũng xin biểu quyết tán thành duy trì,” cô Hạnh đưa tay lên, nét mặt đôn hậu bừng sáng một nụ cười hiền. “Được làm việc trong một khung giờ giấc cố định, có điểm dừng rõ ràng thế này, mức thu nhập của tôi được bảo đảm trọn vẹn mà tôi vẫn có đủ thời gian chu toàn bổn phận chăm sóc cho ba tôi ở nhà.”

Khải không ngần ngại giơ bổng cả hai cánh tay lên trời, cười hề hề: “Anh giơ luôn hai tay hai chân để biểu quyết đồng ý! Chẳng việc gì trên đời này mà chúng ta phải quay trở lại cái thời thức khuya dậy sớm, bán mấy dĩa mồi nhậu tới nửa đêm để rồi rốt cuộc lãnh phần lỗ vốn cả.”

Bà Lan gật đầu dứt khoát, ánh mắt kiên định: “Mẹ đồng ý một trăm phần trăm với ý kiến của các con.”

Hà khẽ mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ làm gương mặt cô bừng sáng: “Như vậy là toàn bộ năm người chúng ta đều đạt được sự đồng thuận tuyệt đối.”

Cô kéo chiếc túi xách cá nhân đặt bên cạnh ghế, nhẹ nhàng mở ngăn khóa kéo nhỏ và lấy ra hai tập tài liệu đã được in ấn thẳng thớm trên nền giấy A4 trắng tinh. Đây chính là hai bản phụ lục hợp đồng lao động chính thức mà cô đã dành trọn buổi tối Chủ Nhật hôm qua để rà soát, cân nhắc từng câu chữ, căn cứ dựa trên đúng những gì cả nhóm đã thực hành hiệu quả trong suốt tám tuần thử nghiệm vừa qua.

Hà đẩy tập tài liệu thứ nhất sang phía cô Hạnh:

“Cô Hạnh, đây là bản phụ lục hợp đồng lao động chính thức cho vị trí bếp chính của cô tại Cơm Nhà Bà Lan. Thời hạn hợp đồng được xác định là một năm kể từ ngày ký. Thời gian làm việc mỗi ngày bắt đầu từ bảy giờ sáng và kết thúc vào đúng mười bốn giờ ba mươi phút chiều, áp dụng từ thứ Ba cho đến Chủ Nhật, nghỉ cố định vào thứ Hai hằng tuần. Mức lương cứng của cô là sáu triệu năm trăm nghìn đồng mỗi tháng. Quán bao trọn gói một bữa cơm trưa dinh dưỡng cùng mọi người, có phụ cấp chuyên cần hằng tháng, và trong trường hợp có những sự cố phát sinh ngoài ý muốn đòi hỏi phải làm thêm giờ mà được cả hai bên đồng thuận trước, quán sẽ tính tiền làm thêm giờ với mức năm mươi nghìn đồng cho mỗi tiếng làm việc. Cháu mời cô đọc và kiểm tra lại toàn bộ các điều khoản giúp cháu ạ.”

Cô Hạnh run run đưa hai bàn tay đón lấy tập giấy. Cô cẩn thận rút từ trong túi áo ra chiếc kính lão gọng đồi mồi, đeo lên mắt rồi chăm chú đọc từng câu, từng chữ, từng con số được in sắc nét trên trang giấy trắng. Đọc đến dòng cam kết về thời gian nghỉ ngơi và chế độ phụ cấp, mắt cô bỗng hoe hoe đỏ, ngấn nước. Đã gần mười năm trời bôn ba khắp các quán ăn lớn nhỏ, làm qua không biết bao nhiêu gian bếp với vai trò phụ bếp hay nấu chính không tên, đây là lần đầu tiên trong cuộc đời lao động của mình, cô Hạnh được cầm trên tay một bản hợp đồng minh bạch, đối đãi với cô bằng sự tôn trọng trọn vẹn đối với sức lao động và danh dự của một người đầu bếp. Cô Hạnh hít một hơi sâu, cầm lấy chiếc bút bi từ tay Hà, nắn nót ký tên mình vào phần dành cho người lao động dưới đáy trang giấy.

Hà chuyển tập tài liệu thứ hai sang phía Duy:

“Còn đây là bản phụ lục hợp đồng lao động của Duy. Vị trí công việc là nhân viên phục vụ, phụ trách đóng gói suất ăn kiêm hỗ trợ vận hành hệ thống. Khung thời gian làm việc mỗi ngày bắt đầu từ tám giờ sáng và kết thúc đúng vào mười bốn giờ ba mươi phút chiều, nghỉ cố định ngày thứ Hai. Tiền lương của Duy sẽ được tính chuẩn xác theo số giờ làm việc thực tế với mức thù lao năm mươi nghìn đồng cho mỗi giờ, việc thanh toán sẽ được thực hiện theo tuần hoặc theo tháng tùy theo nguyện vọng cá nhân của Duy. Quán Cơm Nhà Bà Lan cam kết tuyệt đối không điều động, không giao thêm việc hay yêu cầu Duy phải làm thêm bất kỳ giờ nào ngoài khung thời gian đã thỏa thuận, nhằm bảo đảm tuyệt đối lịch học các khóa kỹ thuật điện dân dụng vào các buổi chiều tối của Duy.”

Duy đón lấy tập hợp đồng bằng cả hai tay. Ánh mắt anh bình thản nhưng vô cùng cẩn trọng lướt qua từng điều khoản quy định về phạm vi công việc, quy trình giao nhận các đơn nhóm của khách văn phòng và mức thù lao theo giờ. Khóe môi anh khẽ cong lên thành một nụ cười kín đáo, hài lòng:

“Một bản hợp đồng rất chi tiết, minh bạch và sòng phẳng. Cảm ơn Hà rất nhiều.”

Duy đặt tập giấy ngay ngắn xuống mặt bàn, bấm chiếc bút bi trong tay và ký một nét chữ dứt khoát, sắc sảo. Tiếng ngòi bút lướt trên mặt giấy A4 phát ra âm thanh ro ro khô giòn, dứt khoát.

Bà Lan, với tư cách là người đại diện hợp pháp cho bên sử dụng lao động của quán Cơm Nhà Bà Lan, đã cầm bút ký tên vào cả hai bản hợp đồng dưới sự chứng kiến của Khải. Ngay khi những chữ ký cuối cùng vừa hoàn tất, Khải cao hứng vỗ hai bàn tay vào nhau bôm bốp khiến bầu không khí trong quán rộn rã hẳn lên. Nắng ngoài hiên đã lên cao hơn một chút, xuyên qua tàn lá me hắt những mảng sáng rực rỡ vào sàn nhà gạch bông. Khói từ ấm trà lài vẫn nhè nhẹ tỏa ra, mang theo hương thơm thanh khiết, ngát lành bao bọc lấy sự ấm áp, bình yên của buổi sáng ngày nghỉ.

***

Buổi chiều ngày thứ Hai trôi qua trong một sự êm ả lạ lùng mà đã từ rất lâu rồi Hà mới có dịp tận hưởng trọn vẹn. Một cơn mưa rào bất chợt đổ xuống lúc đầu giờ chiều đã gột rửa sạch bong những bụi bặm vương trên vòm me già dọc theo con phố, để lại một bầu không khí mát mẻ, ngai ngái mùi đất ẩm và thơm nồng hương lá cây tươi mới.

Đúng ba giờ chiều, tiếng động cơ xe máy quen thuộc của Duy chầm chậm dừng lại ở đầu con hẻm nhỏ dẫn vào nhà Hà. Anh không hề bấm còi inh ỏi để giục giã, chỉ tắt máy, dựng chân chống nghiêng rồi đứng kiên nhẫn đợi bên cạnh gốc cây bàng rợp bóng mát ở đầu ngõ.

Khi Hà bước ra từ cổng con hẻm trong chiếc áo sơ mi cộc tay màu vàng mỡ gà trang nhã cùng chiếc quần vải ống đứng màu đen giản dị, trên vai khoác chiếc túi vải thô thêu cành hoa cúc nhỏ, Duy khẽ nghiêng đầu mỉm cười chào cô. Anh cẩn thận đưa cho cô chiếc mũ bảo hiểm sơ cua màu trắng đã được mở sẵn quai cài:

“Chiều nay sau cơn mưa trời mát mẻ lắm,” Duy nói khi đỡ lấy tay lái để Hà bước lên yên sau. “Tôi biết có một quán cà phê nhỏ nằm sát bờ sông bên mạn bán đảo Thanh Đa, chỗ đó yên tĩnh lắm, gió sông thổi lồng lộng suốt ngày.”

“Dạ, vậy mình chạy qua bên đó đi anh,” Hà khẽ đáp, giọng nói cô nhẹ nhõm như một làn gió thoảng.

Chiếc xe máy nổ máy êm ru, lướt đi nhịp nhàng qua những con phố đông đúc của quận Bình Thạnh rồi rẽ ngoằn ngoèo vào một lối đi nhỏ rợp bóng những rặng dừa nước mọc chen chúc sát mép bờ sông Sài Gòn. Quán cà phê mà Duy nhắc tới thực chất chỉ là một căn nhà sàn bằng gỗ mộc mạc lợp mái lá dừa nước, kê chừng năm sáu bộ bàn ghế mây đan đơn sơ hướng tầm nhìn thẳng ra mặt sông mênh mông sóng nước.

Ở nơi này, tuyệt nhiên không có tiếng nhạc xập xình ồn ã của những chiếc loa thùng công suất lớn, không có tiếng động cơ xe cộ gầm rú, và càng không có tiếng chiếc máy in hóa đơn nhiệt kêu rè rè từng đợt ngắn liên hồi như những buổi trưa nghẹt thở ở quán cơm. Tất cả những gì lấp đầy không gian tĩnh mịch này chỉ là tiếng sóng vỗ ì oạp nhịp nhàng vào chân bờ kè đá phủ đầy rêu xanh, và tiếng xào xạc của gió luồn qua những bẹ dừa nước rì rào.

Họ chọn một chiếc bàn mây nhỏ kê sát mép lan can gỗ nhìn thẳng ra mặt nước. Người phục vụ bước lại gần, mang ra hai ly đồ uống theo yêu cầu: một ly cà phê đen đá không đường đậm đặc cho Duy và một ly trà đào cam sả thanh mát, cắm thêm một nhánh bạc hà tươi cho Hà.

Khi người phục vụ vừa đặt hóa đơn thanh toán lên bàn, Hà tự nhiên mở chiếc túi thêu của mình, lấy ra số tiền vừa đủ cho phần nước của cô và đặt lên chiếc khay nhựa. Duy nhìn thấy nhưng không hề đưa tay ra ngăn cản hay tranh giành trả thay. Sự sòng phẳng, rõ ràng một cách tự nhiên ấy khiến cho cả hai người đều cảm nhận được một sự nhẹ nhõm kỳ lạ trong tâm hồn — không ai phải mang trên vai cảm giác mắc nợ một ân tình nhỏ nhặt, và cũng không ai phải hạ mình nhún nhường để đổi lấy sự bao bọc của người kia.

Hà dùng chiếc muỗng inox khuấy nhẹ ly trà đào của mình, lắng nghe tiếng những viên đá lạnh lách cách chạm vào thành ly thủy tinh nghe thật vui tai. Cô ngước mắt nhìn sang Duy, khẽ mỉm cười hỏi:

“Khóa học kỹ thuật điện dân dụng của anh ở trung tâm dạo này tiến triển thế nào rồi? Tuần trước nghe anh bảo là chuẩn bị bước vào kỳ thi kết thúc học phần thực hành đấu nối mạch điện ba pha?”

Duy nhấp một ngụm cà phê đen, vị đắng gắt nhanh chóng lan tỏa nơi đầu lưỡi nhưng ánh mắt anh lại sáng lên một niềm say mê, hứng khởi rất chân thật:

“Tôi thi xong vào tối thứ Bảy rồi Hà. Kết quả đạt loại giỏi ở phần thực hành đấu nối tủ điều khiển tự động. Thầy giáo đứng lớp khen tôi thao tác cẩn thận, chịu khó đo đạc kiểm tra độ thông mạch từng tiếp điểm trước khi đóng cầu dao nên không bao giờ xảy ra sự cố chập cháy. Học xong chứng chỉ này, qua đầu tháng sau tôi sẽ đăng ký học tiếp khóa chuyên sâu về kỹ thuật sửa chữa bo mạch máy lạnh và tủ đông công nghiệp. Khóa đó sẽ học cố định vào các buổi tối thứ Ba và thứ Năm hằng tuần, từ sáu giờ đến tám giờ tối.”

“Nghe anh kể thích thật đó,” Hà nhìn anh với một ánh mắt đầy vẻ trân trọng. “Anh lúc nào cũng biết rất rõ ràng bản thân mình muốn gì, cần học thêm cái gì và luôn kiên trì làm cho bằng được từng bước một.”

“Còn Hà thì sao?” Duy đặt ly cà phê xuống mặt bàn, ánh mắt chăm chú và nghiêm túc nhìn thẳng vào cô gái đối diện. “Tôi còn nhớ trước đây có lần Hà từng tâm sự rằng Hà rất muốn đi học thêm một môn gì đó vào những ngày quán nghỉ?”

Gò má Hà khẽ ửng hồng một nét e ấp, nhưng rồi cô rất tự tin mở chiếc túi vải thô của mình ra. Lần này, cô không lấy ví tiền mà cẩn thận rút ra một cuốn sổ tay bìa cứng bọc vải thô nhỏ nhắn cùng một hộp cọ vẽ mini bằng kim loại. Cô lật giở vài trang giấy trắng tinh, dày dặn ra trước mặt Duy:

“Hồi còn học cấp ba, em mê vẽ tranh minh họa lắm. Ngày xưa em từng mơ ước sau này lớn lên sẽ làm công việc vẽ tranh cho các cuốn truyện thiếu nhi hay bìa sách văn học. Nhưng rồi đùng một cái mẹ bị đau khớp gối nặng, quán cơm mở ra với biết bao nhiêu thứ việc không tên cuốn phăng em đi. Em đành phải cất hết cọ vẽ, hộp màu vào tận đáy tủ suốt mấy năm trời ròng rã. Vừa rồi, sau khi cả nhà mình thống nhất được cái lịch nghỉ cố định vào ngày thứ Hai hằng tuần, em đã quyết định đến trung tâm văn hóa quận đăng ký một lớp vẽ màu nước cơ bản. Lớp học sẽ diễn ra vào các buổi sáng thứ Hai hằng tuần, bắt đầu khai giảng từ tuần sau.”

Duy vươn tay cầm cuốn sổ vẽ của cô lên. Những ngón tay thô ráp của người thợ điện khẽ lướt qua bề mặt giấy vẽ xù xì, dày dặn. Anh gật đầu tán thưởng bằng một sự trân trọng chân thành:

“Rất tuyệt vời, Hà ạ. Con người ta chỉ có thể làm việc thật sự tốt và bền bỉ khi chính bản thân họ có được một khoảng trời riêng để thở, để nuôi dưỡng tâm hồn và để sống cho những đam mê của chính mình. Hà là người có khả năng quan sát rất tỉ mỉ, rất tinh tế đối với cuộc sống xung quanh, tôi tin chắc là những bức tranh Hà vẽ sau này sẽ có hồn và ấm áp lắm.”

“Cảm ơn anh,” Hà mỉm cười, một cảm giác ấm áp và dịu ngọt lan tỏa khắp lồng ngực cô. “Lâu lắm rồi em mới có lại được cảm giác một ngày thứ Hai trọn vẹn là ngày của riêng mình. Không còn phải nơm nớp sợ tiếng chuông điện thoại reo giục cơm, không phải lo ngay ngáy chuyện đơn hàng bị giao trễ hay thấp thỏm tự hỏi liệu đầu gối của mẹ ở quán hôm nay có lại sưng đau hay không.”

Hai người ngồi bên nhau bên bờ sông lộng gió, cùng chia sẻ về những câu chuyện thường nhật bình dị của quán cơm trong những tuần qua: chuyện ông Bình thợ sửa xe máy ở góc ngã tư sáng nay ghé quán ăn dĩa cơm cá kho mềm rục xương, ông hồ hởi tự giác móc túi trả thêm hai mươi nghìn đồng tiền nợ cũ từ tháng trước rồi còn khoe khoang rằng chiếc răng hàm sâu của ông đã được trám xong, không còn nhức buốt nữa; chuyện chị Thảo bên tòa nhà tài chính gửi tin nhắn qua Zalo khen ngợi món sườn ram mặn ngọt của cô Hạnh dạo này nêm nếm rất vừa miệng, không bị quá ngọt gắt như trước; và cả những dự định nho nhỏ về việc sẽ thay mới lại mấy chiếc bóng đèn tiết kiệm điện cho khu vực rửa chén vào tháng tới.

Khi vầng thái dương bắt đầu ngả dần về phía tây, nhuộm lên mặt sông Sài Gòn một sắc đỏ cam rực rỡ và gió từ mặt nước thổi thốc vào mang theo hơi lạnh se se, Duy bỗng im lặng trong giây lát.

Anh đưa tay xoay xoay chiếc ly cà phê thủy tinh trên mặt bàn mây, ánh mắt nhìn theo những vệt sóng lăn tăn ngoài xa. Rồi như đã cân nhắc kỹ lưỡng mọi điều trong lòng, anh ngẩng đầu lên, hướng ánh mắt nhìn thẳng vào mắt Hà. Đó là một ánh nhìn điềm tĩnh, sâu lắng, chân thành và hoàn toàn không có một nét lúng túng hay né tránh nào.

“Hà này,” Duy cất tiếng gọi, thanh âm trầm ấm và rõ ràng từng từ.

“Dạ anh?”

“Thời gian qua được làm việc cùng với Hà, cùng nhau trải qua những giai đoạn quán gặp khó khăn chông chênh nhất để rồi tìm ra hướng đi ổn định như hôm nay, tôi nhận ra mình vô cùng trân trọng tính cách của Hà. Hà là một người biết lắng nghe, biết dũng cảm thay đổi những điều chưa đúng và luôn kiên quyết bảo vệ những giới hạn đúng đắn. Tôi rất thích cách Hà làm việc chuyên nghiệp, và tôi cũng thực sự rất thích con người của Hà ở ngoài giờ làm việc.”

Hà khẽ chớp mắt. Lồng ngực cô đập nhanh hơn một nhịp trước những lời bộc bạch thẳng thắn ấy, nhưng cô không hề lảng tránh ánh nhìn của anh. Cô ngồi yên, lắng nghe trọn vẹn từng lời anh nói.

Duy tiếp tục, mỗi câu chữ của anh đều vững chãi và được cân nhắc cẩn trọng:

“Hôm nay, khi quán Cơm Nhà Bà Lan đã chính thức đi vào quỹ đạo vận hành ổn định, khi cả hai chúng ta đều đã có cuộc sống riêng và những mục tiêu học tập rõ ràng cho tương lai, tôi muốn hỏi Hà một cách hết sức nghiêm túc: Hà có đồng ý chính thức hẹn hò cùng tôi không?”

Không có một bó hoa hồng cầu kỳ nào được chuẩn bị sẵn, không có những lời thề non hẹn biển hoa mỹ hay bất kỳ sự nài ép, dẫn dụ cảm xúc nào. Lời ngỏ lời của Duy thẳng thắn, rành mạch và vững chãi hệt như chiếc đệm cao su giảm chấn mà chính tay anh từng tỉ mỉ đo đạc, gọt giũa để chêm vào chân bàn số bảy cho nó không còn bị bập bênh nữa.

Hà nhìn chăm chú vào gương mặt Duy. Trong tâm trí cô lướt qua những thước phim sống động của những ngày đầu tiên anh bước chân vào quán cơm này: phong cách hỏi han rành mạch đến mức khô khan từng khiến cô ngỡ ngàng; sự thẳng thắn nhận lỗi và kiên quyết tự trừ tiền công khi đóng thiếu một miếng sườn của anh; và cả buổi chiều anh bình thản chia sẻ về những mặc cảm quá khứ bên bờ kênh đầy gió. Ở bên cạnh người đàn ông này, cô chưa từng một lần phải mệt mỏi đoán già đoán non tâm ý của anh, chưa bao giờ phải nuốt ngược những lời muốn nói vào trong lòng để làm vừa lòng người khác, và tuyệt đối không bao giờ phải hy sinh một giây phút tự do cá nhân nào chỉ để chứng minh sự gắn kết của tình cảm.

Hà khẽ mỉm cười. Đó là một nụ cười nhẹ nhõm, an tâm và rạng rỡ xuất phát từ tận đáy lòng:

“Dạ, em đồng ý.”

Một nụ cười hiếm hoi nhưng vô cùng rạng rỡ bừng sáng trên gương mặt vốn dĩ luôn nghiêm nghị, trầm tĩnh của Duy. Anh thở phào một hơi nhẹ nhõm, hai bờ vai rắn rỏi khẽ chùng xuống trong sự thư thái.

“Nhưng mà anh Duy này,” Hà khẽ nghiêng đầu, đôi mắt sau cặp kính cận lấp lánh ánh cười thông minh và tinh nghịch, “chúng ta vẫn phải giữ đúng những nguyên tắc ranh giới mà hai đứa mình đã thống nhất từ trước đấy nhé.”

“Tất nhiên rồi Hà,” Duy gật đầu ngay tắp lự, như thể những nguyên tắc ấy đã được anh ghi nhớ nằm lòng trong tâm trí từ rất lâu. “Ở quán Cơm Nhà Bà Lan, chúng ta trước hết vẫn là những người đồng nghiệp bình đẳng. Công việc là công việc, mọi phân công đều phải tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng hợp đồng lao động và quy trình phục vụ đã đề ra. Tuyệt đối không có sự thiên vị, không có bất kỳ ngoại lệ tình cảm nào làm ảnh hưởng đến sự công bằng đối với cô Hạnh hay anh Khải. Lịch học kỹ thuật điện của tôi vào các buổi tối phải được giữ nguyên vẹn, lớp học vẽ màu nước vào sáng thứ Hai của Hà cũng phải được bảo vệ tuyệt đối. Và nếu một trong hai người có hẹn riêng với bạn bè hoặc đơn giản là cần một khoảng không gian riêng tư cho bản thân, người kia phải hoàn toàn tôn trọng, không được phép hờn dỗi hay can thiệp.”

“Rất công bằng và rõ ràng,” Hà gật đầu tán thành tuyệt đối. “Em không bao giờ muốn bước vào một mối quan hệ mà ở đó một trong hai người phải tự thu nhỏ tiếng nói, thu hẹp cuộc đời hay từ bỏ đam mê của mình lại chỉ để làm cho người kia cảm thấy vừa lòng.”

“Tôi cũng nghĩ như vậy,” Duy mỉm cười nhìn cô. Anh chầm chậm đưa bàn tay qua mặt bàn mây, khẽ chạm nhẹ vào mu bàn tay mềm mại của Hà một cái như một lời cam kết thầm lặng, rồi anh chủ động rút tay về vị trí cũ, giữ đúng một khoảng cách chừng mực và tôn trọng. “Sự rõ ràng và ranh giới không bao giờ đẩy người ta ra xa nhau, nó chỉ giúp cho hai con người có thể đi cạnh nhau lâu dài trên một con đường mà không bao giờ cảm thấy ngột ngạt hay gánh nặng.”

Mặt trời từ từ chìm hẳn xuống sau những rặng dừa nước rậm rạp ở bờ bên kia sông. Ánh hoàng hôn buông xuống mặt nước một dải lụa màu vàng cam lấp lánh, huyền ảo rồi chuyển dần sang sắc tím sẫm của buổi chập tối. Hai người ngồi bên nhau thêm một lúc lâu, cùng nhau uống cạn ly nước của mình trong một sự im lặng êm đềm và bình yên tuyệt đối — sự im lặng thấu hiểu của hai tâm hồn đã tìm thấy được tiếng nói chung, tìm thấy được một điểm tựa an toàn và vững chãi được xây dựng trên nền tảng của sự minh bạch và tôn trọng lẫn nhau.

Rời quán cà phê ven sông Thanh Đa, Duy nổ máy chở Hà quay trở về con đường Vườn Me khi phố xá Sài Gòn đã bắt đầu đồng loạt lên đèn. Chiếc xe máy chạy chầm chậm, hòa mình vào dòng người tan tầm đang hối hả trở về mái ấm gia đình. Trong lòng Hà lúc này không còn sót lại một chút cảm giác vội vã, cuống cuồng nào; không còn nỗi ám ảnh sợ hãi về những đơn cơm hộp bị giao trễ nải, và cũng không còn những cuộc đối thoại gia đình rơi vào ngõ cụt bế tắc.

Ngày mai, một ngày làm việc bình thường mới sẽ lại bắt đầu: cô Hạnh sẽ đứng bên bếp lửa đỏ nêm nếm những món ăn đậm đà hương vị gia đình, Duy sẽ thoăn thoắt đôi tay đóng gói từng phần cơm trưa ngay ngắn, Khải sẽ vui vẻ xách giỏ đi chợ mua mớ cá tươi rau xanh, và Hà sẽ lại đứng sau quầy thu ngân với cuốn sổ cái ngay ngắn, nở nụ cười đón chào những người khách quen quay trở lại.

Duy dừng xe ở đầu hẻm, đón lấy chiếc mũ bảo hiểm từ tay cô và hẹn gặp lại cô vào sáng mai lúc tám giờ đúng. Hà đứng lặng dưới gốc bàng già, dõi mắt nhìn theo bóng lưng thẳng tắp của anh khuất dần dưới những vòm me rợp bóng mát, trong lòng cô dâng ngập một cảm giác nhẹ nhõm, an ổn và vững vàng chưa từng có trong đời.

Nắng sớm chiếu qua khung cửa sổ, rọi sáng chiếc bàn số bảy đã được kê vững chãi.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories