Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyCh.12 / 26
Chapter 12

Những buổi tối bán càng nhiều càng mệt

Bóng đèn tuýp ba mươi sáu oát trên trần quầy thu ngân rung lên từng chặp, phát ra tiếng vo ve trầm đục quen thuộc của chấn lưu đã rão sau nhiều năm ngâm trong hơi ẩm và mỡ màng. Cứ mỗi nhịp chớp nháy màu xanh lơ tái ngắt, thứ ánh sáng tù mù lại quét qua xấp hóa đơn ca tối nằm la liệt trên mặt kính, hắt rõ những mép giấy nhiệt quăn queo, co cụm lại vì ngấm hơi nóng của chảo xào và luồng khí quạt gió. Dưới sàn, lớp vữa xi măng mà thợ hồ vừa trám vá vội vã lúc xế chiều để bịt miệng cống trào ngược vẫn chưa kịp đổi màu hoàn toàn; nó sẫm lại như một vết sẹo ẩm ướt, tỏa ra mùi nồng nồng của cát thô và đá dăm ướt nước, át đi cả mùi hành phi thơm lừng còn váng vất trong lòng chiếc chảo gang treo góc bếp.

Đồng hồ trên vách tường buồng trong đã điểm qua chín giờ rưỡi đêm. Đoạn đường Vườn Me ngoài kia bắt đầu thưa vắng. Tiếng rồ ga của những chuyến xe máy muộn mằn vọng vào nghe trơ trọi, loãng dần rồi chìm hẳn vào bóng tối của những rặng me già rủ lá ven kênh. Sau một ngày dài đánh vật với nước triều ngập ngang bắp chân và mớ xoong chảo nhớp nháp phù sa, sự im ắng này dường như không mang lại cảm giác nghỉ ngơi mà chỉ khiến sự mệt mỏi tích tụ dưới các khớp xương có dịp cựa mình nhức nhối.

Hà kéo chiếc ghế nhựa tròn màu đỏ, ngồi xuống góc bàn số bảy. Đây là chiếc bàn gỗ ép đã bong tróc lớp veneer ở mép ngoài, nhưng đổi lại, nó có được sự vững chãi đáng ngạc nhiên nhờ miếng đệm cao su giảm chấn hình vuông mà Duy đã cẩn thận cắt từ chiếc lốp xe hỏng, chêm khít rịt dưới gót chân sắt phía sau vào ban chiều. Khi Hà tì hai khuỷu tay áo sờn chỉ lên mặt bàn, không còn một tiếng bập bênh khó chịu nào phát ra. Mặt bàn đứng yên, phẳng lặng và lạnh lẽo, đón nhận toàn bộ sức nặng từ bờ vai trĩu xuống của cô.

Trước mặt Hà, cuốn sổ cái bọc bìa nylon màu xanh nước biển đã ngả vàng ở gáy nằm ngay ngắn cạnh chiếc máy tính cầm tay Casio cũ mòn hết lớp sơn bạc. Bên cạnh là xấp chứng từ hỗn độn của ca bán buổi tối vừa kết thúc cách đây nửa tiếng. Khải gom chúng lại từ ngăn kéo dưới đáy tủ kính rồi quẳng lên bàn trước khi lẳng lặng bỏ ra sau sàn nước rửa tay. Những tờ biên lai in nhiệt từ máy quét mã vạch mỏng dính, cong queo như tai nấm mèo khô sau nhiều ngày phơi nắng, nằm xen lẫn với vô số mẩu giấy xé từ bao xi măng, giấy vở học sinh có dòng kẻ ô ly hay mẩu bìa carton ghi vội vài con số bằng bút dạ lem luốc. Mùi mỡ bò, mùi khói nướng sườn và mùi tanh lợ của mắm tôm từ các món nhậu bình dân bám chặt vào từng thớ giấy, tạo nên một thứ hỗn hợp mùi vị ngột ngạt đến bức bối.

Hà khẽ day hai bên thái dương, hít một hơi sâu qua lồng ngực đang thắt lại vì mệt, rồi bắt đầu chia mớ giấy tờ thành ba cọc riêng biệt trên ba góc bàn.

Cọc bên tay trái là tiền mặt thu thực tế từ khách ăn tại chỗ và khách mua mang về, kẹp cùng những tờ tiền lẻ hai nghìn, năm nghìn nhàu nát còn ướt nước rửa chén. Cọc ở giữa là các mảnh giấy in sao kê lệnh chuyển khoản qua mã QR, nơi những khoản ba mươi lăm nghìn, bốn mươi nghìn hiện lên lạnh lùng dưới dạng ký tự điện tử. Cọc thứ ba, dày và lộn xộn nhất, là các tờ giấy nháp ghi chép những khoản tiền xuất quỹ chợ chiều—những chuyến xe hối hả của Khải chạy đôn chạy đáo ra các sạp thịt cá bán vét lúc năm giờ kém mười lăm để kịp gom thêm sườn non, cánh gà và rau thơm cho ca tối.

Hà kẹp cây bút bi Thiên Long mực xanh vào giữa ngón trỏ và ngón giữa, bàn tay trái giữ chặt mép cuốn sổ cái, ngón tay cái bên phải đặt lên bàn phím số của chiếc máy tính.

Tiếng bấm số “cạch, cạch, tạch” khô khốc, đanh gọn bắt đầu gõ nhịp đều đặn vào không gian tĩnh mịch của gian nhà phía trước. Mỗi nhịp bấm là một con số được kéo ra từ lớp sương mù của thói quen buôn bán bấy lâu nay.

Suốt một tháng qua, kể từ ngày Khải nhất quyết đòi mở thêm ca tối từ năm giờ chiều đến tám giờ tối để đón đầu dòng người tan tầm từ các xưởng cơ khí và văn phòng nhỏ ven đường ray, doanh thu bán hàng mỗi đêm dao động từ bảy trăm đến tám trăm năm mươi nghìn đồng. Có những đêm cuối tuần trời mát mẻ, bàn ghế kê tràn ra vỉa hè, khói sườn nướng bay nghi ngút át cả bóng đêm, con số nhảy vọt lên chín trăm hai mươi nghìn.

Cộng dồn ba mươi ngày trong tháng, cột tổng thu của ca tối chạm mốc hai mươi hai triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng—ngót nghét gần hai mươi ba triệu.

Nếu nhìn qua con số ấy, bất kỳ ai ghé ngang hay hàng xóm chung quanh cũng sẽ trầm trồ bảo rằng quán Cơm Nhà Bà Lan độ này ăn nên làm ra, sáng trưa chiều tối lúc nào cũng thấy đỏ lửa, tiền vô như nước chảy dưới mương. Ngay cả bà Lan, những buổi chiều nhìn thấy người ta dừng xe tấp nập chờ mua hộp cơm sườn bì chả mang về, cũng nở nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi trên gương mặt nhăn nheo, ngỡ rằng cái nồi cơm mười lăm năm của gia đình đang bước vào thời kỳ hưng thịnh mới.

Thế nhưng, khi Hà lật giở từng trang chứng từ chi phí đặt ở cột đối chiếu bên cạnh, bức tranh màu hồng ấy lập tức vỡ vụn thành từng mảnh gai góc. Những con số không biết nói dối; chúng trần trụi và lạnh lùng hơn bất kỳ ảo tưởng nào.

Khoản mục đầu tiên đập vào mắt là tiền gas công nghiệp. Để duy trì ngọn lửa xanh lè có sức nóng khủng khiếp cho chiếc chảo xào cấp tốc các món rau muống xào tỏi, lòng gà xào mướp hay mì xào giòn theo yêu cầu của khách nhậu vãng lai, đồng thời giữ sôi liên tục ba nồi nước dùng lớn—nồi canh chua, nồi canh cải ngọt và nồi nước súp sườn heo—gian bếp ngốn hết hai bình gas loại bốn mươi lăm ký mỗi tháng. Nhưng khi bóc tách kỹ lượng thời gian bật bếp, ca tối chiếm trọn hơn một bình rưỡi trong số đó. Bình gas công nghiệp bốn mươi lăm ký hiện tại có giá ngót nghét chín trăm nghìn đồng một bình. Như vậy, chỉ riêng tiền lửa phục vụ cho ba tiếng đồng hồ chập choạng mỗi ngày đã thiêu rụi trọn vẹn một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng tiền quỹ.

Tiếp đến là tiền điện—một cái bẫy vô hình mà nếu không tính riêng rẽ từng hóa đơn chỉ số công tơ, sẽ chẳng ai nhận ra nó nguy hiểm dường nào. Quán có lắp một chiếc máy lạnh Daikin hai ngựa rưỡi đã cũ ở gian khách phía trước. Buổi trưa, khách văn phòng vào ăn cơm trưa đông đúc, Hà luôn khéo léo cài đặt nhiệt độ ở mức hai mươi sáu độ C, kết hợp cùng hai chiếc quạt trần quay phe phẩy để duy trì không khí mát dịu vừa đủ mà không ép lốc máy phải chạy quá tải. Nhưng đến ca tối, đối tượng khách hàng hoàn toàn thay đổi. Đó là những người vừa trải qua tám tiếng làm việc ngột ngạt ngoài công trường, trong xưởng may hoặc kẹt xe hàng giờ dưới khói bụi ngã tư. Bước chân vào quán, nhiều người vừa ngồi phịch xuống ghế đã lớn tiếng càu nhàu đòi hạ nhiệt độ: “Nóng chết mẹ em ơi, bấm xuống hai mươi độ đi!”, “Cho máy lạnh chạy hết cỡ giùm cái, ăn dĩa cơm mà mồ hôi chảy ròng ròng thế này!”.

Để chiều lòng khách, Khải thường tiện tay giật lấy chiếc điều khiển từ xa, bấm nút hạ thẳng nhiệt độ xuống mức hai mươi mốt, thậm chí hai mươi độ C. Chiếc máy lạnh già nua gầm rú trong vô vọng khi cánh cửa kính phía trước liên tục bị kéo ra kéo vào cho khách dắt xe và shipper ra vào lấy hàng. Dàn nóng treo ngoài vách tường hông phả hơi nóng hầm hập như một lò nung, lốc máy chạy hết công suất không ngừng nghỉ suốt ba tiếng đồng hồ mỗi tối. Cộng thêm dàn quạt đảo trần, quạt hút mùi gian bếp và dàn đèn chiếu sáng rực rỡ ngoài biển hiệu để cạnh tranh với các quán nhậu đối diện, hóa đơn tiền điện ca tối tăng vọt thêm gần một triệu bốn trăm nghìn đồng mỗi tháng so với mức tiêu thụ thông thường.

Nhưng hai khoản tiền trên vẫn chưa phải là nhát dao chí mạng. Khoản hao hụt nhức nhối nhất, thứ gặm mòn nguồn lực của quán từng ngày từng giờ mà không để lại dấu vết rõ ràng, chính là lượng nguyên liệu tồn ứ bị biến thành phế phẩm.

Ca trưa của quán hoạt động theo một cơ chế hoàn toàn khác. Nhờ lượng nhân viên văn phòng ổn định từ các công ty cơ điện và tòa nhà dịch vụ lân cận, cộng với các suất ăn theo hợp đồng cố định được Thảo gom đơn đặt trước từ chín giờ sáng, Hà có thể tính toán chính xác đến từng lạng thịt ba chỉ, từng quả trứng gà và từng mớ rau muống cần nhặt. Bếp nấu vừa đủ ba trăm suất, đến một giờ ba mươi chiều là thức ăn nằm trơ đáy khay inox, nồi nước dùng chỉ còn trơ lại vài cọng hành hoa, sàn bếp dọn sạch bóng.

Ngược lại, ca tối hoàn toàn là một trò chơi may rủi mù quáng. Bán cơm và mồi nhậu buổi tối trên đường Vườn Me đồng nghĩa với việc đặt toàn bộ doanh thu vào lòng trắc ẩn của thời tiết và sự thất thường của người đi đường. Hôm nào trời mát, công nhân tan ca muộn, quán có thể bán hết veo mười ký cơm tấm. Nhưng chỉ cần một cơn mưa dông chuyển mùa bất chợt đổ ập xuống lúc năm giờ ba mươi chiều, hoặc một đợt triều cường dâng cao mấp mé vỉa hè như ngày hôm qua, đường phố lập tức vắng tanh như chùa bà đanh. Người đi đường hối hả phóng xe thục mạng về nhà để tránh ngập, chẳng một ai buồn tấp xe vào một quán cơm bình dân.

Và khi cánh cửa sắt kéo xuống sau tám giờ tối, sự thật phơi bày trên các khay thức ăn nguội ngắt: năm lạng sườn cốt lết đã ướp mật ong nướng sẵn bị gió quạt thổi khô cong queo, mặt thịt se lại cứng quắc như bìa các-tông; nửa con gà luộc vàng ươm để qua đêm trong tủ kính bị thâm sì lớp da ngoài do ngấm hơi lạnh của ngăn đông; hai âu rau muống xào tỏi ngả sang màu cỏ úa nhũn nát, bốc mùi nồng khó chịu. Những thứ đó không thể để lại bán cho ca trưa hôm sau vì khách quen sẽ nhận ra ngay mùi thức ăn cũ ôi thiu. Cách giải quyết duy nhất là hất toàn bộ vào chiếc thùng nhựa đựng nước gạo đặt dưới chân sàn nước để sáng sớm hôm sau người nuôi heo đến chở đi.

Những mớ thịt tươi, cá basa, rau củ tươi rói mà Khải cất công chạy xe máy ra chợ chiều mua bổ sung với giá đắt hơn chợ sớm mười phần trăm, đã biến thành rác thải sau ba tiếng đồng hồ ế khách. Hà làm một phép tính trung bình: mỗi đêm trôi qua, chiếc thùng nước gạo ấy nuốt chửng từ bốn mươi nghìn đến sáu mươi lăm nghìn đồng tiền vốn nguyên liệu nguyên vẹn. Một tháng ba mươi ngày, khoản bốc hơi vô hình đó ngót nghét một triệu tám trăm nghìn đồng.

Hà lật thêm một trang sổ tay khổ nhỏ—nơi cô âm thầm ghi chép những chi phí phát sinh do sai sót nghiệp vụ. Đây là trang giấy ghi lại cái giá của sự quá tải thể lực.

Có ba đĩa cơm sườn đặc biệt bị cháy khét đen sì phải vứt bỏ vì Khải vừa phải đứng nướng thịt ngoài hè vừa mải chạy ra dắt xe cho khách; bốn suất canh chua cá hú bị khách hàng giận dữ trả về và đòi trừ tiền vì cô Hạnh trong cơn mệt lả sau ca làm kéo dài từ sáng đã múc nhầm khúc cá basa nguội tanh chưa kịp đun sôi lại; và hai lần Duy cuống cuồng đóng nhầm cơm thịt kho trứng thành cơm sườn nướng cho tài xế công nghệ giữa lúc quán lộn xộn, khiến Hà phải trả tiền túi đền cho ứng dụng và gửi tặng mã giảm giá xin lỗi. Mỗi một lỗi lầm ngớ ngẩn đó không chỉ làm mất uy tín quán mà còn trực tiếp rút ruột từ năm mươi đến cả trăm nghìn đồng tiền quỹ bù trừ. Tổng cộng khoản phát sinh do mệt mỏi trong tháng qua là sáu trăm hai mươi nghìn đồng.

Hà ngừng tay bấm máy tính. Bàn tay cô hơi run run vì lạnh. Cô nhìn chằm chằm vào dãy số trên màn hình tinh thể lỏng, hít một hơi thật sâu rồi nhấn phím trừ cuối cùng.

Màn hình điện tử nhấp nháy, hiện lên một con số khiêm tốn đến mức cay đắng: 480.000.

Bốn trăm tám mươi nghìn đồng.

Đó là toàn bộ số tiền lãi ròng thực tế mà ca tối mang lại sau ba mươi ngày vận hành kiệt quệ, sau hàng trăm lượt khách ra vào, sau những làn khói cay xè mắt và những tiếng quát tháo hối thúc món ăn.

Hà lấy cây bút bi đỏ, vẽ một vòng tròn kép bao quanh con số bốn trăm tám mươi nghìn ấy. Cô chia tiếp cho ba mươi ngày.

Mười sáu nghìn đồng một đêm.

Con số mười sáu nghìn đồng hiện lên rõ mồn một trên nền giấy kẻ sọc, trơ trẽn như một lời giễu cợt cay độc.

Mười sáu nghìn đồng—chưa đủ để mua một gói thuốc lá con mèo hay một ổ bánh mì kẹp thịt ngoài đầu ngõ—lại là toàn bộ thành quả thu về sau ba tiếng đồng hồ căng thẳng tột độ của bốn con người. Bốn con người ấy bao gồm một người mẹ gần sáu mươi tuổi đang mang trong mình chiếc đầu gối thoái hóa độ ba, một người anh trai chạy xe máy bạt mạng ngoài đường bất kể mưa nắng, một người phụ bếp đứng tuổi mỏi rã rời hai bàn chân và một người con gái đang phải căng mình gánh vác toàn bộ sổ sách tài chính.

Một bức tranh ảo ảnh kinh doanh hoàn hảo nhưng tàn nhẫn được phơi bày trọn vẹn: quán cơm trông có vẻ tấp nập, bàn ghế kín chỗ, doanh thu tiền triệu mỗi ngày tạo ra ảo giác rằng công việc làm ăn đang trên đà phát đạt. Nhưng nếu tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao sức lao động—chỉ cần áp mức lương tối thiểu ba mươi nghìn đồng một giờ cho mỗi người tham gia—thì mỗi đêm mở bán ca tối, quán Cơm Nhà Bà Lan không chỉ không có lãi mà đang thực sự lỗ ròng gần ba trăm nghìn đồng.

Quán không hề tạo ra giá trị thặng dư từ ca tối. Quán chỉ đang bòn rút chính dịch khớp gối của bà Lan, bòn rút thời gian sống, sức khỏe và sự an ổn của từng thành viên trong gia đình để gián tiếp trợ giá cho từng đĩa cơm bình dân bán rẻ mạt cho người đi đường sau giờ tan tầm.

Hà buông cây bút bi xuống mặt bàn. Cây bút lăn tròn vài vòng rồi chạm khẽ vào chiếc máy tính phát ra tiếng cạch nhỏ. Cô ngả lưng tựa hẳn vào thành ghế nhựa, cảm nhận từng đốt sống lưng đang mỏi nhừ, căng cứng sau một ngày ròng rã dọn dẹp bùn đất và giám sát thợ trám nền. Chiếc quạt tường cũ kỹ treo trên góc cột bê tông vẫn quay rè rè từng chặp, phả những luồng gió ẩm và nóng hập vào sau gáy cô.

Ở phía bên kia bàn số bảy, Khải ngồi bất động từ nãy đến giờ. Anh đã tắm rửa sạch sẽ lớp bùn đất xi măng bám trên bắp chân từ chiều, mặc chiếc áo thun cá sấu màu xám tro bạc phếch ở hai bên vai, mái tóc cắt ngắn còn hơi ẩm nước. Hai bàn tay to bè, đen nhẻm vì cháy nắng đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn gỗ ép. Suốt nửa tiếng đồng hồ nhìn Hà tỉ mẩn phân loại hóa đơn, bấm máy tính tanh tách và đối chiếu từng dòng chi phí, Khải không hề lên tiếng chen ngang một câu nào. Anh không càu nhàu, không gắt gỏng đòi giải thích, cũng không vung tay nóng nảy như thói quen mỗi khi bị ai đó chất vấn chuyện tiền nong.

Đôi mắt Khải trũng sâu, viền mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ triền miên. Ánh mắt anh dán chặt vào những vệt mực đỏ mà Hà vừa khoanh tròn trong cuốn sổ cái, đặc biệt là con số mười sáu nghìn đồng nằm trơ trọi ở góc dưới cùng trang giấy.

Không gian trong quán chìm vào một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Chỉ có tiếng thạch sùng chắt lưỡi trên trần nhà và tiếng nước rỉ tí tách từ chiếc vòi nước ở góc bồn rửa chén phía sau bếp.

Sau một hồi lâu im lặng, Khải thở dài. Đó là một tiếng thở hắt ra từ tận đáy lồng ngực, nặng nề và mệt mỏi như thể anh vừa trút bỏ một gánh nặng vô hình mà bản thân đã cố gồng gánh bấy lâu nay. Khải buông hai bàn tay đang đan chặt vào nhau ra, thò tay vào túi chiếc quần jean bạc màu đã sờn rách ở mép túi. Anh rút ra chiếc ví da giả màu nâu sẫm, mép ví đã bong tróc trơ cả lớp vải lót trắng bên trong.

Những ngón tay thô ráp của Khải, với những vết chai dày cộm ở kẽ ngón tay do nhiều năm cầm ghi-đông xe máy chở hàng nặng, cọ vào mép ví tạo nên những tiếng sột soạt khô khốc. Anh cẩn thận lôi ra từ ngăn khóa kéo bên trong hai tờ giấy được gấp làm tư phẳng phiu. Hai tờ giấy đã ngả sang màu vàng ố vì mồ hôi ngấm qua lớp vải quần, nhưng các nếp gấp vẫn được miết thẳng thớm. Khải đặt nhẹ hai tờ giấy lên mặt bàn gỗ ép, rồi dùng đầu ngón tay đẩy từ từ về phía Hà.

Hà ngước mắt nhìn anh trai, rồi cúi xuống mở hai tờ giấy ra.

Đó là hai tờ biên lai thu tiền phòng trọ viết tay bằng giấy than, có con dấu mộc tròn đỏ của một cơ sở dịch vụ nhà trọ bình dân và chữ ký nguệch ngoạc của bà Tám—chủ dãy phòng trọ nằm sâu trong con hẻm ngoằn ngoèo cách quán cơm chừng hai cây số, nơi Khải thuê một căn phòng mười hai mét vuông để ở riêng suốt hai năm qua.

Trên cả hai tờ biên lai, dòng chữ ghi chú bằng mực bút bi đỏ đậm nét đập thẳng vào mắt Hà: “Còn nợ lại tiền phòng tháng này”.

Tờ thứ nhất, đề ngày mùng năm tháng trước, ghi nợ một triệu bốn trăm nghìn đồng.

Tờ thứ hai, đề ngày mùng năm tháng này, ghi nợ một triệu sáu trăm nghìn đồng.

Tổng cộng số tiền nợ tiền thuê phòng trọ tích tụ trong hai tháng qua là ba triệu đồng tròn trĩnh.

Hà ngẩng đầu lên. Cô nhìn thẳng vào khuôn mặt hốc hác, đôi gò má nhô cao và chòm râu quai nón lởm chởm chưa kịp cạo của Khải. Ánh mắt cô không có sự giận dữ hay mỉa mai, chỉ có một dấu hỏi lớn đầy điềm tĩnh:

— Cái này… là sao hả anh Hai?

Khải không dám nhìn thẳng vào mắt em gái. Anh quay mặt sang hướng khung cửa sổ sắt nhìn ra chậu húng quế đang đung đưa ngoài hiên tối. Yết hầu nơi cổ họng anh giật giật liên hồi mấy nhịp. Khi anh cất giọng, âm thanh khàn đặc và run rẩy như bị nghẹn lại ở thanh quản:

— Đợt tuần trước… với hồi đầu tháng… thịt heo ngoài chợ đầu mối Bình Điền tăng giá đột ngột. Ba rọi rút sườn với nạc dăm dội lên mười lăm giá một ký chỉ sau một đêm. Tiền quỹ đưa tao đi chợ buổi sáng bữa đó hụt mất mấy trăm nghìn. Tao… tao sợ mang hàng về thiếu thì mẹ lại rầu rĩ, rồi mày lại phải móc tiền túi ra đền như mấy lần trước bên công ty cái Thảo. Lúc đó… trong túi tao chỉ có sẵn tiền gom góp tính đi đóng tiền phòng trọ cho bà Tám.

Khải dừng lại, nuốt khan một ngụm nước bọt. Hai bàn tay anh lại vô thức bấu chặt lấy mép bàn gỗ ép, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực:

— Tao xé tiền trọ ra hai lần. Mỗi lần bù vô hơn một triệu để mua cho đủ số lượng thịt nạc với cá basa mà mẹ dặn. Tao tính bụng… ráng thúc mở thêm ca tối, bán thêm mấy món mồi nhậu lai rai cho mấy ông thợ hồ với tài xế xe ôm ghé uống bia, mỗi đêm tao kiếm thêm chút tiền lời phụ vô để gom trả dứt cho bả. Tao không có ý phá quán… tao thề là tao không có ý phá quán hay ép mẹ phải ráng đứng bếp cực khổ đâu Hà. Tao chỉ… tao chỉ không muốn để mẹ với mày biết là tao làm ăn bên ngoài bết bát tới mức tiền phòng trọ của chính mình cũng không lo nổi… Tao sợ mang tiếng là thằng ăn bám vô cái quán cơm của mẹ…

Lời thú nhận vụng về, mộc mạc rơi vào không gian vắng lặng của quán ăn, kéo theo một sự xót xa cay đắng.

Hà nhìn hai tờ biên lai thu tiền nhà trọ cá nhân trước mặt, rồi nhìn sang người anh trai đang cúi gục đầu đối diện. Những cơn bực bội tích tụ bấy lâu nay trong lòng cô—về thói gia trưởng, tính khí bốc đồng, những quyết định tự tiện mua thêm nguyên liệu và sự cố chấp đòi mở rộng buôn bán của Khải—bỗng chốc tan biến đi rất nhiều. Thay vào đó là một sự thấu hiểu trần trụi về tâm lý của người đàn ông duy nhất trong nhà sau khi cha mất.

Hóa ra bên dưới lớp vỏ bọc cộc cằn, tự ái và hay gắt gỏng ấy là một nỗi sợ hãi tột cùng về sự vô dụng. Khải sợ bị người khác nhìn nhận là kẻ thất bại, sợ mang tiếng chỉ biết sống dựa dẫm vào quán cơm của người mẹ già và cô em gái học hành đàng hoàng. Chính cái mặc cảm tự ti đầy sĩ diện đó đã đẩy anh vào chiếc bẫy nợ nần luẩn quẩn: anh tự ý lấy tiền túi bù vào tiền hàng của quán để giữ thể diện, rồi khi bị chủ trọ dọa đuổi thì lại cuống cuồng tìm cách gỡ gạc bằng cách mở thêm ca làm việc, mà không hề nhận ra rằng mình đang kéo cả gia đình lao đầu vào một cái hố sâu kiệt quệ hơn.

Hà không thở dài, không buông một lời trách móc, cũng không đem những nguyên lý kinh tế học hay quản trị kinh doanh ra để giáo điều anh trai. Cô hiểu rằng trong lúc này, bất kỳ một lời phán xét nào cũng sẽ chỉ kích hoạt lại bức tường tự vệ đầy gai góc của Khải.

Cô bình thản cầm cây bút bi đen lên, lật giở những trang đầu của cuốn sổ cái chung—nơi cô từng ghi chép cẩn thận các khoản tiền túi cô đã ứng ra để mua thuốc khớp cho mẹ, tiền cọc sửa máy bơm nước và các khoản tiền bồi thường đơn hàng cho công ty của Thảo trong những tuần lễ khủng hoảng trước đây.

Dưới dòng chữ ghi chú công nợ cá nhân của Lê Thu Hà, cô đặt cây thước nhựa, kẻ một đường mực đen dứt khoát và thẳng tắp. Ngay bên dưới, bằng nét chữ nắn nót, rõ ràng, cô viết:

*Khoản chi ứng trước của Lê Minh Khải (tiền bù mua nguyên liệu thịt, cá tháng vừa qua): 3.000.000 đồng.*

Tiếng ngòi bút miết mạnh trên mặt giấy bìa cứng nghe sột soạt, dứt khoát.

Khải giật thót mình. Anh ngơ ngác ngẩng đầu lên, trừng mắt nhìn dòng chữ mực đen vừa xuất hiện trong cuốn sổ cái của quán:

— Mày… mày ghi cái đó vô sổ làm chi vậy Hà? Chuyện tiền phòng trọ là chuyện riêng của tao mà!

Hà dừng bút, ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt anh trai. Ánh mắt cô sáng, tĩnh lặng và không chút gợn sóng:

— Ghi nhận công nợ của quán đối với anh Hai. Rõ ràng và minh bạch.

Cô gõ nhẹ đầu bút bi xuống dòng chữ vừa viết:

— Ba triệu này anh không hề lấy để tiêu xài cá nhân, không phải tiền anh đi cà phê, bao bạn bè nhậu nhẹt hay đánh bài. Anh dùng nó để mua thịt nạc dăm, mua cá basa cho quán, phục vụ cho doanh thu của quán này. Em từng bỏ tiền túi ra bù lỗ cho các đơn hàng của công ty chị Thảo, quán ghi nhận đó là khoản nợ phải trả lại cho em; thì bây giờ anh Hai bỏ tiền phòng trọ ra bù tiền chợ cho quán, quán cũng phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh sòng phẳng. Trong kinh doanh gia đình, không thể có chuyện người làm công cho quán phải tự gánh nợ cá nhân vì chi phí vận hành chung được. Làm như vậy là bất công, và làm như vậy là quán đang ăn quịt tiền của anh.

Khải há hốc mồm nhìn em gái, cổ họng nghẹn ắng không thốt nên lời.

Hà xoay cuốn sổ cái một góc một trăm tám mươi độ về phía Khải, dùng ngón tay chỉ vào bảng tiến độ hoàn trả mà cô vừa phác thảo nhanh ở góc dưới trang giấy:

— Quỹ dự phòng chiều nay vừa phải vét sạch bốn triệu tám trăm nghìn để trả tiền vật tư và công nhật cho nhóm thợ bác Năm trám nền bếp chống ngập. Quán mình hiện tại đang hoàn toàn cạn kiệt tiền mặt dự phòng. Nhưng bắt đầu từ ngày mai, mỗi tuần quán sẽ trích từ doanh thu ca trưa đúng bảy trăm năm mươi nghìn đồng, chia đều trong bốn tuần liên tiếp để thanh toán dứt điểm khoản ba triệu này cho bà Tám chủ trọ. Sáng mai, trước giờ mở bán, em sẽ đi cùng anh sang dãy trọ gặp trực tiếp bà Tám. Em sẽ đưa cho bả tờ giấy cam kết trả nợ có chữ ký của em và anh, đóng trước cho bả bảy trăm năm mươi nghìn của tuần đầu tiên trích từ doanh thu hôm nay để bả yên tâm không khóa cửa phòng anh nữa. Anh thấy cách giải quyết này được không?

Khải nhìn chằm chằm vào dòng chữ mực đen ngay ngắn trong sổ, rồi nhìn sang gương mặt điềm tĩnh, không một chút giễu cợt hay phán xét của đứa em gái nhỏ. Khóe mắt anh giật giật. Người đàn ông gần ba mươi tuổi, quanh năm dầm mưa dãi nắng không biết sợ ai, bỗng đưa bàn tay thô ráp đầy vết chai sần lên quẹt ngang sống mũi, hít một hơi thật sâu để nén tiếng nấc nghẹn ngào:

— Ừ… Được. Cảm ơn mày… cảm ơn mày nhiều lắm, Hà.

— Không có gì phải cảm ơn hết. Đây là chuyện tiền nong minh bạch, sòng phẳng, phải làm cho đúng nguyên tắc. — Hà khẽ gập mép trang sổ lại, giọng cô đanh lại một bậc, nghiêm túc và dứt khoát: — Nhưng đổi lại, em yêu cầu anh Hai từ nay về sau phải bỏ ngay cái thói tự ý giấu giếm đó đi. Bất kể là thiếu tiền chợ, giá thịt tăng đột biến, xe hư giữa đường hay có bất kỳ khó khăn gì phát sinh, anh phải đem về nói thẳng ngay tại chiếc bàn số bảy này. Tuyệt đối không được tự ý móc tiền túi bù vô rồi cắn răng chịu đựng một mình nữa. Bù kiểu đó chỉ tạo ra một đống số liệu giả tạo trên sổ sách, làm cho cả nhà tưởng quán vẫn đang sống khỏe, trong khi thực tế là nó đang gặm mòn vào manh áo, chén cơm và chỗ ở của chính từng người chúng ta. Anh hiểu chưa?

Khải gật đầu lia lịa, hai vai chùng xuống:

— Tao hiểu rồi… Tao nhớ rồi.

Một tiếng cọt kẹt khô khốc từ cánh cửa gỗ buồng trong vang lên, tiếp theo đó là tiếng dép nhựa lê chầm chậm và tiếng gậy tre gõ lộc cộc từng nhịp xuống nền gạch tàu.

Hai anh em cùng quay đầu lại.

Bà Lan đang khó nhọc bước ra từ sau bức rèm hoa cũ. Chiếc chân phải của bà vẫn bị bó chặt trong chiếc nẹp định hình bằng kim loại và vải thun đen dày cộp kéo dài từ đùi non xuống tận mắt cá chân. Bàn tay trái gầy guộc, nổi đầy những đường gân xanh ngoằn ngoèo bám chặt vào khung cửa, từng bước đi của bà nặng nề, run rẩy và đầy đau đớn. Trên gương mặt sạm đen vì nhiều năm đứng bên lửa than của người phụ nữ gần sáu mươi tuổi hằn rõ những nếp nhăn âu lo, phảng phất nét hoảng loạn và bất an mà Hà đã nhìn thấy suốt từ trưa nay—kể từ khoảnh khắc dòng nước cống đen ngòm tràn qua ngưỡng cửa đe dọa nhấn chìm toàn bộ nồi niêu xoong chảo.

— Mẹ! Sao mẹ không nằm trong giường nghỉ ngơi đi, đi ra đây làm chi cho động cái chân? — Hà vội vàng buông bút, đứng bật dậy toan bước tới đỡ.

Nhưng bà Lan giơ bàn tay phải lên ngăn lại. Bà chống gậy tre, cắn răng bước từng bước tập tễnh tới mép bàn số bảy, vịn tay vào lưng chiếc ghế nhựa đối diện rồi chậm rãi thả mình ngồi xuống cạnh Khải.

Ánh mắt bà Lan lập tức quét qua xấp hóa đơn rải rác trên mặt bàn, dừng lại rất lâu trên cuốn sổ cái bọc bìa nylon màu xanh đang mở toang. Những con số chi phí, những vệt mực đỏ khoanh tròn và con số mười sáu nghìn đồng đập vào mắt bà. Đôi môi bà run rẩy, nhưng giọng nói cất lên lại đầy vẻ cương quyết xen lẫn hoảng sợ:

— Nãy giờ mẹ nằm trong buồng… mẹ không ngủ được. Hai đứa bây nói cái gì mẹ nghe hết trơn rồi. Có phải con Hà… con lại tính chuyện dẹp bỏ ca tối đúng không? Mẹ nói trước cho hai đứa biết nghen, không có dẹp, không có đóng cửa đóng tiệm gì hết ráo!

Khải toan mở miệng phân bua:

— Mẹ… mẹ nghe tụi con giải thích đã…

— Giải thích cái gì mà giải thích! — Bà Lan gạt phắt đi, hai bàn tay run rẩy chắp chặt lại trên đùi, giọng nói dồn dập nỗi sợ hãi đã bám rễ sâu trong tâm khảm suốt mười lăm năm qua. — Cái quán này mở ra từ cái ngày ba tụi bây nhắm mắt xuôi tay. Mười lăm năm trời ròng rã, mưa gió bão bùng cỡ nào mẹ cũng chưa từng dám đóng cửa nghỉ bán buổi tối một ngày nào, trừ ba ngày Tết Nguyên đán. Khách quen người ta đi làm về ngang qua đây, ghé vô ăn dĩa cơm tấm, uống ly trà đá nó thành cái nếp, cái thói quen mười mấy năm nay rồi. Bây giờ đùng một cái tụi bây dập tắt bếp, đóng cửa kéo rèm ca tối, người ta tưởng quán Cơm Nhà Bà Lan dẹp tiệm phá sản, người ta kéo sang cái quán cơm tấm sườn nướng đầu hẻm ăn hết thì làm sao? Mất khách là coi như mất trắng đó con ơi!

Bà Lan nghẹn giọng, lồng ngực phập phồng sau một tràng nói dồn dập. Bà đưa bàn tay khô ráp lên xoa nắn lấy chiếc đầu gối đang sưng tấy dưới lớp nẹp:

— Quán này là nguồn sống duy nhất nuôi cả cái nhà này mười lăm năm qua. Tiền thuê cái mặt bằng này năm triệu rưỡi mỗi tháng, tiền thuốc men của mẹ, tiền đóng học phí đại học cho con Hà ngày xưa, tiền lo cho thằng Khải… tất cả đều từ cái chảo xào với cái nồi cơm niêu này mà ra hết. Bây giờ bỏ đứt ca tối, lấy cái gì đắp vô tiền nhà? Lấy cái gì trang trải chi phí mỗi ngày? Tụi bây còn trẻ, tụi bây không hiểu được đâu… Đang buôn bán yên lành mà tự nhiên chặt đứt một nửa chén cơm của mình, lỡ chết đói rồi ai lo?

Cơn xúc động mạnh khiến bà Lan ho sù sụ. Nỗi sợ hãi của bà là có thật—một nỗi sợ trần trụi, dai dẳng của thế hệ những người phụ nữ nghèo đi lên từ hai bàn tay trắng, tích lũy từng đồng bạc lẻ qua từng ngày buôn bán nhỏ. Trong tâm thức của bà, buôn bán là phải cày cuốc, phải tận thu từng giây từng phút, mở cửa càng nhiều giờ thì càng có nhiều tiền; dừng lại đồng nghĩa với chết đói, từ chối khách đồng nghĩa với việc tự tay hất đổ nồi cơm của gia đình.

Nếu là Hà của vài tháng trước, khi chưa trải qua những bài học vỡ mật về dòng tiền và quản trị dòng sản phẩm, cô sẽ lại rơi vào cái bẫy quen thuộc: cô sẽ nhẫn nhịn nuốt ngược nước mắt vào trong, thở dài một tiếng rồi nói “Dạ thôi mẹ bớt lo, để con ráng làm thêm một chút”, để rồi sáng hôm sau cả nhà lại tiếp tục quay cuồng trong cái vòng xoáy kiệt quệ từ năm giờ sáng đến chín giờ đêm, vừa làm vừa cắn răng chịu đựng cho đến khi một biến cố sức khỏe nào đó nổ tung.

Nhưng Hà của ngày hôm nay đã khác. Cô hiểu rất rõ rằng: đối diện với nỗi sợ hãi ăn sâu vào tiềm thức, mọi lời than thở về sự mệt mỏi hay những bài thuyết giáo lý thuyết đều hoàn toàn vô dụng. Than thở chỉ làm người nghe cảm thấy có lỗi rồi quay sang dựng lên bức tường phòng thủ gay gắt hơn. Cách duy nhất để giải tỏa một nỗi sợ vô lý là đem sự thật trần trụi ra ánh sáng, dùng những con số cụ thể để chứng minh.

Hà nhẹ nhàng kéo cuốn sổ cái sang ngay trước mặt bà Lan. Cô không giận dữ, cũng không cao giọng, chỉ dùng ngón tay trỏ gõ nhẹ lên từng dòng số liệu chi phí mà cô vừa bóc tách.

— Mẹ, mẹ nhìn kỹ giùm con những con số này đi nè. — Giọng Hà trầm tĩnh, rành mạch và chậm rãi như rót từng lời vào tai người nghe. — Suốt một tháng ba mươi ngày vừa qua, ca tối mang về cho quán gần hai mươi ba triệu đồng doanh thu. Nghe thì nhiều lắm đúng không mẹ? Nhưng mẹ coi kỹ từng khoản tiền quán phải móc ra để phục vụ cho ca tối nè: Tiền gas công nghiệp xào nấu cấp tốc ngốn đứt một triệu ba trăm năm mươi nghìn. Tiền điện máy lạnh bị khách ép hạ xuống hai mươi độ C cộng với dàn quạt hút mùi ngốn thêm một triệu bốn trăm nghìn. Tiền thịt sườn, thịt gà, rau muống xào bị ế thừa, để qua đêm thiu thối phải đổ vô thùng nước gạo mất đứt một triệu tám trăm nghìn. Tiền đền bù cho khách với shipper vì tụi con mệt quá làm sai đơn mất thêm sáu trăm hai mươi nghìn nữa.

Hà ngừng lại một nhịp, để bà Lan nhìn rõ từng vệt mực đỏ trên trang giấy:

— Trừ hết toàn bộ những chi phí cứng đó ra, cả một tháng trời ca tối chỉ dư ra đúng bốn trăm tám mươi nghìn đồng tiền lời thực tế.

Bà Lan sững sờ. Đôi mắt mờ đục của bà dán chặt vào con số 480.000 được khoanh tròn bằng hai vòng mực đỏ chót. Đôi môi bà mấp máy nhưng không phát ra được thành tiếng.

— Bốn trăm tám mươi nghìn cho trọn vẹn ba mươi buổi tối, — Hà tiếp tục, giọng cô chùng xuống nhưng sức nặng trong từng câu chữ lại tăng lên gấp bội. — Tức là mỗi một đêm, mẹ phải ráng nuốt thuốc giảm đau để đứng trụ bên chảo xào suốt từ năm giờ chiều tới tám giờ tối, đầu gối sưng phù lên như củ chuối; anh Khải chạy xe bạt mạng ngoài đường suýt bị xe tông mấy lần; con với cô Hạnh rã rời hai bàn chân, rửa chén tới mười giờ đêm mới được ngả lưng… Tất cả những sự đày đọa thân xác đó của bốn con người chỉ để đổi lấy đúng mười sáu nghìn đồng tiền lãi mỗi đêm.

Căn phòng ăn hoàn toàn im bặt. Tiếng kim giây của chiếc đồng hồ trên vách tường nhảy từng nhịp “tách, tách” khô khốc.

— Mười sáu nghìn đồng một đêm, mẹ ơi. — Hà nhìn thẳng vào đôi mắt đang run rẩy của mẹ mình. — Bác sĩ ở phòng khám chấn thương chỉnh hình đã cảnh báo rõ ràng với con rồi: khớp gối của mẹ đã bị thoái hóa nặng, sụn chêm mòn vẹt gần hết, bao hoạt dịch đang bị tràn dịch mạn tính. Bác sĩ dặn tuyệt đối không được đứng liên tục quá mười lăm phút. Nếu mẹ cứ cố chấp đứng bếp ca tối thêm một thời gian ngắn nữa, khớp gối bị biến dạng hoàn toàn thì bắt buộc phải mổ để thay khớp gối nhân tạo bằng titan. Một ca mổ thay khớp gối như vậy tốn từ sáu mươi đến bảy mươi triệu đồng. Mẹ thử tính giùm con coi, mười sáu nghìn đồng tiền lời mỗi đêm này, quán phải bán bao nhiêu năm trời mới đủ trả tiền một ca mổ chân cho mẹ?

Gương mặt bà Lan tái mét đi dưới ánh đèn tuýp. Đôi bàn tay gầy guộc chắp trên đùi bắt đầu run rẩy bần bật. Bà nhìn con số mười sáu nghìn đồng, rồi lại nhìn xuống chiếc nẹp chân màu đen đang giữ chặt lấy khớp gối nhức nhối của mình.

Lần đầu tiên sau mười lăm năm cắm mặt vào khói lửa gian bếp, bà Lan bị buộc phải nhìn thẳng vào sự thật cay đắng đằng sau cái vẻ ngoài đông đúc của quán cơm: cái cảnh tượng người xe tấp nập dừng trước cửa không đồng nghĩa với việc gia đình bà đang ấm no. Ngược lại, nó chỉ là một ảo giác hào nhoáng đang bòn rút chút tàn lực cuối cùng của bà để trợ cấp cho thiên hạ.

Khải ngồi bên cạnh, cúi gầm mặt xuống, khẽ cất giọng phụ họa:

— Con Hà nó nói đúng đó mẹ… Hồi nãy lúc nó tính sổ, con ngồi nhìn mà con cũng lạnh hết cả người. Mình cứ tưởng ráng mở thêm ca tối, bán thêm vài ba chục dĩa cơm là có thêm đồng ra đồng vào phụ tiền nhà tiền chợ, ai dè tiền điện với tiền thịt thừa nó nuốt trọn hết trơn. Bán kiểu này là mình đang nai lưng ra làm không công cho công ty điện lực với đại lý gas, chứ nhà mình có dư dả được đồng bạc nào đâu mẹ.

Thấy mẹ đã bắt đầu dao động, ánh mắt không còn vẻ phòng thủ gay gắt như ban đầu mà đã chuyển sang sự hoang mang, bối rối, Hà hiểu rằng đây là thời điểm không được phép dồn ép thêm. Mục tiêu của cô không phải là giành chiến thắng trong một cuộc tranh cãi, mà là đạt được sự đồng thuận bền vững để cứu lấy sức khỏe của mẹ và tương lai của quán.

Cô kéo cuốn sổ cái lại gần mình hơn, lật sang một trang giấy trắng tinh, rồi dùng thước kẻ vạch ra hai cột rõ ràng. Giọng cô trở nên mềm mỏng, ôn tồn nhưng mang tính định hướng mạch lạc:

— Con hiểu mẹ lo lắng điều gì. Mẹ sợ quán đóng cửa buổi tối đột ngột thì khách quen tưởng mình dẹp tiệm, rồi mất luôn cái nếp buôn bán mười lăm năm nay. Vì vậy, con không đề xuất chúng ta dẹp bỏ vĩnh viễn ca tối ngay lập tức để mẹ phải hoang mang. Con đề xuất nhà mình làm một cuộc thử nghiệm có thời hạn: chúng ta rút bớt ca tối trong vòng đúng hai tuần lễ.

Bà Lan ngẩng mặt lên, ánh mắt thoáng chút ngập ngừng và hoài nghi:

— Thử nghiệm… hai tuần là sao con?

— Dạ, nghĩa là bắt đầu từ ngày áp dụng, quán mình sẽ dán một thông báo lịch sự trước cửa: ‘Quán điều chỉnh giờ phục vụ để nâng cao chất lượng món ăn, chỉ mở bán từ mười giờ sáng đến hai giờ chiều’. Chúng ta tạm ngưng hoàn toàn việc mở bán từ năm giờ chiều đến tám giờ tối. Toàn bộ nguồn lực, nguyên liệu tươi ngon nhất và sức lực của cả nhà sẽ được dồn hết vào bốn tiếng đồng hồ của ca trưa.

Hà gạch đầu dòng thứ nhất trên trang giấy trắng:

— Cuộc thử nghiệm hai tuần này phải đáp ứng đủ ba điều kiện đo lường cụ thể: Thứ nhất, doanh thu ca trưa phải được tối ưu hóa tối đa. Chúng ta sẽ tập trung nấu thật ngon mười món ăn chủ lực, kiểm soát chặt chẽ định lượng, và đẩy mạnh việc nhận thêm các đơn đặt hàng nhóm từ các công ty cơ điện và văn phòng quanh khu vực—giống như những đơn hàng ba mươi, bốn mươi phần mà bên chị Thảo đang đặt đều đặn mỗi ngày. Phần doanh thu tăng thêm từ các đơn hàng sỉ buổi trưa này sẽ bù đắp hoàn toàn vào khoản chênh lệch mười sáu nghìn đồng tiền lời còi cọc của ca tối.

Cô gạch tiếp đầu dòng thứ hai:

— Thứ hai, lượng rác thải và nguyên liệu tồn dư qua đêm phải được kéo giảm triệt để về mức không đồng. Buổi trưa bán hết đến đâu là dọn dẹp sạch sẽ đến đó. Đúng hai giờ chiều là tắt bếp, rửa chảo, khóa tủ lạnh. Không còn cảnh thịt ướp sẵn bị khô cong, không còn cảnh rau xào ngả màu úa phải đổ vào thùng nước gạo nữa. Chúng ta sẽ chấm dứt hoàn toàn việc vứt tiền qua cửa sổ mỗi đêm.

Và cô gạch đầu dòng thứ ba, nhấn mạnh từng từ:

— Thứ ba, và là điều quan trọng nhất: chân của mẹ phải được nghỉ ngơi hoàn toàn từ sau hai giờ chiều mỗi ngày. Sau giờ trưa, mẹ uống thuốc, chườm đá rồi nằm nghỉ trên giường hoặc tập các bài vật lý trị liệu nhẹ nhàng mà bác sĩ đã hướng dẫn để phục hồi dịch khớp gối. Tuyệt đối không được bén mảng lại gần bếp than hay chảo xào nữa.

Hà ngước lên, nhìn thẳng vào gương mặt trầm ngâm của bà Lan và Khải:

— Đúng hai tuần sau, đúng chín giờ tối, ba mẹ con mình lại ngồi lại đúng tại chiếc bàn số bảy này. Chúng ta sẽ mở cuốn sổ cái này ra, đối chiếu từng dòng doanh thu và chi phí thực tế. Nếu sau hai tuần mà lợi nhuận tổng thể của quán bị sụt giảm nghiêm trọng đến mức không đủ tiền trang trải năm triệu rưỡi tiền mặt bằng và tiền chợ mỗi ngày, con sẽ cùng mẹ và anh Hai tính tiếp phương án điều chỉnh lại giờ giấc, thậm chí mở lại ca tối nếu thật sự cần thiết. Nhưng nếu lợi nhuận ca trưa vẫn giữ vững, hoặc thậm chí tăng lên nhờ tiết kiệm được hàng triệu tiền điện, tiền gas và tiền hao hụt nguyên liệu, trong khi chân mẹ bớt đau nhức, anh Khải không phải chạy đôn chạy đáo… thì chúng ta sẽ chính thức chốt mô hình kinh doanh mới: Cơm Nhà Bà Lan chỉ chuyên tâm bán ca trưa.

Hà đặt cây bút bi xuống, giọng cô ấm áp:

— Mẹ thấy một cuộc thử nghiệm hai tuần có giới hạn rõ ràng như vậy có công bằng và an toàn cho gia đình mình không?

Bà Lan ngồi chết lặng giữa luồng gió quạt thổi qua bàn số bảy. Đôi mắt kèm nhem của bà nhìn trân trân vào ba cái gạch đầu dòng thẳng tắp, ngay ngắn trong cuốn sổ của con gái. Từng lý lẽ của Hà đưa ra không hề có sự áp đặt hay chống đối của một đứa con cãi lời cha mẹ, mà nó chứa đựng toàn bộ sự thấu hiểu sâu sắc đối với nỗi lo cơm áo gạo tiền của bà, đồng thời mang theo sự bảo bọc kiên quyết dành cho sức khỏe của người mẹ già.

Cơn đau âm ỉ từ vết sưng nơi đầu gối phải vẫn đang cắn rỉa từng thớ thịt dưới lớp nẹp thun, như một lời nhắc nhở không thể chối cãi về giới hạn thể xác của chính bà. Nhìn đứa con gái đã trưởng thành, biết tính toán từng đường đi nước bước lớp lang, bài bản hơn hẳn cái cách bà mò mẫm buôn bán suốt nửa đời người, sự bướng bỉnh và nỗi sợ hãi cố hữu trong lòng bà Lan bỗng chốc tan rã thành một tiếng thở dài nhẹ nhõm.

Bà ngả lưng ra sau ghế nhựa, bàn tay run run vỗ nhẹ lên mu bàn tay Hà, giọng chùng xuống nghẹn ngào:

— Thôi… hai đứa bây đã ngồi tính toán cặn kẽ, lớp lang tới nước này rồi thì mẹ nghe theo. Mẹ già rồi, cái đầu mẹ chỉ quen nghĩ theo kiểu cũ khem, cứ tưởng cày bừa ráng sức là có ăn, đâm ra làm khổ lây sang tụi bây… Thử nghiệm hai tuần coi sao. Nếu thấy ổn thỏa… thì mẹ nghe lời con, dẹp hẳn buổi tối cho nhẹ cái đầu.

Khải ngồi bên cạnh thở phào một hơi dài thườn thượt. Anh đưa bàn tay to bè vỗ vỗ lên bờ vai gầy của mẹ, khóe môi khẽ nở một nụ cười hiếm hoi sau nhiều ngày căng thẳng:

— Mẹ cứ yên tâm đi, con với con Hà tính là không có trật đâu. Ca trưa con phụ mẹ nấu nướng với giao hàng, bảo đảm gọn gàng sạch sẽ.

— Dạ, mẹ đồng ý là bước quan trọng nhất rồi, — Hà mỉm cười nhẹ nhõm, nhưng ánh mắt cô lập tức trở lại vẻ cẩn trọng vốn có. Cô khẽ lắc đầu khi thấy Khải toan gấp cuốn sổ lại. — Nhưng trước khi chúng ta ấn định chính xác ngày bắt đầu áp dụng việc cắt giảm ca tối, nhà mình còn phải làm thêm một việc cực kỳ quan trọng nữa.

Bà Lan và Khải cùng nhìn Hà với vẻ thắc mắc.

— Đó là chuyện nhân sự, — Hà giải thích rành rọt. — Việc cắt bỏ hoàn toàn ca tối sẽ tác động trực tiếp đến thời gian làm việc và thu nhập hàng tháng của Duy với cô Hạnh. Duy là sinh viên làm thêm theo giờ, còn cô Hạnh phụ bếp ăn lương theo ca. Chúng ta không thể ngồi ở đây tự quyết định toàn bộ lịch trình sau lưng họ, rồi sáng mai đùng đùng thông báo như một mệnh lệnh áp đặt từ trên xuống được. Làm ăn như vậy là thiếu tôn trọng người làm chung, rất dễ khiến họ bất mãn, cảm thấy bị hụt hẫng rồi đột ngột bỏ việc giữa chừng.

Hà lật sang một trang giấy nháp mới, ghi chú lại những điểm cần trao đổi vào sáng hôm sau:

— Kế hoạch của con là: sáng mai, trước giờ mở bán ca trưa chừng nửa tiếng, con sẽ chủ động ngồi nói chuyện riêng với Duy và cô Hạnh. Con sẽ trình bày rõ định hướng mới của quán, hỏi xem nếu quán chỉ bán ca trưa từ mười giờ đến hai giờ thì lịch học của Duy có bị xáo trộn không, và cô Hạnh có muốn nhận thêm phần việc chuẩn bị sơ chế bếp chính vào buổi sáng với mức lương tính theo giờ công mới để bù đắp phần thu nhập bị mất của ca tối hay không. Khi tất cả các thành viên trong quán đều hiểu rõ lý do, thấy quyền lợi của mình được tôn trọng và cùng gật đầu đồng thuận, chúng ta mới chính thức dán thông báo và chốt ngày bắt đầu cuộc thử nghiệm hai tuần.

Bà Lan nghe con gái nói vậy thì gật đầu tán thưởng lia lịa, ánh mắt ánh lên vẻ tự hào:

— Ừ, con nói chí phải đó Hà! Con Hạnh nó theo phụ mẹ từ hồi cái quán này còn là chiếc xe đẩy ngoài gốc me, tính nết nó thiệt thà, sạch sẽ, coi quán như nhà mình. Chuyện cơm áo của người ta, mình phải hỏi han đàng hoàng, sắp xếp cho người ta có đồng ra đồng vào đắp đổi, chứ đùng một cái cắt ca làm tội nghiệp người ta lắm con.

Cuộc trò chuyện tại bàn số bảy khép lại êm ả khi chiếc đồng hồ trên vách tường buồng trong điểm mười tiếng chuông báo hiệu mười giờ đêm.

Khác hẳn với những đêm trước—khi những cuộc bàn bạc về tiền nong luôn kết thúc bằng những tiếng thở dài ảo não, những lời gắt gỏng cay đắng hay sự im lặng ngột ngạt của sự bế tắc—đêm nay, bầu không khí trong quán Cơm Nhà Bà Lan dường như nhẹ bẫng đi rất nhiều. Một tảng đá vô hình nặng hàng tấn từng đè nặng lên ngực mỗi người suốt nhiều tháng trời dường như vừa được dỡ bỏ.

Khải đứng dậy, cẩn thận đỡ lấy cánh tay gầy của bà Lan. Anh đỡ mẹ từng bước chậm rãi, nhẫn nại đi qua ngạch cửa gỗ, đưa bà trở vào căn phòng ngủ phía sau để nghỉ ngơi và uống cữ thuốc giảm đau ban đêm.

Một mình Hà ở lại giữa gian nhà trước. Cô chậm rãi thu dọn từng cọc hóa đơn, xếp gọn gàng theo từng chủng loại rồi dùng dây thun buộc lại cẩn thận. Cuốn sổ cái bọc nylon màu xanh và chiếc máy tính Casio cũ được cô đặt ngay ngắn vào ngăn kéo sâu nhất của quầy thu ngân, khóa chốt cẩn thận bằng chiếc chìa khóa đồng nhỏ.

Hà bước ra trước hiên nhà, nắm lấy tay cầm của cánh cửa sắt kéo, từ từ hạ cửa xuống một nửa tầm ngang hông. Luồng gió đêm mát rượi từ phía con kênh thổi qua hàng me già, ùa vào gian nhà xua tan đi mùi vữa ướt và mùi dầu mỡ nguội ngắt bấy lâu. Nước triều của trận ngập ban trưa đã rút cạn hoàn toàn tự bao giờ, để lại mặt đường Vườn Me đen nhánh, sạch sẽ, lấp loáng dưới ánh đèn đường màu vàng nhạt.

Đứng tựa lưng vào khung cửa sắt, hít một hơi thật sâu bầu không khí trong lành hiếm hoi của đêm muộn, Hà cảm thấy một sự thanh thản kỳ lạ lan tỏa khắp lồng ngực. Cô biết con đường phía trước vẫn còn vô vàn chông gai: món nợ ba triệu tiền phòng trọ của Khải phải trả dần từng tuần, đôi chân của mẹ cần thời gian dài điều trị, và cuộc thử nghiệm hai tuần sắp tới sẽ là một phép thử đầy rủi ro đối với doanh thu ca trưa.

Thế nhưng, cảm giác bất an, hoảng loạn của những ngày trước đã hoàn toàn biến mất. Lần đầu tiên kể từ khi bước chân về tiếp quản quán cơm của gia đình, cô nhìn thấy một lối thoát rõ ràng. Lối thoát ấy không đến từ một phép màu tài chính hay một sự may mắn ngẫu nhiên, mà nó bắt đầu từ chính khoảnh khắc những con người trong gia đình này học được cách ngồi lại cùng nhau, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bằng những con số trần trụi, và chọn cách tôn trọng lẫn nhau thay vì trốn chạy trong sự cam chịu mù quáng.

* * *

Sáu giờ ba mươi phút sáng hôm sau.

Ánh nắng sớm mai của một ngày mới bắt đầu rọi những vệt sáng màu vàng nhạt xuyên qua những khe hở của cánh cửa sắt kéo, chiếu xiên xuống nền gian bếp. Lớp xi măng trám nền chiều qua giờ đây đã khô cong hoàn toàn, bề mặt phẳng phiu, cứng cáp và sạch sẽ, không còn một gợn mùi ẩm mốc của nước cống.

Hà đã thức dậy từ năm giờ ba mươi. Cô mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh nhạt gọn gàng, mái tóc buộc cao sau gáy, đang đứng ở góc quầy thu ngân cẩn thận kiểm tra lại danh mục các loại gia vị khô cần mua bổ sung cho ca trưa trên một tờ giấy ghi chú nhỏ.

Bỗng nhiên, từ bên ngoài vỉa hè, có tiếng lách cách quen thuộc của chìa khóa tra vào ổ.

Cánh cửa cuốn bằng sắt phát ra tiếng rít nhẹ khi được đẩy ngược lên một khoảng vừa đủ một người cúi đầu bước vào.

Một bóng người phụ nữ nhanh nhẹn lách qua khe cửa bước vào quán, sớm hơn thường lệ gần nửa tiếng đồng hồ.

Đó là cô Hạnh. Trên tay người phụ nữ phụ bếp đứng tuổi không phải là chiếc giỏ xách đi chợ bằng nhựa như mọi ngày, mà là một cuốn sổ tay bìa cứng đã sờn mép.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories