Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.30 / 30
Chapter 30

Không Lên Bảng, Vẫn Có Tên

Nắng sớm trải vàng óng ánh trên những cánh buồm vừa vá xong tại Bến Hạ Thủy, xua đi mùi tanh nồng ẩm mốc của những ngày mưa giông ngột ngạt.

Khúc sông Vọng Giang sau những ngày cuộn sóng đục ngầu vì mưu mô và tư lợi rốt cuộc cũng tìm lại được nhịp chảy bình thản vốn có. Làn nước biếc xanh màu ngọc thạch chầm chậm trôi xuôi, phản chiếu bóng những rặng bần cắm rễ sâu vào bờ bãi và những thân thuyền nan dập dềnh theo con nước lớn. Tiếng búa gõ lách cách vào mạn thuyền, tiếng hò dô kéo gỗ của phu bến tàu rền vang trên mặt nước, hòa cùng mùi khói bếp ngai ngái mùi vỏ tràm và lá mía khô bay lên từ những chái chòi lợp tranh của dân chài. Tất cả những âm thanh mộc mạc, sống động ấy dường như đã lấn át hoàn toàn những bản tin đồn thổi ma quái từng bao trùm khắp các hang cùng ngõ hẻm suốt những tuần trăng dông bão vừa qua.

Trên bờ, ngay trước sân phủ đường Vọng Giang, đám đông thị dân tụ tập từ tờ mờ sáng chung quanh tấm bảng gỗ thị chúng to lớn. Bản án chung thẩm do đích thân Khâm sai Kinh lộ Nguyễn Minh Luật chấp bút và ban bố được niêm yết trang trọng dưới mái che lợp ngói lòng máng, có lính cấm quân bồng giáo đứng gác nghiêm cẩn hai bên tả hữu. Từng dòng chữ son rành rọt, rắn rỏi như những nhát búa giáng thẳng vào tòa lâu đài dối trá vốn ngự trị đất Vọng Giang suốt cả thập kỷ.

Kỷ Song, kẻ đã bán rẻ bàn tay thợ mộc tài hoa cho những cơ quan giết người và màn kịch đoạt mạng, phải chịu mức án đền tội sát nhân trước pháp luật. Vết mẻ hình chữ V trên móng tay cái của hắn cùng những dấu vết ướp xác bằng muối diêm tuyết phiến trong khoang ngầm số mười bảy đã trở thành chứng cứ đanh thép khép lại số phận một kẻ thủ ác lầm đường. Bản án tuyên phạt hắn trảm quyết vào kỳ thu phân tới, không được hưởng bất kỳ ân xá nào, khép lại một chuỗi ngày dài dùng mộng tưởng nghề nghiệp để phụng sự cho lòng tham vô đáy.

Lục Trọng Tín, vị chấp sự từng một thời thét ra lửa mửa ra khói của Danh Kiếm Hội, người luôn miệng rao giảng về "ổn định dân sinh" để hợp thức hóa chiếc thòng lọng tín dụng, nhận bản án lưu đày viễn xứ ba ngàn dặm về biên viễn phía tây. Toàn bộ gia sản bất minh tích tụ từ các khoản phí bảo chứng, tiền mua bán thứ hạng và hợp đồng khống bị tịch thu sung công quỹ; chiếc thẻ bài ngọc bích chạm hình đoản kiếm—thứ tín vật từng khiến trăm môn phái cúi đầu—nay chỉ còn là một mảnh ngọc vỡ vô dụng nằm trong hòm tang vật của triều đình. Những lời lẽ hoa mỹ về sự phồn vinh võ giới mà y từng đem ra che đậy các sổ nợ máu nay bị xé toang trên từng trang án nghị, phơi bày trần trụi bản chất của một kẻ buôn bán mạng sống và thứ bậc giang hồ.

Thư lại Hà Công Bút, kẻ cả đời cặm cụi cạo chữ, sửa ngày và biến mạng người thành những con số quyết toán đẹp đẽ, bị lột sạch áo mũ quan nha, bãi chức vĩnh viễn và phát vãng đi làm phu đắp đê khổ sai tại mỏ đá Lãnh Sơn. Những chiếc nghiên mực rùa đen, những con dao cạo giấy bằng đồng thau sắc lẹm cùng mớ con dấu gỗ giả mạo ngày tháng thụ lý từng giúp y xoay vần công lý trong bóng tối đều bị niêm phong, tiêu hủy trước công chúng như lời cảnh cáo răn đe cho phường lại dịch sâu mọt.

Riêng với Hiệu bạc Đồng Tín, cơn bão tài chính tưởng chừng sẽ quét sạch chén cơm của thị dân đã được ghìm cương kịp thời. Dưới sự điều phối chặt chẽ của đoàn thanh tra Kinh lộ và nha môn phủ, hiệu bạc không bị giải thể bừa bãi dẫn đến cảnh đổ vỡ dây chuyền, mà buộc phải tái cơ cấu toàn diện dưới sự kiểm soát gắt gao của nha lại hộ bộ. Tài khoản mờ ám mang danh “Bảo Chứng Giáp Tam” bị phong tỏa tuyệt đối để ưu tiên chi trả từng đồng bạc mồ hôi nước mắt cho những người gửi tiền nhỏ lẻ. Mọi điều khoản nợ gắn với thứ hạng giang hồ do Tống Kim Chương ký phát đều bị tuyên vô hiệu trước công đường. Những võ quán nhỏ, những tiêu cục gia đình từng bị bóp nghẹt dưới mức lãi suất cắt cổ nay được gỡ bỏ xiềng xích, trả lại cho bờ sông Vọng Giang một nhịp thở tự do đích thực. Người ta không còn thấy cảnh côn đồ vác đao đến đòi siết bảng hiệu võ môn, cũng không còn những tiếng khóc thầm bên những bản văn tự thế chấp thân phận nô dịch.

***

Cách đó vài dặm về phía hạ lưu, một làn khói trầm mỏng manh uốn lượn bay lên trời xanh từ góc xưởng buồm Bến Hạ Thủy.

Tang lễ của Trần Hữu Sổ không rình rang kèn trống, không có những trướng đối phù phiếm hay những lời phúng viếng đãi bôi của phường hào phú. Nhưng đó là một tang lễ thanh thản nhất mà bến sông này từng chứng kiến trong nhiều năm qua. Quan tài gỗ thông mộc mạc được đặt giữa những súc vải buồm trắng tinh khôi, tỏa ra mùi nhựa thông ấm áp át đi cái ẩm ướt của bãi bồi. Phía trên đầu áo quan, tờ giấy chứng tử danh dự do Tĩnh Thi Phòng cấp phát và bản cáo thị minh oan của nha môn được đóng khung tre cẩn thận, xác nhận Trần Hữu Sổ là một thư lại mẫn cán, hy sinh thân mình để bảo vệ sổ sách công vụ chứ không phải gã bợm rượu trượt chân chết đuối như lời dối trá bịa đặt của phường gian thương.

Trần Ngọc Nương đứng bên án hương, đôi mắt quầng thâm sau chuỗi ngày dài dốc cạn nước mắt, nhưng ánh nhìn đã lấy lại vẻ kiên định, sáng trong lạ thường. Nàng mặc bộ đồ tang bằng vải xô trắng mộc, cúi đầu tạ lễ trước những người thợ vá buồm tay chai sạn, những phu bốc vác áo rách vai và bà con lối xóm quanh bến sông đến thắp nén nhang tiễn biệt anh trai mình. Không còn ai phải lén lút nhìn nàng bằng ánh mắt nghi kỵ hay thì thầm to nhỏ về những món tiền ma quái. Sự thật đã được phơi bày dưới ánh mặt trời, và hương hồn của người thư lại khốn khổ kia cuối cùng cũng được trả về đúng vị trí danh dự trong lòng người dân lao động bến nước.

Nhờ sự can thiệp quyết liệt của công đường thanh tra, toàn bộ số tiền bồi hoàn hợp pháp từ công quỹ và phần tài sản bị đường dây của Lục Trọng Tín chiếm đoạt trước đây đã được trao tận tay nàng. Một túi bạc nén đầy đủ văn tự công chứng, không thiếu một đồng kẽm chiết khấu, không mất một cắc lệ phí trung gian.

Ngọc Nương không giữ món tiền ấy cho riêng mình. Nàng dùng nó để trả dứt điểm các khoản nợ vật tư cũ cho lái buôn mây tre bến Thượng, mua thêm hai mươi súc vải bạt dày dặn loại sợi gai dầu bền chắc nhất, và chia đều phần còn lại làm tiền công ứng trước cho nhóm thợ bạn cùng xưởng đang chật vật sau chuỗi ngày xưởng bị niêm phong.

Giờ đây, xưởng buồm Bến Hạ Thủy đã hoàn toàn khôi phục vị thế độc lập. Tiếng kéo xén vải lách xách vang lên giòn giã từ sớm tinh sương, tiếng kim đồng xâu chỉ gai xuyên qua từng thớ bạt dày rộn rã át cả tiếng sóng vỗ bờ phù sa. Đứng nhìn cánh buồm nâu mới tinh đang căng gió trên cọc phơi, vươn cao ngạo nghễ đón luồng gió sớm từ cửa sông thổi vào, Ngọc Nương khẽ mỉm cười. Đó là một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản như thể gánh nặng ngàn cân đè trĩu đôi vai gầy của nàng bấy lâu nay cuối cùng đã tan thành mây khói theo làn gió sông mênh mang.

***

Trong khi đó, tại sảnh Quầy Công Thưởng của phủ nha Vọng Giang, không khí làm việc đã đổi khác hoàn toàn. Bức vách ngăn bằng gỗ lim u tối ngày nào—nơi từng là ranh giới bất khả xâm phạm giữa kẻ nắm quyền sinh sát và những thân phận thấp cổ bé họng—đã được dỡ bỏ bớt một nửa để ánh sáng mặt trời rọi thẳng vào bàn làm việc. Không còn mùi khói thuốc phiện lén lút hay mùi mực tàu ôi thiu ám vào những xấp hồ sơ trì hoãn, thay vào đó là mùi giấy mới thơm tho và sự thông thoáng mát rượi của gió sớm.

Người ngồi sau bàn giấy là một thư lại trẻ tuổi do đoàn thanh tra Kinh lộ cử sang tạm quyền, dáng vẻ nghiêm cẩn, tay áo vén cao gọn gàng. Ngồi cạnh chàng trai trẻ là một viên giám sát mặc áo xám không thêu hoa văn của Kinh lộ, chốc chốc lại lật từng tờ biên bản kiểm tra chéo, ngòi bút son chấm mực đỏ sẵn sàng soi xét từng chi tiết nhỏ nhất.

Tạ Vô Danh đứng tựa lưng vào mép bàn gỗ lim thô, kiên nhẫn chờ đợi. Tay phải của chàng vẫn quấn dải băng vải gai trắng cố định nẹp gỗ sồi, cánh tay treo bằng dải lụa vòng qua cổ, nhưng dáng đứng đã thẳng thớm, hiên ngang, không còn vẻ gượng gạo né tránh đòn roi hành chính hay sự khúm núm giả tạo như trước. Dưới lớp áo vải thô màu tro đã bạc màu vai, thân hình cao gầy của chàng toát lên vẻ vững chãi tựa một rặng thông già sau cơn giông tố.

"Kiếm khách Tạ Vô Danh." Viên thư lại trẻ cất giọng rõ ràng, ngẩng đầu đối chiếu dung mạo chàng với tờ trát điều tra và hồ sơ thụ lý đặt trên mặt bàn. "Mã vụ án Đinh-Bính 104, hạng mục giao nộp thi thể người báo án hợp lệ theo quy chế tuần tra dân sự và hỗ trợ điều tra án điểm của Khâm sai. Hồ sơ kiểm tra chéo đã đầy đủ chữ ký của kiểm thi viên Đỗ Thanh thuộc Tĩnh Thi Phòng và dấu chuẩn y màu son tươi của Khâm sai nha môn. Không có sai sót, không có điều khoản khấu trừ chi phí lưu kho."

Viên thư lại mở chiếc tráp gỗ mun nhỏ đặt trên giá, cẩn thận lấy ra ba thỏi bạc nén.

"Đây là phần tiền công ba mươi lượng bạc của ngươi."

Ba thỏi bạc nén mười lượng tròn trĩnh, đúc bằng bạc chuẩn của ngân khố triều đình, ánh lên sắc trắng xám sáng loáng và nặng trịch, được đặt ngay ngắn lên tấm vải dạ màu xanh phủ mặt bàn. Không có mảnh giấy hoa tiên nào bị đóng dấu lùi ngày, không có những ánh mắt liếc xéo đòi tiền trà nước gắt gao, và tuyệt đối không có bóng dáng của một chữ ký ma nào chen ngang để bòn rút bớt mồ hôi xương máu của người lĩnh thưởng.

Viên giám sát áo xám khẽ gật đầu, đưa chiếc bút lông cho chàng: "Ký nhận hoặc điểm chỉ vào sổ quyết toán."

Tạ Vô Danh đưa bàn tay trái chai sần ra, cầm lấy chiếc bút lông chấm nhẹ vào nghiên mực, viết ba chữ tên mình bằng những nét gãy gọn, dứt khoát rồi gom ba thỏi bạc bỏ vào chiếc túi vải thô đeo bên hông. Tiếng bạc va vào nhau lách cách nghe đanh gọn, chắc nịch và sảng khoái đến tận đáy lòng.

"Đa tạ công đường," chàng khẽ ôm quyền bằng tay trái theo lối giang hồ, rồi quay người dứt khoát bước ra khỏi sảnh đường.

Rời khỏi nha môn, chàng rảo bước chầm chậm qua phố Đông. Ánh nắng ban mai rọi xuống từng phiến đá xanh lát đường đã khô ráo sau chuỗi ngày ẩm thấp. Phố xá đã bắt đầu đông đúc trở lại, tiếng rao hàng của những gánh bún cá, tiếng mặc cả rau cỏ rộn rã khắp các khúc ngoặt. Chàng không ghé vào tửu lầu sang trọng nào để ăn mừng, cũng chẳng bước chân vào phường dệt may để tậu lấy một bộ y phục lụa là bóng bẩy nhằm "flex" với thiên hạ như lời Bùi Bát Quái vẫn thường rỉ tai xúi bẩy.

Điểm dừng chân đầu tiên của chàng là tiệm cầm đồ cũ kỹ nép mình ở góc chợ cá. Bước qua ngưỡng cửa gỗ mục, Tạ Vô Danh rút từ túi ra một lượng bạc vụn đặt lên quầy gỗ, đẩy tờ giấy cầm đồ nhàu nhát đã ngả màu ố vàng về phía lão chủ tiệm mắt kèm nhèm:

"Lão bản, chuộc đồ."

Lão chủ tiệm soi tờ giấy qua kính lúp, lầm bầm vài câu rồi quay lưng vào dãy kệ tối tăm phía sau, lôi ra chiếc bao kiếm bằng da bò cũ sờn đóng đinh đồng—vật bất ly thân mà chàng từng phải cắn răng đem gá nợ lấy tiền ăn mì mấy tháng trước trong chuỗi ngày kiệt quệ. Tạ Vô Danh đón lấy chiếc bao da, phủi đi lớp bụi mỏng bám trên mặt đinh đồng đã ngả màu xỉn, rồi nhẹ nhàng tra thanh kiếm sắt cùn bên hông vào bao. Thanh kiếm trượt vào lớp da thuộc quen thuộc, phát ra một tiếng "cạch" êm tai như người bạn lâu năm tìm lại được mái nhà che mưa che nắng.

Rời tiệm cầm đồ, chàng lần theo con đường mòn quen thuộc hướng về phía ngoại thành, nơi có Miếu Kiếm Gãy xập xệ nép mình dưới rặng si già ngàn năm buông rễ phụ rậm rạp. Cửa miếu vẫn trống huếch trống hoác, mái ngói sứt mẻ rêu phong để lộ những vạt nắng xiên khoai chiếu rọi vào bệ thờ phủ đầy bụi trần.

Nghe tiếng bước chân chậm rãi trên thảm lá khô, bà lão mù giữ miếu đang ngồi tựa lưng vào gốc si lần tràng hạt bỗng ngẩng đầu lên, đôi mắt mờ đục hướng về phía chàng.

Tạ Vô Danh bước lại gần, móc ra hai quan tiền kẽm xâu bằng dây gai chắc chắn cùng nửa lượng bạc vụn còn lại từ tiệm cầm đồ, đặt cẩn thận vào lòng bàn tay gầy guộc chằng chịt vết đồi mồi của bà lão:

"Bà cụ, tiền thuê chỗ ngủ hai tháng qua của tôi gửi đủ. Phần dư này bà giữ lấy mua dầu thắp đèn và gạo trắng dự trữ cho mùa mưa tới nhé."

Bà lão mù khẽ run rẩy lần giở từng đồng tiền kẽm đanh nguội, ngón tay chạm vào góc bạc vụn mát lạnh, khóe miệng móm mém cười run run để lộ vài chiếc răng lung lay:

"Tạ kiếm khách đấy à? Mấy hôm rồi không nghe tiếng bước chân khẽ khàng của chú về ngủ trọ nơi chái miếu, lão cứ tưởng chú vướng vào vụ án lôi đài gì đó rồi bị quan phủ bắt đi đày biệt xứ rồi chứ."

"Chưa đày được tôi đâu," Tạ Vô Danh cười khẽ, ánh mắt thường ngày sắc lạnh bỗng chốc dịu lại như mặt nước hồ mùa thu. "Mạng tôi dai lắm, diêm vương dưới kia chê sổ sách phiền phức nên chưa thèm gạch tên."

"Sống sót là tốt rồi, người lành lặn trở về là phúc đức ông bà tổ tiên," bà lão cất tiền vào chiếc đãy vải may trước ngực áo, miệng lầm rầm niệm Phật. "Gió bến sông dạo này độc lắm, chú có ngủ lại thì nhớ lấy thêm tấm chiếu rách ở góc bệ thờ mà đắp ngang bụng, đừng để trúng gió hàn."

"Tôi nhớ rồi. Cảm ơn bà cụ."

Tạ Vô Danh cúi đầu chào bà lão rồi quay người bước ra đường lớn. Đứng bên vệ đường ngập tràn cỏ may, chàng đưa tay vỗ vỗ vào chiếc túi vải thô bên hông.

Sau khi thanh toán sòng phẳng tiền nợ miếu trọ hai tháng, tiền chuộc lại chiếc bao kiếm da bò cũ, và ghé qua đầu ngõ trả nốt mấy bữa cơm rau dưa độ nhật từng thiếu nợ ở quán cháo lão Trương, số bạc ba mươi lượng rủng rỉnh cầm ra từ sảnh Quầy Công Thưởng lúc sáng giờ chỉ còn lại vài mẩu bạc vụn bé tí hin và hơn chục đồng tiền kẽm nằm trơ trọi, lăn lóc dưới đáy túi.

Chàng lại nghèo rớt mồng tơi như cũ.

Không có chức tước quan nha để thị uy, không có vương miện "Đệ Nhất Kiếm Ngoại Thành" hào nhoáng để người đời xưng tụng, và càng không có quỹ cứu trợ vạn lượng bạc của bang hội nào đứng sau chống lưng để khoa trương thanh thế. Chàng vẫn chỉ là một tay kiếm khách vô danh kiếm cơm từng bữa, ngủ trọ miếu hoang và tay áo bạc màu sương gió.

Thế nhưng, khi ngửa mặt hít một hơi thật sâu luồng gió sông mát rượi thổi qua bờ lau trắng muốt, Tạ Vô Danh bỗng thấy đôi vai mình nhẹ bẫng đến lạ kỳ. Chàng nghèo tiền bạc, nhưng chàng không còn nợ giang hồ này một lời giải thích nào nữa. Mọi món nợ danh vọng, mọi bản khế ước lừa lọc, mọi sự quy chụp ô danh gán ghép cho chàng đều đã được thanh toán sòng phẳng dưới ánh sáng của sự thật.

***

Khi bóng chiều tà bắt đầu nhuộm đỏ những mái ngói rêu phong và những vách tường tróc lở của thành Vọng Giang, Trà quán Nửa Lời bên bến sông rộn rã hẳn lên.

Mặt tiền quán trà từng bị đám đông quá khích đập phá tan hoang mấy hôm trước nay đã được tu sửa lại tươm tất. Những thanh gỗ thông mới tinh còn thơm nồng mùi nhựa trám đã được đóng khít khao vào khung cửa cũ, tạo nên những mảng màu sáng tối đan xen như một vết sẹo lành lặn sau cơn biến cố. Bàn ghế tre được lau chùi sạch bóng, nước sôi sùng sục reo vang trong những chiếc ấm đất nung đặt trên bếp than hồng rực lửa.

Nhưng điểm bắt mắt nhất, khiến bất kỳ khách bộ hành, phu bốc vác hay thuyền nhân nào đi ngang qua cũng phải dừng bước ngước nhìn, chính là một tấm biển gỗ lớn treo trang trọng ngay cạnh quầy pha trà.

Tấm biển sơn then đen tuyền, bóng loáng như gương, trên đó khắc nổi ba dòng chữ ngay ngắn thếp sơn màu sắc rành mạch, phân chia theo đúng Quy ước Đóng dấu Ba Cấp mà phường tin thành Vọng Giang vừa nhóm họp thống nhất vào sáng nay:

* *Cấp 1 (Mực đen): Tin nghe kể — Chỉ dùng để biết hướng gió thổi, cấm xem là sự thật, kẻ nào tin ráng chịu hậu quả.* * *Cấp 2 (Mực xanh): Tin tận mắt — Có người chứng kiến tại chỗ, nhưng góc nhìn hạn chế, cấm suy diễn động cơ và bản chất.* * *Cấp 3 (Mực đỏ): Tin đã đối chiếu — Có từ hai nhân chứng độc lập trở lên và bằng chứng vật lý, văn tự có triện kiểm tra chéo.*

Bùi Bát Quái mặc một chiếc áo chẽn màu cánh gián mới toanh may bằng vải đũi hồ cứng, cổ đeo một sợi dây chuyền bạc mảnh, trên tay cầm chiếc quạt giấy phe phẩy đầy vẻ đắc ý ung dung. Thấy bóng Tạ Vô Danh lững thững bước qua ngạch cửa, gã lập tức quẳng phắt chiếc quạt lên quầy, nhảy tót ra ngoài sảnh đón khách, hai mắt sáng rực như vớ được mỏ vàng ròng:

"Ôi chao ôi! Tạ đại hiệp! Vị khách quý nhất, rường cột vững chắc nhất của bổn quán đã quang lâm! Mau vào đây, mau vào đây ngồi! Bàn góc trong cùng sát mép nước, hướng nhìn thẳng ra rặng bần ngã ba sông, gió mát trăng thanh, tuyệt phẩm trần gian không đâu sánh bằng!"

"Thôi đi gã Bùi kia," Tạ Vô Danh tháo thanh kiếm sắt đã tra trong bao da bò đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ, rồi kéo chiếc ghế đẩu bằng tre ngồi xuống. Chàng đưa tay chỉnh lại nẹp gỗ sồi trên cổ tay phải, cất giọng lãnh đạm: "Cho một ấm trà xanh mạn cúc loại rẻ nhất, đừng dở giọng khách sáo hoa mỹ với ta. Bạc công quầy nha môn sáng nay ta đã trả nợ sạch bách rồi, trong người không còn đủ tiền để bao trọn quán của ngươi đâu."

"Ầy, Tạ huynh nói thế hóa ra xem thường tấm lòng Bùi mỗ này quá!" Bùi Bát Quái trợn mắt tặc lưỡi, đặt mạnh chiếc khay đồng đựng ấm chén bằng gốm da chu lên bàn. "Hôm nay Bùi mỗ đích thân mời! Trà búp mạn cúc hảo hạng hái từ đỉnh Lãnh Sơn đàng hoàng chứ không phải thứ trà cám gạn đáy lu đâu nhé! Huynh nhìn xem, huynh không thấy tấm biển mới tinh tươm treo đằng kia à? Đẳng cấp phường tin thành Vọng Giang bây giờ nó phải khác xưa một trời một vực chứ lị! Từ sáng đến giờ, đám lái buôn lúa gạo bến Thượng với chủ tiêu cục xếp hàng rồng rắn nườm nượp chỉ để mua mấy mẩu tin cấp ba đóng dấu đỏ chu sa của ta đấy. Thời buổi này, sự thật đắt giá lắm huynh ạ, kẻ dối trá thì nhiều chứ người dám mua tin có kiểm tra chéo thì quý như lông phượng sừng lân!"

Gã vừa rót trà bốc khói nghi ngút vào chén cho Tạ Vô Danh vừa nghiêng ngó nhìn bao kiếm da bò: "Ủa, chuộc được kiếm bao rồi đấy à? Trông cũng bảnh bao ra phết, chẳng bù cho mấy hôm trước ôm thanh sắt trần như gã đồ tể đi lạc."

Đúng lúc đó, tấm rèm vải thô treo ở cửa quán khẽ lay động dưới làn gió sông mát rượi. Một bóng người thanh mảnh bước vào, mang theo mùi hương thảo mộc thanh sạch quyện lẫn thoang thoảng chút mùi rượu thuốc nồng ấm quen thuộc.

Đỗ Thanh xuất hiện.

Nàng không còn khoác bộ áo ngỗ tác bằng vải thô xám ngoét đượm mùi giấm thanh và vôi bột thường ngày nơi hầm lạnh Tĩnh Thi Phòng. Hôm nay, nàng mặc một bộ y phục màu xanh ngọc bích nền nã may bằng vải bông dệt tay mềm mại, tà áo thêu chìm vài đóa hoa dành dành thanh khiết. Mái tóc đen nhánh dài mượt mà không còn giấu trong mũ vải trùm kín mà được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc, làm lộ ra chiếc gáy thon trắng ngần và đôi hoa tai bằng bạc nhỏ nhắn khẽ đung đưa theo từng bước chân. Trên tay nàng cầm một chiếc làn mây nhỏ đựng vài cuốn y tịch cổ và một bình sứ men hoa lam thắt dải lụa đỏ ở cổ bình.

Tạ Vô Danh khẽ ngẩn người nhìn nàng trong nửa nhịp thở. Chén trà nóng trên tay chàng dừng lại giữa không trung. Chàng đã từng thấy Đỗ Thanh lạnh lùng cầm dao mổ xẻ tử thi, từng thấy nàng kiên quyết đối chất giữa công đường phủ nha, nhưng chưa bao giờ thấy nàng trong dáng vẻ thường phục mềm mại, dịu dàng và nhẹ nhõm đến nhường này. Ánh mắt nàng bắt gặp cái nhìn chăm chú của chàng, khóe môi hơi mím lại dường như có chút e ấp hiếm thấy, nhưng rất nhanh sau đó đã lấy lại vẻ bình thản thường nhật.

"Đỗ cô nương!" Bùi Bát Quái reo to, miệng cười toét đến tận mang tai. "Cơn gió lành nào thổi nàng tới đây thế này? Hôm nay Tĩnh Thi Phòng đóng cửa nghỉ việc sớm thế à?"

"Không phải đóng cửa sớm," Đỗ Thanh bước tới góc bàn, kéo chiếc ghế đẩu đối diện Tạ Vô Danh ngồi xuống. Giọng nàng vẫn giữ vẻ điềm tĩnh, rành rọt và chính xác như khi tuyên đọc từng dòng trong biên bản pháp y, nhưng nơi đuôi mắt đã lấp lánh nét cười ấm áp. "Mà là khế ước kiểm thi độc lập của ta vừa được quan Khâm sai phê duyệt và nha môn gia hạn thêm ba năm, với điều khoản tự chủ tuyệt đối về mặt chuyên môn giám định. Từ nay không viên thư lại hay chánh tổng nào có quyền can thiệp vào kết luận nghiệm thi của ta nữa. Trưa nay bàn giao sổ sách ca kíp xong xuôi, cha ta bảo ta nên ra ngoài hít thở chút khí trời sông nước, ở mãi trong hầm lạnh ngửi mùi vôi sống thì da dẻ sẽ xanh xao như đít nhái, chẳng ai thèm ngó ngàng."

Nàng đặt chiếc bình sứ men hoa lam lên mặt bàn tre, tiếng gốm chạm vào gỗ vang lên lách cách thanh tao. Ánh mắt sắc sảo của nàng lập tức dừng lại ở cánh tay phải đang nẹp gỗ của Tạ Vô Danh:

"Đưa tay đây ta xem nào. Đừng có giấu ra sau lưng."

Tạ Vô Danh ngoan ngoãn đặt cẳng tay phải lên mặt bàn. Đỗ Thanh kéo chiếc làn mây sang một bên, cẩn thận tháo từng vòng băng vải gai đã ngả màu bụi đường. Ngón tay thon thả, trắng trẻo của nàng khẽ chạm vào vùng da thịt quanh khớp cổ tay chàng. Đầu ngón tay nàng mát lạnh như ngọc thạch ngâm nước suối, nhưng lực bấm nắn lại vô cùng chuẩn xác, dứt khoát và vững chãi của một người hiểu rõ từng thớ cơ, từng khớp xương dưới da thịt.

"Xương trụ và xương quay phục hồi khá tốt, các vết rạn tế vi đang dần liền miệng," nàng khẽ gật đầu đánh giá, giọng trầm xuống đầy tính chuyên môn. "Nhưng dịch bao khớp vẫn còn ứ nhẹ do chấn thương va đập mạnh, tuyệt đối không được vận kình lực hay vung kiếm trong bảy ngày tới. Nếu cố tình cầm kiếm múa may, gân cổ tay sẽ bị xơ hóa vĩnh viễn, khi đó có mời thần y tái thế cũng chỉ còn nước chặt tay đi mà thôi."

Nàng rút nút bấc đậy bình sứ hoa lam ra. Một mùi hương nồng đượm, cay the và ấm nóng lập tức lan tỏa khắp quán trà. Đó là thứ rượu thuốc gia truyền màu nâu sẫm, được chưng cất kỹ lưỡng từ quế chi, huyết giác, ngải cứu khô và hàng chục vị thảo dược thông kinh hoạt lạc. Đỗ Thanh đổ một ít rượu thuốc ra lòng bàn tay mình, xoa đều cho ấm lên rồi áp nhẹ vào cổ tay chàng, tỉ mỉ xoa bóp từng đường kinh lạc, từng kẽ xương. Hơi ấm từ bàn tay nàng cùng sức nóng của rượu thuốc ngấm sâu qua thớ thịt, khiến những cơn đau âm ỉ nơi khớp xương của chàng dịu đi trông thấy.

"Nhát kiếm tay trái ở Đài Bách Thắng hôm đó coi như chàng gặp may lớn đấy," nàng vừa day ngón tay cái vào huyệt Dương Trì vừa liếc nhìn chàng, giọng pha chút trách móc kín đáo. "Nếu thanh xà gồ gỗ lim không gãy gập xuống cản bớt lực chấn của tên hộ vệ họ Lục, cú phản chấn lúc đó đã bẻ gãy gập luôn cả xương cẳng tay trái của chàng rồi. Lấy tay nghịch đỡ đòn toàn lực của kẻ địch, chàng nghĩ mình mình đồng da sắt chắc?"

"Lúc đó tính mạng treo đầu sợi tóc, tên bắn sau lưng, kiếm chém trước mặt, may rủi gì cũng phải liều thử một phen," Tạ Vô Danh khẽ rụt tay lại một chút vì hơi cay nồng ran rát của rượu thuốc, nhưng trong lồng ngực lại dâng lên một cảm giác ấm áp lạ kỳ. Chàng nhìn nghiêng gương mặt thanh tú, hàng mi cong rợp bóng và sự tập trung cao độ của Đỗ Thanh khi nàng săn sóc vết thương cho mình. Chàng ngập ngừng trong thoáng chốc, nuốt khan một ngụm trà nguội rồi cất giọng tỉnh bơ, ánh mắt vờ nhìn bâng quơ ra phía con thuyền nan đang cắm sào ngoài bãi bồi:

"Này... lát nữa hết giờ giao ban ở bến sông, nàng có rảnh rỗi chút nào không?"

Đỗ Thanh dừng ngón tay lại một nhịp, hàng mi khẽ nâng lên, đôi mắt đen láy nhìn thẳng vào mặt chàng: "Có việc gì? Cần đối chiếu hồ sơ nào nữa à?"

"Không có hồ sơ nào cả," Tạ Vô Danh vẫn nhìn ra ngoài bến sông, giọng điệu thản nhiên như thể đang bàn chuyện thời tiết nắng mưa của ngày mai. "Chỉ là... đi dạo phố chợ chiều một lát. Nghe mấy bà buôn vải đồn rằng quán chè sen ở phố Tây vừa mở cửa lại sau đợt phủ nha dẹp loạn lôi đài. Người ta bảo sen hồ Tịnh Tâm đầu mùa nấu với đường phèn bến Nam thơm mát lắm, ăn thanh giọng chứ không bị ngọt khé cổ như cái thứ trà xanh pha cẩu thả của gã họ Bùi này. Nếu rảnh thì... tiện đường đi thử xem sao."

Đỗ Thanh nhìn vẻ mặt cố làm ra vẻ thản nhiên, lạnh lùng như khúc gỗ của chàng kiếm khách nghèo, khóe môi nàng khẽ cong lên thành một nụ cười rạng rỡ. Đó là một nụ cười trọn vẹn, tươi tắn và đẹp đẽ nhất từng bừng nở trên gương mặt nàng suốt từ những ngày đầu tăm tối khi hai người chạm mặt nhau bên thi thể bó chiếu rách nát nơi bãi tha ma. Nụ cười ấy xua tan đi tất cả vẻ ảm đạm của nhà xác, của những trang hồ sơ chết chóc và những toan tính đê hèn chốn giang hồ.

"Được thôi," nàng thoăn thoắt cuốn lại dải băng vải gai trắng quanh nẹp gỗ sồi, thắt một nút bướm gọn ghẽ rồi đưa tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay chàng một cái rõ kêu. "Nhưng chàng phải trả tiền đấy nhé. Ta là người làm công vụ thanh liêm, tuyệt đối không có thói quen ăn chè bằng bạc hối lộ hay tiền nợ giang hồ đâu."

"Tất nhiên là ta trả," Tạ Vô Danh gật gù, vẻ mặt nghiêm túc vô cùng. "Trong túi ta hiện tại còn đúng mười hai đồng tiền kẽm đúc chuẩn của triều đình, đủ trả hai bát chè sen đường phèn và một đĩa bánh khảo đậu xanh bốn miếng. Không thừa một cắc, không thiếu một đồng."

Bùi Bát Quái đứng bên cạnh chống nạnh, trợn tròn hai mắt nhìn hai người họ từ đầu đến cuối, rồi gã ngửa mặt lên trời thở dài sườn sượt như thể vừa chứng kiến một thảm họa nhân gian:

"Trời đất quỷ thần ơi! Giang hồ Vọng Giang vừa mới dẹp xong một đại án kinh thiên động địa, triều đình còn chưa kịp phát hết bạc thưởng, hai vị đại hiệp lừng lẫy chiến công không lo ngồi lại đây bàn chuyện đại sự võ lâm, chia chác địa bàn hay mưu tính tương lai rạng rỡ, lại ngồi đây liếc mắt đưa tình rồi bàn chuyện hẹn hò ăn bát chè sen mười hai đồng tiền kẽm! Thật là làm mù hai con mắt trần tục của một kẻ độc thân cô đơn như ta mà! Bùi mỗ khinh, khinh bỉ sâu sắc cái sự bần tiện và lãng mạn nửa mùa này!"

Gã vừa làu bàu vừa lúi húi khom lưng, thò tay sâu vào gầm quầy pha trà lôi ra một vật nặng nề. Đó là một tấm biển bằng gỗ đào tiện tròn bốn góc, mặt gỗ đã được đánh véc-ni bóng lộn và dát một lớp nhũ vàng lấp lánh vô cùng chói mắt, phô trương đến mức kệch cỡm. Bùi Bát Quái hớn hở bê tấm biển đặt đánh "rầm" một cái lên mặt bàn trà, ưỡn ngực xốc lại cổ áo, mặt vênh lên tận trời:

"Hai người đừng có coi thường ta! Nhìn xem! Đây mới là kế hoạch làm ăn vĩ đại của Bùi mỗ trong ba năm tới! Ta đã phải tốn công nài nỉ, bỏ ra một đống tiền thuê tay thợ chạm khắc chữ khéo nhất phố Nam đục đẽo suốt hai đêm đấy. Ngày mai, đúng giờ Thìn, ta sẽ đích thân đem tấm biển này treo chễm chệ ngay trước hiên quán Nửa Lời!"

Tạ Vô Danh và Đỗ Thanh đồng thời cúi đầu nhìn xuống tấm biển gỗ đào dát nhũ vàng.

Trên nền gỗ sơn son thếp vàng chóe lóe, năm chữ lớn uốn lượn rồng bay phượng múa, nét chữ bay bướm đầy vẻ giang hồ huyễn hoặc đập ngay vào mắt:

**THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT PHÁ ÁN**

"Sao hả? Hoành tráng chưa? Đủ chấn động giang hồ chưa?" Bùi Bát Quái cười tít cả mắt, hai tay múa may lia lịa như phường hát chèo. "Bây giờ uy danh của bộ ba chúng ta khắp cái phủ Vọng Giang này thì ai mà không biết, trẻ con nghe tên cũng nín khóc! Chúng ta có gì nào? Có kiếm khách vô danh kiếm pháp xuất quỷ nhập thần chuyên trị đám đâm thuê chém mướn; có đệ nhất nữ kiểm thi Tĩnh Thi Phòng nhìn thấu xương tủy, khám nghiệm đâu ra đấy; lại có thêm đệ nhất tai vách mạch rừng Bùi Bát Quái ta đây nắm trọn mạng lưới thông tin tình báo khắp sông trên bến dưới! Cứ treo cái biển danh xưng Thiên Hạ Đệ Nhất này lên cửa, mở rộng cửa đón khách, mỗi vụ án hóc búa hay tranh chấp môn phái chỉ cần thu nhẹ nhàng dăm ba chục lượng bạc phí tư vấn sơ bộ, chẳng mấy chốc ba chúng ta mua đứt cả cái bến Nam này, xây tửu lầu chín tầng ngồi đếm tiền mỏi tay!"

Tạ Vô Danh nhìn dòng chữ lấp lánh nhũ vàng, chỉ khẽ nhướng một bên mày, lắc đầu ngán ngẩm rồi nâng chén trà lên nhấp một ngụm nhỏ, không thèm bình phẩm nửa lời.

Ngược lại, Đỗ Thanh lạnh lùng liếc nhìn tấm biển dát vàng từ trên xuống dưới. Gương mặt thanh tú của nàng không hề có lấy một tia hào hứng, mà chỉ tràn ngập sự chán ghét đối với thói khoa trương vô căn cứ. Nàng thản nhiên thò tay vào chiếc làn mây nhỏ bên cạnh, rút ra một cây bút lông cán trúc đã được chấm đẫm mực đỏ chu sa tươi rói—thứ mực chuyên dụng của Tĩnh Thi Phòng dùng để gạch bỏ những điểm sai phạm, ngụy tạo trong hồ sơ giang hồ và tử biên bản.

"Xoẹt! Xoẹt!"

Chỉ bằng hai nét bút lông cực kỳ dứt khoát, chuẩn xác và sắc lẹm hình chữ thập, nàng gạch bỏ thẳng cánh năm chữ "Thiên Hạ Đệ Nhất Phá Án" dát nhũ vàng lấp lánh của Bùi Bát Quái. Nét mực đỏ tươi rạch ngang qua lớp nhũ vàng, phá hủy hoàn toàn vẻ hào nhoáng giả tạo của tấm biển trong chớp mắt.

"Ái chà chà! Đỗ cô nương! Nàng làm cái gì thế hả?!" Bùi Bát Quái ôm ngực nhảy dựng lên, hét toáng lên như bị dẫm phải đuôi.

Mặc kệ tiếng la ó thảm thiết của gã chủ quán trà, Đỗ Thanh xoay ngược ngọn bút lông trong tay, chấm thêm một giọt mực chu sa đặc quánh, rồi tì cổ tay viết đè lên phần khoảng trống phía trên của tấm biển gỗ đào. Từng nét chữ của nàng thanh mảnh, cứng cáp, thẳng hàng thẳng lối và khô khốc như một bản trích lục hành chính:

**BẢNG GIÁ DỊCH VỤ** *Giám định dấu vết hiện trường, đối chiếu chứng từ sổ sách. (Tính theo canh giờ làm việc thực tế. Không bao gồm chi phí trà nước và tiền đi lại).*

Viết xong dòng chữ cuối cùng, nàng rút chiếc khăn tay nhỏ bằng lụa lau nhẹ đầu ngón tay dính chút bụi mực son, rồi ngẩng đầu lên nhìn Bùi Bát Quái bằng ánh mắt sắc như dao cạo:

"Thiên hạ đệ nhất cái gì chứ? Giang hồ này chết vì mấy cái danh xưng hão huyền 'đệ nhất', 'vô song' còn chưa đủ nhiều hay sao mà ngươi còn muốn dựng thêm một cái đài danh vọng nữa để chuốc vạ vào thân? Muốn làm ăn lâu dài, muốn người ta tin tưởng thì phải rành mạch, công khai giá cả, làm bao nhiêu việc hưởng bấy nhiêu thù lao theo đúng công sức bỏ ra. Trên đời này không có đệ nhất phá án, chỉ có người chịu khó lật từng trang sổ sách và kiểm tra từng vết thương mà thôi."

"Nàng... nàng... Đỗ cô nương ơi là Đỗ cô nương!" Bùi Bát Quái ôm đầu, hai mắt trợn trừng nhìn tấm biển nhũ vàng bị hai vệt mực đỏ rạch nát, giọng méo xẹo như sắp khóc ròng. "Tấm biển nhũ vàng tốn mất hai lượng bạc ròng tiền vốn của ta! Thợ người ta dát vàng lá mỏng dính thủ công ròng rã hai ngày trời đấy! Nàng quẹt hai đường mực son thế này thì còn ai dám nhìn vào mà xưng tụng chúng ta là anh hùng hào kiệt nữa cơ chứ! Trông có khác gì cái bảng thu tiền đò ở bến chợ không?!"

Tạ Vô Danh chậm rãi nâng chén trà mạn cúc nguội ngắt lên húp nốt một ngụm cuối cùng, đặt chén sành xuống bàn nghe một tiếng "cộc" giòn tan. Ánh mắt chàng nhìn lướt qua dòng chữ mực son khô khốc nhưng vững chãi của Đỗ Thanh, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười kín đáo. Chàng quay sang nhìn gã chủ quán đang ôm ngực đau đớn như vừa bị người ta rút ruột moi gan, cất giọng tỉnh bơ đầy vẻ châm chọc:

"Này Bùi Bát Quái, trong cái bảng giá tính theo canh giờ kia của nàng, đã tính gộp cả tiền mua rượu thuốc xoa bóp cổ tay cho ta mỗi ngày hay chưa đấy?"

Đỗ Thanh nghe vậy liền bật cười khúc khích, tiếng cười trong trẻo như tiếng chuông gió rung rinh dưới mái hiên. Nàng thu dọn bình rượu thuốc và y tịch cất lại vào giỏ mây, động tác nhẹ nhàng khoan thai. Trong khi đó, Bùi Bát Quái chỉ biết ôm đầu gục hẳn xuống mặt bàn trà bằng tre, hai tay đấm thùm thụp xuống mặt gỗ mà lẩm bẩm chửi rủa sự thực tế đến tàn nhẫn, lạnh lùng của hai kẻ đồng hành khô khan, chẳng có lấy một chút tâm hồn phiêu lãng giang hồ.

Nắng chiều tà rải những vệt vàng ấm áp cuối cùng của ngày tàn lên mặt bàn trà đạm bạc, chiếu rọi vào thanh kiếm sắt cùn nằm yên trong bao da cũ sờn và chiếc bình gốm đựng rượu thuốc tỏa hương thơm nồng. Gió từ ngã ba sông thổi thốc vào quán trà, mang theo hơi thở khoáng đạt, ngai ngái mùi phù sa của đất trời và nhịp sống lao động cần lao, bình dị của những con người bến nước.

Giang hồ hết cứu hay chưa chẳng ai dám chắc, nhưng từ nay muốn cứu ai, việc đầu tiên là phải ghi rõ tên người ấy vào sổ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories