Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.29 / 30
Chapter 29

Kiếm Đứng Ngoài Bàn Đối Chiếu

Tiếng trống đồng âm vang từ công đường dịch trạm Kinh lộ xé toạc màn sương sớm ngã ba sông, triệu tập toàn bộ quan lại, thân hào và kiếm khách Vọng Giang về bàn đối chất.

Hồi trống thứ nhất rền rĩ dội qua mặt nước đỏ ngầu phù sa, đập vào những vách đá xám của doi đất bồi rồi dội ngược lại những mạn thuyền buôn đang cắm sào san sát ngoài bến cảng. Hồi trống thứ hai giục giã, nặng nề, dằn từng tiếng khô khốc vào bầu không khí ẩm ướt rạng đông, đánh thức từng ngõ ngách sâu hút nơi xóm vạn chài và những dãy nhà kho sặc mùi cá khô, dầu rái. Đến hồi trống thứ ba, khi những dùi bọc da thú nện dồn dập xuống mặt đồng đúc nổi hình chim lạc, làn sương bạc bảng lảng bao phủ ngã ba sông lập tức tan tác, để lộ ra khoảng sân đá rộng thênh thang trước công đường dịch trạm Kinh lộ, nơi hàng trăm bóng người đã tề tựu tự bao giờ dưới ánh đuốc bập bùng hòa lẫn sắc trời xám lạnh.

Gió sông sớm thổi thốc qua các dãy cửa chớp bằng gỗ lim của sảnh dịch trạm, cuốn theo hơi ẩm ngai ngái của nước phù sa hòa lẫn mùi mực tàu và sáp niêm phong. Khác với vẻ lộng lẫy xa hoa của Danh Kiếm Lâu hay sự ngột ngạt ẩm mốc nơi Quầy Công Thưởng phủ nha, công đường lâm thời của đoàn thanh tra Kinh lộ bài trí tối giản đến lạnh lùng. Tại đây không có hoành phi câu đối thếp vàng ca ngợi công đức, không có trướng gấm vóc lụa che chắn gió sương, chỉ có một chiếc bàn gỗ sồi mộc mạc trải dạ xanh thẫm, các góc bàn đã mòn vẹt để lộ thớ gỗ già sẫm màu năm tháng. Trên mặt dạ phẳng phiu đặt nghiên mực đá đen nặng trịch như một khối quặng chưa mài, chiếc ống thẻ lệnh bằng đồng thau chạm rỗng hoa văn triều đình, và hai ngọn nến sáp trắng to bằng bắp tay thắp sáng trưng dù trời bên ngoài đã rạng vỡ ráng đông. Phía sau bàn, Khâm sai Thanh tra Kinh lộ Nguyễn Minh Luật ngồi ngay ngắn trong bộ phẩm phục xanh thẫm không thêu hoa văn lòe loẹt. Khuôn mặt vuông vức mang nét khắc khổ của người quanh năm lặn lội với án từ án tịch, hai gò má hóp sâu lộ rõ khung xương rắn rỏi, đôi mắt sáng và tĩnh lặng như đáy giếng cổ, không một tia dao động trước sự hiện diện của những nhân vật quyền thế nhất đất Vọng Giang.

Hai bên tả hữu, hai mươi cấm quân áo giáp đỏ cầm kích dài đứng thẳng tắp như rừng cây. Lưỡi kích thép sáng loáng phản chiếu ánh nến lập lòe, mũi kích chếch về phía trước nửa thước theo đúng quy thức cảnh giới tối cao của triều đình. Bên ngoài song cửa chớp mở toang, hàng trăm phu bến tàu Bến Hạ Thủy với đôi bàn tay chai sần chằng chịt vết cứa của dây chão, những thợ vá buồm áo quần xơ xác khét lẹt mùi nhựa gai, các tiêu sư Tam Lộ Tiêu Cục khoác áo giáp da bạc màu lấm tấm vết đao kiếm cũ, cùng đông đảo đệ tử các võ quán ngoại vi đứng chen chúc nghẹt cả khoang sân đá. Họ không ồn ào gào thét như những ngày trước, không còn những lời chửi rủa cay độc hay những tiếng hò reo kích động thường thấy bên ngoài sới lôi đài, mà im lặng dõi theo từng nhịp chuyển động trong sảnh. Hơi thở của hàng trăm con người dồn nén thành một khối căng thẳng vô hình, nặng trĩu tựa như mặt cung kéo căng hết tầm chỉ chờ một ngón tay buông lỏng.

Ba tiếng gõ gỗ vang lên đanh gọn từ tay quan Khâm sai. Chiếc kinh đường mộc bằng gỗ trắc gõ thẳng xuống mặt bàn dạ xanh, âm thanh không lớn nhưng dứt khoát chặt đứt mọi tiếng rì rầm mơ hồ ngoài bến bãi.

"Mở hòm hồ sơ," Nguyễn Minh Luật cất giọng, thanh âm trầm tĩnh nhưng rõ mồn một từng âm tiết, truyền qua khoảng sân tĩnh mịch lọt thẳng vào tai từng người nghe. "Vụ án mạng Trần Hữu Sổ và những sai phạm liên đới đến sổ sách công thưởng, thứ hạng võ giới tại phủ Vọng Giang, do đoàn thanh tra Kinh lộ thụ lý chiếu theo sắc chỉ triều đình. Mời người giao nộp chứng cứ bước lên."

Đỗ Thanh tiến lên đầu tiên. Chiếc áo vải thô màu xám tro của nữ kiểm thi vương chút bụi than sau đêm dài không ngủ bên ngọn đèn dầu lạc, vạt áo bên tả còn vệt nước ố khô cong của dung dịch dấm thanh tẩy uế, nhưng từng bước đi của nàng vững chãi và chuẩn xác như nhịp chày giã thuốc nơi viện y quán. Nàng không cúi đầu né tránh những ánh mắt soi mói từ phía dãy ghế của các thân hào, cũng không lộ vẻ e dè trước hàng kích nhọn hoắt của cấm quân triều đình. Theo sau nàng nửa bước, Bùi Bát Quái khệ nệ ôm chiếc rương sắt có khóa móc then cài, các khớp đồng bọc góc rương đã xước xát trơ màu kim khí xám xịt. Còn Tạ Vô Danh bước chậm rãi phía sau cùng. Cánh tay phải của kiếm khách áo xám bị gãy xương trụ đã được bó chặt bằng nẹp gỗ sồi cứng và băng vải gai dán sát mạn sườn, những dải vải quấn nhiều lớp phẳng phiu giấu đi vết máu thấm từ bên trong; tay trái chàng buông hờ bên hông, ngón tay thon dài thỉnh thoảng khẽ co lại theo phản xạ của kẻ quen cầm chuôi kiếm, ánh mắt quét một vòng qua các dãy ghế trước khi dừng lại ở chiếc bàn phủ dạ xanh của vị quan Khâm sai.

"Bẩm Khâm sai đại thần," Đỗ Thanh cất tiếng, giọng nàng khô khốc, rành rọt, không lẫn một chút run rẩy hay cảm xúc thừa thãi. Đó là chất giọng đều đặn của một người chỉ quen nói chuyện với những vết thương và các thớ cơ đã lạnh ngắt. "Tĩnh Thi Phòng phủ Vọng Giang xin đệ trình toàn bộ hồ sơ giám định pháp y, chuỗi bảo quản tang vật và các chứng từ độc lập liên quan đến cái chết của nạn nhân Trần Hữu Sổ."

Nàng đặt lên bàn ba ống đồng niêm phong sáp đỏ có đóng dấu chìm của Tĩnh Thi Phòng, kèm theo hai tập hồ sơ buộc dây dù gai đã ngả màu vàng ố vì sương đêm:

"Đây là biên bản khám nghiệm lại toàn diện tử thi Trần Hữu Sổ, có sự chứng thực đối chiếu độc lập; biên bản tự thú sai phạm chuyên môn của cựu kiểm thi Đỗ Kính và đương nhiệm Đỗ Thanh trong vụ án Lý Đại Hữu ba năm trước; và bản phục dựng cơ chế gây thương tích tại hiện trường bờ lạch kho số tư."

Bùi Bát Quái nhanh nhẹn đặt chiếc rương sắt lên bàn, mở nắp kêu một tiếng *cạch* dứt khoát. Hơi lạnh kim khí phả ra nhẹ trong chốc lát. Bên trong rương, từng món tang vật được sắp đặt ngăn nắp theo từng ngăn lót vải thô: cuốn sổ phụ bọc da cừu đen của Hiệu bạc Đồng Tín với những mép giấy gấp góc nham nhở; tập bản thảo gốc bị Liễu Tố Văn gạch xóa bút son đỏ lòm như những vết cào rách da thịt; tấm thẻ bài đồng đỏ mã số L-K-09 đã mòn bóng một cạnh vì cọ xát trong bao tải; hai mươi bốn tờ biên nhận chi thù lao ngoài sổ sách thu từ Kỷ Song; và tờ hướng dẫn thanh toán bằng giấy hoa tiên có thủ bút của Lục Trọng Tín do Hà Công Bút nộp lại từ đế giày, mép giấy còn dính chút bùn khô nơi đáy ngục.

"Toàn bộ tài liệu đều có chữ ký giao nhận theo giờ, mộc triện kiểm toán chéo và chữ ký của người liên quan," Đỗ Thanh nói tiếp, ngón tay trỏ đặt ngay ngắn lên nẹp gỗ của chiếc rương. "Không một mắt xích nào bị gián đoạn hay thiếu chứng thực vật lý."

Nguyễn Minh Luật không vội mở tài liệu. Ông liếc mắt nhìn vết nẹp trên tay Tạ Vô Danh, nhìn vầng trán lấm tấm mồ hôi của Bùi Bát Quái, rồi đưa tay lật nhẹ tờ biên bản đầu tiên. Ánh mắt ông lướt qua các dòng chữ mực đen, nét mặt không một gợn sóng, chỉ có vầng trán hơi nhíu lại khi đầu ngón tay chạm vào vết son đỏ niêm phong:

"Một vụ án mạng mở đầu bằng một biên nhận lĩnh thưởng ba mươi lượng bạc, lại kéo theo ba hòm thư từ, sổ sách và gần trăm con người đứng ngoài sân. Các ngươi hãy trình bày rõ ràng: rốt cuộc ở Vọng Giang này, người ta đã dùng bao nhiêu lớp dối trá để phủ lên một cái xác?"

Đỗ Thanh bước lên nửa bước, ngón tay nàng chỉ thẳng vào phiến mica và mẫu thực nghiệm hóa học đựng trong ống thủy tinh nhỏ đặt cạnh ống đồng:

"Bẩm đại nhân, đây là cú lừa thứ nhất: thủ đoạn giả mạo công thưởng của Thư lại Hà Công Bút và sát thủ Kỷ Song. Đêm ngày mười ba, nạn nhân Trần Hữu Sổ bị bóp cổ đến gãy sụn nhẫn khí quản tại bờ lạch gần kho số tư vì không chịu giao nộp sổ tay chép các khoản chi khống. Vết bầm trên cổ nạn nhân là dạng bầm đối xứng do ngón tay cái và bốn ngón tay khép chặt ghì xiết từ phía trước, gây ngạt thở cấp tính và xuất huyết thanh quản. Để xóa dấu vết, thi thể nạn nhân không bị vứt xuống sông ngay mà được đưa vào khoang ngầm số mười bảy tại kho lạnh Bến Hạ Thủy, vùi trong muối diêm tuyết phiến suốt sáu canh giờ nhằm ngưng trệ phân hủy và tạo hiện tượng co cứng tử thi nhân tạo."

Nàng lật mở tờ biên nhận hoa tiên cũ kỹ có chữ ký của Trần Hữu Sổ, đặt cạnh một bản sao chụp bằng than chì:

"Vào giờ Thân một khắc ngày mười bốn, Hà Công Bút dùng mộc triện có chấm tròn góc dưới—vốn là triện ca sáng đã cất tráp từ giờ Ngọ—để đóng khống sẵn lên giấy trắng. Sát thủ Kỷ Song dùng da heo luộc cán mỏng, phấn sáp Thải Vân Lâu và khung nẹp cật tre độn vai để cải trang thành người mang áo tơi, mạo danh Trần Hữu Sổ bước vào Quầy Công Thưởng lĩnh ba mươi lượng bạc khống trước mặt người chi tiền Mã Hữu Lộc. Ngay sau khi kịch bản hoàn tất, thi thể mới được thả trôi về cọc neo số ba mươi hai để kiếm khách Tạ Vô Danh vớt được. Một người đã chết sáu canh giờ trước bỗng nhiên 'sống lại' để tự ký nhận bạc, vừa giúp Hà Công Bút quyết toán lệnh truy nã Đinh-Bính 104 đã bị rút ruột ngân khố nhiều lần, vừa biến người giao xác vô tội thành kẻ giết người cướp công."

Bùi Bát Quái lập tức tiếp lời. Gã rút tấm thẻ đồng đỏ và cuốn sổ phụ da cừu giơ cao giữa sảnh đường, chất giọng sắc lẹm quen thuộc của phường buôn tin vang lên không chút e dè, từng từ ngữ tuôn ra đều mang sức nặng của những con số khô khan nhưng đẫm mùi toan tính:

"Và đó chỉ là cái đuôi chuột thò ra từ chiếc bẫy lớn hơn, thưa quan Khâm sai! Đây là cú lừa thứ hai: thị trường mua bán danh tiếng của Danh Kiếm Hội và Hiệu bạc Đồng Tín. Không có cao thủ nào bất bại mười năm mà không cần ăn cơm, cũng chẳng có trận chiến sinh tử nào tình cờ rơi trúng ngày hội chợ. Danh Kiếm Hội nắm độc quyền phán xét thứ hạng, tự ý đặt ra 'phí bảo chứng tài chính' để gạt bỏ các võ sư chân chính như Bàng Chấn, trong khi bơm điểm cho những kẻ chịu nộp bạc như Kim Đao Môn."

Bùi Bát Quái vỗ mạnh lên cuốn sổ da cừu, tiếng bìa da đập vào lòng bàn tay nghe chan chát:

"Tài khoản ký thác 'Bảo Chứng Giáp Tam' tại Hiệu bạc Đồng Tín do Tống Kim Chương quản lý chính là cái dạ dày nuốt bạc của toàn bộ đường dây. Tiền công thưởng biển thủ từ Quầy Công Thưởng được nạp vào đây, sau đó giải ngân ra ba nhánh: bốn mươi lượng mua cáp tơ tằm bện muội than và đục then vát góc của Xưởng Rối Mộc Ảnh để Vệ Thiên Kiêu đóng kịch phi thân trên Đài Bách Thắng; năm mươi lượng mua chuộc đối thủ giả thua; và mỗi tháng đều đặn chi thù lao cho mã L-K-09 tức văn sĩ Liễu Tố Văn để viết bài phông bạt, thao túng tâm lý thị dân và cắt xén sự thật trên báo giới. Đổi lại, Đồng Tín dùng thứ hạng trên Bảng Danh Kiếm làm tài sản thế chấp, cài cắm điều khoản phạt trễ hạn nhân ba lãi suất nếu võ sĩ tụt hạng. Cả giới võ lâm lẫn các đoàn bảo tiêu Vọng Giang bị siết chặt trong một chiếc lồng nợ nần, buộc phải diễn trò để giữ chén cơm!"

Không khí trong sảnh đường đặc quánh lại. Mùi ẩm ướt của vách gỗ hòa cùng hơi thở nghẹn ngào từ bên ngoài song cửa tạo nên một áp lực đè nặng lồng ngực. Những người đứng ngoài sân bắt đầu thở dồn dập, nhiều cánh tay gân guốc siết chặt lấy rào chắn bằng gỗ sồi kêu răng rắc. Họ nhận ra những cái tên, những con số, và cả những thảm kịch mà bấy lâu nay họ ngỡ chỉ là sự xui rủi của số phận hay tài nghệ kém cỏi của bản thân trên lôi đài.

Tạ Vô Danh lúc này mới chậm rãi bước lên bên cạnh Đỗ Thanh. Chàng không mở công văn, cũng chẳng nhìn vào đống tang vật trên bàn, chỉ hướng thẳng ánh mắt phẳng lặng về phía Nguyễn Minh Luật. Giọng nói của chàng bình thản đến lạnh lùng, mang theo cái giá buốt của những đêm dài canh xác bên mép nước:

"Còn cú lừa thứ ba, thưa đại nhân, là mưu đồ dùng chiêu bài 'cứu trợ dân sinh' để mua chuộc sự im lặng. Khi toàn bộ đường dây đứng trước nguy cơ sụp đổ, Đại chấp sự Lục Trọng Tín đã đưa ra một bản khế ước lụa dát vàng trị giá một ngàn lượng bạc mỗi năm, trao danh hiệu Đệ Nhất Kiếm Ngoại Thành và giao quyền quản lý Quỹ Cứu Trợ hai vạn lượng bạc cho thảo dân. Điều kiện duy nhất: thảo dân phải ký giấy xác nhận Trần Hữu Sổ chết đuối do say rượu và nộp lại toàn bộ chứng từ gian lận."

Tạ Vô Danh khẽ cười nhạt, một nụ cười không vương chút ấm áp, khóe môi nhếch lên để lộ vẻ khinh miệt sâu cay:

"Hắn bảo rằng mười vạn dân Vọng Giang đang sống nhờ vào sự ổn định của Bảng Danh Kiếm, rằng phơi bày sự thật sẽ làm đổ vỡ mười tám vạn lượng bạc dư nợ tín dụng, đẩy hàng trăm gia đình vào cảnh chết đói. Hắn lấy sinh kế của người nghèo làm con tin, tự biến mình thành đấng cứu thế, nhưng thực chất các điều khoản cứu trợ đều phải thông qua bút tích của hắn, và khoản tiền bồi thường vi phạm bảo mật lên tới một vạn lượng bạc cùng án lưu đày ba ngàn dặm. Hắn muốn dùng tiền máu của công quỹ để biến kiếm khách ngoài thành thành một con chó giữ cổng cho sự giả trá."

"Lời lẽ sắc bén lắm, Tạ kiếm khách."

Một giọng nói trầm ấm, ung dung vang lên từ phía cửa nách sảnh dịch trạm.

Tiếng guốc gỗ bọc da chạm nhẹ trên sàn gạch hoa cương, từng nhịp thong thả, đĩnh đạc như thể chủ nhân của nó đang dạo gót trong hoa viên phủ đệ chứ không phải bước vào một công đường sặc mùi tử khí. Lục Trọng Tín sải bước bước vào. Hắn mặc trường bào màu lam thêu chỉ bạc lộng lẫy hình mây trôi nước chảy, dải thắt lưng da bò nạm ngọc bích ôm lấy thân hình cao ráo, đầu đội mũ quan bằng sa tanh đen cài trâm ngọc trắng muốt. Phong thái ung dung đĩnh đạc tựa như một bậc túc nho vừa hoàn tất buổi thưởng trà ngắm hoa, ánh mắt sáng lấp lánh nụ cười tự tin cố hữu. Theo sau hắn là hai tùy tùng áo trắng bưng chiếc tráp gỗ hương sơn son thếp vàng, bước đi nhịp nhàng không một tiếng động. Lục Trọng Tín không hề liếc nhìn đám phu phen nhếch nhác ngoài cửa, cũng chẳng thèm để tâm đến ánh mắt sắc như dao cạo của Tạ Vô Danh hay Đỗ Thanh. Hắn hướng thẳng lên bàn Khâm sai, chắp tay áo rộng hành lễ theo đúng mực thước của chốn cung đình:

"Lục mỗ bái kiến Khâm sai đại thần. Nghe giang hồ đồn thổi có kẻ làm loạn bến sông, mượn cớ thanh tra công thưởng để bôi nhọ thanh danh trăm năm của Danh Kiếm Hội, Lục mỗ không thể không đích thân đến đây để làm sáng tỏ lẽ đời."

Nguyễn Minh Luật đặt nhẹ bút lông xuống giá ngọc, không bảo hắn đứng dậy cũng chẳng mời ngồi: "Lục chấp sự đến đúng lúc lắm. Ngươi có điều gì muốn biện giải về những chứng cứ vừa được đệ trình?"

Lục Trọng Tín đứng thẳng người dậy, hai tay chắp sau lưng, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười điềm đạm đầy tự tin. Hắn quay nửa người về phía đám đông đang nín thở ngoài sân, cất giọng sang sảng như chuông đồng gióng giữa trưa hè:

"Đại nhân phụng mệnh triều đình tuần xét kinh lộ, ắt hiểu rõ đạo trị quốc lấy an dân làm gốc. Vọng Giang là ngã ba sông, nơi giao thương bốn phương hội tụ, thuyền bè vào ra nườm nượp mỗi ngày. Giang hồ kiếm khách tụ hội về đây vốn tính hung tàn, võ phái tranh giành lãnh địa đổ máu từng ngày. Mười năm trước, khi chưa có Bảng Danh Kiếm, bến sông này mỗi tháng vớt lên không dưới ba mươi xác chết vô danh vì ân oán lôi đài! Những gia đình mất cha, những người vợ mất chồng, xác người trôi dạt vướng vào chân cọc neo rữa nát không ai chôn cất. Ai là người đã lập ra trật tự? Ai đã biến những cuộc chém giết mù quáng nơi đầu đường xó chợ thành những trận đấu có luật lệ, có kiểm soát, có vé vào cửa và tạo ra công ăn việc làm cho hàng ngàn thợ mộc đóng đài, phu phen dựng rạp, chủ quán trọ đón khách và phu bến tàu bốc dỡ binh khí?"

Hắn vung nhẹ tay áo thụng, khí độ hiên ngang như một bậc công thần đang chịu hàm oan trước những kẻ thiển cận:

"Danh Kiếm Hội và Hiệu bạc Đồng Tín liên kết không phải để lừa gạt, mà là để xây dựng nền tảng tín dụng cho toàn thành. Bảng hạng là thước đo uy tín để các đoàn bảo tiêu nhận thầu hàng vạn chuyến hàng an toàn xuôi nam ngược bắc. Thương nhân phương xa tới đây nhìn vào thứ hạng mà giao bạc, giao gấm vóc, gạo muối! Mười tám vạn lượng dư nợ kia là máu thịt nuôi sống sáu mươi võ quán và bốn mươi tiêu cục! Nếu không có sự điều tiết của chúng ta, nếu để cho đám kiếm khách vô danh thích đâm chém tùy tiện phá nát tôn ti trật tự, thì nền thương mại này sẽ sụp đổ trong nháy mắt. Lục mỗ kiểm soát bảng đấu, dàn xếp chút hư danh vô hại nơi sàn diễn, chung quy cũng chỉ để duy trì đại cục, cứu vãn chén cơm cho vạn hộ dân sinh. Tội ấy nếu có, cũng là cái tội gánh vác việc đời thay cho một phủ nha bất lực!"

Bên ngoài sân, một vài chủ hiệu buôn và võ sư ngoại vi khẽ xao động. Lời lẽ của Lục Trọng Tín nghe hùng hồn, kín kẽ và đầy vẻ chính nghĩa—thứ chính nghĩa phông bạt quen thuộc mà suốt mười năm qua hắn đã dùng để ru ngủ cả một đô thị sầm uất. Hắn nói như thể tội ác của mình là một sự hy sinh cao cả, một gánh nặng nhục nhằn mà chỉ bậc đại trí đại dũng mới dám gánh vác trên vai. Một số tiêu sư lớn tuổi bắt đầu nhìn nhau, vẻ hoang mang hiện rõ trên những khuôn mặt dạn dày gió sương; họ sợ sự xáo trộn, sợ những chuyến tiêu cục mất hợp đồng, sợ ngày mai thức dậy không còn ai thuê mướn gươm đao.

"Ngươi nói rất hay," Nguyễn Minh Luật chậm rãi lên tiếng. Giọng quan Khâm sai không hề có chút phẫn nộ, chỉ phẳng lặng như mặt gương soi tỏ mọi ngóc ngách dơ bẩn, từng lời thốt ra đều mang sức nặng lạnh băng của công lý. "Ngươi bảo rằng ngươi dàn xếp lôi đài để cứu vãn sinh kế toàn thành. Ngươi bảo rằng những khoản tiền ma là để bảo vệ trật tự xã hội. Ngươi tự khoác cho mình tấm áo choàng của một kẻ xả thân vì đại cục."

Nguyễn Minh Luật vươn tay, mở chiếc hộp sơn đen đặt bên góc bàn. Nắp hộp mở ra không một tiếng cót két. Từ bên trong, ông rút ra hai mảnh giấy hoa tiên phẳng phiu, mặt giấy ố vàng một góc bởi mồ hôi và bùn đất ngục tối:

"Vậy thì Lục chấp sự, ngươi hãy giải thích cho bản quan nghe: việc phái Kỷ Song dùng Đoạn Hồn Tán bóp cổ một người chép sổ thuê nghèo khó như Trần Hữu Sổ ở bờ lạch kho số tư, rồi ngâm xác vào khoang muối diêm số mười bảy để ngụy tạo giờ chết, cũng là vì 'chén cơm của vạn hộ dân sinh' sao?"

Nụ cười trên môi Lục Trọng Tín thoáng khựng lại. Một vệt cứng đờ chạy ngang khóe mắt hắn, nhưng cơ mặt kẻ lão luyện giang hồ vẫn cố giữ vẻ điềm nhiên:

"Khẩu cung của một tên đào phạm liều mạng như Kỷ Song làm sao có thể xem là bằng chứng đáng tin trước công đường? Hắn cùng đường cắn bậy để mong thoát tội chết, đại nhân há lại..."

"Đây không phải khẩu cung miệng," Nguyễn Minh Luật ngắt lời, thanh âm đanh thép cắt ngang lời biện bạch. Ngón tay trỏ của vị Khâm sai điểm thẳng vào tờ giấy hoa tiên thứ nhất: "Đây là tờ hướng dẫn thanh toán thu từ đế giày của Thư lại Hà Công Bút. Nét chữ sắc mảnh, dùng loại mực thông kinh kỳ pha bột ngọc trai độc môn của Danh Kiếm Lâu, mang dấu ấn triện ngọn lửa vàng của riêng Đại chấp sự Lục Trọng Tín. Trong đó ngươi chỉ đạo chi tiết: dùng mộc ca sáng đóng khống, cho Cảnh Lâm tức Kỷ Song giả dạng nạn nhân lĩnh ba mươi lượng bạc, trích mười lượng bạc lót tay để bịt miệng kiếm khách giao xác nếu có biến."

Nguyễn Minh Luật tiếp tục nhấc mảnh giấy thứ hai lên, giơ cao trước toàn thể công đường để ánh nắng sớm chiếu thấu qua lớp giấy hoa tiên mỏng mảnh:

"Và đây, lệnh cấp ngựa trạm chạy đêm mang mã hiệu Giáp-Hỏa-01 do chính tay ngươi ký và đóng dấu Chấp sự vào giờ Tý đêm qua. Ngươi không hề có ý định cho Kỷ Song trốn thoát. Ngươi đã bí mật gửi trát cho trạm dịch cửa ải phía tây, lệnh cho lính thú phục kích bắn chết kẻ mang lệnh bài này ngay khi vừa xuất trình, với lý do 'tiêu diệt tàn dư phản loạn'. Ngươi muốn dùng tính mạng của kẻ đồng mưu để vĩnh viễn khóa chặt miệng lưỡi của sự thật."

Một tiếng sấm vô hình dường như vừa giáng xuống sảnh đường.

Gió sông thốc mạnh qua cửa chớp làm hai ngọn nến sáp trắng chao đảo dữ dội, tạt những giọt sáp nóng rẫy xuống mặt dạ xanh. Toàn thân Lục Trọng Tín run rẩy bần bật. Phong thái ngạo nghễ, đĩnh đạc của kẻ nắm giữ sinh mệnh giang hồ bỗng chốc tan biến như sương gặp nắng gắt. Đôi mắt hắn mở trừng trừng nhìn vào hai mảnh giấy mang dấu ấn ngọn lửa vàng—thứ vật chứng chết người mà hắn ngỡ đã nằm sâu dưới đáy sông hoặc tan thành tro bụi trong đêm tối. Đôi môi hắn mấp máy, tái nhợt không còn một giọt máu, hai bàn tay giấu trong tay áo thụng siết chặt đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay rách da ứa máu tươi.

Hắn muốn nói, muốn thốt lên những lời hùng biện về đại cuộc, về quyền lực, về mạng lưới quan hệ chằng chịt tận kinh kỳ, nhưng cổ họng hắn như bị nghẹn lại bởi một nắm bùn lầy. Phản diện có lý đến mấy, khi đứng trước tờ giấy trắng mực đen ghi rõ lệnh giết người diệt khẩu, cũng chỉ còn là một tên tội phạm đê hèn không hơn không kém. Cái mặt nạ "vì dân vì nước" bị lột trần thô bạo, để lộ bộ mặt thật của một kẻ tham tàn, sẵn sàng dẫm đạp lên mạng sống của những kẻ tận đáy xã hội để bảo vệ ngai vàng bằng giấy của mình.

"Lục Trọng Tín," Nguyễn Minh Luật lạnh lùng gõ thẻ lệnh xuống bàn, tiếng gõ vang vọng khô khốc như tiếng búa gõ đinh vào ván áo quan. "Ngươi còn điều gì muốn nói về trật tự và dân sinh nữa không?"

Sự im lặng bao trùm lấy sảnh dịch trạm. Lục Trọng Tín đứng chết trân giữa đất, hai đầu gối khẽ run lên bần bật, đôi môi run rẩy phát ra những âm thanh vô nghĩa nhưng không thể thốt ra nổi một nửa lời thanh minh gãy gọn.

Ngay lúc đó, một bóng người lảo đảo bước ra từ hàng ghế quan lại địa phương phía cánh tả. Tri phủ Vọng Giang Phạm Duy Liêm, mồ hôi ướt đẫm cả vạt áo lụa xanh, sắc mặt xám ngoét như tro tàn, run rẩy quỳ rạp xuống trước bàn công đường. Chiếc mũ cánh chuồn trên đầu ông ta lệch sang một bên, hai tay dâng cao một tập công văn dày buộc dải lụa trắng:

"Hạ quan... hạ quan Tri phủ Phạm Duy Liêm, cúi đầu nhận tội trước Khâm sai đại thần! Hạ quan vì sợ kinh động thị trường, sợ vỡ nợ dây chuyền làm mất trị an địa phương mà đã dung túng cho Quầy Công Thưởng tắc trách, chậm trễ điều tra và để cho Hà Công Bút cùng Danh Kiếm Hội lộng hành lừa dối công quỹ suốt thời gian qua. Hạ quan xin nộp đơn tự nhận thiếu sót giám sát, cam chịu mọi hình phạt bãi chức, giáng cấp theo luật định của triều đình!"

Nguyễn Minh Luật liếc nhìn lá đơn của Phạm Duy Liêm, khẽ thở dài một tiếng khô khốc, ánh mắt đầy vẻ thất vọng đối với vị quan phụ mẫu địa phương:

"Phạm tri phủ, việc ngươi nhầm lẫn giữa sự ổn định xã hội với việc bao che cho tội ác, triều đình sẽ có nghị định phân xử rõ ràng trong đợt khảo khóa cuối năm. Ngươi giữ chức quan phụ mẫu một phương mà để một thương hội tư nhân lộng hành biến tính mạng con người thành món hàng mặc cả, tội ấy không thể dung thứ. Nhưng việc ngươi chủ động giao nộp sổ sách kho bạc và mật thất hậu đường đêm qua được ghi nhận để giảm nhẹ phần nào khi định tội."

Dứt lời, ánh mắt Khâm sai Kinh lộ đanh lại như lưỡi đao thép vừa tôi qua nước lạnh, hướng thẳng về phía Lục Trọng Tín đang đứng chôn chân:

"Cấm quân nghe lệnh!"

"Có!" Hai mươi người lính áo giáp đỏ đồng thanh thét lớn, tiếng kích va vào sàn đá vang lên rợn người, làm rung chuyển cả những chấn song gỗ lim.

"Lục Trọng Tín, chấp sự Danh Kiếm Hội, can tội chủ mưu sát hại Trần Hữu Sổ, ngụy tạo hồ sơ công thưởng rút ruột ngân khố triều đình, tổ chức gian lận có hệ thống và ra lệnh diệt khẩu đồng phạm. Lập tức tước bỏ toàn bộ môn bài, thẻ chức chấp sự, áp giải vào đại lao biệt giam chờ ngày xét xử chung thẩm!"

Hai cấm quân bước xốc tới như hổ vồ mồi. Một người vung tay chộp lấy chiếc mũ sa tanh cài trâm ngọc trên đầu Lục Trọng Tín giật phăng xuống, làm mái tóc hoa râm của hắn bung xõa rũ rượi như một kẻ điên loạn. Người kia túm lấy dải thắt lưng nạm ngọc bích giật mạnh, bẻ gãy khóa cài bằng bạc phát ra tiếng rắc giòn giã. Chiếc thẻ bài Chấp sự Danh Kiếm Hội bằng ngọc bích chạm hình đoản kiếm—biểu tượng tối thượng của quyền lực thao túng võ lâm Vọng Giang suốt mười năm qua—bị giật đứt khỏi vạt áo, bay qua không trung rồi rơi tuột xuống bàn công đường trước mặt Nguyễn Minh Luật.

Lục Trọng Tín không hề kháng cự. Đôi mắt hắn đờ đẫn nhìn chằm chằm vào mặt bàn dạ xanh. Cả người hắn mềm nhũn ra như một bao cát rách, bị hai người lính cấm quân lực lưỡng lôi xềnh xệch ra phía cửa sau sảnh đường trong sự im lặng tuyệt đối của đám đông ngoài sân. Tiếng gót giày hắn lê trên sàn đá mài mòn rột rẹt, yếu ớt và thảm hại, đối lập hoàn toàn với dáng vẻ ngạo nghễ khi bước vào.

Nguyễn Minh Luật đứng dậy khỏi ghế. Ông cầm lấy thanh thẻ lệnh bằng đồng thau nặng trịch, cất giọng dõng dạc tuyên bố trước toàn thể quan lại, thân hào và hàng trăm thường dân Vọng Giang:

"Chiếu theo quyền hạn Khâm sai Kinh lộ, bản quan hạ lệnh thi hành ngay tại chỗ: Thứ nhất, bãi bỏ hoàn toàn quyền xác minh độc quyền chiến tích và thứ hạng của Danh Kiếm Hội tại phủ Vọng Giang. Từ nay, mọi tranh chấp, lôi đài hay bảng biểu giang hồ không có giá trị pháp lý trước công quyền, nghiêm cấm dùng danh hiệu võ giới để can thiệp vào các hoạt động thương mại và tư pháp!"

Một làn sóng xôn xao bắt đầu dâng lên từ ngoài sân như tiếng triều dâng.

"Thứ hai, niêm phong toàn bộ tài khoản 'Bảo Chứng Giáp Tam' tại Hiệu bạc Đồng Tín để bảo toàn thanh khoản cho người gửi tiền nhỏ lẻ. Đình chỉ thi hành toàn bộ các khoản nợ tín dụng gắn với điều khoản thứ hạng do Tống Kim Chương ký phát. Các hợp đồng bảo tiêu, vận tải bến sông tạm thời chuyển giao cho liên minh võ quán tự do dưới sự bảo lãnh thực nghề của Hoàng Tự Lập và Vệ Thiên Kiêu để bảo đảm lưu thông hàng hóa, tuyệt đối không để thợ thuyền, phu phen mất kế sinh nhai!"

"Vạn tuế! Khâm sai đại minh!"

Một tiếng reo hò bất ngờ bật ra từ miệng một phu khuân vác Bến Hạ Thủy, người đàn ông gầy gò với manh áo rách vai run rẩy giơ cao đôi bàn tay cáu bẩn. Tiếng reo ấy như một đốm lửa bén vào bùi nhùi khô, nhanh chóng lan rộng thành một đám cháy hoan hỉ ngút trời. Tiếng thở phào nhẹ nhõm lan khắp đám đông phu bến tàu, thợ vá buồm, những tiêu sư vừa thoát khỏi cảnh bị siết nợ và những võ sư nghèo đang đứng nghẹt ngoài sân dịch trạm. Những giọt nước mắt lăn dài trên những gò má rám nắng chai sần. Chiếc thòng lọng nợ nần và những trò diễn xiếc lừa mị treo lơ lửng trên đầu họ suốt bao năm qua cuối cùng đã bị chặt đứt bằng một nhát búa công lý chuẩn xác. Người ta ôm chầm lấy nhau, những người xa lạ bỗng siết chặt tay nhau trong niềm giải thoát muộn màng nhưng trọn vẹn.

Giữa sự hân hoan rúng động của đám đông, Đỗ Thanh khẽ cúi đầu chào quan Khâm sai rồi lùi lại một bước dài. Nàng quay sang nhìn Tạ Vô Danh, khóe mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi sau những đêm thức trắng mổ xẻ tử thi và truy tìm hóa chất, nhưng nơi khóe môi nàng khẽ mỉm một nụ cười hiếm hoi—một nụ cười nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được gánh nặng đè nặng trên ngực suốt ba năm ròng kể từ vụ án oan của Lý Đại Hữu.

Nguyễn Minh Luật nhìn ba người họ, ánh mắt nghiêm nghị của vị quan thanh tra thoáng dịu lại. Ông bước chậm rãi xuống khỏi bàn công đường, dừng lại trước mặt Tạ Vô Danh:

"Tạ kiếm khách."

"Có thảo dân," Tạ Vô Danh chắp tay trái ngang ngực, lưng vẫn thẳng tắp như thân trúc mọc bên bờ vực đá.

"Vụ án mạng đã sáng tỏ, danh dự của Trần Hữu Sổ đã được phục hồi, và phần ngươi... món tiền công giao nộp xác ba mươi lượng bạc hợp lệ theo quy chế dân sự của nha môn, sau khi hoàn tất thủ tục kiểm toán kho bạc vào trưa mai, Quầy Công Thưởng mới sẽ giải ngân chi trả đầy đủ cho ngươi. Không thiếu một đồng tiền kẽm, và không cần bất kỳ chữ ký giả mạo nào nữa."

Tạ Vô Danh ngẩn người ra một thoáng. Chàng nhìn bàn tay trái của mình, rồi nhìn sang gương mặt điềm tĩnh của vị Khâm sai. Khóe môi chàng khẽ nhếch lên thành một nụ cười tỉnh bơ quen thuộc, nụ cười của một kẻ đã quá quen với gió sương và những bữa cơm đạm bạc nơi bến nước:

"Thảo dân đa tạ quan Khâm sai. Đúng hẹn là được, chứ tiền thuê căn miếu dột ngoài thành của bà lão mù... cũng sắp đến hạn rồi."

Bùi Bát Quái đứng bên cạnh bật cười khì khì, đưa tay áo quệt vội mồ hôi trán, miệng lẩm bẩm tính toán tiền trà nước và bữa bánh bao nóng những ngày qua trong sự vui sướng tột cùng.

Trên chiếc bàn gỗ sồi phủ dạ xanh mộc mạc, nắng sớm rọi qua song cửa, chiếu rọi vào chiếc bàn đối chất nơi sự thật đã được phơi bày trọn vẹn từng con chữ.

Chiếc thẻ bài Chấp sự bằng ngọc bích nằm trơ trọi trên mặt dạ xanh thẫm, lạnh ngắt và câm lặng. Nó rơi xuống bàn công đường, không phát ra tiếng thét của kiếm, chỉ có tiếng thở dài của sự giả trá lụi tàn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories