Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.15 / 30
Chapter 15

Bản Nháp Không Biết Giữ Thể Diện

Ngọn đèn bấc đôi đặt trên giá đồng ba chân giữa Tĩnh Thi Phòng khẽ chao đi trong một luồng gió luồn qua khe ngói máng, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, soi rõ từng đường gân guốc cùng những đốm đồi mồi sẫm màu trên đôi bàn tay run rẩy của cựu kiểm thi Đỗ Kính khi mấy đầu ngón tay khẳng khiu của ông vừa chạm vào mép tập hồ sơ cũ đã ố vàng.

Không khí bên trong căn phòng đá này bao năm qua dường như chưa từng lay chuyển hay đổi khác. Đó là một thứ mùi vị quánh đặc, bám riết lấy từng thớ gỗ phản, ngấm sâu vào từng mạch vôi vữa giữa những phiến đá xanh chẻ thô. Mùi giấm thanh nấu trong nồi đất đun liu riu để xông tẩy uế khí, mùi mỡ lợn phi với bột lưu huỳnh vàng rực dùng bôi trơn và khử độc da tay, quyện chặt cùng mùi vôi bột rấm từng lớp dày dưới chân bốn góc sập mổ xác để hút nước vàng và ngăn lũ bọ nước sông bò lên. Tất cả tạo nên một thứ phong vị đặc thù, lạnh lẽo, chua chát của cái nghề suốt đời cúi mặt trên thân thể người chết. Nhưng đêm nay, thứ bốc lên nhức nhối và nặng nề nhất giữa bốn bức tường giam kín hơi lạnh lại không phải là uế khí tử thi, mà là mùi ẩm mốc, hăng hắc của những trang giấy lưu trữ bị nhốt quá lâu dưới đáy hòm khóa kín, nơi bóng tối và sự im lặng đã gặm nhấm lương tri qua từng mùa nước lũ.

Đỗ Thanh đặt mạnh tập tài liệu mà nàng vừa mang về lên mặt bàn đá xám. Mặt đá dày thô phát ra một tiếng "cộp" nặng trịch, dội ngược vào vách đá như một tiếng búa dằn khan. Đó là tập sổ chép tay đối chiếu từng chuyến hàng, từng khoản chi thu mà Trần Ngọc Nương đã trao lại từ xưởng vá buồm bên Bến Than, kẹp chung với những biên lai nhận tiền thưởng khống, những mảnh giấy biên nhận bị xé góc mà nàng thu thập được từ đống tro tàn và góc tủ bí mật tại Xưởng Rối Mộc Ảnh. Từng trang giấy mỏng tang ken dày những con số tính toán chi li, những mật hiệu truy nã bến bãi, những khoản trích nộp phí bảo trợ cho tuần đinh sông, và danh sách dài dằng dặc những cái xác trôi dạt vô danh được vớt lên từ bãi sậy ven sông Vọng Giang suốt ba năm qua.

Bên cạnh nàng, Tạ Vô Danh đứng bất động, lưng tựa hờ vào vách đá ngấm hơi sương lạnh ngắt. Cổ tay phải của chàng vẫn bị nẹp chặt bằng hai thanh cật tre già chuốt nhẵn, quấn lớp vải gai thô dày cộm nhiều vòng từ mu bàn tay lên quá nửa cẳng tay. Cánh tay bị thương ấy khép chặt vào mạn sườn, bất động như tượng gỗ để triệt tiêu từng cơn xung lực buốt nhói dội lên từ vết nứt xương cốt bên trong. Bàn tay trái buông thõng, những ngón tay chai sạn bám chắc lấy chuôi thanh kiếm cùn bọc lớp vải bạt thô màu xám tro. Đôi mắt sâu thẳm của chàng ẩn dưới vành nón rơm hơi sụp, lặng lẽ dõi theo từng cử động nhỏ, từng hơi thở ngắt quãng giữa hai cha con nhà họ Đỗ.

"Cha," Đỗ Thanh cất giọng. Thanh âm của nàng không lớn, khô khốc và sắc lẹm, nhưng mang theo một sức nặng ghìm chặt lấy góc bàn đá. "Con muốn cha cùng con rà soát lại toàn bộ hồ sơ tử tuất và khám nghiệm ven sông ba năm qua. Từng xác chết một. Đừng nói với con là trí nhớ của một ngỗ tác bốn mươi năm trong nghề lại quên được những vết thương nằm dưới đáy nước sông Vọng Giang."

Đỗ Kính giật thót mình, rụt vội mấy ngón tay lại như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ trong lò rèn. Lưng ông còng rạp xuống dưới lớp áo vải thô bạc phếch màu tro bếp, đôi bờ vai gầy guộc nhô hẳn lên dưới lớp vải mỏng, khẽ run lên từng chặp khó nhọc. Những khớp ngón tay vặn vẹo, sưng to như củ gừng già vì chứng phong thấp kinh niên cùng di chứng của hàng ngàn lần mổ xác giữa mưa phùn gió bấc bấu chặt lấy gờ mép bàn đá. Móng tay ông cáu bẩn một màu đen xỉn của than mài và khói đèn, thứ dấu vết không cách nào gột sạch sau cả một đời làm việc trong bóng tối nha môn.

"Thanh nhi... con lật lại những thứ này làm gì nữa?" Đỗ Kính thở dài, tiếng thở khò khè kéo lên từ lồng ngực lép kẹp như bễ lò rèn rách bạt, nghe vừa mệt mỏi vừa chua chát. "Hà Công Bút đã bị lột mũ áo tống ngục rồi. Cả cái phủ nha này đang rúng động. Đoàn Khâm sai của Nguyễn đại nhân sáng mai là cập bến Hạ Thủy. Chuyện của Trần Hữu Sổ, con đã làm sáng tỏ rành rành rồi còn gì? Hắn chết vì ngộ độc muối diêm tuyết phiến chứ không phải ngạt nước giờ Thân. Việc tới đó là đủ để rửa sạch can hệ, đủ giữ được cái mạng cho vị kiếm khách này, cũng đủ cho cái Tĩnh Thi Phòng của cha con mình không bị quy tội tắc trách hay đồng lõa ngụy tạo biên bản. Thế là xong một kiếp nạn rồi con ạ. Con còn bới thêm rác cũ dưới đáy bùn sông lên làm gì cho tanh tưởi thêm?"

"Bởi vì cái chết của Trần Hữu Sổ không phải là một sự ngẫu nhiên, và sự im lặng của Tĩnh Thi Phòng này cũng chưa bao giờ là vô hại!"

Đỗ Thanh lật mạnh một trang hồ sơ bìa cạc-tông xanh xám đã mục nát bốn mép bìa. Từng hạt bụi giấy li ti bay lên trong vệt sáng của ngọn đèn dầu. Nàng đưa ngón tay trỏ mảnh khảnh, khớp xương nổi rõ, ấn thẳng vào một bản biên bản giám định tử thi mang niên hiệu ba năm về trước. Nét mực son của con dấu phủ nha đã ngả sang màu đỏ gạch cũ kỹ.

"Mười bảy tháng sáu năm Canh Tý. Thi thể một ngư dân nghèo tên Lý Đại Hữu, trôi dạt và vớt được tại chân mố cầu đá Bến Hạ Thủy. Hồ sơ lưu tại Quầy Công Thưởng ghi rõ ràng từng chữ: 'Tử vong do say rượu trượt chân ngã xuống sông đuối nước, thuộc diện bất cẩn tự gây thương tích, không có dấu hiệu can qua giang hồ xô xát, bãi miễn điều tra, không thuộc diện cấp tiền tuất hoặc trợ cấp thương vong từ ngân quỹ thuyền hội.' Dưới biên bản có triện vuông bằng đồng của Quầy Công Thưởng, và chữ ký xác nhận của ngỗ tác Đỗ Kính."

Đỗ Thanh ngước mắt lên. Ánh nhìn của nàng dán chặt vào đôi mắt mờ đục, vàng khè những tia máu của cha mình. Ánh mắt ấy sắc bén và lạnh lẽo không khác gì ngọn dao trổ mỏng dính mà nàng vẫn dùng để rạch đường da ngực tử thi nhằm tìm kiếm những vết gãy xương kín bên trong.

"Nhưng trong tập sổ chép chéo của Trần Hữu Sổ ghi lại từ các trạm gác bến bãi, đêm mười sáu tháng sáu đó, đội tuần trinh của Liên ước Vàng Son có một vụ xô xát cưỡng chế bến đậu ngay trên mố cầu đá ấy. Con thuyền đánh cá duy nhất của nhà Lý Đại Hữu bị tịch thu để cấn trừ nợ môn bài và phí bảo kê tháng nhuận. Ba ngày sau khi Lý Đại Hữu chết, người vợ gầy trơ xương của hắn dắt theo ba đứa con nhỏ dại quỳ phục trước cửa nha môn, đập đầu kêu oan đến bật máu trán, khẳng định chồng mình sinh ra trên sông nước, bơi lặn từ thuở lên mười, đời nào lại trượt chân chết đuối ở một vũng nước cạn sâu chưa tới ngang ngực người lớn. Nhưng nha môn đập gậy xua đuổi như xua đuổi súc vật, lấy chính bản kết luận giám định có chữ ký điểm chỉ của cha ra đập vào mặt họ. Người đàn bà ấy không nhận được lấy nửa đồng bạc cứu tế từ thuyền hội, trắng tay mất thuyền, cuối năm đó phải bán xới căn chòi rách, dắt díu ba đứa con đi ăn mày biệt xứ bến bờ nào không ai biết."

Đỗ Thanh hít một hơi thật sâu. Hơi lạnh mang mùi giấm xông xộc thẳng vào sống mũi, làm lồng ngực nàng phập phồng dữ dội dưới lớp áo bào ngỗ tác bằng vải thô nhuộm màu xám tro:

"Cha, đêm hôm đó chính cha là người tự tay mổ xác. Cha cầm dao rạch ngực hắn, cha cầm móc banh sườn hắn ra. Cha nhìn thấy gì trên cổ và trong ngực Lý Đại Hữu?"

Căn phòng đá rơi thõng vào một khoảng lặng chết chóc. Không một tiếng động nào ngoài tiếng bấc đèn nổ lách tách khô giòn, và tiếng gió đêm từ mạn sông Vọng Giang rít từng cơn ghê rợn qua khe cửa thông gió hình chữ nhật chấn song sắt nằm tít trên cao.

Đỗ Kính từ từ nhắm mắt lại. Mi mắt già nua giật giật từng hồi. Một giọt nước mắt đục ngầu, vàng quánh ứa ra từ khóe mi sâu hoắm đầy nếp nhăn, chầm chậm lăn dài qua những rãnh đồi mồi trên gò má tóp teo da bọc lấy xương. Đôi vai ông sụp hẳn xuống, hai cánh tay buông thõng xuống mặt bàn đá như thể chiếc cột cái duy nhất chống đỡ cả cuộc đời làm nghề thanh liêm, cẩn trọng giả tạo bấy lâu nay của ông vừa bị bẻ gãy vụn.

"Trên cổ hắn..." Giọng ông lão khàn đặc, run rẩy và vỡ vụn ra thành từng mảnh nghẹn ngào trong cuống họng, "có một vết hằn bầm tím hình vòng cung khuyết ở phía sau gáy... Rộng chừng nửa tấc, lớp da ngoài cùng bị trợt rách theo hướng miết từ trước ra sau. Khí quản của hắn bị ngoại lực đè xẹp dúm, vỡ hai sụn nhẫn... Đáy phổi khô ráo, không hề có dị vật bùn cát hay dịch phù thũng bọt trắng đặc trưng của người hít phải nước sông lúc còn sống... Đó là vết siết cổ bằng dây chão gai bện ba sợi, siết chết từ trên bờ trước khi ném xác xuống nước. Hắn bị giết xong rồi mới vứt xác xuống chân cầu để phi tang."

"Vậy tại sao?" Giọng Đỗ Thanh khẽ run lên. Đó không phải là sự run rẩy của nỗi sợ hãi hay yếu lòng, mà là một cơn thịnh nộ đã bị đè nén quá lâu dưới đáy sâu của sự nhẫn nhịn, nay bung trào ra từng đợt buốt nhói. "Tại sao chữ ký của cha lại nằm ngay ngắn dưới bốn chữ 'chết đuối do say rượu'?"

"Vì nếu ghi là giết người, thì đêm đó ai là kẻ giết?" Đỗ Kính đột ngột ngẩng phắt đầu lên. Trong đôi mắt kèm nhèm ướt nước ấy bừng lên nỗi thống khổ, nỗi hèn mọn và sự khiếp nhược tột cùng của một kẻ hạ tầng suốt đời sống lom khom dưới bóng công đường. "Đêm hôm đó trời mưa to như trút nước. Canh ba, Hà Công Bút đích thân che dù mang một vò rượu nếp và một tập giấy đã viết sẵn chữ xuống tận Tĩnh Thi Phòng này! Hắn không mang theo đao phủ, hắn không rút kiếm dọa chém đầu cha, hắn chỉ cười! Một nụ cười nhã nhặn như thể đang bàn chuyện làng chuyện xóm! Hắn bảo: 'Lão Đỗ à, nha môn hạt ta tháng này đang thi đua giữ yên trật tự trị an, Tri phủ đại nhân sắp sửa trình tấu chương lên Kinh lộ để xin thăng bổ chức quan lớn hơn. Thêm một vụ án mạng không rõ tung tích hung thủ trên bến sông là cả phủ nha bị giáng một bậc khảo tích công trạng. Lương bổng ngỗ tác của lão, tiền mua giấm, mua than, mua vôi bột bồi dưỡng mục dịch cho cái phòng thi thể này cũng từ ngân sách đó mà trích ra cả thôi. Hơn nữa... con gái lão sắp tới tuổi nhận chân ngỗ tác khế ước nối nghiệp cha rồi. Lão muốn để lại cho con bé một căn phòng sạch sẽ, êm ấm, được quan trên bao bọc chở che, hay muốn nó vừa bước chân vào ngạch sai dịch đã bị người ta xếp vào phường cứng đầu, gây rối trị an bến hạt?'"

Đỗ Kính nắm chặt hai bàn tay gầy trơ xương, đấm mạnh xuống mặt bàn đá. Tiếng đấm của da thịt va vào đá tảng phát ra âm thanh cộc lốc, bất lực đến thảm hại:

"Hắn soạn sẵn toàn bộ bản kết luận! Từng câu từng chữ đều dùng những từ ngữ hành chính êm tai nhất! Hắn bảo cha chỉ cần đổi cụm từ 'nghi vấn siết cổ ngạt thở' thành 'chết đuối do trượt chân say rượu', mọi chuyện trên dưới sẽ êm xuôi như nước chảy qua cầu. Không ai bị trừ bổng lộc, quan trên vui vẻ, thuyền hội yên ổn thu tiền môn bài. Cha biết người nhà Lý Đại Hữu sẽ mất sạch quyền khiếu nại bồi hoàn tử tuất, cha biết mẹ con họ sẽ khốn đốn không chốn dung thân... nhưng cha sợ! Cha già rồi, hai bàn tay này đã run rẩy không cầm nổi dao mổ nếu thiếu rượu, nếu cha bị đuổi cổ ra khỏi nha môn, con lấy gì để sống, lấy gì để nối nghiệp mà kiếm bát cơm thừa? Cha đã nhắm mắt đặt bút ký... Cha tự lừa dối mình rằng người chết thì cũng đã chết rồi, một nét mực son của một lão già mổ tử thi làm sao cứu sống lại được người ta nữa..."

Đỗ Thanh đứng chôn chân tại chỗ. Dưới ánh đèn dầu leo lét, gương mặt nàng trắng bệch ra như người vừa mất máu. Nàng không rơi lấy một giọt nước mắt, nhưng ánh mắt nàng nhìn người cha ruột thịt đau đớn và cay đắng như đang nhìn một vết hoại tử đã ăn sâu vào tủy xương, không thể nạo vét mà cũng chẳng thể cắt rời.

"Người chết quả thật không sống lại được," nàng nói, từng âm tiết nhả ra chậm rãi, rõ ràng và lạnh buốt như băng tuyết đầu mùa đông, "nhưng những người còn sống thì chết mòn chết rụi vì cái chết oan khuất ấy! Và sự thỏa hiệp nhục nhã của cha không hề cứu được căn phòng này! Nó chỉ dạy cho Hà Công Bút và lũ quan lại mục ruỗng kia hiểu được một điều tàn nhẫn: Rằng Tĩnh Thi Phòng là nơi có thể dễ dàng mua chuộc và bẻ cong chỉ bằng vài lời đe dọa cùng sự sợ hãi của kẻ nghèo!"

Không đợi Đỗ Kính kịp thốt thêm lời trần tình nào nữa, Đỗ Thanh dứt khoát xoay người bước nhanh về phía góc phòng tối tăm nhất, nơi kê chiếc hòm gỗ lim sơn then đã tróc lở từng mảng mép, then đồng hoen rỉ. Đó là chiếc hòm gia bảo duy nhất của dòng họ Đỗ qua ba đời cặm cụi với nghề khám nghiệm tử thi phủ nha.

Nàng quỳ một gối xuống nền đá ẩm, mở khóa then sắt, thò tay xuống tận đáy hòm lôi ra một bọc vải dầu cũ kỹ. Bên trong bọc vải ấy là một xấp giấy bản mỏng, vàng quăn queo, mép giấy sờn rách vì năm tháng ẩm ướt. Đó hoàn toàn không phải là những tờ công văn hành chính sạch sẽ có đóng dấu đỏ của nha môn, mà là những tờ giấy nháp ghi chép sơ khám ban đầu. Từng dòng chữ viết vội vàng, nguệch ngoạc bằng than củi mài và mực cặn, do chính tay Đỗ Kính ghi vội ngay tại hiện trường bờ sông, dưới ánh đuốc bập bùng, trước khi những cái xác trương phình được phủ nha hạ lệnh khiêng về Tĩnh Thi Phòng.

Đỗ Thanh mang xấp giấy nháp ấy lại bàn đá, trải phẳng từng tờ một ra mặt đá lạnh, đặt đối chiếu ngay ngắn song song bên cạnh những bản kết luận tử vong chính thức mà nha môn đã đóng triện lưu trữ suốt ba năm trời.

"Tạ huynh, huynh bước lại đây xem." Đỗ Thanh khẽ nghiêng đầu nói với Tạ Vô Danh, ngón tay nàng miết dọc theo mặt giấy bản ố vàng.

Tạ Vô Danh khẽ dịch người, bước từng bước trầm ổn đến bên bàn. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bấc đôi, sự đối chiếu giữa bản nháp hiện trường và bản lưu chính thức hiện lên trần trụi, rõ mồn một như một vết chém sâu hoắm ngang qua mặt bàn.

"Huynh hãy nhìn kỹ các vết cạo sửa cơ học này," Đỗ Thanh đưa ngọn đèn dầu lại gần sát mặt giấy của bản lưu chính thức. "Giấy dùng trong phủ nha là loại giấy bản vỏ dâu dày dặn, ăn mực rất sâu. Hà Công Bút khi sửa lại biên bản đã dùng một mũi dao trổ bằng thép cực mỏng để cạo đi lớp mực gốc. Ở chỗ này, huynh nhìn xem, xơ giấy bị cạo xù lông lên thành từng vệt trắng mờ. Sau khi cạo xong chữ cũ, hắn dùng một viên đá cuội sông mài thật nhẵn lại bề mặt xơ giấy rồi mới cho người viết chữ khác đè lên. Nhưng dù có mài khéo đến đâu, mực son của con dấu phủ nha khi đóng trùm lên vết cạo luôn bị nhòe mép ra chung quanh, vì lớp xơ giấy ở vùng đó đã mất đi lớp hồ bọc bảo vệ. Nhìn lướt qua bằng mắt thường thì ai cũng ngỡ đó là vết ố mốc do nước sông ngấm vào khi vớt xác, nhưng chỉ cần cầm tờ giấy soi ngược lên ánh đèn..."

Đỗ Thanh nhấc tờ giấy lên, giơ ngang ngọn đèn dầu:

"... Thớ giấy ở chỗ sửa chữ mỏng hơn hẳn các vùng xung quanh, ánh sáng xuyên qua sáng rực lên như một vết sẹo."

Nàng lật tiếp liên tục bốn tập hồ sơ khác nhau trong suốt ba năm qua, tiếng giấy sột soạt vang lên đều đặn và sắc lẹm:

"Vụ phu bốc vác gãy xương sọ ở Bến Đông vào tháng Chạp năm Canh Tý: bản nháp hiện trường của cha ghi rõ 'vùng chẩm có tổn thương lõm sọ do vật tày có cạnh góc nhọn đập từ phía sau tới', nhưng bản chính thức của Hà Công Bút sửa lại thành 'bất cẩn trượt chân ngã từ trên đống bao hàng cao xuống nền đá'. Vụ người chèo đò gãy ba xương sườn bên mạn sườn trái: bản nháp ghi 'nội tạng bầm dập, gan rách do chịu ngoại lực chèn ép cực mạnh hình đế giày', bản lưu nha môn sửa thành 'bất cẩn va quẹt vào mạn thuyền buôn khi say sóng'. Lại nhìn cách lựa chọn câu chữ của bọn chúng đi!"

Giọng Đỗ Thanh đanh lại, sự sắc sảo của một kẻ cả đời làm việc với những tử thi câm lặng đạt đến độ tàn nhẫn và dứt khoát:

"Hai chữ 'bất cẩn'! Trong tất cả những hồ sơ bị tẩy xóa, cạo sửa suốt ba năm qua, Hà Công Bút luôn luôn lặp đi lặp lại hai chữ 'bất cẩn'. Đó là một từ ngữ tiện lợi vô cùng cho kẻ cầm quyền! 'Bất cẩn' nghĩa là lỗi hoàn toàn thuộc về kẻ đã chết. 'Bất cẩn' nghĩa là không có án mạng giang hồ, không có ẩu đả thanh trừng bến bãi. 'Bất cẩn' đồng nghĩa với việc Danh Kiếm Hội không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào về việc mất an ninh trật tự trên các bến đỗ, và Quầy Công Thưởng không cần phải xuất ra lấy một đồng bạc từ quỹ cứu trợ thương vong! Sinh mạng của những người cùng khổ bị tước đoạt, rồi bị đóng đinh vĩnh viễn dưới hai chữ 'bất cẩn' trên một tờ giấy lộn!"

Đỗ Kính đứng sững nhìn những vết cạo mờ trên giấy bản, bờ môi thâm tím run rẩy bần bật. Lão ngỗ tác già giơ bàn tay gầy trơ xương, đốt ngón tay sưng vù lên, run rẩy chỉ vào dòng chữ ký nằm ở góc dưới cùng bên phải của các bản lưu:

"Còn... còn một điểm nữa... Thanh nhi..."

Dường như một ngọn lửa tàn tạ của lương tâm trỗi dậy, thúc giục ông lão chuộc lại phần nào gánh nặng tội lỗi đang bóp nghẹt lồng ngực mình, giọng Đỗ Kính run lên từng chặp, ngắt quãng nhưng vô cùng rõ ràng:

"Thằng giặc già Hà Công Bút... bản tính của hắn cẩn thận đến mức bệnh hoạn. Khi hắn sửa đổi hồ sơ và ký lùi ngày để hợp thức hóa những vụ án mạng bất thường này cho khớp với sổ ca trực giả, hắn luôn nơm nớp lo sợ sau này có ngày quan trên thanh tra sẽ truy xét sổ ca trực thật ở quầy. Cho nên... tất cả các văn bản ký lùi ngày của hắn, chữ 'Bút' ở cuối luôn có một nét móc ngược rất đặc thù. Con nhìn kỹ đi... Nét móc ở đuôi chữ hất nhẹ sang bên trái một góc rất hẹp, đè thẳng lên nét phẩy của đuôi chữ 'Công' phía trên. Đó là dấu hiệu riêng của hắn, chỉ một mình hắn biết, dùng để tự mình phân biệt giữa những tờ biên bản được ký đúng ngày ngay tại quầy công đường và những tờ biên bản lập khống, ký lùi ngày sau lưng bàn án!"

Đỗ Thanh lập tức ghé sát ngọn đèn dầu nhìn kỹ. Quả đúng như lời cha nàng vừa chỉ điểm. Từng nét chữ ký lùi ngày trên các biên bản giám định tử thi suốt ba năm qua đều có một chiếc móc ngược quái gở, sắc nhọn đè lên nét chữ phía trước. Một thói quen lưu manh hành chính tinh vi, được bao bọc hoàn hảo dưới cái vỏ quy chuẩn cẩn trọng của một tên thư lại kỳ cựu.

Tạ Vô Danh đứng bên cạnh, mắt chàng lướt qua những vết mực son nhòe nhoẹt và những thớ giấy bị cạo xơ xác trên bàn đá. Chàng khẽ khoanh cánh tay trái trước ngực, bàn tay phải vẫn ghì chặt mạn sườn, buông một giọng nói thản nhiên mang theo vị đắng chát của một kẻ đã nếm trải đủ mọi trò dối trá lọc lừa nơi giang hồ bến bãi:

"Hóa ra những kẻ giang hồ các người cùng đám quan nha suốt ngày mở miệng nói về 'đúng quy chuẩn', 'đúng thể diện' là như thế này đây. Đao kiếm ngoài đường xóm chợ chém chết người tuy tàn nhẫn nhưng còn để lại vết chém, vết máu rành rành để người nhà nạn nhân biết đường mà đòi nợ máu. Còn một cây bút lông của thư lại, một nhát dao cạo giấy mỏng manh không tiếng động, lại có thể xóa sạch sinh mạng, xóa sạch nỗi oan của cả một gia đình mà không tốn lấy nửa giọt mồ hôi. Thể diện của cái nha môn này kể ra cũng đắt giá thật, đắt bằng mạng sống của những kẻ nghèo hèn không đủ tiền mua nổi cho mình một chữ 'bị hại'."

Lời nói của Tạ Vô Danh như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào khoảng tối tăm nhất của căn phòng. Đỗ Kính từ từ gục đầu xuống hai lòng bàn tay đầy đồi mồi, bờ vai già nua run rẩy kịch liệt, cổ họng nghẹn ứ không thốt nên lời.

Đỗ Thanh không chần chừ thêm một khắc nào nữa. Ánh mắt nàng kiên định như một mũi dùi nhọn. Nàng kéo chiếc nghiên mực bằng đá xám đặt giữa bàn lại gần, nhặt thỏi mực nho đen bóng lên, nhỏ vài giọt nước lạnh rồi bắt đầu mài dồn dập. Tiếng đá mài mực rột rẹt vang lên đều đặn, khô khốc và dứt khoát trong đêm tĩnh mịch, hệt như tiếng lên dây cót của một cỗ máy xử án chuẩn bị vận hành.

Nàng rút từ ngăn kéo ra một tờ công văn trắng tinh có in sẵn tiêu đề của Tĩnh Thi Phòng, trải ngay ngắn giữa bàn đá. Nàng nhấc ngọn bút lông thỏ lên, nhúng đẫm ngọn bút vào lớp mực nho đặc quánh.

"Thanh nhi! Con... con định làm gì thế?" Đỗ Kính kinh hoàng ngẩng phắt mặt dậy, đôi mắt trợn tròn, toan đưa bàn tay run rẩy ra nắm lấy cán bút của con gái. "Con định viết cái gì vào tờ giấy đó?"

"Con lập biên bản tự thú sai sót chuyên môn của Tĩnh Thi Phòng!"

Đỗ Thanh không hề dừng tay. Ngòi bút lông sắc nhọn lướt nhanh như gió trên mặt giấy trắng, từng dòng chữ Hán vuông vức, sắc sảo, ngay hàng thẳng lối hiện ra rõ ràng dưới ánh đèn dầu.

"Con sẽ liệt kê toàn bộ các vết cạo sửa cơ học trên hồ sơ ba năm qua, đính kèm toàn bộ những bản nháp sơ khám gốc tại hiện trường của cha, đối chiếu từng ngày giờ với tập sổ chép tay của Trần Hữu Sổ. Con sẽ ký tên con, đóng dấu mộc kiểm thi khế ước của con, và sáng sớm mai khi thuyền của Khâm sai cập bến, con sẽ nộp thẳng tờ giấy này lên công đường trước mặt Tri phủ Phạm Duy Liêm và Khâm sai Nguyễn Minh Luật!"

"Con điên rồi! Con thật sự phát điên rồi Thanh nhi!" Đỗ Kính hét lên, giọng ông lạc đi vì nỗi kinh hoàng tột độ. "Con nộp tờ giấy này lên quan trên, chẳng khác nào con tự tay cầm dao chặt đứt đầu mình! Phạm Duy Liêm hiện tại đang như con thú hoang giãy giụa vì sợ đợt thanh tra này của Triều đình, lão sẽ không đời nào dung thứ cho con! Còn Lục Trọng Tín và Liễu Tố Văn chỉ chờ chực có thế! Con có biết Liễu Tố Văn giỏi nhất trò gì không? Hắn nắm trong tay hàng chục văn nhân, hàng chục trà quán bến sông! Hắn sẽ cho người rêu rao khắp chợ cùng quê rằng ngỗ tác họ Đỗ nghiệp vụ non kém, tiền hậu bất nhất, đời cha tham sống sợ chết sửa chữ bẻ cong sự thật, đời con vu khống quan trên để lập công chuộc tội! Chúng sẽ dùng chính tờ giấy tự thú này để bôi tro trát trấu vào thanh danh của con, biến con thành kẻ đồng lõa phản phúc hoặc một đứa đàn bà điên loạn muốn tống tiền phủ nha! Con sẽ bị lột chức ngỗ tác khế ước ngay lập tức! Thậm chí bị khép vào tội đại nghịch, bị tống ngục vì tội cố ý làm sai lệch hồ sơ tư pháp của Triều đình!"

"Con biết hết!"

Đỗ Thanh dằn mạnh ngọn bút lông xuống mặt nghiên đá. Mực nho bắn tung tóe lên mu bàn tay trắng bệch của nàng. Nàng đứng thẳng tắp, sống lưng thẳng như một ngọn giáo cắm trên nền đá, ánh mắt rực lửa nhìn thẳng vào người cha già nua đã bị nỗi sợ hãi giam cầm suốt cả cuộc đời:

"Con biết chúng sẽ bôi nhọ con! Con biết Liễu Tố Văn sẽ dùng ngòi bút của hắn để biến con thành một trò cười đáng khinh trên các bản tin trà quán! Nhưng cha ơi, nếu con không tự tay xé toang cái vỏ bọc 'đúng quy chuẩn' này ra, thì hồ sơ cái chết của Trần Hữu Sổ ngày hôm nay sẽ vĩnh viễn bị giam hãm trong chính cái bẫy quy trình hành chính của bọn chúng!"

Nàng chỉ thẳng ngón tay dính mực vào tập hồ sơ dày cộp của Trần Hữu Sổ đang nằm trên bàn:

"Huynh xem, cha xem, chúng đang vin vào cớ gì để chối tội, để bao che cho nhau? Chúng bảo rằng tất cả các biên bản chi tiền thưởng từ Quầy Công Thưởng đều mang dấu triện hợp lệ của nha môn! Chúng bảo việc đóng dấu lùi ngày trên hồ sơ khám nghiệm chỉ là 'lỗi hành chính nhỏ do sơ suất thời vụ'! Chúng bảo rằng Tĩnh Thi Phòng trước đây từng có tiền lệ kết luận người đuối nước do say rượu, thì bây giờ cái kết luận chết vì muối diêm tuyết phiến của con đưa ra chỉ là sự ngụy tạo non nớt của một kẻ non nghề! Vỏ bọc kiên cố nhất của Lục Trọng Tín và Hà Công Bút bấy lâu nay chưa bao giờ là võ công hộ viện của Vệ Thiên Kiêu, mà chính là sự hợp pháp giả tạo trên từng tờ giấy lộn có đóng dấu đỏ này!"

Nàng dừng lại một nhịp, hít sâu một hơi để nén lại nhịp tim đang đập dồn dập trong lồng ngực. Giọng nói của Đỗ Thanh bỗng chốc trở nên trầm tĩnh lạ thường, một sự kiên định lạnh lùng và thanh thản của một người đã chấp nhận bước qua đống tro tàn đổ nát của chính bản thân mình:

"Muốn đánh gãy mắt xích của chúng, con buộc phải đánh gãy sự trong sạch giả tạo của chính căn phòng Tĩnh Thi này trước! Con đứng ra thừa nhận cha con mình từng sai, thừa nhận Tĩnh Thi Phòng từng hèn nhát nhượng bộ trước quyền uy của nha môn, chính là để tước bỏ hoàn toàn cái tư cách 'đúng quy chuẩn' mà Hà Công Bút đang bám chặt vào để tự bào chữa! Một khi sự gian lận hành chính này bị phơi bày thành một hệ thống kéo dài suốt ba năm trời, có bản nháp gốc đối chiếu, có nét móc ngược ký lùi ngày của Hà Công Bút làm chứng cứ rành rành, thì mọi bản kết luận trước đây và bây giờ của hắn sẽ không còn là văn bản hành chính hợp pháp nữa! Tất cả chúng sẽ lập tức trở thành tang vật của một đường dây tội ác có tổ chức quy mô lớn!"

Đỗ Kính sững sờ. Đôi môi run rẩy của ông hé mở nhưng không thể thốt nên lời. Nhìn đứa con gái duy nhất của mình đứng sừng sững dưới quầng sáng mờ ảo của ngọn đèn bấc đôi, ông bỗng bàng hoàng nhận ra đứa trẻ ngày nào còn nép sau lưng ông, run rẩy nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn vào những thi thể trôi sông sứt sẹo, nay đã mang trong mình một dũng khí quật cường, một thứ khí phách mà cả cuộc đời làm ngỗ tác cẩn thận, luồn cúi của ông chưa từng một lần dám mơ tới.

Tạ Vô Danh đứng bên vách đá khẽ nhếch khóe môi, một nụ cười nhàn nhạt, hiếm hoi thoáng hiện trên gương mặt phong trần dãi dầu sương gió của chàng. Chàng dùng bàn tay trái lành lặn vỗ nhẹ lên lớp vải thô bọc quanh thân thanh kiếm cùn, cất giọng tỉnh queo:

"Đỗ cô nương nói không sai nửa chữ đâu, lão trượng à. Cái chốn giang hồ này hết thuốc chữa không phải vì có quá nhiều kẻ ác cầm đao chém giết rong ruổi ngoài đường lớn, mà là vì có quá nhiều người già thích giữ thể diện bằng cách giấu phân dưới chiếu hoa. Năm xưa ta từng bán đứng danh dự, nhận mười lượng bạc để chịu thua một trận kiếm, vết nhơ đó cả đời này ta phải cõng trên lưng như một vết chàm. Nhưng ít nhất ta đã dám đưa tờ biên nhận mười lượng bạc nhục nhã đó cho cô nương mang ra ánh sáng. Thể diện chỉ là thứ mà kẻ sống tự vẽ ra để lừa mị chính mình mà thôi, chứ những linh hồn nằm dưới đáy mồ sâu thì chẳng ai cần đến cái thể diện mục ruỗng của kẻ còn sống cả."

Đỗ Kính run rẩy đưa mắt nhìn hai người trẻ tuổi đang đứng trước mặt mình. Ánh mắt đục ngầu của ông lướt qua tờ biên bản tự thú còn thơm mùi mực ướt mà Đỗ Thanh vừa hạ bút viết xong, rồi nhìn xuống đôi bàn tay già nua đầy những đốm đồi mồi và những khớp xương sưng to biến dạng của chính mình. Sự hèn nhát, sợ hãi đớn hèn tích tụ suốt ba mươi năm qua như một khối u ung nhọt nhức nhối bỗng chốc vỡ tung ra trong lồng ngực, để lại một nỗi đau xót xa nhưng lại nhẹ nhõm đến nghẹt thở.

Ông hít một hơi dài, run rẩy bước từng bước lại gần bàn đá. Bằng những ngón tay vặn vẹo khó nhọc vì phong thấp, Đỗ Kính nhấc chiếc hộp đựng mực dấu chu sa đỏ thắm đúc bằng đồng thau nặng trịch lên. Ông mở nắp hộp, ấn mạnh đầu ngón tay cái gầy guộc của mình vào lớp bông tẩm chu sa ướt đẫm, rồi không một chút do dự, dứt khoát ấn mạnh ngón tay đỏ thắm ấy xuống khoảng trống ngay cạnh chữ ký của Đỗ Thanh trên tờ biên bản tự thú.

"Dấu tay này của cha," Đỗ Kính thì thầm, giọng ông khàn đặc nhưng không còn vẻ run rẩy, khiếp nhược như trước nữa, "để chứng minh rằng con bé nhà họ Đỗ không hề vu cáo."

Đỗ Thanh nhìn dấu điểm chỉ đỏ thắm như máu tươi của cha mình in hằn trên nền giấy trắng, đôi mắt nàng khẽ lay động, sóng mũi chỉ cay xè trong chớp mắt rồi lập tức thu hồi lại vẻ lạnh lùng, kiên định vốn có của một kiểm thi quan. Nàng với tay nhấc chiếc hũ gốm nhỏ, rắc một lớp cát mịn chuyên dụng lên mặt giấy để thấm khô lớp mực nho và chu sa còn ướt. Đợi vài nhịp thở, nàng nghiêng tờ giấy trút lớp cát thừa trở lại hũ, rồi cẩn thận cuộn tròn tờ biên bản tự thú cùng toàn bộ xấp giấy nháp sơ khám cũ lại thành một ống giấy chặt chẽ.

Nàng rút từ hòm gỗ ra một ống đồng chuyên dụng dùng đựng mật tấu của phủ nha, nhét toàn bộ tài liệu vào bên trong, đóng chặt nắp rồi châm lửa ngọn nến sáp ong, nhỏ từng giọt sáp vàng óng niêm phong kín kẽ đường giáp mí của nắp ống đồng.

Bức màn nhung giả tạo che đậy sự "đúng quy chuẩn hành chính" mà Hà Công Bút cùng đám quan lại phủ nha đã tỉ mỉ dệt nên suốt bao năm qua cuối cùng đã chính thức bị xé rách toang, bởi chính đôi bàn tay của những người suốt đời sống cạnh lò mổ xác.

Một cơn gió đêm từ mạn sông Vọng Giang thốc mạnh qua khe chấn song sắt Tĩnh Thi Phòng, làm ngọn đèn dầu bấc đôi chao đảo dữ dội, ngọn lửa vàng vọt bùng lên rồi thu nhỏ lại, hắt những cái bóng dài ngoằng của ba người lên vách đá xanh lạnh ngắt.

Tờ giấy ố vàng lưu lại những vết mực cạo sửa năm xưa vẫn nằm im lìm trên mặt đá, lặng lẽ làm chứng cho sự hèn nhát của thế hệ đi trước và lòng kiên định sắt đá của những người trẻ tuổi dám đối diện với sự thật.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories