Tờ Biên Nhận Trong Áo Kiếm Khách
Mưa rào mùa hạ trút nước xuống mái ngói Trà quán Nửa Lời, nơi người biên soạn bản tin Liễu Tố Văn đang ngồi thong thả nhấp chén trà thượng hạng với nụ cười đầy ẩn ý.
Tiếng sấm rền rĩ phía chân trời không át nổi tiếng nước xối xả qua những ống máng xối bằng tre đực ken dày. Nước mưa từ tầng mái cao dội xuống mặt sân lát đá xanh, bắn tung toé thành từng lớp bọt trắng xóa như sương mù, che mờ cả khoảng không gian bờ sông Vọng Giang mịt mùng phía ngoài cửa liếp. Khắp các bàn trà chung quanh, con buôn vải vóc, lái đò đường trường và khách vãng lai đã bị đám gia nhân của trà quán khéo léo mời đi từ sớm. Cả gian nhà tiền sảnh thênh thang lúc này chỉ còn lại hương trà Thiết Quan Âm thanh tao bốc lên nghi ngút từ chiếc lò than hồng đỏ rực, lấn át hoàn toàn thứ phong vị ẩm mốc, tanh nồng mùi bùn đất quen thuộc của một tụ điểm rập rình tin tức giang hồ.
Liễu Tố Văn khẽ nâng chén sứ thanh hoa men lam tinh xảo, nhấp một ngụm nhỏ rồi khoan thai đặt xuống mặt bàn gỗ mun bóng loáng đến mức soi rõ từng đường tơ kẽ tóc. Ngón tay trỏ thon dài, nhẵn nhụi của y nhẹ nhàng gõ nhịp xuống nan quạt xếp bằng lụa hồ tiêu dát bạc, phát ra những tiếng *cạch, cạch* khô khốc, đều đặn như tiếng giọt nước rỏ xuống chum đồng. Y khẽ ngước mắt, qua làn khói trà mỏng manh, nhìn bóng người vừa bước qua ngưỡng cửa gỗ cao quá đầu gối. Kẻ đó toàn thân ướt sũng, chiếc áo vải bạt cũ kỹ bạc phếch vì sương gió bết chặt vào bờ vai rắn rỏi, từng giọt nước mưa đùng đục theo gấu áo nhỏ tong tòng xuống nền gạch tàu đỏ au.
Tạ Vô Danh không cởi nón mê. Tấm nón rách tơi tả che khuất nửa trên gương mặt phong trần, chỉ để lộ ra bộ râu quai nón lởm chởm và bờ môi mím chặt thành một đường thẳng thừng, tái nhợt vì lạnh. Khớp cổ tay phải của chàng lại bắt đầu giật lên từng cơn đau nhức buốt buốt—thứ di chứng dai dẳng của những vết gãy xương cũ mỗi khi đất trời chuyển mùa, ẩm ướt và giá buốt. Chàng dừng chân cách mép bàn tròn đúng năm bước, thanh kiếm cùn bọc lớp vải thô xơ xác áp sát vào mạn sườn trái, bất động như một cây cọc gỗ cắm giữa dòng lũ.
"Tạ huynh đài dầm mưa vất vả." Liễu Tố Văn mỉm cười, giọng điệu êm ái, nhã nhặn như một thư sinh kinh kỳ đang mở lòng hàn huyên với bậc bằng hữu tri kỷ sau nhiều năm cách biệt. Y đưa tay áo lụa rộng thùng thình làm động tác mời mọc: "Mời ngồi. Trà này là Thiết Quan Âm tiến cống thượng hạng của vùng Mân Nam, nước đầu tiên pha bằng sương sớm hứng trên búp sen hồ Tây, kẻ phàm phu tục tử bên ngoài dẫu có bỏ ra mười quan tiền đồng cũng chẳng mua nổi một ngụm để tráng miệng."
"Có chuyện gì thì nói thẳng." Tạ Vô Danh không ngồi, cũng chẳng hề liếc nhìn chiếc ghế bọc gấm hoa đối diện. Giọng chàng trầm khan, khàn đục như tiếng đá mài chà trên mặt gỗ thông, đôi mắt lờ đờ, vô cảm nhìn chằm chằm vào chiếc quạt xếp đang phe phẩy trong tay đối phương. "Trà đắt tiền uống vào xót ruột, người quen húp cháo loãng như ta không quen."
Liễu Tố Văn nghe vậy thì bật cười khẽ, tiếng cười rúc rích sau vạt quạt lụa. Y ung dung phe phẩy làn gió thơm mùi trầm hương để xua đi hơi nước ẩm ướt, mằn mặn mùi mồ hôi và bùn lầy bốc lên từ vạt áo của Tạ Vô Danh. Nụ cười của y vẫn ngọt nhạt, dịu dàng, nhưng đáy mắt dường như đã ánh lên một nét giễu cợt sắc lẹm, buốt giá chẳng khác nào mũi dao cạo giấu dưới lớp lụa là:
"Tạ huynh hà tất phải tự hạ thấp mình đến mức ấy? Một kiếm khách từng 'đơn đao phó hội', từng so chiêu ngang ngửa với quán quân đương thời của Đài Bách Thắng ngoài Hắc Hổ Lĩnh hai năm về trước, sao lại có thể coi là kẻ phàm phu tục tử húp cháo loãng được cơ chứ?"
Tạ Vô Danh không chớp mắt. Toàn bộ cơ mặt chàng dường như đóng băng, duy chỉ có những ngón tay bên bàn tay trái khẽ siết chặt lại quanh lớp vải thô bọc ngoài bao kiếm, các đốt ngón tay hơi gồ lên.
"Hai năm trước, tiết thu, gió lộng Hắc Hổ Lĩnh." Liễu Tố Văn ngả người, thong thả ngâm nga từng chữ một, âm điệu bổng trầm như thể một học sĩ đang thưởng lãm tuyệt tác thi phú trong các bản tin chiến tích mà ngòi bút của y độc quyền phát tán khắp chốn giang hồ phủ Vọng Giang. "Một trận chiến long trời lở đất từng được người đời ghi chép trang trọng trên đỉnh Bảng Danh Kiếm: Vệ thiếu hiệp dùng tuyệt kỹ gia truyền 'Lôi Triệt', chém gãy thế công bạt sơn đảo hải của một gã cuồng đồ lưu lạc, lưu danh muôn thuở. Khán giả say mê, thứ dân truyền tụng, vé vào cửa Đài Bách Thắng sau trận đấu rực rỡ ấy tăng giá vùn vụt gấp đôi. Một giai thoại hoàn hảo, một vở kịch kiếm hiệp kinh điển không tì vết... Chỉ tiếc là, trong bản nháp cũ của người ghi chép sổ sách năm ấy, ta lại tình cờ đọc thấy một dòng chi phí đối ngoại hết sức khôi hài: mười lượng bạc trắng chi trả cho kẻ đóng vai 'cuồng đồ'."
Liễu Tố Văn hơi rướn người về phía trước, hai khuỷu tay chống lên mặt bàn mun, hạ thấp giọng xuống. Nụ cười trên môi y biến thành một lưỡi dao găm tẩm mật ong rừng, từng giọt từng lời nhỏ ra đều mang theo nọc độc:
"Tạ Vô Danh, người nhận mười lượng bạc trắng để giả vờ ngã lăn ra đất, văng kiếm kêu leng keng trước mũi kiếm thép của Vệ Thiên Kiêu năm đó, chính là ngươi, đúng không? Ngươi thử nghĩ xem, đoàn Khâm sai Kinh lộ do Nguyễn đại nhân đứng đầu sắp sửa hạ trĩ xuống bến sông này sẽ nghĩ thế nào khi biết nhân chứng mấu chốt vạch trần đường dây cá cược ngầm của Danh Kiếm Lâu... thực chất chỉ là một gã kiếm khách bán độ hạng bét từng ăn tiền để làm nền cho kẻ khác? Ngươi nghĩ một chữ ký vấy bẩn của kẻ từng nhận mười lượng bạc làm trò hề có giá trị pháp lý trước công đường nha môn hay không?"
Liễu Tố Văn ngả hẳn lưng ra sau chiếc ghế bành bọc da hươu êm ái, nhàn nhã dùng cán quạt gõ gõ lên mu bàn tay trắng trẻo của mình:
"Bản thảo đã viết xong cả rồi. Từng nét chữ, từng dấu mực đều đã trau chuốt cẩn thận. Chỉ cần ta gật đầu một cái, sáng mai khắp các bến đò, trà quán, quán rượu, chợ cá Vọng Giang sẽ ngập tràn những bài viết về thân phận thật sự của 'người hùng' Tạ Vô Danh. Dư luận chốn giang hồ này vốn rất thích ngắm nhìn một kẻ bần hàn trèo lên đài cao, nhưng họ còn thích thú gấp mười lần khi được tận mắt chứng kiến kẻ đó ngã dập mặt xuống đống bùn nhơ nhơ nhuốc. Lúc ấy, đừng nói là đứng ra làm chứng, ngay cả cái mạng còm của ngươi nằm chết bờ chết bụi cũng chẳng ai thèm rủ lòng thương hại. Rút lui đi. Cầm lấy chút lộ phí rời khỏi bờ cõi Vọng Giang ngay đêm nay. Lục chấp sự là người rộng lượng, ngài ấy xưa nay không thích dồn ai vào bước đường cùng, chỉ cần ngươi biết điều mà biến mất cho khuất mắt."
Đó là một đòn thao túng tâm lý sắc bén, hiểm độc nhất mà một kẻ buôn chữ lọc lõi, lão luyện có thể tung ra: đánh thẳng vào lòng tự trọng mong manh của một kẻ mang gươm, biến vết nhơ tủi nhục trong quá khứ thành chiếc gông cùm bằng sắt nguội trói chặt tương lai và tiếng nói của chàng.
Thế nhưng, Tạ Vô Danh chỉ đứng im lìm nhìn y. Ánh mắt chàng tĩnh lặng đến mức khiến kẻ đối diện phải rợn người, tựa như vũng nước tù đọng dưới chân cầu đá nghìn năm không gợn nổi một tia sóng nhỏ. Không có sự hổ thẹn bùng phát dữ dội, không có nỗi sợ hãi chột dạ của kẻ bị bắt quả tang, và cũng chẳng hề có vẻ giận dữ run rẩy mà Liễu Tố Văn đã tỉ mỉ tính toán để thưởng thức.
"Nói xong chưa?" Tạ Vô Danh cất giọng đều đều, thanh âm phẳng lặng như mặt nước giếng khơi.
Nụ cười trên môi Liễu Tố Văn thoáng chốc đóng băng lại. Cán quạt xếp khựng lại giữa không trung, ánh mắt y co rút nhẹ.
"Nói xong rồi thì ta đi." Tạ Vô Danh dứt khoát quay người. Vạt áo bạt ướt sũng quét qua gờ ngưỡng cửa gỗ mun, bắn ra vài giọt nước đục ngầu. "Trà nguội rồi, uống vào chỉ tổ đau bụng."
Chàng bước thẳng ra ngoài thềm, hòa mình vào màn mưa trắng xóa đang dội xuống mù mịt, bỏ lại sau lưng vẻ mặt ngỡ ngàng, sượng sùng xen lẫn một thoáng bực bội, bất an của gã biên soạn tin tức lừng danh phủ Vọng Giang.
***
Tạ Vô Danh không chạy trốn, và chàng cũng chẳng buồn tìm kiếm một góc xó nào để ẩn nấp trước lời đe dọa của tờ bản thảo. Chàng cứ thế rảo bước, đôi giày vải rách tươm bì bõm lội qua những con ngõ lầy lội, ngập ngụa bùn non và rác rưởi của khu xóm thợ ven sông, rời khỏi bức tường thành phía Bắc Vọng Giang để hướng thẳng về phía Miếu Kiếm Gãy.
Ngôi miếu hoang tàn phế ấy nằm trơ trọi trên một gò đất cao mọc đầy cỏ tranh và gai gai dại. Mái ngói âm dương đã sụp mất non nửa từ trận bão năm ngoái, để lộ ra những vì kèo gỗ mục ruỗng chĩa lên trời như bộ xương sườn của một con quái thú khổng lồ. Từng luồng gió lạnh thốc qua khe nứt trên vách đất, cuốn theo nước mưa dột lã chã xuống bức tượng sơn thần bằng đất nung đã gãy mất đầu, trơ ra cái cổ rỗng toác đóng đầy mạng nhện.
Bà lão mù giữ miếu đang ngồi co ro bên một góc bếp lò đắp bằng đất sét un khói mù mịt. Nghe tiếng bước chân chấm phẩy nặng nề quen thuộc nện trên nền đất ẩm, bà khẽ nghiêng đôi tai màng màng về phía cửa, cất giọng the thé, run rẩy:
"Tạ tiểu tử đó hả con? Củi rơm mùa này ẩm quá, un mãi mà lửa chẳng chịu đỏ nổi..."
"Cháu vào lấy đồ rồi đi ngay, bà cứ ngồi đó."
Tạ Vô Danh bước nhanh về góc miếu bên trái—khoảng không gian ẩm thấp, tối tăm nơi chàng đã kê một tấm phản gỗ mục ọp ẹp lót rơm khô làm chỗ ngả lưng suốt hơn nửa năm qua. Chàng quỳ một bên gối xuống nền đất lạnh buốt, đặt thanh kiếm sang bên cạnh, rồi thò tay rút con dao găm cùn giắt ở cạp quần ra, bậy nhẹ một viên gạch vồ xám xịt đã nứt làm đôi nằm ngay sát chân cột gỗ lim kê tảng đá tảng.
Lớp đất bùn xốp ẩm ướt bên dưới bị gạt phăng sang hai bên. Hiện ra dưới đáy hốc đất là một chiếc hộp sắt tây hoen gỉ nặng nề, chỉ nhỏ vừa vặn bằng bàn tay người lớn, nắp hộp méo mó, vốn dĩ là thứ hộp rẻ tiền người ta dùng để đựng cao dán nhức mỏi xương khớp bày bán ở các chợ quê.
Tạ Vô Danh dùng đầu ngón tay cạy mạnh nắp hộp sắt. Bên trong tuyệt nhiên không có lấy một hạt vàng hay vụn bạc, chỉ có một mảnh vải dầu dày cộp màu xám xịt, được gói ghém cẩn thận qua ba bốn lớp mép gấp để ngăn nước ngấm vào. Đôi bàn tay thô ráp, chai sạn của chàng khẽ gỡ từng nếp vải dầu thô ráp ấy ra. Một tờ giấy hoa tiên mỏng mảnh, ố vàng loang lổ bởi thời gian và hơi ẩm, mép giấy đã sờn rách, run rẩy hiện ra dưới ánh sáng lờ mờ hắt vào từ khung cửa miếu.
Đó chính là một tờ biên nhận thanh toán viết bằng thứ mực tàu đen gai góc, nét chữ cứng quắc và vụng về. Dòng chữ trên giấy ghi rõ mười mươi: *Tiền thù lao diễn tập kiếm thuật Hắc Hổ Lĩnh – Thập lượng bạc trắng. Người lĩnh: Vô Danh.*
Phía dưới góc phải tờ biên nhận, nằm khiêm tốn ngay cạnh chữ ký nguệch ngoạc của chàng năm xưa, là một con dấu mộc nhỏ màu đỏ son hình hạt đậu đã phai màu theo năm tháng: dấu kiểm toán phụ của Hiệu bạc Đồng Tín.
Tạ Vô Danh cúi đầu, ánh mắt đăm đăm nhìn vào từng nét mực đã ngả sang sắc nâu xỉn. Ký ức của hai năm về trước ùa về như một dòng nước lũ đục ngầu cuốn qua tâm can. Khi ấy, chàng ôm chiếc cổ tay bị đánh rách toạc gân cốt, mảnh xương cẳng tay rạn nứt nhói buốt sau một vụ đuổi bắt ngầm đẫm máu thất bại ở thượng nguồn, lê bước về đến bến sông này trong cảnh không một xu dính túi. Cơn sốt rét rừng hầm hập cùng sự đói khát đến cồn cào ruột gan suýt chút nữa đã vùi dập thân xác chàng vĩnh viễn dưới bãi bùn lầy ven sông Vọng Giang. Mười lượng bạc trắng ấy—món tiền chàng nhận được từ một lời mời mọc qua tay lái buôn trung gian—đã đổi lấy ba tháng ròng thuốc bắc thang thang sắc sắc, vài bao gạo lức độn khoai sắn, và giữ lại hơi tàn cho một mạng sống rách nát này. Khi đặt bút ký vào tờ giấy hoa tiên, chàng thuần túy nghĩ rằng đó chỉ là tiền công biểu diễn của một tên võ phu thất thế múa kiếm làm trò giải khuây cho một thiếu gia con nhà giàu có tiền lắm của. Chàng giữ lại tờ biên nhận ố vàng này suốt hai năm ròng không phải vì muốn hoài niệm về một vết nhơ tủi hổ, mà đơn giản chỉ xuất phát từ một thói quen cơ học, bần hàn của những kẻ nghèo hèn dưới đáy xã hội: giữ lại mảnh chứng từ nát, phòng khi kẻ thuê quỵt nốt nửa phần tiền công còn lại.
Chàng cẩn thận gấp đôi tờ giấy lại, vuốt phẳng mép giấy rồi nhét sâu vào túi trong của lớp áo vải bạt áp sát vào ngực. Đóng nắp hộp sắt, lấp lại viên gạch vồ, Tạ Vô Danh đứng thẳng dậy, giật lại vành nón mê rách rưới rồi quay ngoắt người, sải bước dứt khoát về hướng nội thành Vọng Giang.
***
Nửa canh giờ sau, tại kho đạo cụ nằm sâu phía sau hậu trường của Đài Bách Thắng.
Không khí bên trong căn phòng kín mít ngột ngạt đến khó thở. Mùi thuốc bắc ninh cô đặc nồng nặc hòa lẫn với mùi dầu trăn hôi tanh và thứ rượu thuốc xoa bóp cay xè bốc lên ngùn ngụt, át đi tiếng mưa rơi lộp độp trên mái ngói ngổn ngang phía trên đầu. Ánh sáng từ ngọn đèn lồng thắp bằng dầu hạt cải leo lét, chập chờn rọi lên những chồng binh khí gỗ, những tấm bia rơm đâm thủng lỗ chỗ và những sợi dây cáp tơ tằm treo lủng lẳng từ trần nhà cao vút.
Vệ Thiên Kiêu đang ngồi tựa lưng trên chiếc trường kỷ bọc da hổ đã sờn lông, ống quần lụa bên chân phải xắn cao lên tận bẹn. Chiếc đầu gối bên phải của hắn sưng vù lên to như một chiếc bát tô úp ngược, làn da căng bóng, thâm tím lại một cách ghê rợn. Một đường rạch nhỏ bên mép sụn khớp xương vừa được trích ra đang rỉ ra thứ dịch mủ nhơn nhớt màu vàng nhạt hòa lẫn với những giọt máu bầm đen đặc. Một gã gia nhân đứng cạnh đang run rẩy dùng chiếc khăn vải thấm nước gừng ấm áp chặt lên miệng vết thương bị biến dạng.
"Cút hết ra ngoài."
Một giọng nói lạnh ngắt, trầm đục vang lên từ khoảng tối nơi ngưỡng cửa.
Vệ Thiên Kiêu giật nảy mình, vội vã ngẩng phắt đầu dậy. Nhìn thấy bóng hình cao gầy, ướt sũng của Tạ Vô Danh đứng sừng sững như một bóng ma chắn ngang lối đi, sắc mặt vị đệ nhất kiếm khách của phủ bỗng chốc trắng bệch, không còn lấy một giọt máu. Hắn vội vàng giật lấy vạt quần kéo tuột xuống để che đi cái đầu gối tàn phế gớm ghiếc, bàn tay run rẩy quờ quạng về phía thanh kiếm nạm ngọc tinh xảo đặt ở đầu trường kỷ. Nhưng chỉ một cử động mạnh ấy thôi cũng khiến khớp xương trật khớp dội lên một cơn đau xé ruột, mồ hôi hột to như hạt ngô lập tức vã ra như tắm trên trán hắn.
"Ngươi... Tạ Vô Danh? Ngươi vào đây bằng cách nào? Bọn hộ vệ canh gác ngoài cổng đâu cả rồi?"
"Chúng còn đang bận rộn trèo lên xà nhà kiểm tra lại chốt hãm của mấy sợi dây cáp tơ tằm." Tạ Vô Danh thản nhiên bước vào trong phòng, dùng gót chân đẩy cánh cửa gỗ dày cộp khép chặt lại. "Vệ thiếu hiệp, thế kiếm 'Lôi Triệt Phi Thiên' tối qua của ngươi lúc tiếp đất có vẻ hơi vội vàng đấy. Lực rơi dồn hết toàn bộ vào chân phải, nếu không có sáu lượng mỡ trăn trét sẵn để làm trơn trượt mặt sàn gỗ, e rằng cái xương bánh chè của ngươi đã nát vụn thành ba mảnh ngay từ hiệp đấu thứ mười rồi."
Vệ Thiên Kiêu nghiến chặt hai hàm răng trèo trẹo, bàn tay đang nắm lấy chuôi kiếm khảm ngọc buông thõng xuống đệm da thú, hơi thở hổn hển dồn dập đầy vẻ nhục nhã, bẽ bàng:
"Ngươi đến đây để làm gì? Để cười cợt vào mặt ta sao? Hay là để tính sổ món nợ hai năm trước? Hay ngươi cũng giống như đám kền kền kia, muốn đến đây tống tiền ta trước ngày đại hội?"
"Ta đến đây chỉ để hỏi ngươi đúng một câu." Tạ Vô Danh thò tay vào trong vạt áo ướt, rút tờ giấy hoa tiên ố vàng gấp nếp ra, ném thẳng xuống mặt bàn cờ trà bằng đá đặt giữa hai chiếc ghế. "Trận đấu năm đó ở Hắc Hổ Lĩnh. Mười lượng bạc trắng này, rốt cuộc là tiền gì?"
Vệ Thiên Kiêu sững sờ. Đôi mắt đỏ ngầu của hắn dán chặt vào mảnh giấy hoa tiên nhàu nhĩ trên mặt bàn đá, con ngươi co rút lại kịch liệt như vừa nhìn thấy bùa đòi mạng. Hắn ngửa đầu tựa hẳn vào thành ghế bành, lồng ngực phập phồng dữ dội rồi bất ngờ bật ra một tràng cười khàn đặc, the thé, đắng chát và chua cay đến tận cùng gan ruột:
"Ha ha... Ha ha ha... Hóa ra là tờ giấy này! Trời đất ơi, ngươi... ngươi vẫn còn giữ nó sao?" Vệ Thiên Kiêu ôm lấy mặt, hai bàn tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào mớ tóc bù xù, giọng nói nghẹn ngào vỡ vụn ra từng mảng. "Tạ Vô Danh, ngươi nghĩ ta là thứ người gì? Năm đó, ta chỉ là một đứa trẻ con mới chập chững bước chân vào chốn giang hồ Vọng Giang này! Tuổi trẻ háo thắng, ngông cuồng, ta chỉ muốn dựng lên một màn tỉ thí kiếm thuật thật rộn ràng, thật đẹp mắt ngoài Hắc Hổ Lĩnh để chiêu mộ thêm vài chục đệ tử về cứu lấy cái võ quán gia truyền đang ngắc ngoải chết đói của cha ta! Ta tìm đến ngươi, một gã kiếm khách rách rưới lưu lạc không nơi nương tựa, đưa ngươi mười lượng bạc để nhờ ngươi phối hợp cùng ta đỡ đúng mười chiêu kiếm đẹp mắt, rồi giả vờ trúng thế kiếm ngã xuống, coi như đôi bên cùng có lợi... Đó chỉ là một trận diễn trò kiếm hiệp bán vé dạo ngoài trời! Ta thề có trời cao đất dày soi xét, ta chỉ thuê ngươi diễn kịch, kiếm mấy đồng bạc lẻ mua gạo nuôi đám đệ tử nhỏ!"
Hắn ngước mắt lên, những tia máu đỏ lòm chằng chịt trong tròng mắt như muốn nổ tung, từng lời thốt ra như gầm rít trong đau đớn:
"Nhưng ta đâu có ngờ... một kẻ vô danh như ta làm sao ngờ được bàn tay của Danh Kiếm Hội và Lục Trọng Tín lại tàn độc và thâm sâu đến mức ấy! Ngay sau buổi diễn đó, bọn chúng đã ngầm cho người tung tiền mua đứt toàn bộ tin đồn khắp các bến đò, câu kết với ngòi bút của thằng khốn Liễu Tố Văn để biến cái màn kịch mười lượng bạc ở Hắc Hổ Lĩnh thành một trận 'huyết chiến sinh tử' trừ gian diệt ác lừng lẫy trời nam! Chúng khắc tên ta lên đỉnh Bảng Danh Kiếm, tô vẽ ta thành một vị thần tượng bất khả chiến bại của toàn phủ! Đến khi ta nhận ra bản thân bị biến thành quân cờ thì đã quá muộn rồi! Chúng dùng cái danh tiếng hão huyền đó để ép võ quán của cha ta phải thế chấp toàn bộ đất đai, ký giấy vay nợ Hiệu bạc Đồng Tín hàng ngàn lượng để mở rộng môn phái, xây dựng tửu lầu!"
Hắn đập mạnh nắm tay xuống trường kỷ, nước mắt uất ức ứa ra lăn dài trên gò má hốc hác:
"Ba mươi trận toàn thắng sau đó của ta... Tạ Vô Danh, ngươi có hiểu không? Không có lấy một trận nào là thật cả! Hoặc là đối thủ bị ép thua vì gánh nặng nợ nần của gia đình, hoặc là sàn đấu bị bọn thợ mộc cưa đứt then chốt từ nửa đêm, hoặc là sợi dây cáp chết tiệt kia kéo giật ta bay lên không trung để tung đòn quyết định! Ta đã van xin bọn chúng, ta muốn dừng lại, ta không muốn diễn trò lừa bịp thiên hạ nữa... Nhưng Lục Trọng Tín mỉm cười nói với ta rằng: chỉ cần ta thua một trận, chỉ cần ta ngã xuống, toàn bộ số nợ hàng vạn lượng bạc cùng lãi mẹ đẻ lãi con sẽ đổ ụp xuống đầu năm mươi đứa đệ tử nhỏ dại của ta! Đầu gối của ta nát vụn rồi, Tạ Vô Danh! Ta sắp biến thành một thằng phế nhân bò lê dưới đất rồi!"
Vị kiếm khách từng đứng ở đỉnh cao danh vọng của đất Vọng Giang, kẻ được hàng vạn con người hò reo, sùng bái mỗi khi bước ra võ đài, lúc này đây chỉ là một cái xác không hồn co quắp trên chiếc ghế bành rách nát, khóc không ra tiếng dưới sức nặng tàn nhẫn của một chiếc ngai vàng dựng hoàn toàn bằng những lời dối trá và nợ nần bủa vây.
Tạ Vô Danh đứng lặng trong bóng tối nhập nhoạng. Chàng chậm rãi bước tới mép bàn, đưa những ngón tay chai sạn nhặt lại tờ biên nhận ố vàng, gấp lại cẩn thận rồi cất vào ngực áo.
"Ngươi chưa từng có ý định biến nó thành một trận chiến sinh tử để lừa dối người đời?"
"Nếu ta biết trước bọn chúng sẽ biến một trò hề mười lượng bạc thành bản án tử hình treo lơ lửng trên cổ của cả hai chúng ta suốt cả đời này..." Vệ Thiên Kiêu nghiến răng ken két, giọng nghẹn lại trong cổ họng như bị bóp nghẹt, "thì thà rằng năm đó ta để cho cái võ quán mục nát ấy chết đói, chứ quyết không bao giờ rút thanh kiếm nhơ bẩn này ra khỏi vỏ dù chỉ một lần!"
Tạ Vô Danh không đáp lại. Chàng xoay người đẩy cửa bước ra ngoài, để lại sau lưng gian phòng tối tăm ngột ngạt sặc mùi thuốc bóp và tiếng thở dốc đầy tuyệt vọng của kẻ bất bại trên đài cao danh vọng.
***
Gian nhà phụ của Tĩnh Thi Phòng lúc nửa đêm yên tĩnh đến mức rợn tóc gáy. Gió mưa từ khoảng sân sau thổi qua song sắt cửa sổ, làm ngọn đèn dầu lạc leo lét trên chiếc bàn con chao đảo, hắt những bóng đen dài ngoằng, méo mó của ba con người lên bức tường vôi trắng đã bong tróc, loang lổ những vệt ố vàng của nước mưa. Giữa phòng, chiếc bàn mổ thi thể bằng đá hoa cương xám lạnh ngắt tỏa ra thứ tử khí quen thuộc, hòa quyện với mùi chua nồng của giấm thanh và hương thơm ngai ngái của các loại thảo mộc dùng để ướp xác.
"Bốp!"
Một tiếng đập bàn chát chúa vang lên, xé toang bầu không khí tĩnh mịch nghẹt thở.
Đỗ Thanh đứng phắt dậy, cả tập hồ sơ vụ án trên bàn bị nàng giáng mạnh một chưởng khiến bụi giấy bay mù mịt. Đôi mày thanh tú của nàng dựng ngược lên, đôi mắt sáng quắc thường ngày vốn luôn giữ vẻ điềm đạm, lạnh lùng như băng đá của một người quen đối diện với tử thi, lúc này đây lại bùng cháy lên ngọn lửa giận dữ và thất vọng tột cùng. Nàng trừng trừng nhìn vào tờ giấy hoa tiên mười lượng bạc mà Tạ Vô Danh vừa mới đặt lên mặt bàn gỗ, lồng ngực phập phồng dữ dội sau lớp áo vải chẽn màu chàm.
"Ngươi giấu ta!" Giọng Đỗ Thanh gằn xuống từng tiếng, sắc nhọn và lạnh buốt như lưỡi dao mổ thi thể. "Tạ Vô Danh, ngay từ ngày đầu tiên khi chúng ta lật lại vụ án Trần Hữu Sổ, từ lúc chúng ta lần ra manh mối về cuốn sổ ghi chép những trận chiến ma ở Danh Kiếm Lâu, ngươi đã biết thừa mười lượng bạc ở Hắc Hổ Lĩnh là tiền của ngươi! Tại sao ngươi câm như hến? Tại sao phải đợi đến khi Liễu Tố Văn kề dao vào cổ, ngươi mới chịu ném tờ giấy này ra trước mặt ta?"
Tạ Vô Danh đứng khoanh tay, tựa lưng vào cây cột gỗ lim ở góc tối gian phòng, ánh mắt cúi gằm nhìn vào mũi giày ướt đẫm bùn non:
"Hai năm trước, ta chỉ nghĩ đó là tiền công múa kiếm thuê để kiếm chút bạc mua thuốc chữa gãy tay. Ta không hề biết bọn chúng ghi chép vào sổ sách chính thức của phủ thành một trận chiến sinh tử."
"Ngươi nghĩ? Ngươi dùng cái đầu thô thiển của một gã giang hồ kiếm khách để phán đoán giá trị của chứng cứ tư pháp đấy à?" Đỗ Thanh bước dồn dập về phía chàng, từng bước chân nện mạnh mẽ trên nền đá hoa cương. Khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại đến mức Tạ Vô Danh có thể ngửi thấy rõ mồn một mùi giấm thanh thanh tao và hơi thở dồn dập phập phồng vì phẫn nộ của nàng. "Ngươi có hiểu được rằng, chỉ cần Liễu Tố Văn tung tờ biên nhận này ra trước phiên thanh tra của Khâm sai Kinh lộ, toàn bộ chuỗi chứng cứ mà ta và ngươi liều mạng thu thập suốt nửa tháng qua sẽ lập tức biến thành một trò hề thối tha không? Quan trường và luật pháp không cần biết ngươi nghèo đói ra sao! Họ chỉ nhìn vào tờ giấy này và phán rằng: ngươi có tư thù cá nhân, ngươi từng ăn chia tiền bẩn với Danh Kiếm Hội rồi trở mặt cắn cược khi không chia đều phần! Lời khai của ngươi về cái chết bất thường của Trần Hữu Sổ, về hệ thống cơ quan ròng rọc ở Đài Bách Thắng, về dấu chân bùn ở Bến Hạ Thủy... tất cả sẽ bị quan phủ gạt phăng sang một bên, coi như lời vu khống hèn hạ của một tên kiếm khách bán độ mạt hạng!"
Nỗi thất vọng sâu sắc tràn ngập trong đáy mắt người con gái làm nghề kiểm nghiệm sự thật. Nàng giận, nhưng không phải vì quá khứ khốn khó hay việc chàng từng cúi đầu nhận mười lượng bạc để mưu sinh qua ngày đoạn tháng. Nàng giận bởi sự giấu giếm, sự thiếu minh bạch đã đâm một nhát dao chí mạng vào niềm tin chuyên môn mà nàng đã dành cho chàng. Giữa một chốn nha môn Vọng Giang thối nát, nơi người ta mua bán mạng người và công lý bằng từng thỏi bạc nén, nàng từng tin rằng chàng là điểm tựa duy nhất không bị vấy bẩn bởi những toan tính bạc tiền hèn mọn.
Thế nhưng, dù lồng ngực đang nghẹn thắt lại vì cơn giận, bàn tay của Đỗ Thanh vẫn không hề run rẩy lấy một phần mười tấc. Nàng hít sâu một hơi thật dài để nén chặt cảm xúc cá nhân xuống đáy lòng, kéo chiếc hộp gỗ mun đựng dụng cụ chuyên dụng lại gần ngọn đèn dầu, rút ra một tờ giấy bản trắng tinh và một cây bút lông thỏ mảnh mai.
Bằng những động tác chuẩn xác, thành thục và dứt khoát đến mức lạnh lùng của một kiểm thi quan lão luyện, Đỗ Thanh đặt tờ biên nhận ố vàng cạnh ngọn đèn, dùng đầu ngón tay miết phẳng từng nếp gấp đã sờn rách.
"Tờ biên nhận này có niên đại ước chừng hai mươi bốn tháng trước. Chất liệu là loại giấy hoa tiên do phường in mộc bản Nam Giang sản xuất vào mùa thu năm ngoái, loại mực dùng để viết là mực tàu pha dầu thông bản địa." Nàng vừa chấm mực vừa lia bút thoăn thoắt, ghi chép tỉ mỉ từng chi tiết hình thức vào biên bản thu giữ vật chứng của nha môn. "Góc dưới bên phải có một triện son hình hạt đậu, khắc chìm bốn chữ 'Đồng Tín Giám Sát'. Đây là dấu mộc kiểm toán phụ mà Hiệu bạc Đồng Tín chỉ dùng cho các khoản chi mật trích từ quỹ dự phòng đặc biệt của ngân khố."
Nàng dừng bút, ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mặt chàng. Ánh mắt nàng đã lấy lại vẻ sắc lạnh, công tâm vốn có của một người nắm giữ cán cân công lý, nhưng giữa hai người lúc này dường như đã dựng lên một bức tường thành bằng băng giá dày cộm, xa cách muôn trùng:
"Ngươi giấu giếm là tội của ngươi. Nhưng tờ giấy này không chỉ đơn thuần là vết nhơ trong quá khứ của ngươi. Nó chính là chứng cứ thành văn đầu tiên liên kết trực tiếp dòng tiền ngầm của Hiệu bạc Đồng Tín với những chiến tích ngụy tạo của Danh Kiếm Hội. Ta sẽ lập biên bản niêm phong nó lại, đưa thẳng vào hồ sơ đặc biệt để chuyển giao tận tay Khâm sai Nguyễn Minh Luật. Công là công, tội là tội, phân minh rõ ràng. Nhưng Tạ Vô Danh, ngươi hãy nhớ lấy lời ta: kể từ giờ phút này cho đến khi vụ án ngã ngũ, ta sẽ không bao giờ tin vào bất cứ lời nói suông nào thốt ra từ miệng ngươi, nếu như không có vật chứng xác thực đi kèm để đối chiếu."
Tạ Vô Danh vẫn đứng lặng trong bóng tối nhập nhoạng của thân cột gỗ lim. Những ngón tay trái của chàng khẽ siết chặt lấy cổ tay phải đang nhức buốt. Chàng không mở miệng biện minh lấy một lời, chỉ khẽ gật đầu, lặng lẽ đón nhận toàn bộ phán quyết lạnh lùng và tàn nhẫn ấy.
Bùi Bát Quái nãy giờ vẫn ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu ở góc phòng, thấy không khí căng thẳng đến mức ngột ngạt tựa hồ một mồi lửa có thể kích nổ cả gian nhà, vội vàng xoa xoa hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi vào vạt áo, gượng gạo cười phá lên mấy tiếng:
"Ấy dà! Đỗ cô nương bớt giận, hạ hỏa một chút đi mà! Tạ huynh đài cũng đừng có ủ rũ như đưa đám thế chứ! Các cụ xưa vẫn bảo 'quân tử nhất ngôn', nhưng chốn giang hồ cơm áo gạo tiền nó đè nặng trĩu vai, ai mà chẳng có những lúc... trượt chân lỡ bước một tí ti? Chúng ta phải nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cực, sáng sủa chứ! Mười lượng bạc trắng năm xưa của Tạ huynh, tính đi tính lại, hóa ra lại là một món đầu tư siêu lợi nhuận của đất trời đấy chứ! Vệ Thiên Kiêu nhờ mười lượng ấy mà trèo tót lên làm đệ nhất minh chủ võ lâm, Danh Kiếm Hội nhờ thế mà vơ vét hàng vạn lượng bạc của con bạc, còn chúng ta... chúng ta chẳng phải vừa vớ được một cái chuôi dao to đùng đoàng để đâm thẳng vào bụng lão Lục Trọng Tín hay sao? Vả lại, ai bảo Tạ huynh đi bán độ? Chúng ta cứ đường hoàng mà ghi vào công văn là 'tham gia biểu diễn giao lưu võ thuật có thu phí bồi dưỡng', nghe nó vừa sang trọng, vừa nhã nhặn, có đúng không nào? Ha ha... ha..."
Tiếng cười gượng gạo của Bùi Bát Quái nhỏ dần rồi tắt ngấm giữa chừng trong cổ họng. Không một ai trong phòng cười phụ họa theo gã.
Đỗ Thanh thậm chí chẳng buồn liếc mắt nhìn sang phía gã lấy một lần. Nàng cẩn thận gấp tờ biên bản vừa viết xong có đóng dấu tay của chính mình, cuộn tờ giấy hoa tiên ố vàng lại nhét vào một chiếc ống đồng nhỏ, rồi châm lửa đốt một thỏi sáp đỏ, nhỏ từng giọt sáp nóng hổi xuống miệng ống để niêm phong lại. Tạ Vô Danh thì vẫn đứng bất động như một pho tượng đá vô tri trong góc tối, ánh mắt lạnh lẽo nhìn xuyên qua chấn song cửa sổ ra khoảng sân ngập tràn nước mưa.
Bùi Bát Quái nuốt nước bọt đánh *ực* một cái, bàn tay đang khua khoắng giữa không trung ngượng ngùng hạ xuống, đưa lên gãi gãi sống mũi rồi lấm lét nhìn sang hướng khác. Gã biết, trò pha trò nhạt nhẽo của mình đã hoàn toàn thất bại trước thực tế nghiệt ngã.
Bầu không khí trong Tĩnh Thi Phòng lại chìm sâu vào một sự im lặng chết chóc và nặng nề. Khoảng cách vô hình giữa ba con người—những kẻ từng kề vai sát cánh chui qua những hầm chứa đá muối diêm đầy cạm bẫy, từng cùng nhau lội qua lớp bùn lầy tanh tưởi ở bến Hạ Thủy và đối mặt với làn tên mũi giáo trên các lầu cao—lúc này bỗng chốc nứt toác ra một rãnh sâu hoắm, đầy ngờ vực và rạn vỡ. Sự hoài nghi nội bộ, nỗi thất vọng tột cùng về sự giấu giếm và bóng ma nhơ nhuốc của quá khứ đã giáng một đòn chí mạng vào khối liên minh mong manh của họ, ngay trước thời khắc quyết định nhất: khi đoàn thuyền thanh tra của Khâm sai Kinh lộ chỉ còn cách cổng thành phù hoa Vọng Giang chưa đầy hai ngày đường sông.
Liễu Tố Văn nắm trọn trong tay ngòi bút sắc bén cùng mạng lưới truyền tin sẵn sàng bôi nhọ bất cứ ai, Lục Trọng Tín nắm giữ túi tiền khổng lồ thao túng quan trường của cả vùng ngã ba sông, còn ba người bọn họ... lại đang đứng nhìn nhau qua một tờ giấy hoa tiên ố vàng đầy tì vết và những vết thương lòng khó bề hàn gắn.
Tạ Vô Danh chậm rãi cất bước, tiến ra phía bậc thềm hiên ngoài cửa. Chàng ngửa bàn tay trái thô ráp ra, hứng trọn lấy những giọt nước mưa buốt giá từ mái ngói rỏ xuống lòng bàn tay. Giữa màn đêm mịt mùng và tiếng sấm rền vang nơi chân trời xa xăm, chàng quay đầu lại, nhìn thẳng vào ánh mắt lạnh lùng như sương tuyết của Đỗ Thanh và vẻ mặt đầy bối rối, ngượng ngùng của Bùi Bát Quái.
Kiếm khách nghèo cúi đầu nhận mình từng bán một trận thua, nhưng khẳng định chưa từng bán mạng một con người.