Vị đắng của Mây Đỏ
Mùi cà phê robusta rang mộc khét nhẹ lẫn trong khói củi thông ẩm ùa qua khe cửa kính khi chiếc xe đò chầm chậm lăn bánh trên những cung đường đất đỏ uốn lượn giữa bạt ngàn nương rẫy Mây Đỏ.
Chiếc xe đò cũ kỹ rên rỉ từng hồi qua những khúc cua gắt, bộ nhíp rỉ sét kêu ken két dưới sức nặng của người, bao tải bắp khô và những giỏ gà rừng lục cục lay động dưới sàn xe. Sau chặng dừng chân dốc sức ở Ba Ngọn Đèn, thị trấn vùng cao này đón An Nhiên và Hoàng Phúc không phải bằng sắc hoa dã quỳ rực rỡ hay màu nắng vàng như rót mật trên những tấm áp phích quảng bá du lịch nơi bến xe liên tỉnh, mà bằng một luồng gió buốt thấu xương cào rát hai gò má.
Gió từ các thung lũng sâu hun hút thốc ngược lên triền đèo, mang theo hơi lạnh ngai ngái của đất ải và mùi lá mục phân hủy lâu ngày dưới tán rừng nguyên sinh. Sương mù đặc quánh như sữa bò từ rạng sáng đã không buồn tan, nó trườn qua các triền thông ba lá, tràn xuống thung lũng, liếm láp qua những mái nhà sàn lợp ngói xám xịt hoặc lợp tôn cũ kỹ đã ngả màu rỉ sét loang lổ. Nơi góc vườn của những nếp nhà nằm rải rác bên triền dốc, từng cụm khói đốt lá rừng ẩm ướt bảng lảng bay lên, quẩn quanh mặt đất nhớp nháp không chịu tan biến vào không trung. Mặt đất sau trận mưa dầm đêm qua dính dớp thứ bùn bazan đỏ sẫm như máu đặc, thứ đất bazan phì nhiêu nhưng lì lợm, hễ chạm vào da thịt hay vải vóc là bám chặt lấy đế giày, khiến mỗi bước chân rệu rã của người lữ hành đều trở nên nặng trịch như đang đeo thêm những tảng chì vô hình.
Nhiên đứng nép vào một gốc thông bên vệ đường để tránh một chiếc xe máy cày chở đầy củ mì vừa gầm rú chạy qua, kéo theo một vệt bùn nhão bắn tung tóe. Cô khẽ kéo cao cổ chiếc áo khoác gió đã bạc màu sương gió, đưa bàn tay run rẩy vì buốt chạm nhẹ vào túi ngực bên trái. Bọc ớt khô rừng mà chị Diệp dúi vào tay cô ở sườn đèo Ba Ngọn Đèn vẫn nằm cộm ở đó, như một cục than hồng âm ỉ tỏa ra thứ hơi ấm câm lặng nhưng bền bỉ che chở cho lồng ngực cô qua cơn rét rừng.
Nhiên siết chặt lại quai chiếc ba lô con cóc đã sờn chỉ. Các ngón tay của cô vẫn còn rát bỏng, những khớp đốt ngón tay thâm tím và được quấn chằng chịt những lớp băng gạc trắng lem nhem bụi đường sau chuỗi ngày dầm mình vật lộn với từng lu mắm cá cơm ở Vạn Gió và những đêm cọ rửa đáy chảo khổng lồ nơi góc quán cheo leo của sườn đèo. Những vết nứt nẻ vì muối mặn và bỏng lửa chưa kịp lên da non đã lại co rút lại dưới cái lạnh khô khốc của cao nguyên.
Hoàng Phúc đi khập khiễng bên cạnh cô, chiếc túi máy quay phim chuyên dụng nặng trịch trĩu hẳn một bên vai gầy. Anh mặc chiếc áo phao dã ngoại màu cam nổi bật nhưng giờ đây gấu áo cũng đã lấm lem những vệt bùn đỏ quạch. Hơi thở của Phúc phì phò phả ra từng luồng khói trắng xóa giữa thinh không mờ đục, hai hàm răng va vào nhau cầm cập.
“Lạnh dã man thật đấy, Nhiên,” Phúc lẩm bẩm, đưa mu bàn tay áo quệt vội chóp mũi đã đỏ ửng vì buốt giá. “Chỗ này mà canh được lúc hửng nắng, bay flycam lấy toàn cảnh khói lam chiều len lỏi trên mấy mái nhà sàn dài thì ban biên tập tòa soạn chỉ có nước chấm điểm tuyệt đối. Nhưng mà quạnh quẽ quá mức tưởng tượng. Cô nhìn xem, sóng điện thoại chập chờn nãy giờ, lúc có lúc không, giờ thì tịt ngúm chỉ còn trơ trọi đúng một vạch sóng yếu ớt.”
Nhiên không đáp lời Phúc. Đôi mắt cô thăm thẳm và dán chặt vào mảnh giấy ố vàng gấp tư đang cầm lọt thỏm trong lòng bàn tay. Mảnh giấy này cô cẩn thận tách ra từ phong thư niêm phong của bà Tư Mặn trao lại trước ngày rời xóm chài. Dòng mực tím của mẹ cô — bà Trần Ngọc Hạ — đã phai nhạt rất nhiều theo năm tháng, nét mực nhòe đi ở những mép gấp nhưng từng nét chữ mảnh khảnh, nghiêng nghiêng đầy dồn nén vẫn hằn sâu vào thớ giấy dó thô ráp: *“Lên ngã ba Cây Sung cằn, hỏi nhà già Y Krang để dò lối về suối Kơ Nia. Muốn hiểu vị đắng chuộc tội, hãy tìm H’Linh...”*
Vị đắng chuộc tội. Bốn chữ ấy như một dằm gai cắm sâu vào tâm trí Nhiên suốt dọc đường thiên lý từ vùng biển mặn chát lên đến chốn non cao mù sương này. Suốt tuổi thơ và những năm tháng trưởng thành nơi góc bếp của quán ăn mang tên Bếp Hạ, Nhiên chỉ biết đến một người mẹ nguyên tắc, chỉn chu đến mức cay nghiệt, một người đàn bà luôn nêm nếm món ăn bằng sự chính xác tuyệt đối của một thợ nấu bậc thầy, nhưng chưa từng để lộ ra bất kỳ sự xao động nào của lòng mình. Mẹ cô nêm mặn bằng nước mắm truyền thống, nêm ngọt bằng mật mía hay xương hầm, nhưng trong cuốn sổ tay nghề bếp của bà, chương viết về những nốt đắng lại bị xé nham nhở hoặc bỏ trống một cách đầy u uất.
Cả buổi sáng hôm ấy, Nhiên và Phúc lần theo từng manh mối vụn vặt hỏi thăm người đi đường để tìm đến ngã ba Cây Sung cằn. Thị trấn vùng cao này dường như bị bẻ đôi thành hai thế giới hoàn toàn tách biệt, đối lập nhau chan chát. Một bên là khu phố chợ xô bồ, bụi bặm của những thương lái người Kinh lên buôn chuyến, ngập ngụa tiếng xe tải gầm rú, tiếng chửi thề và những cuộc ngã giá gay gắt về phân bón hóa học, thuốc trừ sâu cùng các bao tải cà phê xô phơi vội vã. Bên kia, chỉ cách một rãnh suối cạn và một rặng muồng đen chắn gió, là buôn làng cổ của người bản địa nằm khuất nẻo, nơi thời gian dường như đọng quánh lại dưới bóng râm thâm u của những nếp nhà sàn dài dằng dặc, mái ngả màu xám bạc theo mùa mưa nắng.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ lội bộ trên những lối mòn trơn như bôi mỡ, họ tìm được đến hiên nhà sàn của già Y Krang.
Đó là một cụ ông đã bước qua tuổi tám mươi, đầu quấn một chiếc khăn thổ cẩm chàm đã sờn rách viền chỉ đỏ. Già ngồi xếp bằng trên sàn gỗ mun bóng loáng trước cửa buồng, đôi mắt già đục mờ như nước suối đầu mùa lũ nhưng đôi bàn tay gầy guộc, gân guốc vẫn thoăn thoắt chuốt từng nan tre cật mỏng manh để đan chiếc gùi lúa. Khói thuốc rê cay nồng phả ra từ chiếc tẩu gọt bằng gốc rễ cây le, quẩn quanh bộ râu cằm lơ thơ bạc trắng.
Khi Nhiên đứng dưới chân cầu thang gỗ, ngập ngừng cất tiếng và chìa mảnh giấy ghi dòng chữ của mẹ, nhắc đến cái tên “Trần Ngọc Hạ”, đôi bàn tay đang chuốt nan của già Y Krang bỗng nhiên khựng lại.
Lưỡi dao quắm nhỏ trong tay già dừng lơ lửng trên thớ tre. Già Y Krang từ từ ngước mắt lên nhìn Nhiên qua làn khói thuốc mỏng manh. Cái nhìn của già không có vẻ tò mò của người đón khách lạ, mà sâu hoắm, đăm đắm và thảng thốt như thể đang nhìn xuyên qua thân xác cô, xuyên qua lớp áo khoác gió tả tơi để tìm kiếm một hình bóng cũ kỹ từng vùi sâu trong lớp tro tàn của hai mươi năm về trước.
“Con gái của Hạ sao?”
Giọng già Y Krang khàn đục, trầm trầm như tiếng hai hòn đá cuội va đập vào nhau dưới đáy vực sâu mùa nước cạn.
“Đôi mắt giống lắm. Cái trán bướng bỉnh kia cũng giống. Đôi mắt của con người lúc nào cũng chứa đầy lửa giận dữ và những cơn giông bão không chịu tan đi.”
Nhiên nín thở, lồng ngực cô thắt lại nghẹn ngào. Cô tiến thêm một bậc thang, hai bàn tay quấn băng vô thức bấu chặt lấy thành lan can gỗ mát lạnh:
“Mẹ cháu... mẹ cháu từng sống ở đây thật sao già? Cả đời cháu lớn lên dưới phố chợ Minh Cảng, chỉ biết mẹ từng có hai năm rời quê đi làm ăn xa khi cháu còn ẵm ngửa. Không một ai trong họ hàng dưới xuôi nhắc một lời nào về Mây Đỏ, về buôn làng hay về ngọn suối này cả.”
Già Y Krang buông con dao quắm xuống sàn gỗ, phát ra một tiếng *cộc* khô khốc. Già thở dài, một tiếng thở dài trĩu nặng như thể vừa phải nhấc bổng một chiếc gùi chất đầy củi ướt để leo ngược lên đỉnh dốc đứng:
“Nó đến đây một mình, vào gần hai mươi mùa rẫy trước rồi. Năm ấy là một năm trời làm tội Mây Đỏ, mưa dầm dề suốt ba tháng không dứt, đất lở trôi cả mấy khoảnh nương bắp của buôn. Con Hạ lếch thếch xách một cái túi vải rách tả tơi, mặt cắt không còn một giọt máu, người gầy rộc như que củi khô dạt vào đầu buôn lúc nhá nhem tối. Nghe mấy người buôn chuyến dưới xuôi xì xào, nó trốn chạy khỏi một cuộc hôn nhân tan nát, bị nhà chồng giàu có hắt hủi, ruồng rẫy cay đắng kín tiếng nơi phố lớn. Nó không khóc lấy một tiếng trước mặt người lạ, chỉ quỳ rạp dưới chân cầu thang xin già làng cho ở lại làm công, ai sai gì làm nấy để đổi lấy vài bát hạt bo bo ăn qua ngày đoạn tháng.”
Từng lời nói của già Y Krang rơi vào thính giác Nhiên như những giọt sương muối buốt nhức. Máu trong huyết quản cô giật thót từng hồi.
Suốt tuổi thơ ấu của mình, hình ảnh người mẹ trong ký ức của Nhiên luôn gắn liền với vẻ kiên cường đến mức sắt đá tại Bếp Hạ. Đó là một người phụ nữ chưa từng rơi một giọt nước mắt trước mặt bất kỳ chủ nợ gay gắt nào, một người mẹ luôn quán xuyến mọi việc bằng vẻ ngoài tháo vát, lạnh lùng, thậm chí có phần độc đoán và khô cằn tình cảm. Cô chưa từng một lần hình dung ra một Trần Ngọc Hạ yếu thế, suy sụp, tan nát cõi lòng và bơ vơ đến mức phải tha hương cầu thực, xin từng nắm hạt bo bo nơi góc rừng heo hút này.
“Hai năm ròng rã nó ở lại đất này,” già Y Krang lại cất giọng, mắt già nhìn xa xăm ra khoảng trời mù mịt sau rặng thông già, “nó sống và cào đất lao động không khác gì một người phụ nữ Ê Đê lam lũ nhất buôn. Nó trần lưng cuốc đất bazan chai cứng, gùi lúa nương ngược dốc đèo, hai bàn chân nứt toác rỉ máu vì dầm sương muối mùa đông, hai bàn tay thợ nấu nõn nà chai sần hết vì phạt cây gai mây làm nương. Nó không còn là cô thợ nấu thành phố sạch sẽ thơm tho nữa. Nó học cách ăn lá đắng rừng luộc chấm muối ớt cay xé họng để nuốt trôi những uất ức đè nghẹn trong lồng ngực. Rồi nó theo H’Linh Niê... Hai đứa nó ngày đó thân thiết, gắn bó như hai chị em ruột thịt trên cùng một mảnh rẫy, cùng chia nhau từng ngụm nước suối trong quả bầu khô.”
“H’Linh Niê...” Hoàng Phúc buột miệng hỏi chen ngang. Tay anh đã vô thức trượt vào túi áo khoác, ngón tay chạm nhẹ vào nút bật của chiếc máy ghi âm kỹ thuật số nhỏ gọn. “Người giữ hạt giống bản địa mà già vừa nhắc tới... bà ấy là người như thế nào ạ? Tại sao trong thư mẹ Nhiên lại dặn phải tìm gặp bà ấy?”
Già Y Krang liếc xéo Phúc. Ánh mắt đùng đục của già bỗng nheo lại, lộ rõ vẻ sắc bén và cảnh giác của một con thú già nơi rừng thẳm đối với những kẻ lạ mang hơi hướng của thị thành:
“H’Linh là cái hồn của lúa nương buôn này. Nó giữ giống bắp cổ, hạt lúa thiêng và cái men rượu cần ngàn năm của tổ tiên để lại từ đời bà tổ. Người lạ đến buôn, nhìn thấy bóng lưng H’Linh thì phải biết cúi đầu kính cẩn. Con bé Nhiên kia muốn tìm vết tích mẹ nó thì cứ men theo con suối Kơ Nia mà đi xuống thung lũng. Nhưng coi chừng cái bụng của mình đấy. Vết thương cũ H’Linh giữ kín trong ngực hai mươi năm qua... chưa bao giờ lành miệng đâu.”
***
Dứt lời cảnh báo của già Y Krang, hai người rời ngã ba Cây Sung cằn, men theo một lối mòn rậm rạp cỏ gai đi sâu xuống lòng thung lũng.
Con đường dẫn xuống bờ suối Kơ Nia trơn trượt bởi những thảm rêu ẩm ướt bám dày trên đá cuội trần. Càng xuống sâu, tiếng gió gầm trên ngọn thông càng lùi xa, nhường chỗ cho tiếng suối chảy ầm ào, réo rắt luồn qua những tảng đá mồ côi khổng lồ màu xám đen nằm ngổn ngang. Bọt nước tung trắng xóa, phả vào không khí từng đợt hơi lạnh tê buốt da thịt.
Dưới chân một cây kơ nia đại thụ tán lá rộng thênh thang che rợp cả một góc trời mù sương, ngôi Nhà dài cổ kính sừng sững hiện ra bên bờ nước. Không giống như những ngôi nhà sàn bê tông hóa phục vụ khách du lịch chụp ảnh check-in ở khu trung tâm thị trấn, ngôi Nhà dài này toát lên một vẻ thâm trầm, uy nghiêm và tịch mịch. Vách nứa đan ken dày tầng tầng lớp lớp đã ngả sang màu nâu bóng của bồ hóng qua hàng chục mùa đốt nương làm rẫy. Cầu thang gỗ bắc lên sàn được đẽo gọt công phu từ một thân cây cổ thụ nguyên khối, phía trên chạm khắc hình vầng trăng khuyết mềm mại và đôi bầu vú mẹ căng tròn — biểu tượng tối thượng của quyền lực mẫu hệ ngàn đời của người Ê Đê.
Trên khoảng sân rộng thênh thang lát bằng những thân gỗ rừng xẻ đôi đã mòn vẹt dấu chân người qua nhiều thế hệ, bảy tám người phụ nữ bản địa trong trang phục váy thổ cẩm dệt chỉ chàm sẫm viền hoa văn đỏ đang ngồi quây quần bên nhau. Họ không nói cười ồn ã, chỉ thoăn thoắt đôi tay sàng sẩy những nong hạt nương vừa thu hoạch. Tiếng thóc bắp reo rào rào, lạo xạo trên mặt tre đan, hòa vào tiếng nước suối Kơ Nia đổ xiết tạo nên một nhịp điệu lao động thuần khiết, nhịp nhàng và cổ xưa đến nghẹt thở.
Ngồi ở vị trí trung tâm của khoảng sân, ngay trên một chiếc ghế gỗ kpan dài thượt, là một người phụ nữ trạc ngũ tuần.
Bà mặc chiếc áo chui đầu viền chỉ đỏ sẫm quanh cổ và gấu áo, mái tóc hoa râm dày dặn được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm sừng trâu đen bóng. Gương mặt bà vuông vức, đượm màu nắng gió cao nguyên, làn da ngăm đen khỏe khoắn điểm những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt, nhưng đôi mắt thì phẳng lặng, toát lên một vẻ điềm tĩnh và uy nghiêm lạ thường. Đôi bàn tay thô ráp, gân guốc của bà đang bốc từng nắm hạt lúa rẫy màu tím đen tuyền, thả nhẹ từng đợt xuống chiếc nia tre đan khít, đôi mắt chăm chú theo dõi từng hạt lép bị ngọn gió rừng cuốn bay đi.
Đó chính là H’Linh Niê.
Nhiên hít sâu một luồng khí lạnh buốt làm căng rát cuống họng. Lồng ngực cô đập thình thịch những nhịp đứt quãng. Cô bước chậm rãi, cẩn trọng từng bước qua những phiến đá trơn dẫn vào mép sân, tay rút cuốn sổ tay rách gáy của mẹ từ trong ngăn sâu của chiếc ba lô ra, ôm ghì trước ngực như một đứa trẻ ôm lấy tấm phao cứu sinh duy nhất. Phúc bám sát gót phía sau cô, hơi thở anh dồn dập, đôi mắt đảo liên hồi đầy phấn khích khi nhìn thấy khung cảnh nguyên sơ tuyệt đối trước mặt.
“Dạ... cháu chào cô H’Linh,” Nhiên cất tiếng chào. Giọng cô run rẩy nhưng rõ ràng, xuyên qua tiếng lạo xạo của hạt thóc rẫy và tiếng suối reo.
H’Linh Niê không ngẩng đầu lên ngay lập tức. Bà thong thả rũ sạch lớp bụi cám vàng nhạt còn dính trên các đầu ngón tay nứt nẻ, từng động tác khoan thai, chậm rãi như thể thời gian quanh chiếc ghế kpan này đang trôi chảy theo một nhịp điệu hoàn toàn khác với thế giới quay cuồng ngoài kia. Một nét cười mộc mạc, hiền hậu thoáng hiện trên khóe môi bà khi bà ngước mắt lên định mở lời đón tiếp những người khách lạ lỡ bước:
“Khách phương xa đến suối Kơ Nia tìm mua hạt giống gieo rẫy hay muốn xin nước—”
Lời nói của bà đột ngột ngưng bặt giữa chừng.
Nụ cười mộc mạc trên môi H’Linh đông cứng lại. Ánh mắt sắc sảo của bà rơi thẳng xuống cuốn sổ tay bìa bọc da nâu đã sờn rách mép gáy và lộ cả chỉ khâu mà Nhiên đang ôm chặt trước ngực, rồi từ cuốn sổ, ánh mắt ấy từ từ di chuyển lên, dán chặt vào từng đường nét trên gương mặt của cô gái trẻ.
“Cháu là An Nhiên,” cô nuốt khan, cổ họng nghẹn đắng nhưng vẫn cố gắng giữ cho giọng mình không run rẩy. “Cháu là con gái của bà Trần Ngọc Hạ dưới Minh Cảng. Mẹ cháu vừa mới qua đời cách đây ít tuần... Cháu lần theo bức thư của bà Tư Mặn để tìm đến đây, tìm đến cô.”
Khoảnh khắc cái tên “Trần Ngọc Hạ” vừa rớt ra khỏi môi Nhiên, bầu không khí quanh khoảng sân Nhà dài như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt.
Nụ cười hiền hậu biến mất không để lại một dấu vết. Những người phụ nữ đang thoăn thoắt sẩy hạt chung quanh cũng bất giác ngừng bặt đôi tay. Tiếng lúa rẫy rào rào tắt ngấm. Họ đưa mắt nhìn nhau đầy e ngại, rồi đồng loạt cúi gằm mặt xuống nong tre, giữ im lặng tuyệt đối. Cả thung lũng bỗng chốc chỉ còn trơ trọi tiếng nước suối Kơ Nia gầm gào va vào vách đá.
Đôi mắt H’Linh nheo lại, co rút lại thành hai đường rãnh sắc lạnh, chứa đầy sự dò xét, ghẻ lạnh và một nỗi căm giận âm ỉ được khơi dậy sau hai mươi năm chôn giấu. Bà đứng thẳng dậy khỏi chiếc ghế kpan. Dáng người bà không cao lớn nhưng lưng thẳng tắp như cây kơ nia trước gió bão, tỏa ra một áp lực vô hình khiến cả Phúc và Nhiên đều bất giác lùi lại nửa bước.
“Con gái của Hạ?”
H’Linh lặp lại từng tiếng một, giọng bà lạnh buốt như nước ngầm rỉ ra từ kẽ đá mùa sương muối, không còn sót lại một chút ấm áp nào.
“Con gái của người đàn bà đã quay lưng bỏ đi, đạp đổ tất cả để chạy về xuôi hai mươi năm trước?”
“Mẹ cháu... mẹ cháu chưa bao giờ quên những năm tháng ở mảnh đất này,” Nhiên bối rối bước lên một bước, giơ hai tay nâng cuốn sổ da nâu ra phía trước như một lời cầu xin được thấu hiểu. “Trước khi nhắm mắt, mẹ để lại cuốn sổ này cho cháu. Trong những trang viết dở, mẹ có nhắc đến tên cô, nhắc về dòng suối Kơ Nia và bí quyết làm nên nốt đắng của men rượu rẫy... Quán ăn của gia đình cháu đang đứng trước bờ vực sụp đổ, cháu muốn xin cô chỉ dạy—”
“Câm miệng lại!”
H’Linh quát lên. Âm lượng của bà không gào thét, nhưng đanh thép, vang dội và dứt khoát như một nhát rìu chém phập vào thân gỗ mục. Bà sấn tới hai bước, đứng sừng sững trước mặt Nhiên. Đôi mắt bà nhìn xoáy vào cuốn sổ cũ kỹ rồi găm thẳng vào mắt Nhiên, ánh nhìn ngập tràn sự khinh miệt và phẫn nộ tột cùng:
“Chỉ dạy cái gì? Mày vác cái thân xác này, mang theo cuốn sổ rách nát ấy đến mảnh đất này để làm cái trò gì? Để ghi chép thêm vài dòng công thức gia truyền, đo đếm vài cái định lượng gam lạng bằng cân tiểu ly rồi hối hả mang về phố thị bán cho các nhà hàng sang trọng kiếm tiền làm giàu sao?”
Bà giơ ngón tay trỏ khô khốc, móng tay bám đầy đất mùn bazan đen nhánh, chỉ thẳng vào mặt Nhiên:
“Mẹ mày năm xưa cũng lết xác đến đây với hai bàn tay trắng và đôi mắt ươn ướt tỏ vẻ tội nghiệp hệt như mày bây giờ! Tao đã cưu mang nó, coi nó như chị em ruột thịt cùng ăn chung một máng, cùng ngủ chung một chiếu nứa. Tao dạy nó cách nhận biết từng ngọn rau rừng, rễ cây có độc, chia cho nó từng bát cơm độn củ mài qua mùa giáp hạt... Rồi kết cục thì sao? Khi nó học lỏm được vài mẹo ủ men thiêng, hiểu được cách dùng lá đắng rừng để hãm độc tính và giữ vị thơm cho nồi nước dùng, nó dứt áo bỏ đi một mạch trong đêm tối, không thèm ngoái đầu nhìn lại buôn làng lấy một lần! Bây giờ nó chết đi rồi, mày lại vác mặt lên đây, mang theo cái tâm thế trơ trẽn và thực dụng của một kẻ đi sưu tầm công thức ẩm thực!”
“Không phải như cô nghĩ đâu cô H’Linh!” Nhiên tái mét mặt mày, lồng ngực đau nhói như bị xé rách, cô uất nghẹn phân trần. “Cháu không bao giờ có ý định vơ vét hay thương mại hóa tri thức của buôn làng! Quán ăn của mẹ cháu sắp bị người ta phát mãi siết nợ, cháu chỉ muốn đi tìm lại cội nguồn của ‘Vị Nhà’, cháu muốn hiểu tận cùng vì sao suốt cả cuộc đời mẹ cháu luôn sống trong dằn vặt, cô độc và không một ngày nào được thanh thản...”
“Vị Nhà của chúng mày chẳng qua chỉ là tiền tài, là cái danh tiếng hão huyền của mấy cái bếp nấu hào nhoáng dưới xuôi!” H’Linh cười khẩy, nụ cười cay đắng và độc địa như nhựa cây sui rừng. “Hạt giống của đất Mây Đỏ này không phải là thứ hàng hóa để chúng mày ghi chép vào giấy trắng mực đen rồi đem ra ngã giá độc quyền cho một cá nhân nào cả! Tri thức của suối Kơ Nia này thuộc về đất mẹ bazan, thuộc về những người đàn bà trần lưng cuốc đất, gùi từng gùi phân tro vun gốc trần lực trên rẫy từ đời này sang đời khác. Nó vĩnh viễn không thuộc về những đứa cầm bút viết công thức cơ học và nhìn cuộc đời bằng sự tính toán thiệt hơn!”
Thấy tình thế trở nên căng thẳng tột độ và có nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn, Hoàng Phúc vội vàng chen ngang bước lên phía trước. Anh nở nụ cười làm quen chuyên nghiệp, tay rút chiếc thẻ báo chí của nhóm truyền thông Đường Xa đang đeo lủng lẳng trước ngực ra giơ về phía H’Linh:
“Dạ thưa cô H’Linh, cháu rất hiểu sự hiểu lầm và tổn thương sâu sắc giữa thế hệ tiền nhân của hai gia đình. Nhưng tụi cháu lên đây thực sự với một tinh thần văn hóa vô cùng nghiêm túc ạ. Cháu là phóng viên của kênh du ký Đường Xa, nếu cô tạo điều kiện cho phép, chúng cháu có thể thực hiện một phóng sự tài liệu chuyên sâu, hình ảnh chất lượng cao để tôn vinh hệ thống hạt giống bản địa và quy trình ủ men rượu cần thiêng liêng của cô. Việc này vừa có giá trị bảo tồn, vừa giúp buôn làng mình quảng bá—”
*Bốp!*
Hoàng Phúc chưa kịp nói hết câu, bàn tay thô ráp như vỏ cây của H’Linh đã vung lên trong không khí, giáng một đòn dứt khoát gạt phăng chiếc máy quay cầm tay gắn ống kính đắt tiền mà anh đang kẹp bên hông.
Cú gạt bất ngờ và mạnh bạo khiến Phúc loạng choạng, trượt chân trên phiến đá rêu ướt suýt ngã nhào xuống bậc thềm, chiếc máy quay va vào mép túi kêu *cộp* một tiếng thót tim.
“Cất ngay cái con mắt sắt vô hồn đó đi!”
H’Linh gầm lên một tiếng rền rĩ, đôi mắt bà bốc hỏa nhìn trừng trừng vào Phúc khiến anh chết trân tại chỗ:
“Lũ thị thành các người chỉ giỏi mang mấy thứ máy móc ma quỷ đến đây rình mò, soi mói, rồi biến đời sống, sự linh thiêng của tổ tiên và nỗi đau sâu kín của người khác thành trò tiêu khiển rẻ tiền câu khách trên mạng! Tao cấm tiệt việc chĩa ống kính máy ảnh vào ngôi Nhà dài này, cấm chĩa vào bồ hạt giống và tất cả các nghi lễ kiêng cữ của buôn tao!”
Dứt lời xua đuổi Phúc, bà quay phắt sang nhìn Nhiên. Lồng ngực H’Linh phập phồng dữ dội sau cơn thịnh nộ.
Ánh mắt sắc lẹm của bà lướt qua đôi bàn tay đang quấn băng trắng lốm đốm những vệt máu khô và nước vàng của Nhiên. Trong một phần mười giây ngắn ngủi, đáy mắt người đàn bà vùng cao bỗng chùng xuống, một tia chấn động mơ hồ thoảng qua rồi lập tức bị sự sắt đá đanh thép lấn át hoàn toàn.
H’Linh tiến sát lại gần Nhiên, khoảng cách gần đến mức Nhiên có thể ngửi thấy mùi vỏ cây rừng, mùi khói bồ hóng và vị ngai ngái nồng đậm của men ủ tỏa ra từ vạt áo chàm của bà. Giọng H’Linh hạ thấp xuống, run rẩy một cách kỳ lạ, như thể mỗi thanh âm thốt ra đều đang cào xước vào một vùng ký ức mục ruỗng và rỉ máu:
“Mày có đôi mắt nhìn bướng bỉnh hệt như mẹ mày ngày ấy... Một đôi mắt ngoan cố, mang tội lỗi ngập tràn trong lòng nhưng không bao giờ chịu cúi đầu thừa nhận. Mày có biết mảnh đất bazan ẩm ướt ven bờ suối Kơ Nia kia từng chôn vùi cái gì dưới đó không? Mày có biết một sinh linh bé bỏng, tội nghiệp đã vĩnh viễn không thể cất tiếng khóc chào đời vì sự ích kỷ tàn nhẫn và những toan tính trốn chạy của con Hạ năm ấy không?”
Nhiên chết lặng.
Đất trời dưới chân cô như sụt lún thành một hố sâu thăm thẳm.
Một sinh linh bé bỏng? Không thể cất tiếng khóc chào đời? Từng con chữ của H’Linh rơi xuống màng nhĩ cô như những nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can, đập tan tành mọi trật tự nhận thức và hình dung về gia đình, về người mẹ mà cô từng tôn kính và phụng sự suốt gần ba mươi năm qua. Mẹ cô... người đàn bà luôn giữ khoảng cách lạnh lùng với đàn ông, người mẹ chỉ biết đến dao thớt và bếp lửa... đã từng mang thai ở chốn rừng sâu này sao? Đứa trẻ bạc mệnh đó là ai? Chuyện gì đã thực sự xảy ra bên bờ suối Kơ Nia hai mươi năm trước?
H’Linh hít một hơi thật sâu để nén cơn chấn động trong lồng ngực. Bà quay lưng lại với hai người, cất giọng lạnh tanh, ban phát một tối hậu thư dứt khoát không có chỗ cho sự thương lượng:
“Tao dứt khoát không bao giờ hé lộ bất kỳ kỹ thuật ủ men hay cách phối vị nào cho một kẻ xa lạ mang theo cuốn sổ đến đây để ăn cắp tri thức. Tao cũng không bao giờ cho mày chạm mắt vào bất kỳ trang ghi chép nào mà mẹ mày vứt lại đất này năm xưa. Nếu mày thực sự muốn ở lại cái buôn làng này để hiểu thấu thứ mà con mẹ mày đã nhẫn tâm vứt bỏ, mày phải làm việc như một con người của buôn làng.”
Bà chỉ tay về phía rặng núi mờ sương phía sau thung lũng:
“Mùa thu hoạch hạt giống nương rẫy bắt đầu từ rạng sáng ngày mai. Mày phải theo những người đàn bà trong buôn lên đỉnh núi, gùi lá đắng rừng về đây bằng đôi tay trần của mày, không được dùng găng bảo hộ. Mày phải cào hạt, sẩy thóc, phơi bắp từ lúc sương muối chưa tan cho đến khi mặt trời lặn hẳn sau đỉnh núi, không được thiếu một buổi nào.”
Bà quay phắt đầu lại, ánh mắt như mũi tên nhắm thẳng vào Hoàng Phúc:
“Còn thằng này, nếu muốn vác cái xác đi theo sau nó, mày phải tháo pin, cất toàn bộ máy quay phim, máy ảnh và đồ nghề vào tận đáy ba lô rồi khóa chặt lại. Nếu tao bắt gặp mày lén lút bấm máy ghi hình dù chỉ một góc bếp, một nong hạt giống hay bất kỳ nghi thức cúng thần linh nào của buôn, tao sẽ sai đám thanh niên trai tráng ném toàn bộ đồ nghề của mày xuống đáy vực suối Kơ Nia và tống cổ cả hai đứa chúng mày cút xéo khỏi Mây Đỏ ngay tức khắc! Làm được thì bước vào góc chái bếp mà ngủ qua đêm, không làm được thì xách đồ đạc biến về thành phố ngay bây giờ!”
Dứt lời phán quyết nghiệt ngã, H’Linh không thèm liếc nhìn lại lấy một lần. Bà dứt khoát bước thoăn thoắt lên những bậc cầu thang gỗ đẽo hình trăng khuyết, bóng dáng uy nghiêm và cô độc của bà nhanh chóng biến mất sau cánh cửa nứa khép chặt của ngôi Nhà dài.
Sân nứa lại chìm vào khoảng im lặng ngột ngạt. Bảy tám người phụ nữ bản địa lặng lẽ ôm lấy những nong hạt tím đen, đứng dậy đi vòng ra phía sau nhà, không một ai dám cất tiếng hay ngoái nhìn hai kẻ lạ mặt dưới xuôi.
Chung quanh chỉ còn trơ trọi tiếng suối Kơ Nia gầm gào đổ nước qua những ghềnh đá sắc nhọn và tiếng gió rít từng hồi qua tán cây kơ nia cổ thụ.
Đúng lúc ấy, trong túi quần của Hoàng Phúc, chiếc điện thoại rung lên từng hồi bần bật, kèm theo những tiếng chuông báo tin nhắn dồn dập vang lên inh ỏi. Phúc giật mình móc vội điện thoại ra xem. Màn hình vừa vặn bắt được một vạch sóng chập chờn, hiện lên hàng loạt dòng tin nhắn đỏ lòm từ trưởng ban biên tập của nhóm truyền thông Đường Xa gửi tới:
*“Hoàng Phúc! Tiến độ phóng sự độc quyền về ẩm thực bí truyền vùng cao Mây Đỏ đến đâu rồi hả? Bên đối tác tài trợ vừa giục rát mặt! Ban biên tập yêu cầu cậu phải gửi ít nhất ba đoạn clip tư liệu độc lạ, cảnh quay cận cảnh quy trình men rượu bản địa trước 12h trưa mai để kịp dựng khung giờ vàng! Nếu kỳ này cậu không có bài độc quyền giao nộp, hợp đồng cộng tác viên dài hạn của cậu sẽ bị hủy bỏ ngay lập tức, toàn bộ chi phí tạm ứng sẽ bị thu hồi toàn bộ đấy!”*
Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán Phúc, bất chấp cơn gió rừng đang thổi buốt buốt hai bên tai.
Anh nắm chặt chiếc điện thoại đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, thở dồn dập từng cơn. Phúc vò đầu bứt tai, nhìn quanh ngôi làng thâm u, ẩm ướt và hoang lạnh rợn người, rồi quay phắt sang nhìn Nhiên, giọng anh run rẩy vì bế tắc và hoảng loạn tột độ:
“Nhiên à, tôi nói thật lòng đấy, điều kiện của bà già này quá vô lý và tàn nhẫn! Không cho tôi quay phim, không cho chụp ảnh thì tôi lấy cái gì để nộp báo cáo cho tòa soạn đây? Cô nhìn đi, tin nhắn giục cháy máy từ ban biên tập đây này! Nếu trưa mai tôi không có tư liệu độc quyền để chuyển về thành phố, tôi sẽ mất trắng công việc này, tiền phạt vi phạm hợp đồng tôi lấy đâu ra cả trăm triệu mà đền bù cho người ta? Hay là mình rút lui đi Nhiên? Mình quay ngược về khu phố chợ ngoài kia, tìm mấy hàng quán kinh doanh đồ rừng của người Kinh mà quay phóng sự cho xong chuyện? Bà già này cay nghiệt, thù hằn mẹ cô từ trong tủy xương rồi, cô có ở lại đây chịu hành xác, dùng tay trần gùi lá rừng cho nát thịt ra thì bà ấy cũng chẳng bao giờ mở miệng truyền dạy cho cô một nửa bí quyết đâu!”
Nhiên vẫn đứng chôn chân trên nền đất đỏ bazan nhão nhoét.
Từng câu chữ H’Linh vừa thốt ra về “sinh linh bạc mệnh không thể chào đời” và “vết thương hai mươi năm trước” vẫn đang dội vào lồng ngực cô từng đợt đau đớn nhức nhối, xáo trộn toàn bộ tâm can cô.
Cô cúi đầu nhìn xuống đôi bàn tay trần của mình. Đôi bàn tay này từng là niềm kiêu hãnh của một cựu bếp phó nhà hàng năm sao, từng quen nâng niu những lưỡi dao rèn thủ công đắt đỏ của Nhật Bản, từng quen thái tỉ mỉ từng lát cá hồi trên thớt gỗ sạch bóng không một vết tì. Thế nhưng giờ đây, đôi bàn tay ấy đang phủ đầy những vết trầy xước của gai rừng, những vết nứt nẻ ăn sâu vào thịt vì cào muối ở bờ biển Vạn Gió, những vết chai sần vì cọ rửa đáy chảo khổng lồ ở đèo Ba Ngọn Đèn.
Và ngay lúc này, Nhiên bỗng hiểu ra một cách sâu sắc và đau đớn: Mẹ cô — bà Trần Ngọc Hạ — năm xưa đã bước đi trên mảnh đất này không phải với tư thế kiêu hãnh của một người thợ nấu tài hoa đi tìm kiếm vinh quang, mà là bước đi của một kẻ mang trên lưng những vết thương tội lỗi rách toác, đi tìm sự cứu chuộc bằng chính sự nhọc nhằn xác thịt.
Nếu cô muốn chạm vào phần sâu kín nhất trong tâm hồn mẹ, nếu cô muốn hiểu được linh hồn thực sự của thứ gọi là “Vị Nhà” để cứu lấy Bếp Hạ, cô không thể đứng ngoài cuộc như một kẻ đứng xem dạo chơi.
Nhiên từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô không còn chút dao động hay sợ hãi nào nữa, mà phẳng lặng, kiên định lạ thường khi nhìn thẳng vào ô cửa sổ nứa khép hờ trên vách Nhà dài. Cô quay sang Phúc, giọng nói trầm tĩnh nhưng dứt khoát như đinh đóng vào cột gỗ:
“Tôi ở lại đây, Phúc ạ.”
“Cô mất trí thật rồi sao Nhiên?” Phúc giãy nảy lên, giậm chân bành bạch xuống bùn đất. “Cô không nghe bà ấy vừa đe dọa à? Gùi lá đắng rừng bằng tay trần, làm việc quần quật từ sớm tinh mơ đến tối mịt như một con trâu trên rẫy, mà kết quả có khi chỉ là con số không tròn trĩnh!”
“Tôi không mất trí,” Nhiên nhìn thẳng vào mắt Phúc, từng lời nói rành rọt rơi trên nền đá ướt lạnh. “Tôi lặn lội đến tận ngọn suối này không phải chỉ để săn lùng một công thức nêm nếm nhét vào thực đơn nhằm giữ lại cái biển hiệu Bếp Hạ đang bị đòi nợ. Tôi đến đây để biết mẹ tôi rốt cuộc là ai, và bà ấy đã nhẫn tâm bỏ lại những điều gì ở dòng suối Kơ Nia này. Nếu anh sợ mất việc, sợ đền bù hợp đồng, anh có thể đem máy móc quay trở lại thị trấn ngay bây giờ, tôi không trách anh. Còn tôi, sáng mai tôi sẽ theo những người đàn bà trong buôn lên núi gùi lá đắng.”
Hoàng Phúc nhìn trừng trừng vào gương mặt lì lợm đến cùng cực của Nhiên. Cơn giận và sự bất lực nghẹn lại nơi cổ họng anh. Nhìn đôi mắt rực lửa nhưng kiên định đến mức tàn nhẫn của cô gái trước mặt, Phúc biết mọi lời khuyên can lúc này đều trở nên vô nghĩa.
Anh thở hắt ra một hơi dài thườn thượt, hai vai xuôi xịu xuống trong sự cam chịu. Phúc cắn chặt môi, lẳng lặng ngồi bệt xuống một phiến đá khô, tháo chiếc máy quay khỏi túi đeo, bấm chốt tắt nguồn, cẩn thận tháo rời ống kính rồi nhét sâu tất cả vào tận đáy chiếc ba lô chuyên dụng, kéo khóa lại một cách nặng nề, dẫu cho trên gương mặt góc cạnh của anh vẫn hằn rõ sự bồn chồn, lo âu và căng thẳng khôn nguôi về thời hạn chót của tòa soạn.
Buổi chiều buông xuống thung lũng Mây Đỏ nhanh chóng và ngột ngạt như một tấm màn tang sẫm màu.
Sương mù từ các hẻm núi sâu lại bắt đầu cuồn cuộn tràn qua những rặng muồng đen, mang theo cái lạnh thấu xương và mùi ẩm ướt của rêu phong đá suối. Hoàng hôn nơi đây không có ráng đỏ rực rỡ, chỉ là một dải màu xám chì ảm đạm lụi tàn dần phía sau rặng núi xa xôi.
Ngồi cô độc trên một bậc đá mồ côi bên mép suối Kơ Nia, nơi những dòng nước gầm gào tung bọt trắng xóa va đập không ngớt vào những phiến đá tảng lởm chởm, Nhiên lặng lẽ mở cuốn sổ tay bìa da nâu của mẹ ra dưới ánh sáng le lói cuối cùng của ngày tàn.
Gió rừng thổi lật từng trang giấy dó ố vàng, nham nhở những vết ố của thời gian.
Nhiên lật đến những trang gần cuối, nơi nét chữ của mẹ cô bắt đầu trở nên run rẩy, nguệch ngoạc và mất dần trật tự thẳng hàng ngay ngắn thường thấy. Ngón tay cô bỗng chạm vào một trang giấy đã bị giật đứt mất một nửa. Mép giấy rách lởm chởm, xơ xác như thể từng bị một bàn tay run rẩy xé toạc đi trong một cơn hoảng loạn tột cùng của quá khứ.
Giữa phần giấy còn sót lại bị ố đen bởi một vệt nhựa cây rừng đã khô cứng từ hai mươi năm trước, không có bất kỳ định lượng gam lạng nào, không có bất kỳ công thức món ăn nào. Nơi đó chỉ còn trơ trọi một dòng chữ viết tay duy nhất của bà Trần Ngọc Hạ, mực tím đã ngả sang màu máu khô, run rẩy và nhức nhối:
*“Đắng để nhớ mình từng gây đau thương.”*