Công Thức Của Những Nẻo ĐườngCh.7 / 20
Chapter 7

Ba Ngọn Đèn trong đêm lũ

Tiếng còi hơi gầm rú xé toạc màn đêm mưa gió khi ba chiếc xe khách đường dài chở đầy phụ nữ và trẻ em run rẩy vì lạnh đồng loạt táp vào khoảng sân lầy lội trước quán Ba Ngọn Đèn.

Bùn đỏ từ sườn đèo theo dòng nước tuôn xối xả, tràn ngập đến nửa bánh xe, đặc quánh như cháo khuấy dở. Mỗi đợt gió rít qua hẻm núi lại kéo theo những luồng nước mưa quất rát mặt vào từng tấm kính chắn gió cáu bẩn. Cánh cửa xe vừa bung mở kèm theo tiếng xì hơi mệt mỏi của hệ thống giảm xóc, hơi lạnh buốt giá đặc quánh của vùng núi cao lập tức ùa vào khoang hành khách ngột ngạt. Hơn một trăm con người lũ lượt kéo nhau xuống xe, bồng bế, dắt díu nhau chạy thốc vào mái hiên tôn đang rung lên bần bật dưới từng đợt gió giật.

Tiếng trẻ con khóc thét vì say xe, vì ngấm lạnh và hoảng sợ quyện chặt vào tiếng người lớn gọi nhau í ới, tiếng đế dép trượt dài trên bùn nhão, tạo nên một mớ âm thanh hỗn loạn, chực chờ đẩy không gian chật hẹp của quán cơm bình dân bên đường vào cơn hoảng loạn tột cùng. Những chiếc áo mưa tiện lợi mỏng manh bị gió xé rách tả tơi, bay phần phật như những cánh buồm rách giữa biển động. Người ta chen lấn, dẫm đạp lên nhau chỉ để tìm một tấc đất khô ráo dưới mái hiên đang rỉ nước tong tỏng.

Diệp quăng vội chiếc giẻ lau bếp xuống mặt phản gỗ phát ra một tiếng "bốp" khô khốc, sải những bước dài vững chãi ra cửa lớn. Chiếc tạp dề bằng vải thô dày cộp trên người chị đã ướt đẫm nước mưa tạt ngang qua rèm bạt dứa. Chị đứng sừng sững giữa ngưỡng cửa, hai chân dang rộng như hai cột nhà cắm sâu xuống nền xi măng, giọng nói vang rền lồng lộng át cả tiếng gầm của mưa rừng gió núi:

“Bà con vào hết trong nhà! Đừng đứng ngoài mé hiên gió lùa trúng lạnh! Đàn bà bế con nhỏ dồn vào gian giữa sát bếp than, thanh niên nhường chiếu khô cho người già trước! Cứ bình tĩnh, lọt vào đây rồi thì không ai phải chết rét ngoài đèo hết!”

Tiếng thét đầy uy quyền và dứt khoát của người đàn bà chủ quán như một chiếc mỏ neo cắm phập vào tâm lý đang chao đảo của đám đông. Dòng người bắt đầu bớt xô đẩy, trật tự nhích từng bước qua khung cửa hẹp.

Chỉ trong vòng mười phút, gian nhà ăn vốn dĩ chỉ kê vừa vặn sáu chiếc bàn gỗ dài dành cho cánh tài xế xe tải đường dài đã chật ních người đến mức không còn một chỗ đặt chân. Nước mưa từ những chiếc áo mưa rách bươm, từ gấu quần bết bùn đất của đoàn người chảy ròng ròng xuống nền xi măng, đọng thành từng vũng nhớp nháp màu đất đỏ. Hơi ẩm bốc lên hầm hập, quyện với mùi dầu gió cay nồng, mùi nôn nao chua loét của những kẻ say xe vật vã suốt mấy tiếng đồng hồ qua các khúc cua tay áo, hòa lẫn cái lạnh cắt da cắt thịt từ bên ngoài thổi thốc vào tạo nên một bầu không khí ngột ngạt đến khó thở. Hơn một trăm cặp mắt mệt mỏi, tái nhợt vì đói lả và kiệt sức đồng loạt hướng dồn về phía quầy bếp đang đỏ lửa ở góc nhà, le lói tìm kiếm một tia hy vọng sinh tồn.

Nhiên đứng chết trân bên chiếc bàn soạn đồ ăn bằng gỗ mộc. Bàn tay cô, vốn dĩ vừa được băng bó tạm bợ bằng những dải gạc trắng sau chuỗi giờ cọ rửa dầu mỡ đến nứt nẻ, bật máu dưới làn nước giếng lạnh buốt, khẽ siết chặt lấy mép gỗ gồ ghề. Cô quay sang nhìn Diệp, lồng ngực thắt lại, hạ giọng thật thấp nhưng không giấu nổi vẻ lo lắng tột cùng:

“Chị Diệp, tủ mát cạn sạch rồi. Chỗ thịt vai nạc ban nãy em lọc vớt vát chỉ còn chưa đầy hai cân bạc nhạc, mấy chảo bắp cải xào nốt cho cánh tài xế xe ben từ chập tối cũng hết nhẵn không còn một cọng. Đoạn đường dưới chân đèo sạt lở nặng, bùn đất lấp hết rãnh thoát nước, xe bỏ mối rau tươi với thịt lợn sớm mai chắc chắn không tài nào vượt dốc lên được.”

Diệp không nói một lời, bước vội vào góc kho lạnh dã chiến kê sát vách nứa phía sau chái bếp. Chị giật tung cánh cửa nhôm bọc xốp cách nhiệt. Bên trong trống hoác, lạnh lẽo một cách tàn nhẫn. Không còn một miếng thịt tươi, không một quả trứng, chỉ trơ trọi vài chiếc can nhựa đựng mỡ lợn đã đông đặc trắng xóa đáy can và mấy túi đá cây đã tan gần hết, nước rỉ ra sàn lênh láng.

Một cuộc khủng hoảng thực sự đang hiển hiện ngay trước mắt. Hơn một trăm con người đang đói lả, quần áo ướt sũng, run rẩy bần bật giữa cơn bão quét ngang đỉnh đèo, trong khi gian bếp của Ba Ngọn Đèn lúc này chỉ còn là một khoang rỗng không có lấy một tảng thịt hay bó rau xanh tử tế.

Nhiên phóng tầm mắt nhìn qua khe cửa ngách, hướng ra gian nhà ngoài. Ở chiếc bàn cạnh vách nứa, một người mẹ trẻ trùm chiếc khăn len rách đang ôm chặt đứa con nhỏ chừng hai tuổi vào lòng. Đứa bé đói sữa, mặt mũi tái mét, đôi môi nhỏ xíu tím lịm vì rét buốt, chỉ còn biết cất lên những tiếng khóc ngằn ngặt yếu ớt như tiếng mèo con. Cạnh đó, những người già co ro túm tụm, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng hồi.

Nhiên hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô căng tràn không khí ẩm ướt và giá lạnh của đỉnh núi. Sự hoảng hốt và bối rối ban đầu dần dần nhường chỗ cho phản xạ lì lợm, sắc sảo của một người từng trải qua những giờ cao điểm nghẹt thở nơi gian bếp lửa nhà hàng chuyên nghiệp. Cô nhìn sang Diệp, ánh mắt kiên định lạ thường:

“Chị Diệp, mở kho đồ khô dự trữ đi. Trong tình cảnh này tuyệt đối không thể nấu cơm đĩa hay xào nấu riêng lẻ theo phần được nữa. Gạo trong thùng không đủ nấu cơm khô cho từng này miệng ăn, mà lúc này cũng không ai nuốt nổi cơm hạt khô khốc đâu. Họ cần cái gì đó thật lỏng, thật nóng rực, giàu năng lượng và ngấm thẳng vào huyết mạch để giữ thân nhiệt trước khi nhiễm lạnh vào phổi.”

Diệp quay phắt lại nhìn thẳng vào mắt Nhiên. Trong ánh sáng bập bùng của ngọn đèn bão treo trên xà nhà, ánh mắt người đàn bà dạn dày sương gió, quen chống chọi với những cơn giận dữ của rừng thiêng nước độc bỗng lóe lên một tia quyết đoán đầy tin cậy:

“Mày nói chí phải. Gian bếp này tao dựng lên mười năm nay, chưa bao giờ để khách chết đói lả trên đèo. Đằng sau vách kho còn chỗ trữ củ quả dã chiến phòng mùa sạt lở cô lập. Đi với tao!”

Cánh cửa kho gỗ kiên cố phía sau chái bếp bật mở với một tiếng cót két nặng nề. Mùi ẩm mốc của vách gỗ mục phả ra sực nức, quyện với mùi đất ẩm và tinh dầu hăng hắc của những thứ củ nằm sâu dưới lòng đất.

Không có những luống rau xanh mướt được đóng gói cẩn thận trong bọc nylon đục lỗ, cũng chẳng có những dải thịt thăn đỏ tươi mọng nước nằm ngay ngắn trên khay đá bào như trong những căn bếp tiêu chuẩn năm sao lộng lẫy mà Nhiên từng gắn bó suốt những năm tháng ở Minh Cảng. Hiện ra trước mắt cô dưới ánh đèn pin leo lét là bốn bao tải gai lớn đựng khoai tây, cà rốt và củ cải loại hai — thứ nông sản xù xì, gồ ghề, vỏ bám đầy đất đỏ khô khốc, trầy xước chằng chịt, dập đầu dập đuôi mà bất kỳ một bếp trưởng khó tính nào ở đô thị cũng sẽ lập tức cau mày quẳng thẳng vào thùng rác hữu cơ. Nằm nép bên góc tường đá ẩm ướt là hai vại sành da lươn lớn bọc miệng bằng nhiều lớp lá chuối khô và dây mây, nơi chứa thịt lợn ba chỉ bạc nhạc muối hạt theo lối cổ truyền của đồng bào vùng cao — thứ thịt mỡ nhiều hơn nạc, ngâm ngập trong muối mặn chát đến quắt queo để có thể treo gác bếp hoặc ủ vại ăn dè quanh năm suốt tháng qua những mùa giáp hạt.

Nhiên không chần chừ dù chỉ một giây ngắn ngủi. Mọi định kiến hà khắc về những đĩa thức ăn thanh tao, tinh xảo, những quy chuẩn thẩm mỹ đắt đỏ của chốn thị thành lúc này đã bị cơn gió bão gầm gào ngoài kia cuốn phăng đi không dấu vết. Bản năng sinh tồn và thiên chức của người thợ nấu bùng cháy mãnh liệt trong huyết quản. Cô xắn cao tay áo len ướt sũng lên quá khuỷu tay, cầm chiếc nạo sắt cùn đã mòn vẹt lưỡi đưa cho Diệp một chiếc:

“Gọt bỏ hết phần dập thối và rễ con, giữ lại tối đa phần thịt củ! Càng nhiều tinh bột hầm ra càng tốt! Chị Diệp băm nhuyễn chỗ thịt muối này xào cho kiệt mỡ lấy nước béo phi thơm, em ra ngoài nhóm thêm hai bếp than lớn ngoài chái!”

Một nhịp điệu lao động cuồng nhiệt, gấp gáp lập tức bùng nổ trong gian bếp ẩm thấp của quán Ba Ngọn Đèn. Hoàng Phúc từ ngoài hiên chạy xộc vào, gương mặt thư sinh tái ngắt vì lạnh nhưng đôi mắt ánh lên vẻ hốt hoảng lẫn sốt sắng. Anh cởi phăng chiếc áo khoác gió sũng nước mưa vứt toẹt lên chiếc ghế đẩu, dùng đôi bàn tay vốn dĩ chỉ quen mân mê ống kính máy quay và bàn phím máy tính để thoăn thoắt xách từng xô nước mưa đã lắng cặn trong bể xi măng đổ đầy vào hai chiếc nồi quân dụng khổng lồ bằng nhôm đúc kê trên kiềng sắt.

Nhiên ngồi thụp xuống chiếc đòn gánh kê tạm, đôi tay thoăn thoắt đưa lưỡi nạo trên những củ khoai tây và củ cải méo mó. Những vết nứt nẻ trên đầu ngón tay cô chạm vào lớp đất cát ẩm ướt và nước lạnh buốt rát đến tận tủy sống, từng cơn nhói buốt chạy dọc sống lưng, nhưng cô nghiến chặt răng, miết chặt lưỡi dao. Nhát nạo dứt khoát gọt phăng đi những vết thối nhũn do va đập trên đường vận chuyển, giữ lại trọn vẹn những mảng ruột củ vàng ươm, trắng muốt chứa đầy dưỡng chất của đất rừng.

Tiếng dao va vào thớt gỗ nghiến vang lên những thanh âm chắc nịch, dồn dập như tiếng trống trận. Nhiên thái đống củ cải, khoai tây và những khoanh bí đỏ vỏ sần sùi thành những khối quân cờ dày bản, vuông vức. Kỹ thuật thái hạt lựu tinh xảo của ẩm thực Âu biến mất, thay vào đó là những nhát chém khoáng đạt, thô mộc, có chủ đích: khối củ dày sẽ không bị nát vụn khi ninh ở nhiệt độ cao trong nồi lớn, giữ lại được độ dẻo quánh tự nhiên và tiết ra chất ngọt từ từ vào dòng nước dùng.

Bên cạnh cô, Diệp thoăn thoắt vung chiếc dao bài bản lớn, lưỡi dao bằng thép nhíp xe nặng trịch bổ xuống súc thịt ba chỉ muối đông cứng. Tiếng băm thịt dội vào lòng đêm nghe chan chát, dẻo quánh. Những dải thịt muối ngấm đượm mỡ trắng và những thớ nạc đỏ sẫm nhuốm hương hạt dổi, tiêu rừng được chị trút thẳng vào chiếc chảo gang to bằng cái nong đang bốc khói ngùn ngụt trên miệng lò than rực đỏ.

*Xèo...!*

Một tiếng reo vui tai bùng lên dữ dội. Lớp mỡ lợn tan chảy xèo xèo, bốc lên những cuộn khói trắng đặc quánh mang theo mùi thơm ngậy béo ngút ngàn của mỡ khổ quyện với hành khô đập dập và tiêu rừng nồng đượm. Mùi hương đậm đà, hoang dại ấy xộc thẳng vào cánh mũi, ngay lập tức xua tan đi mùi ẩm mốc thối rữa của gian bếp ẩm và sự ảm đạm đang bủa vây ngôi nhà.

Diệp không dừng tay. Chị với tay chộp lấy cả một rổ gừng già củ nhỏ khẳng khiu bám đầy đất đồi cùng một vốc hành hương nguyên củ ném thẳng vào vỉ than củi hồng rực bên cạnh. Vỏ ngoài của gừng và hành cháy sém kêu tanh tách, tứa ra những giọt nhựa cay xè. Khi gặp nhiệt độ cực cao, tinh dầu gừng già và hành hương bị nén chặt bên trong lập tức bùng nổ, tỏa ra một mùi thơm nồng nàn, ấm áp và cay rát đến nghẹn ngào nơi cuống họng.

Diệp vơ lấy chiếc chày gỗ lớn, giã nát mớ gừng và hành nướng còn đang bốc khói bỏng rẫy ngay trên mặt thớt, rồi bằng một động tác dứt khoát của người thợ rừng lão luyện, chị hất trọn mớ gia vị nóng rực ấy vào hai nồi nước dùng dã chiến đang bắt đầu sủi bọt tăm ùng ục.

Toàn bộ số khoai tây, củ cải và bí đỏ sau khi được Nhiên sơ chế sạch sẽ được đổ ụp vào lòng chảo mỡ lợn đang sôi réo rắt. Nhiên dùng chiếc xẻng sắt cán dài đảo đều thoăn thoắt. Từng miếng củ lấp lánh lớp mỡ bóng loáng, vỏ ngoài hơi se lại, hút trọn lấy vị béo ngậy và độ mặn mòi nguyên bản của thịt muối trước khi được trút toàn bộ sang hai nồi nước dùng lớn đang sôi ùng ục.

Mùi gừng già nướng lửa than, mùi hành hương sém cạnh, vị ngọt thanh khiết tự nhiên tiết ra từ những loại củ quả xù xì và vị mặn sâu hoắm, ngầy ngậy của mỡ lợn muối quyện chặt vào nhau thành một cột hơi nước ấm sực, cuồn cuộn bốc lên trần nhà rồi theo luồng gió tràn thẳng ra gian ngoài.

Trong gian nhà ăn, tiếng khóc ngặt nghẽo của những đứa trẻ bắt đầu dịu dần. Những cái đầu ủ rũ bắt đầu ngẩng lên. Những ánh mắt đói lả, tuyệt vọng bất giác nhìn trừng trừng vào làn khói trắng đục đang tỏa ra từ phía khung cửa bếp, nơi hai chiếc bóng phụ nữ đang thoăn thoắt chuyển động không ngừng bên ánh lửa hồng. Mùi thơm của củ quả ninh nhừ và gừng cay như một liều thuốc trợ tim vô hình, truyền thẳng sức sống vào huyết quản của những con người đang tê liệt vì giá buốt.

Hai nồi súp củ quả dã chiến sôi réo rắt, nước dùng sánh lại, chuyển dần sang một màu vàng hổ phách sóng sánh tuyệt đẹp nhờ tinh bột khoai tây hòa tan và sắc đỏ ấm áp của cà rốt, bí ngô.

Nhiên cầm chiếc muôi nhôm cán dài múc một ngụm nước súp nhỏ, thổi phù phù rồi nếm thử trên lòng bàn tay. Vị ngọt lịm đậm đà của rau củ ninh kỹ ùa vào khoang miệng, kế tiếp là vị mặn sâu, đậm đà nhưng không hề gắt của thịt muối ủ vại, và cuối cùng, đọng lại thật lâu nơi cuống họng là cái cay xé nồng ấm, râm ran của gừng già cháy cạnh. Hoàn toàn không có một hạt mì chính, không một thìa hạt nêm công nghiệp hay chất điều vị tổng hợp nào; đó là nguồn năng lượng thuần khiết, mộc mạc và dữ dội nhất được chắt lọc từ đất đá cằn cỗi và ngọn lửa rừng. Thứ nước súp ấy sinh ra không phải để thưởng thức nhàn nhã trong phòng lạnh, mà để cứu rỗi những cơ thể đang đứng bên bờ vực suy kiệt.

“Ra món! Bưng ra mau!” Diệp hét lớn, tiếng hô đầy sảng khoái át đi cả tiếng sấm rền vang trên đỉnh núi đá.

Nhiên nhanh thoăn thoắt xếp những chồng bát sành thô kệch, sứt miệng lên mâm nhôm. Chiếc muôi lớn múc từng tô súp đầy ăm ắp, khói bốc lên nghi ngút làm mờ nhòe cả mắt kính của Phúc. Không đợi ai phụ giúp, Nhiên trực tiếp bê chồng bát nóng rực bưng thẳng ra gian nhà ngoài.

Cô bước nhanh đến góc chiếu ẩm ướt sát vách nứa, nơi một cụ già tóc bạc phơ đang ngồi bó gối co ro, hàm răng lập cập không thể nói thành lời, đôi bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh run rẩy như chiếc lá rụng trước gió. Nhiên ngồi thụp xuống chiếc nền xi măng lạnh buốt, hai tay cung kính nâng chiếc bát sành còn bốc khói rực rỡ đưa đến tận tay cụ:

“Cụ ơi, cụ húp tạm bát súp nóng này cho ấm người đã ạ. Con cố ý múc phần khoai tây với củ cải hầm thật nhừ dưới đáy nồi, mềm tan như cháo, cụ không phải nhai nhiều đâu. Cụ húp từng ngụm nhỏ thôi kẻo bỏng miệng nhé cụ.”

Cụ già run rẩy đưa hai bàn tay nhăn nheo, sạm đen bám đầy bụi đường đón lấy chiếc bát sành. Hơi nóng từ thành gốm thô truyền thẳng vào lòng bàn tay tê dại khiến cụ rùng mình một cái. Đôi mắt mờ đục ầng ậng nước mắt, cụ ngước nhìn Nhiên, giọng nói thều thào run rẩy nghẹn ngào:

“Đội... đội ơn cô... Giữa chốn đèo heo hút gió máy thế này, xe chết máy tắc đường từ trưa... có được hớp nước nóng ấm bụng thế này là sống lại rồi cô ơi...”

Nhiên mỉm cười, đôi mắt cô lấp lánh trong ánh đèn leo lét. Cô đứng dậy, thoăn thoắt chuyển sang chiếc bàn gỗ dài ọp ẹp nơi người mẹ trẻ ban nãy đang vất vả dỗ dành đứa con nhỏ đang sốt hâm hấp. Nhiên cẩn thận dùng thìa gạt bớt lớp màng mỡ lợn béo ngậy trên mặt bát và những lát gừng cay nồng sang một bên thành bát, chỉ múc lấy phần nước cốt ngọt thanh và phần bí đỏ hầm nhừ nghiền mịn thành một hỗn hợp sền sệt, trút sang chiếc bát sứ con:

“Chị ơi, chị cho cháu ăn bát này nhé. Em đã gạn kỹ phần mỡ với gừng cay rồi, chỉ còn vị ngọt thanh của bí đỏ với cà rốt thôi, dễ nuốt lắm. Cháu nó nôn hết cả mật xanh mật vàng lúc chiều, ăn cái này vừa lành bụng lại vừa đỡ xót ruột sau cơn say xe dữ dội.”

Người mẹ trẻ nghẹn ngào không nói nên lời, hai khóe mắt đỏ hoe, liên tục cúi đầu cảm ơn rối rít. Chị run rẩy thổi nguội từng thìa súp bí đỏ màu vàng cam rực rỡ, nhẹ nhàng đút vào đôi môi khô khốc của đứa trẻ. Đứa bé ban đầu rụt lại vì sợ, nhưng vị ngọt lành, ấm áp lập tức làm nó dịu đi; nó há to miệng nuốt chửng từng thìa một cách ngon lành. Nhìn từng vệt hồng hào dần dần trở lại trên đôi gò má phúng phính của đứa trẻ, nghe tiếng húp sùm sụp ấm áp vang lên rộn rã khắp gian phòng chật hẹp, Nhiên bỗng thấy sống mũi mình cay xè.

Trong khoảnh khắc kỳ diệu ấy, toàn bộ những giáo điều khắt khe, những công thức cân đong đo đếm chính xác đến từng phần mười gram gia vị, những quy chuẩn thẩm mỹ trang trí đĩa ăn tinh vi của chốn nhà hàng hào nhoáng nơi cô từng cống hiến tuổi trẻ bỗng chốc hoàn toàn sụp đổ và tan biến.

Cô nhận ra rằng, ẩm thực chân chính chưa bao giờ là sự áp đặt chuyên quyền, kiêu ngạo của người đầu bếp lên thực khách. Ẩm thực, ở nơi lằn ranh mỏng manh giữa sự sinh tồn và cái chết, giữa bão tuyết gió rừng và sự cùng kiệt của con người, chính là sự thấu cảm tận cùng nỗi đau và sự thiếu thốn của đồng loại: người già yếu đuối cần sự mềm mại nâng niu để dễ tiêu hóa, đứa trẻ thơ ngây cần sự dịu dàng, chở che để không làm tổn thương dạ dày non nớt, và những người lao động phong trần kiệt sức sau một ngày vật lộn với mưa bão cần vị béo đậm đà, vị mặn sâu hoắm và cái cay nồng của gừng lửa để kích hoạt lại ngọn lửa sinh mệnh trong từng tế bào.

“Vị Nhà” mà mẹ cô — bà Hạ — từng khắc khoải nhắc đến trong những đêm dài bên Bếp Hạ, hóa ra chưa từng nằm trong những trang sách gia truyền ố vàng, chưa từng bị giam cầm trong những công thức bất biến. “Vị Nhà” là sự biến hóa linh hoạt, là sự xả thân, là sự sẻ chia đầy trắc ẩn trước nỗi đói khổ của trần gian.

Ở một góc tối của căn phòng, Hoàng Phúc lặng lẽ cầm chiếc máy quay nhỏ bước đi giữa những dãy bàn. Đèn báo đỏ trên thân máy nhấp nháy liên tục trong ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu.

Phúc bước đến gần một góc cột nhà, nơi một người đàn ông trung niên đang ngồi gục đầu vào đầu gối bên mép manh chiếu rách. Quần áo của ông ta rách bươm, chiếc áo sơ mi bạc phếch bết chặt vào da thịt bởi bùn đất non dẻo quánh — dấu vết của việc ông vừa phải cùng các tài xế khác dầm mình suốt ba tiếng đồng hồ dưới dòng nước lũ để chèn đá vào bánh xe, đẩy xe vượt qua vũng lầy sụt lún. Gương mặt người đàn ông xám ngoét, bết bát đất cát, bờ môi run rẩy và đôi mắt trũng sâu lộ rõ vẻ tuyệt vọng và kiệt quệ cùng cực của một phận người trôi nổi mưu sinh.

Bản năng nghề nghiệp của một người làm truyền thông trỗi dậy. Phúc vô thức lia ống kính máy quay lại thật gần, ngón tay trỏ đặt lên nút zoom cơ học, định bụng phóng to cận cảnh vào những giọt nước mắt hòa lẫn bùn đất đang lăn dài trên gò má hốc hác của người đàn ông để bắt trọn một khung hình thương tâm, đắt giá cho phóng sự tài liệu của mình.

Bất thần, một bàn tay thô ráp, to bản và nồng nặc mùi mỡ lợn phi hành ập đến, chặn ngang miệng ống kính máy quay với một lực mạnh mẽ khiến thân máy chao đảo.

Diệp đứng sừng sững bên cạnh Phúc từ lúc nào. Ánh mắt người đàn bà xăm xăm nhìn thẳng vào mặt anh, sắc lẻm và lạnh buốt như một lưỡi dao vừa mài trên đá suối:

“Cậu đang làm cái trò gì đấy?”

Phúc giật mình giật thót, vội vã hạ ống kính xuống, gương mặt thoáng đỏ lên vì lúng túng, anh ấp úng thanh minh:

“Em... em chỉ muốn ghi lại sự chân thực và khốc liệt của đêm bão lũ này thôi chị Diệp... Những hình ảnh cận cảnh giàu cảm xúc như thế này, khi dựng thành phim tài liệu sẽ tạo ra sức lay động cực kỳ lớn đối với công chúng...”

“Dẹp ngay cái trò chĩa mũi ống kính vào nỗi khốn cùng của đồng loại đi!”

Giọng Diệp trầm xuống đến mức ghê rợn, nhưng từng từ từng chữ thốt ra lại đanh thép, rắn rỏi như gang thép nung nguội bị ném vào chậu nước lạnh:

“Người ta đang đói, đang rách, đang nhếch nhác và tổn thương vì thiên tai bão gió, chứ không phải là lũ diễn viên mua vui trong gánh xiếc của cậu! Cậu lấy quyền gì mà bóc trần sự bất lực của một người đàn ông trụ cột đang phải gục ngã vì kiệt sức trước bàn dân thiên hạ? Muốn quay phim, muốn làm phóng sự thì vác cái máy của cậu quay hai cái nồi súp đang sôi sùng sục đằng kia kìa! Quay cảnh hai người đàn bà đang múc từng bát nước nóng chia cho kẻ lỡ độ đường kìa! Quay cảnh người ta cắn đôi nửa củ khoai nóng chia nhau kìa! Ống kính của cậu phải cho người đời thấy sự đùm bọc, thấy tình người giữa hoạn nạn, chứ không phải đi bới móc sự thảm hại để câu kéo vài ba giọt nước mắt rẻ tiền và lòng thương hại của thiên hạ!”

Không đợi Phúc kịp phản ứng, Diệp giật phắt chiếc máy quay khỏi tay anh. Ngón tay chai sần thô kệch của chị bấm mở màn hình xem lại vài giây vừa ghi hình, rồi không một chút do dự, chị ấn nút xóa vĩnh viễn đoạn cận cảnh người đàn ông lấm lem bùn đất. Diệp dí trả chiếc máy quay vào ngực Phúc, gằn từng tiếng rành rọt:

“Ở cái đất Dốc Sương này, ở cái quán Ba Ngọn Đèn này, tao cho phép cậu ghi hình lại nhịp lao động, mồ hôi nước mắt của gian bếp. Nhưng trước khi bấm máy bất kỳ một khung hình nào có mặt mũi người gặp nạn, cậu phải hỏi tao và phải được sự đồng ý của chính họ. Cậu hiểu chưa?”

Phúc đứng chết lặng tại chỗ như một pho tượng đá. Đôi tai anh nóng bừng lên vì xấu hổ và tủi nhục. Từng lời nói thô mộc, chát chúa của Diệp giáng thẳng vào tâm can anh như những đòn búa tạ xé toạc đi thứ chủ nghĩa cơ hội nghệ thuật và sự hào nhoáng giả tạo bấy lâu nay anh vẫn thường khoác lên nghề nghiệp của mình.

Anh nhìn xuống chiếc máy quay cơ học trong tay, rồi ngước mắt nhìn sang Diệp và Nhiên — hai người phụ nữ với đôi bàn tay lấm lem nhọ nồi và dầu mỡ, trán ướt đẫm mồ hôi dù ngoài trời gió rét căm căm, đang thoăn thoắt múc từng muôi súp nóng không một giây ngơi nghỉ để cứu đói cho những người xa lạ. Không một ai trong số họ nghĩ đến danh tiếng, không ai nghĩ đến việc những tô súp củ quả dã chiến này có mang lại đồng bạc lợi nhuận nào hay đổi lấy được bao nhiêu lượt bấm thích, lượt tương tác tán dương trên mạng xã hội. Lần đầu tiên trong suốt những năm tháng cầm máy, Phúc thấm thía một cách sâu sắc và nghiệt ngã thế nào là đạo đức nghề nghiệp và ranh giới mong manh giữa sự sẻ chia và sự bóc lột nỗi đau.

Phúc lặng lẽ lùi lại phía sau vài bước chân. Anh hít một hơi thật sâu để định thần, cẩn thận chỉnh lại tiêu cự ống kính, mở ra một góc máy toàn cảnh thật rộng.

Trong khung hình lúc này, không còn những gương mặt méo mó vì đau khổ, mà chỉ có làn khói ấm nồng bốc lên nghi ngút từ hai chiếc nồi nhôm khổng lồ, bao bọc lấy không gian mộc mạc của quán Ba Ngọn Đèn. Và nổi bật giữa làn khói ấy là đôi bàn tay quấn băng trắng dính đầy nhọ nồi của Nhiên đang trân trọng trao từng bát súp nóng cho một bác tài già tóc bạc.

Bên ánh lửa than bập bùng của bếp củi dã chiến, Phúc nhìn đăm đắm theo từng cử động dứt khoát nhưng ngập tràn sự săn sóc, yêu thương của Nhiên. Ánh lửa đỏ rực hắt lên sườn mặt thanh tú lấm lem vệt tro của cô gái trẻ, làm bừng sáng lên một vẻ đẹp kiên cường, thuần khiết và kiêu hãnh mà không một thước phim dàn dựng cầu kỳ nào ở chốn thị thành có thể tái hiện được. Lồng ngực Phúc khẽ nhói lên một nhịp đập lạ lùng — một sự rung động sâu xa vừa kính phục, vừa xót xa, một thứ tình cảm âm thầm nảy mầm giữa giông bão biên thùy mà anh biết mình chỉ dám giữ kín tận đáy lòng, không bao giờ dám cất lên thành lời.

***

Gần hai giờ sáng, tiếng gió rít điên cuồng ngoài trời bắt đầu có dấu hiệu chùng xuống, chỉ còn lại tiếng mưa rơi lộp độp đều đặn trên mái tôn quán cơm.

Hơn một trăm hành khách sau khi được làm ấm dạ dày bởi những bát súp củ quả ngọt lành, nóng hổi đã tìm được chỗ ngả lưng tạm bợ. Những tấm bạt khô, những manh chiếu cũ và chăn mỏng được trải la liệt khắp mặt sàn xi măng. Tiếng ngáy mệt mỏi, tiếng thở đều đặn và hơi ấm của sự sống hòa quyện vào nhau, đưa không gian Ba Ngọn Đèn dần chìm vào một giấc ngủ chập chờn nhưng bình yên hiếm hoi giữa tâm bão.

Nhiên khẽ khàng bước ra kho củi phía sau bếp để tìm thêm củi khô ủ vào hai lò than lớn, giữ cho nồi nước sôi dự phòng không bị tắt nguội. Gian kho ẩm thấp, tối om, sực nức mùi gỗ thông mục và rêu đá ẩm ướt. Cô bật chiếc đèn pin nhỏ kẹp vào ngực áo, với tay lên một chiếc kệ gỗ đóng sát vách đá để lấy bó củi khô cuối cùng được xếp cao tít trên đỉnh.

Chiếc kệ ọp ẹp vì ẩm nước khẽ lung lay. Cánh tay Nhiên vô tình quệt phải một vật kim loại cứng nằm khuất sâu sau những thanh củi gộc mục nát.

*Keng!*

Một chiếc hộp sắt cũ kỹ gỉ sét rơi tuột khỏi kệ, đập xuống nền đất nện rồi bung nắp ra. Mấy mẩu giấy tờ bên trong văng tung tóe khắp mặt đất phủ đầy mùn cưa.

Nhiên giật mình cúi người nhặt lại chiếc hộp sắt. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn pin, đập vào mắt cô không phải là những cuốn sổ tay ghi chép công thức nấu ăn bí truyền hay những bài thuốc quý vùng cao, mà là một xấp biên bản đòi nợ và thông báo thanh lý hợp đồng thuê đất có dấu đỏ đã nhòe vì ẩm.

Nhiên bàng hoàng nheo mắt đọc từng dòng chữ in đậm, sắc lạnh hằn sâu trên trang giấy ố vàng:

*“Thông báo thu hồi quyền sử dụng mặt bằng và cưỡng chế di dời tài sản quán ăn Ba Ngọn Đèn do quá hạn thanh toán tiền thuê đất sáu tháng liên tiếp... Hạn chót di dời toàn bộ công trình và tài sản: ngay sau khi mùa mưa lũ năm nay kết thúc.”*

Kèm theo văn bản hành chính là một tập giấy biên nhận viết tay chi chít những khoản nợ tiền phân bón, nợ tiền giống má và tiền thuê mặt bằng tích tụ qua nhiều mùa mưa bão, tổng số nợ đã lên tới gần tám mươi triệu đồng. Dưới đáy trang giấy là những dòng chữ viết tay nguệch ngoạc nhưng sặc mùi đe dọa của đám chủ đất và giới cho vay vùng chân đèo: *“Hết mưa lũ, không có tiền tươi trả đủ thì liệu hồn mà dọn quán, đừng để tao cho máy ủi san phẳng!”*

Nhiên đứng chết trân trong bóng tối, ngón tay run rẩy siết chặt tập giấy nợ ẩm ướt.

Hóa ra, người đàn bà hào sảng, ngang tàng, dám một mình đứng ra chống đỡ cả trăm miệng ăn giữa đêm bão bùng giông gió, người luôn nở nụ cười hào sảng tiếp sức cho từng cánh tài xế đường dài... cũng đang phải cõng trên vai một gánh nặng ngàn cân không khác gì mẹ cô năm xưa bên Bếp Hạ. Cái giá để duy trì những bữa cơm bốn mươi lăm ngàn đầy đặn, nóng sốt cho những người lao động nghèo khó, cái giá để giữ gìn phẩm giá của một người nấu không bao giờ thỏa hiệp với thứ gia vị công nghiệp độc hại hay nguyên liệu ôi thiu... lại chính là bờ vực phá sản cận kề và nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn khỏi đỉnh Dốc Sương.

“Mày thấy hết rồi à?”

Tiếng nói khàn đặc của Diệp bất thần vang lên từ phía cửa kho. Chị bước vào trong bóng tối, dựa lưng vào chiếc cột thông xù xì, trên môi ngậm một điếu thuốc lào chưa châm lửa. Ánh mắt người đàn bà nhìn xấp giấy nợ trên tay Nhiên bằng một vẻ bình thản đến đau lòng, một sự bình thản chỉ có ở những kẻ đã quá quen với việc đối mặt với những ngõ cụt của số phận.

Nhiên ngập ngừng, giọng cô chùng xuống nghẹn ngào:

“Chị Diệp... Quán Ba Ngọn Đèn sắp bị người ta thu hồi thật sao chị?”

Diệp nhếch mép cười nhạt một tiếng, tiếng cười khô khốc như tiếng lá thông rụng xuống đá tảng giữa mùa đông:

“Mùa mưa năm nay dài quá, dài hơn mọi năm. Đèo sạt lở liên miên từ tháng trước, xe cộ nằm bẹp dí dưới chân núi, hàng quán trên đỉnh này ế ẩm suốt cả tháng trời. Đã thế, đường sá hư hỏng khiến cánh lái buôn dưới xuôi ép giá nông sản và thịt tươi lên tận mây xanh. Một cân thịt lợn, một bó rau tươi chở được lên đến cái dốc này bị chúng nó đội giá gấp ba lần ngày thường. Mỗi suất cơm bốn lăm ngàn cho cánh tài xế, tao chỉ dám lấy công làm lãi, có hôm hòa vốn là may. Cánh tài xế xe tải đường dài, phụ xe, lơ xe cũng khổ như chó mực, tiền lộ phí thì cao, tao mà tăng giá cơm lên sáu chục ngàn thì chúng nó lấy đâu ra tiền mà ăn cho no bụng? Cứ thế, tiền thu về không đủ bù chi phí nguyên liệu, thâm hụt dần vào tiền thuê đất hàng tháng.”

Chị thở dài một hơi thật dài, đưa mắt nhìn qua khe vách gỗ ra khoảng tối mịt mùng vô định ngoài hẻm núi:

“Mấy tuần trước, thằng cha Khải Nam bên tập đoàn Vị Việt Mới đích thân cho người đánh cả xe đông lạnh vượt đèo lên tận đây tìm tao. Nó xách theo một va ly tiền tươi, bảo sẽ thanh toán sạch sẽ toàn bộ khoản nợ tám mươi triệu tiền nhà cho tao, lại còn trả thêm cho tao một khoản thù lao quản lý hàng tháng. Nhưng đổi lại, tao phải ký vào bản hợp đồng nhượng quyền, biến cái quán Ba Ngọn Đèn này thành trạm dừng chân độc quyền của chuỗi cung ứng Vị Việt Mới.”

Nhiên siết chặt tập giấy trong tay, lồng ngực đập thình thịch:

“Nó yêu cầu chị phải làm những gì?”

“Nó bắt tao dẹp bỏ toàn bộ bếp củi, dẹp bỏ mấy vại thịt muối với mắm truyền thống!” Giọng Diệp đột ngột đanh lại, ánh mắt rực lửa. “Mọi thứ từ nước xốt đóng chai, rau củ đông lạnh sơ chế sẵn cho đến từng gói bột gia vị nêm nếm đều phải nhập nguyên đai nguyên kiện từ kho tổng của tập đoàn nó. Nó bảo tao chỉ việc đứng rung đùi bấm máy tính tiền, xúc đồ công nghiệp đóng hộp hâm nóng lại cho khách ăn là mỗi tháng đút túi vài chục triệu nhẹ tênh, không cần phải nhọc nhằn thức khuya dậy sớm nhóm bếp củi khói mù mắt làm gì cho khổ.”

“Và chị đã từ chối?” Nhiên khẽ hỏi, dù trong thâm tâm cô đã biết trước câu trả lời.

“Từ chối chứ! Tao tống cổ thằng đại diện với cọc tiền bẩn thỉu của nó ra khỏi cửa ngay trong đêm!” Diệp quắc mắt, giọng nói bừng bừng khí phách hoang dại của núi rừng. “Tao mà ký vào cái bản hợp đồng nô dịch ấy, thì đám bà con nông dân trồng su su, khoai tây, cà rốt loại hai trên mấy rẻo cao này biết bán củ quả cho ai? Cánh tài xế xe tải, phu xe nghèo vào quán tao sẽ phải nuốt những thứ nước xốt công nghiệp sặc mùi hóa chất độn bột ngô với cái giá cắt cổ à? Bố tao ngày xưa lúc trao lại cái quán này đã dạy rồi: Mở quán bên bờ vực đèo cao là để che mưa chắn gió, làm chỗ dựa ấm lòng cho người lỡ độ đường, chứ không phải biến mình thành tay sai đi chẹt cổ đồng loại để làm giàu trên nỗi khốn cùng!”

Nhìn người đàn bà kiên cường đứng sừng sững trong bóng tối, trong đầu Nhiên bỗng lóe lên một tia sáng rực rỡ. Toàn bộ hải trình và những nẻo đường cô vừa đi qua suốt dọc miền duyên hải miền Trung như một cuốn phim sống động ùa về trong tâm trí.

Hình ảnh bãi cát trắng trải dài của doi cát chợ Cồn Rêu trong buổi sớm mai con nước kém hiện lên rõ mồn một: những sọt cá nục khô, cá cơm khô được diêm dân và ngư dân phơi mình trên cát trắng thơm nức mùi biển khơi; những rổ củ kiệu, hành tím, bí đỏ vùng cát mọc kiên cường trên những đầm lầy ngập mặn được bán với giá rẻ như cho vì ứ đọng không có người tiêu thụ; và trên hết là hình ảnh đoàn xe tải hạng nặng của bác Ba — người đứng đầu nghiệp đoàn vận tải đường dài chuyên chở mắm từ xưởng của bà Tư Mặn ở Vạn Gió tỏa đi khắp các tỉnh thành.

Nhiên bước nhanh lại gần Diệp, ánh mắt rực sáng lên một niềm tin mãnh liệt chưa từng có:

“Chị Diệp, quán Ba Ngọn Đèn không thể đóng cửa được! Và chị cũng tuyệt đối không cần phải quỳ gối trước đồng tiền của Vị Việt Mới hay chịu sự chèn ép giá cắt cổ của đám lái buôn trung gian dưới chân đèo nữa!”

Diệp nhíu đôi mày rậm, nhìn xoáy vào gương mặt rạng rỡ của cô gái trẻ:

“Mày nói thế là có ý gì? Mày có cách gì cứu được cái quán này?”

“Chuyến đi trước khi lên đây, em đã ở Vạn Gió và kết nối xưởng mắm truyền thống của bà Tư Mặn với nghiệp đoàn xe tải đường dài của bác Ba chạy tuyến ven biển miền Trung sang Tây Nguyên,” Nhiên nói nhanh, từng câu từng chữ tuôn trào mạch lạc với tư duy sắc sảo của một người am hiểu sâu sắc về chuỗi cung ứng thực phẩm. “Ở chợ Cồn Rêu ngay sát cửa biển, nông sản vùng đất cát ngập mặn như củ kiệu, hành tím, bí đỏ và đặc biệt là các loại cá nục khô, cá cơm khô, tép biển khô phơi cát loại hai có giá gốc tại bãi cực kỳ rẻ. Rẻ đến mức khó tin vì họ không thể đưa vào các siêu thị thành phố do mẫu mã không đồng đều. Đoàn xe tải của bác Ba chạy tuyến cố định qua ngã ba chân Dốc Sương này đều đặn ba chuyến một tuần. Nếu chị đồng ý, ngay sáng mai em sẽ gọi điện cho bác Ba, nhờ bác ấy nhận chở nông sản và đồ khô gửi xe đò thẳng từ chợ Cồn Rêu lên tận bậc thềm Dốc Sương này cho chị!”

Diệp mở to mắt, chiếc tẩu thuốc lào trên tay khẽ run lên. Chị nín thở lắng nghe không bỏ sót một từ.

Nhiên tiếp tục phân tích, ánh mắt cô ánh lên sự tự tin tuyệt đối:

“Không phải qua bất kỳ một khâu thương lái trung gian nào ở chợ đầu mối chân đèo, lại được nghiệp đoàn xe tải của bác Ba hỗ trợ giá cước vận chuyển như người nhà, chi phí nguyên liệu đầu vào của chị sẽ giảm ngay lập tức từ ba mươi lăm đến bốn mươi phần trăm! Đồ khô từ biển như cá cơm khô, tép biển khi đem kho quẹt hoặc ninh chung với củ cải, khoai tây rẻo cao sẽ tạo ra một thứ đạm đậm đà vô cùng đưa cơm, lại giữ được rất lâu qua mùa mưa bão mà không lo bị thối rữa hay phụ thuộc vào tủ đông. Số tiền tiết kiệm khổng lồ từ chi phí mua nguyên liệu đó, cộng với lượng khách xe tải trung thành ghé quán, thừa sức để chị tích lũy và trả dứt điểm khoản nợ tiền thuê đất tám mươi triệu đồng trong vòng ba tháng tới!”

Diệp đứng chôn chân tại chỗ. Người đàn bà dạn dày sương gió, người từng một mình vác dao rựa đuổi lũ cướp đường, người chưa từng rơi một giọt nước mắt trước những cơn thịnh nộ của bão rừng... lúc này bỗng run rẩy khắp toàn thân.

Chị nhìn chăm chú vào Nhiên, nhìn vào đôi bàn tay đang quấn băng trắng và ánh lửa kiên định, rực rỡ trong đôi mắt của cô gái trẻ mà ngày đầu tiên bước chân vào quán chị từng khinh khỉnh coi là một con “phượng hoàng gãy cánh” trốn chạy từ chốn phồn hoa đô hội. Đây không phải là một giải pháp lý thuyết suông trên giấy tờ, mà là một mạng lưới sinh tồn thực tế, máu thịt — nơi những con người lao động lam lũ, bầm dập dọc theo những nẻo đường đất nước tự tìm đến với nhau, nương tựa vào nhau, lấy cái thừa thãi của biển khơi trù phú bù đắp cho cái thiếu thốn nghiệt ngã của chốn non cao hiểm trở.

Diệp bật cười lớn, một tràng cười sảng khoái vang vọng khắp gian kho củi ẩm ướt, nhưng nơi khóe mắt hằn sâu nếp nhăn của chị, hai giọt nước mắt nóng hổi bỗng lăn dài qua lớp nhọ nồi. Chị vung bàn tay to bản vỗ thật mạnh vào vai Nhiên một cái khiến cô gái trẻ lảo đảo:

“Con ranh này... Mày khá lắm! Mày đúng là con gái của mẹ mày rồi! Được! Sáng mai đường vừa thông, tao với mày sẽ cùng bấm máy gọi cho ông Ba của mày! Nếu cái tuyến hàng này mà chạy êm xuôi, cứu được cái quán này qua mùa mưa lũ, thì cả đời này Ba Ngọn Đèn nợ mày một ân tình sống chết!”

Hai người đàn bà đứng nhìn nhau mỉm cười giữa gian kho nồng nặc mùi củi thông và đất ướt. Một mối dây liên kết vô hình nhưng bền chặt như chão thuyền vượt sóng đã âm thầm hình thành giữa họ — tình bạn, tình đồng chí của những người thợ nấu sống chết vì danh dự của ngọn lửa bếp đời mình.

***

*Ầm... Ầm... Ầm...!*

Năm giờ ba mươi sáng, tiếng động cơ gầm rú xé tan lớp sương mù dày đặc đang bao phủ thung lũng Dốc Sương.

Nhiên choàng tỉnh giấc trên chiếc chăn bông hoa đỏ nơi căn gác xép gỗ. Cô vội vã xỏ chân vào đôi ủng cao su, bước nhanh xuống cầu thang gỗ, nhìn qua ô cửa kính lớn phía trước gian nhà ăn. Giữa màn sương lam huyền ảo đang bốc lên từ mặt đất ướt sũng sau đêm mưa lũ, một chiếc xe ủi đất hạng nặng và hai chiếc máy xúc cỡ lớn của lực lượng cứu hộ giao thông đường bộ đang gầm thét, gạt phăng những khối đá tảng và lớp bùn đỏ cuối cùng khỏi lòng đường đèo.

Một viên cảnh sát giao thông mặc áo phản quang ướt sũng đứng trên tảng đá cao, tay vung mạnh chiếc cờ hiệu màu đỏ, tiếng còi chỉ huy vang lên lảnh lót, dứt khoát xé toạc không gian tĩnh mịch của buổi sớm mai:

“Thông xe rồi! Đoạn taluy âm bị sạt đã được rải đá dăm gia cố tạm thời! Các xe khách giường nằm chuẩn bị nổ máy di chuyển chậm theo hàng một vượt đèo! Chú ý giữ khoảng cách an toàn!”

Một tiếng reo hò vang dội như vỡ òa bùng lên khắp gian nhà quán Ba Ngọn Đèn. Hơn một trăm con người túa ra khoảng sân trước quán, những gương mặt rạng rỡ, hân hoan niềm vui thoát nạn sau một đêm dài kinh hoàng đối mặt với thần chết. Họ rối rít bắt tay, cúi đầu cảm ơn Diệp và Nhiên bằng những lời mộc mạc, chân thành nhất trước khi lục tục bế con nhỏ, xách hành lý kéo nhau lên xe. Những tiếng nổ giòn giã của động cơ diesel xua tan đi sự u ám cuối cùng của đêm bão dữ.

Chiếc xe khách mang biển số Tây Nguyên của Phúc và Nhiên cũng đã nổ máy chờ sẵn ở mép đường, ống xả phì phì nhả từng luồng khói trắng vào bầu không khí lạnh buốt như băng.

Bên bậc thềm đá trước cửa quán, Diệp kéo Nhiên lại gần, kín đáo dúi vào tay cô một chiếc bọc bằng vải dù màu chàm sẫm được buộc chặt bằng sợi dây gai rừng.

“Cái gì thế này hả chị Diệp?” Nhiên ngạc nhiên hỏi, hai bàn tay đỡ lấy chiếc bọc nhẹ bẫng nhưng tỏa ra một mùi hương vô cùng đặc biệt.

“Ớt khô rừng tao tự tay hái trên những vách đá cheo leo đỉnh dốc rồi phơi đủ ba con nắng đấy,” Diệp nói, ánh mắt nhìn cô gái trẻ vừa nghiêm nghị vừa chan chứa sự ấm áp của một người chị lớn. “Thứ ớt rừng này cay xé lưỡi, nhưng hậu vị của nó ngọt hậu và thơm nồng mùi khói gỗ thông, không bao giờ có cái vị hăng hắc, nhàn nhạt như ớt trồng bằng phân hóa học dưới đồng bằng. Mày mang theo mà ăn dọc đường. Lên cao nguyên Mây Đỏ gió lạnh buốt xương lắm, những lúc mệt mỏi hay lạnh bụng, chỉ cần ngậm một mẩu ớt rừng này vào miệng là hơi ấm nó chạy từ cuống họng lan tỏa xuống tận gót chân.”

Nhiên ôm chặt bọc ớt khô vào lòng, cảm nhận rõ rệt mùi hương cay nồng, hoang dại xuyên qua lớp vải dù dày.

Diệp nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Nhiên, đặt bàn tay thô ráp, chai sạn của mình lên bờ vai gầy nhưng vững chãi của cô, cất giọng trầm ấm và thấm thía từng lời:

“Nhiên này, tao biết mày từng được đào tạo bài bản, từng làm việc ở những khách sạn, nhà hàng sang trọng bậc nhất chốn thị thành. Nhưng mày hãy nhớ lấy lời tao: Nghề bếp này, mọi kỹ thuật dao thớt hoa mỹ hay những chiếc đĩa sứ viền vàng lộng lẫy chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài mà thôi. Sự chân thực và giá trị tối thượng của một người thợ nấu nằm ở chỗ: thức ăn của mày làm ra có cứu được người ta qua cơn hoạn nạn hay không, có làm ấm được lòng một kẻ lỡ độ đường sa cơ lỡ bước hay không. Đừng bao giờ để những thứ hào nhoáng, danh vọng hão huyền làm nguội mất cái tâm chân thật và ngọn lửa trắc ẩn ấy trong lòng mày.”

Nhiên nghẹn ngào, cổ họng ứ nghẹn. Cô cúi đầu thật sâu trước người đàn bà chủ quán kiên cường:

“Em nhớ rồi, chị Diệp. Em sẽ khắc cốt ghi tâm từng lời chị dặn. Cảm ơn chị vì bát súp và bài học vô giá đêm qua.”

“Đi đi, kẻo trễ chuyến xe!” Diệp xua xua tay, nở một nụ cười sảng khoái, khoáng đạt xua tan đi mọi mỏi mệt sau một đêm thức trắng.

Nhiên và Hoàng Phúc xách ba lô bước vội lên bậc cửa xe khách. Chiếc xe từ từ chuyển bánh, bánh xe lăn qua bãi bùn lầy lội đã bắt đầu se lại rồi gầm rú sang số, bắt đầu hành trình leo lên con dốc ngoằn ngoèo dẫn lên đỉnh đèo lộng gió.

Nhiên ngoái đầu nhìn lại qua ô cửa kính bám đầy bụi nước phía sau xe.

Quán Ba Ngọn Đèn vẫn đứng sừng sững bên vách đá dựng đứng, ba ngọn đèn bão treo trước mái hiên tôn vẫn tỏa ra thứ ánh sáng vàng rực, ấm áp và kiên hãnh giữa ngàn mây trắng đang cuộn trào dưới đáy thung lũng sâu thẳm.

Con xe đò lắc lư vượt qua đỉnh đèo trong màn sương mờ mịt, bắt đầu đổ dốc sang sườn bên kia của dãy núi hùng vĩ. Những cánh rừng thông bạt ngàn của vùng đèo dốc dần lùi lại phía sau lưng, nhường chỗ cho những triền đồi mênh mông, ngút ngàn của những rẫy cà phê và hồ tiêu đang vươn mình đón ánh nắng sớm ban mai.

Không khí bắt đầu lạnh dần và mùi đất đỏ bazan nồng nàn, ngai ngái phả vào ô cửa kính hé mở, báo hiệu vùng đất Mây Đỏ đã ở ngay trước mặt.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories