Con nước Cồn Rêu
Bốn giờ sáng tại doi đất Cồn Rêu, chợ họp trong ánh đèn ắc-quy leo lét chao đảo trên mặt nước lợ, tiếng mái chèo bì bõm hòa lẫn tiếng ngã giá xôn xao của ngư dân vừa cập bến.
Gió từ cửa lạch thổi thốc vào mang theo vị mặn nồng nặc của bùn non và rong rêu rữa mục. Đôi dép nhựa của An Nhiên trượt trên lớp bùn nhão nhoét, bùn sủi bọt ngập qua mắt cá chân mát lạnh. Bùn ở doi Cồn Rêu không giống bùn ruộng phù sa ngọt lịm phù sa nơi miệt vườn châu thổ; nó là thứ bùn xám xịt trộn lẫn xác vỏ ốc vụn, cát mịn và lưu huỳnh đáy lạch tích tụ qua bao mùa đổi dòng. Mỗi bận rút chân lên, lớp bùn níu chặt lấy quai dép như một bàn tay lạnh ngắt, phát ra tiếng chóp chép nhớp nháp.
Cô siết chặt tờ tiền một trăm ngàn đồng nhăn nhúm trong túi chiếc áo khoác gió mỏng đã thấm đẫm hơi sương muối. Tờ giấy bạc polymer cọ xát vào lớp vải dù phát ra tiếng sột soạt khô khốc, mỏng manh như chính cơ hội sinh tồn duy nhất của cô tại bến nước này. Một tay cô giữ chặt lấy thân đòn gánh tre tì lên hõm vai gầy, hai chiếc sọt tre đung đưa theo nhịp bước, nan tre cọ vào nhau lách cách, khô khốc và trống rỗng.
Áp lực thời gian đè nặng lên từng bước chân, dồn dập như từng đợt sóng triều đang dâng mấp mé bờ cát. Lời tuyên bố của bà Tư Mặn lúc ba giờ sáng vẫn còn văng vẳng bên tai Nhiên, ráo hoảnh và đanh thép như tiếng đá ghè: đúng bảy giờ sáng, bữa ăn cho mười lăm thợ xưởng mắm phải được bày biện tươm tất trên sạp gỗ sau trại chượp. Không thừa một khắc, không thiếu một bát. Sau giờ đó, con nước rút cạn trơ đáy bùn, thợ chèo ghe ra đầm cào mớ lưới vụ mới; nếu nồi cơm hay nồi canh không có trên bàn, cô phải rời Vạn Gió ngay trong buổi sáng mà không bao giờ có cơ hội mở lại trang sổ tay dang dở của mẹ — cuốn sổ bìa bọc vải dù đã ố vàng vì nước biển, nơi những công thức làm mắm gia truyền và những bí mật gia tộc của Bếp Hạ còn bị dán kín mép giấy.
Nhiên lách mình qua dòng người mặc áo mưa cánh dơi sũng nước, chen chúc giữa hai bờ doi đất hẹp. Mùi cá tươi vừa kéo lưới bốc lên tanh nồng, quyện với mùi dầu máy chạy ghe khét lẹt và khói thuốc lá rê thơm hắc của đám đàn ông vừa thức trắng đêm ngoài cồn. Phía trước, mấy mẹt cá thu, cá bớp óng ánh vảy bạc vừa được các chủ ghe quăng mạnh lên bờ cát phẳng. Từng giọt nước biển đọng trên thân cá bắn tung tóe dưới ánh sáng chập chờn của những chiếc bóng đèn tròn câu trộm điện bình.
Theo thói quen khắt khe được trui rèn suốt sáu năm ròng rã trong những gian bếp công nghiệp năm sao ngột ngạt ở Minh Cảng — nơi mọi loại nguyên liệu đều phải tuân thủ nghiêm ngặt bảng chỉ số độ tươi, nhiệt độ bảo quản tâm sản phẩm và chứng nhận xuất xứ — Nhiên vô thức cúi người xuống trước một sọt tre đầy ắp cá nục hoa mập mạp. Bàn tay trần với những ngón tay rướm máu vì cào muối ủ mắm chiều hôm qua khẽ run rẩy chạm vào mang cá. Vết muối xót buốt nhói lên tận óc, nhưng cô vẫn nghiến răng chịu đựng, tỉ mẩn lật nắp mang ra soi dưới ánh đèn bóng tròn vàng vọt đang đung đưa trên cọc tre.
Ngón cái của cô ấn nhẹ vào thớ thịt lườn cá để thử độ đàn hồi cơ học, quan sát tốc độ hồi phục của mô cơ, rồi miệng buột ra những câu chất vấn quen thuộc theo quán tính của một trưởng ca kiểm định bếp:
"Cá này dính lưới lúc mấy giờ cô? Sao mang hơi bầm tím thế này? Đáy sọt lót đá mỏng quá, cá bị hấp nhiệt rồi. Mớ này cô bớt mười lăm ngàn một ký được không, tôi lấy nửa ký khúc giữa?"
Bà bạn hàng đang thoăn thoắt dùng móc sắt kéo từng vốc cá bỗng khựng lại. Động tác của bà ta dừng đột ngột đến mức chiếc móc sắt cào một đường rách toạc trên thân con cá nục béo tròn, làm lộ ra vệt ruột xám xịt.
Bà ta từ từ ngước đôi mắt đỏ ngầu, thâm quầng vì thức đêm nhìn Nhiên. Ánh mắt săm soi quét một lượt từ chiếc áo khoác gió có logo thương hiệu thành thị đã sờn rách ở cùi chỏ, chiếc quần tây ống túm cẩu thả nhét trong ủng nhựa, cho đến khuôn mặt trắng xanh không chút sắc máu của một đứa con gái trôi dạt. Rồi, không một lời báo trước, bà ta nhổ toẹt một bãi nước trầu đỏ lòm xuống mép bùn ngay sát mũi giày của Nhiên, bắn lên lớp vải dù lấm lem.
"Nửa ký khúc giữa? Mày ở trên trời rớt xuống hay ở đâu tới quấy chợ vậy con ranh?" Bà ta quát tướng lên, giọng the thé, chát chúa át cả tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền. "Cá ghe nhà tao vừa cập bờ lúc ba giờ rưỡi, con nào con nấy còn quẫy đuôi đành đạch, nước nhớt còn nhỏ ròng ròng trên tay tao đây nè! Mày cầm tiền lẻ mà đòi săm soi như lựa ngọc lựa vàng! Mua sỉ cả sọt thì cân, không thì xê ra cho bạn hàng đóng thùng ướp đá chuyển lên xe đông lạnh đi Minh Cảng. Rảnh đâu mà đứng kỳ kèo mười lăm ngàn với cái ngữ kén cá chọn canh!"
Nhiên sững người, máu dồn lên hai gò má nóng bừng như bị tạt nước sôi. Cô lùi lại một bước, hai tai ù đi vì tiếng cười khẩy của mấy gã trai bốc vác quanh đó. Cô toan mở lời giải thích về độ săn của thớ thịt và quy chuẩn phân loại cá tươi, thì một bàn tay thô ráp, chai sần như vỏ hàu của người phụ nữ gánh cá phía sau đã thô bạo đẩy dạt cô sang bên mép lạch:
"Tránh đường coi cô em! Đứng ngáng lối ngã giá kiểu chợ tỉnh, rã hết đá của người ta bây giờ! Ở đây cá tính bằng tạ, bằng cần xé, ai rảnh đâu xẻ khúc bán lẻ cho cô về nấu canh chua!"
Nhiên loạng choạng trượt chân trên lớp bùn nhão, cây đòn gánh tre đập mạnh vào bả vai đau điếng.
Không bỏ cuộc, cô tiếp tục lê bước sang các sạp bên cạnh. Nhưng hễ Nhiên bước tới đâu, chỉ cần cô vừa giơ tay định kiểm tra độ nhớt của vảy cá hay mở miệng hỏi mua lẻ một vài con cá đối, cá nục, những cái xua tay phũ phàng lập tức dội ngược lại như những cái tát vô hình.
"Đi chỗ khác chơi, đồ dở hơi!"
"Chợ này họp chớp nhoáng theo con nước, trễ mười phút là mất mối sỉ, đứng đó mà ngửi với bóp!"
Người miền biển bán hàng theo nhịp con nước: cá vừa bốc từ khoang lên phải sang tay ngay trong vòng ba mươi phút trước khi rạng ngày, đóng thùng xốp phủ đá hạt rồi chuyển thẳng lên bờ, chẳng ai có thời gian cho một cô gái thành thị tỉ mẩn đo đếm từng thớ thịt. Bờ lạch này không phải là siêu thị máy lạnh với những khay xốp bọc màng thực phẩm cẩn thận ghi rõ hạn sử dụng đến từng giờ; ở đây, giá trị của một mớ cá được định đoạt bằng tốc độ, bằng lòng tin quen mặt và khối lượng hàng tấn trao tay trong chớp mắt.
Bị xô đẩy, chen lấn, cuối cùng Nhiên dạt ra tận mép doi cát xa nhất của Cồn Rêu — nơi chỉ có những đống vỏ sò vỡ vụn, mảnh xốp vỡ vụn và rác biển đen ngòm trôi dạt dập dềnh theo sóng.
Gió muối tạt rát mặt. Nhiên siết chặt tờ tiền polymer trong túi áo đến mức móng tay găm vào da thịt đau điếng. Một trăm ngàn đồng. Một tờ tiền duy nhất nằm trơ trọi giữa lòng bàn tay đang run rẩy. Một trăm ngàn đồng cho mười lăm miệng ăn của những người đàn ông vạm vỡ đang đói cào ruột sau một đêm ngâm mình kéo lưới, dầm sương trên đầm mặn. Làm sao cô có thể mua nổi cá tươi ngon theo tiêu chuẩn sách vở trường lớp khi giá một ký cá nục loại một đã ngót nghét tám mươi ngàn, còn cá thu phấn thì gấp bốn, gấp năm lần số đó?
Sự bất lực dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Trong một khoảnh khắc tăm tối, Nhiên cảm thấy mình hoàn toàn lạc lõng giữa Vạn Gió — một thế giới hoang dại, thô ráp và khắc nghiệt, nơi những kỹ thuật nấu nướng tinh xảo, những bảng định lượng gia vị chính xác đến từng gram mà cô dày công học tập bỗng chốc trở thành thứ vô dụng, buồn cười.
Đang lúc bế tắc tưởng chừng như phải buông xuôi, một chuỗi âm thanh lách cách kim loại hòa lẫn tiếng cãi vã gắt gỏng từ phía rặng phi lao sát mép nước thu hút sự chú ý của Nhiên.
"Bà ngẩng cái mặt lên xíu đi bà cụ! Cười một cái thật khổ cực giùm con, mắt hướng về phía biển xa xăm nha. Giữ nguyên cái nét khắc khổ đó, để con lấy góc cận thấy rõ từng nếp nhăn với giọt mồ hôi của sự mưu sinh nghèo khó!"
Tiếng nói phát ra từ một chàng trai trẻ trạc tuổi Nhiên. Anh ta mặc chiếc áo gi-lê nhiều túi chuyên dụng của dân quay phim, vải kaki bạc phếch màu sương gió, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai ngược để lộ vầng trán lấm tấm mồ hôi. Dáng người anh ta thoăn thoắt nhưng lùi lũi trên cát như một con còng gió, hai tay ghì chặt chiếc gimbal chống rung ba trục gắn máy ảnh mirrorless nhỏ gọn. Đầu micro thu âm bọc một lớp lông xù màu xám tro liên tục chĩa sát sạt vào mặt một bà lão bán rong biển, chỉ cách chóp mũi bà chừng vài gang tay.
Bà cụ trạc ngoài bảy mươi, lưng còng rạp xuống như một thân đước khô, đôi chân trần gầy guộc chôn sâu trong lớp bùn cát lạnh ngắt. Dưới chân bà là chiếc thúng nan rách mép, bên trong đựng dăm mớ rong cát nhớp nháp, bết dính bùn đen. Ánh đèn led siêu sáng gắn trên thân máy quay rọi thẳng vào đôi mắt kèm nhèm, đục ngầu vì đục thủy tinh thể của bà lão, khiến bà chói mắt, lảo đảo nghiêng ngả suýt ngã quỵ xuống doi bùn.
"Tôi lạy chú... Chú đừng có rọi cái đèn chói chang đó vô mắt tôi nữa mà!" Bà cụ bực tức giơ chiếc nón lá rách bươm, tơi tả vành lên che ngang mặt, giọng khàn đặc run rẩy vì lạnh và cáu giận. "Tôi bán mớ rong kiếm mười ngàn mua lon gạo cho cháu, chú cứ bu theo chĩa cái ống sắt vô mặt hoài. Người ta nhìn vô tưởng tôi làm gì tội lỗi hay khùng điên mới để chú quay phim bêu riếu! Đi chỗ khác giùm tôi đi, đừng có làm phiền người nghèo nữa!"
"Bà đừng che mà, bà che nón lá là hỏng góc máy vàng của con!" Chàng trai vẫn không chịu dừng lại. Anh ta thậm chí còn bước dấn tới một bước dài, hạ thấp trọng tâm đầu gối xuống mép nước để bắt góc máy hất từ dưới lên hòng lấy trọn bàn tay gầy guộc, gân guốc đang run rẩy của bà cụ nổi bật trên nền trời tờ mờ sáng. "Con đang giúp bà đấy chứ! Clip này lên xu hướng, người ta thấy bà khổ cực sẽ thương, con để số tài khoản từ thiện quyên góp cho bà có phải tốt hơn bán ba cái rong bèo bọt này không? Cố một đúp này thôi bà ơi!"
Cơn giận ứ nghẹn từ nãy đến giờ trong lồng ngực Nhiên bỗng bùng lên dữ dội.
Hình ảnh bà cụ co ro lấy nón rách che mặt dưới ánh đèn led tàn nhẫn, lạnh lùng ấy bất giác chồng khít lên ký ức đau đớn nhất đời cô: những ngày cuối đời của mẹ tại Bếp Hạ ở Minh Cảng. Khi nhà hàng phá sản, khi mẹ cô nằm trên giường bệnh gầy mòn vì kiệt sức, những chủ nợ hung hãn và những kẻ tò mò lạ mặt cũng từng vây quanh bàn ăn xì xào, chĩa những chiếc điện thoại thông minh vào mặt mẹ, bình phẩm, chỉ trỏ vào sự sa sút của gia đình cô như một món hàng giải trí rẻ tiền.
Không kịp đắn đo một giây nào, Nhiên sấn bước tới. Bằng một động tác dứt khoát, cô vung chiếc đòn gánh tre trên vai, đâm thẳng thanh tre chắn ngang giữa ống kính máy quay và khuôn mặt run rẩy của bà lão.
"Dừng lại ngay!" Nhiên gằn giọng, ánh mắt trừng lên nảy lửa.
Chàng trai giật mình lùi phắt lại một bước, chiếc gimbal kêu ro ro một tiếng ngắn đầy ức chế vì motor cân bằng bị chặn đột ngột. Anh ta nhíu chặt đôi mày rậm, khuôn mặt góc cạnh thoáng vẻ bực dọc tột độ, nhưng khi nhìn rõ Nhiên — một cô gái gầy gò với đôi mắt sắc lẹm và chiếc đòn gánh tre lăm lăm trên tay — nét mặt anh ta nhanh chóng chuyển sang vẻ cợt nhả, trêu ngươi:
"Ủa, gì vậy bạn ơi? Tự nhiên vác cây đòn gánh chặn ống kính người ta? Bạn làm rung khung hình của tôi rồi đó, thước phim này một đúp ăn ngay, ánh sáng rạng đông chuẩn nét, giờ coi như hỏng hết trơn!"
"Tôi bảo anh tắt cái máy quay đó đi!" Nhiên không hề hạ đòn gánh xuống, từng từ thốt ra đanh thép như búa gõ vào đe. "Bà cụ đã nói rõ ràng là bà không đồng ý. Anh có hiểu thế nào là sự đồng thuận không? Chĩa đèn công suất cao vào mắt một người già lúc bốn giờ sáng để chụp giật vài ba cái hình ảnh bi kịch, anh gọi đó là giúp đỡ à?"
Chàng trai thở dài một hơi đầy vẻ kẻ cả, bấm nút hạ máy xuống ngang bụng:
"Này cô bạn, bớt đạo đức mạng lại giùm tôi cái. Tôi là Nguyễn Hoàng Phúc, người làm nội dung độc lập. Tôi đang đi ghi lại đời sống chân thực của ngư dân miền Trung để làm tư liệu văn hóa ẩm thực du ký. Nhờ những khung hình cận cảnh, cảm xúc này thì người thành phố mới biết biển Vạn Gió gian truân thế nào, người ta mới quan tâm mà về đây du lịch, mua tôm mua cá. Tôi không trộm cắp, không làm hại ai, sao cô bảo tôi quấy rầy?"
"Chân thực cái gì khi anh bắt người ta phải diễn nét mặt khổ sở theo ý anh?" Nhiên bước thêm một bước, áp sát đối phương, giọng sắc như dao cạo trên thớt gỗ. "Anh đang lợi dụng sự nhọc nhằn của người bản địa làm đạo cụ cho cái kênh cá nhân của mình thì có! Người ta thức trắng đêm ngâm mình dưới nước lợ để mưu sinh, không phải để làm nền cho mấy cái clip câu view rẻ tiền của anh. Sáng tạo nội dung mà không có sự tôn trọng tối thiểu thì chỉ là một hành vi xâm phạm đời tư đáng xấu hổ!"
Hoàng Phúc bị chọc trúng chỗ nhược, nụ cười cợt nhả trên môi tắt ngấm. Sắc mặt anh ta biến đổi liên tục, từ đỏ tía sang trắng bệch. Anh ta đưa tay gãi đầu, cơ mặt giật nhẹ, giọng chùng xuống nhưng vẫn vớt vát chút tự ái nghề nghiệp:
"Cô thì biết cái quái gì chứ... Có biết áp lực phải nộp file trước mười hai giờ trưa nay cho nhóm làm phim Đường Xa nó khủng khiếp cỡ nào không? Nếu không có những thước phim độc lạ, chạm đáy cảm xúc, họ sẽ hủy hợp đồng cộng tác với tôi ngay lập tức! Tôi cũng chỉ là một thằng làm công ăn lương trên đường gió bụi thôi..."
"Đó là vấn đề mưu sinh của anh, không phải cái cớ để anh tước đoạt sự bình yên của người khác." Nhiên lạnh lùng chốt lại, ánh mắt không hề chớp.
Dứt lời, cô quay lưng lại, không buồn nhìn Phúc thêm một cái. Cô cúi người xuống, nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc thúng nan rách của bà cụ, phủi đi lớp cát bám trên mép nón: "Bà ơi, bà sang mé bên kia đi bà, bên đó khuất gió hơn, không ai làm phiền bà nữa đâu."
Bà cụ thở phào nhẹ nhõm như vừa thoát khỏi một gánh nặng, run rẩy gật đầu: "Cảm ơn cô em... Trời Phật phù hộ cho cô." Nói rồi, bà lật đật quẩy thúng rong đi nhanh sang phía dải đê cát bên kia, bóng lưng còng đổ dài trên nền cát xám.
Hoàng Phúc đứng chôn chân trên cát ướt, nhìn theo bóng bà cụ rồi lại nhìn chằm chằm vào Nhiên. Đôi mắt sắc sảo của một kẻ làm nghề hình ảnh bất chợt quét qua đôi sọt tre trống trơn trên vai cô, rồi dừng lại ở tờ tiền một trăm ngàn đồng nhàu nát kẹp giữa những ngón tay trần bầm dập, vương đầy vảy muối khô khốc.
Một tia sáng tinh quái, nhận biết tình thế lóe lên trong mắt Phúc. Anh ta bật cười khô khốc, với tay tắt công tắc đèn led trên máy quay, treo chiếc gimbal vào móc sắt bên hông đai lưng.
"Thôi được rồi, tôi sai, tôi nhận lỗi. Cô nói đúng ranh giới gì đó nghe bài bản lắm, chắc dân trường lớp đào tạo ra." Phúc nhún vai, tiến lại gần Nhiên hơn nửa bước, giọng điệu chuyển ngoắt sang vẻ xởi lởi, tinh quái của một kẻ quen lăn lộn đầu đường xó chợ. "Nhưng mà nhìn bộ dạng cô em kìa... Cầm tờ một trăm ngàn, quang gánh trống không, đứng trơ trọi giữa doi cát lúc chợ sắp tan. Người lạ xứ khác đến tìm mua cá nấu ăn đúng không? Ban nãy tôi đứng đằng kia thấy cô bị mấy bà bán cá nục chửi cho vuốt mặt không kịp."
Nhiên khựng lại, ngượng ngùng định quay mặt đi nhưng Phúc đã nhanh nhảu bước vòng lên chắn phía trước:
"Này, đừng có tự ái. Ở chợ Cồn Rêu này, cô đem cái thói săm soi lật mang, bóp thịt với mặc cả từng ngàn kiểu siêu thị thành phố ra là chỉ có nước húp gió biển thôi. Biển ở đây vận hành theo quy luật con nước, chứ không theo cái thực đơn trong đầu cô đâu."
Nhiên dừng bước, hàng lông mày thanh mảnh khẽ nhíu lại: "Con nước thì liên quan gì đến chuyện mua cá?"
Phúc khoanh hai tay trước ngực, hất cằm về phía những chiếc ghe nhỏ đang dập dềnh neo đậu xa xa ngoài cửa sông, nơi từng đợt sóng đục ngầu phù sa đang vỗ vào bãi cạn:
"Sao lại không liên quan? Dân đi biển Vạn Gió chia tháng ra làm hai: con nước rong và con nước kém. Tuần này đang là con nước kém, tức là biên độ triều lên xuống rất nhỏ, nước chảy lờ đờ, đục ngầu phù sa cửa lạch. Mấy ghe lớn đánh bắt xa bờ chẳng buồn ra khơi vì cá lớn không vào vùng nước cạn, họ nằm bờ hết trơn rồi. Chỉ có mấy ghe nhỏ đi cào mé cạn và lưới rùng gần bờ hoạt động thôi. Mẻ lưới nước kém thì lấy đâu ra cá thu, cá bớp hảo hạng cho cô bóp thịt? Mấy con cá nục ban nãy là hàng ướp đá từ khơi xa mang về mấy ngày trước, họ phải bán tống bán tháo cho xe đông lạnh về phố chứ hơi đâu bán mớ lẻ tẻ cho cô!"
Lời giải thích gãy gọn của Phúc như một luồng điện xẹt qua tâm trí Nhiên. Cô bàng hoàng đứng sững giữa bãi bùn.
Từng câu, từng chữ của anh ta bỗng làm sống dậy một đoạn văn viết bằng mực tím nhòe nhoẹt trong cuốn sổ tay của mẹ mà cô từng đọc lướt qua hồi nhỏ: *“Muốn nấu vị của đất nào, trước tiên phải thở cùng nhịp thở của trời đất nơi đó. Người làm bếp vụng về chỉ nhìn thấy nguyên liệu trên thớt; người làm bếp chân chính phải nhìn thấy con nước, ngọn gió và nỗi nhọc nhằn của kẻ kéo lưới.”*
Suốt sáu năm ở Minh Cảng, Nhiên đã sống trong một thế giới tách rời tự nhiên. Ở đó, cá tôm được vận chuyển bằng xe lạnh chuyên dụng, phân loại sẵn theo mã hàng A, B, C; rau củ được bọc màng co trong phòng vô trùng, luôn xuất hiện đúng kích cỡ, đúng trọng lượng vào đúng sáu giờ sáng mỗi ngày bất kể ngoài trời bão giật cấp mười hay nhật triều khô cạn. Cô đã đem sự máy móc vô hồn, cứng nhắc ấy áp đặt lên một doi cát chao đảo giữa sóng gió thiên nhiên, rồi tự chuốc lấy thất bại và cay đắng.
Thấy vẻ mặt Nhiên dịu lại, không còn vẻ gai góc phòng thủ, Phúc cười xòa, giơ ba ngón tay lên làm điệu bộ cam kết:
"Tôi biết chú Năm ghe lưới cào đằng kia. Chú ấy vừa dỡ một mẻ lưới mé cạn lên cát. Cô muốn mua đồ tươi, ngon, rẻ mà nấu ra chất biển thật sự thì đi theo tôi. Coi như tôi chuộc lỗi vụ cái nón lá ban nãy, chịu không?"
Nhiên cúi đầu nhìn đồng hồ trên chiếc điện thoại cũ: màn hình hiển thị bốn giờ năm mươi phút sáng. Thời gian không còn nhiều. Chỉ còn hơn hai tiếng đồng hồ nữa là đến giờ hẹn của bà Tư Mặn. Nếu chần chừ, cô sẽ mất trắng cơ hội duy nhất.
"Được. Dẫn đường đi." Nhiên hít sâu một hơi, gật đầu dứt khoát.
Hoàng Phúc thoăn thoắt dắt Nhiên len lỏi qua bãi cát ngập ngụa những mảnh lưới rách và vỏ ốc hến vỡ, tiến về phía một chiếc ghe con trơ trọi đang dập dềnh sát mé rạn đá ngầm phía cuối doi đất.
Trên bãi cát ướt cạnh mạn thuyền, một người đàn ông luống tuổi có nước da đen cháy như gỗ mun, ngực trần vạm vỡ chằng chịt những vết sẹo do cọ xát với dây chão đang ngồi xổm cầm chiếc rổ xảo lớn, thoăn thoắt phân loại cá. Những con cá có giá trị thương phẩm cao như cá hố ánh bạc, cá khoai mềm mướt đã được thương lái quen gom sạch vào thùng xốp từ sớm tinh mơ để kịp chuyến xe chợ huyện.
Trên tấm bạt rách trải dưới cát chỉ còn lại một đống hổn hển những thứ mà giới buôn cá xem là đồ phế phẩm, đồ bỏ đi: một mớ cá đối cào chỉ dài chừng nửa gang tay nằm lẫn lộn trong cát, những chiếc đầu cá mối, cá liệt to bằng bàn tay bị thương lái chém vát xương xẩu chỉ còn dính chút thịt vụn quanh mang, và những chùm rong cát tươi rói dạt bờ vướng đầy trong mắt lưới mà người ta đang rũ bỏ ra để làm sạch thuyền.
"Chú Năm!" Phúc cất tiếng gọi sang sảng, vỗ mạnh bàn tay lên be thuyền gỗ kêu bôm bốp. "Còn mớ cá vụn với đầu xương nào ngọt nước không chú? Để lại cho con bé bạn cháu với! Nó phải nấu bữa sáng cho thợ xưởng mắm bà Tư Mặn bên xóm trong nè!"
Người đàn ông ngẩng phắt lên. Dưới vành mũ lá cọ tơi tả, đôi mắt đục mờ vì khói thuốc và gió mặn của chú Năm quét qua người Nhiên một lượt, vẻ ngạc nhiên hiện rõ trên khuôn mặt nhăn nheo:
"Bạn mày nấu cơm cho thợ bà Tư Mặn hả? Cái bà già khó tính như ma biển đó mà cũng chịu thuê người ngoài à? Mấy bữa trước nghe đâu bả đuổi liền ba đứa nấu bếp vì tội nấu canh nhạt toẹt với cá kho tanh rình!"
Nói rồi, chú Năm cười khà khà, tiếng cười sảng khoái đậm chất người vạn chài. Chú đưa bàn tay hộ pháp gạt đống đầu cá mối và rổ cá đối nhỏ sang một góc bạt:
"Nè, mớ cá đối cào này nhỏ con thiệt nhưng là cá sống nước lợ mé cạn, ruột sạch béo ngậy vì ăn rong non. Còn đống đầu cá liệt, cá mối này nữa, thương lái họ chê nhiều xương không thèm lấy, chứ tụi mày đem ninh lấy nước thì ngọt lịm tận tủy, cá biển tươi vừa kéo lên khỏi mặt nước chưa đầy một tiếng đồng hồ đó con! Lấy hết đống này tao lấy bốn chục ngàn tiền dầu thôi, coi như ủng hộ con nhỏ cháu gan cóc tía dám nhận việc nhà bà Tư!"
Nhiên ngồi thụp xuống bãi cát ướt. Lần này, cô không dùng ngón tay ấn mạnh vào lườn cá để tìm kiếm sự hoàn hảo cơ học theo sách vở nữa.
Dưới ánh bình minh rạng đông đang nhuộm một vệt hồng tím le lói nơi chân trời xa xăm, Nhiên ghé sát mắt nhìn sâu vào những đôi mắt cá đối nhỏ xíu: mắt chúng trong suốt, long lanh như giọt nước mưa đọng trên lá cỏ, nắp mang khép chặt phập phồng ánh đỏ tươi rói màu máu tươi, lớp da cá óng ánh một lớp nhớt tự nhiên trơn tuột của biển cả vừa dứt khỏi ngọn sóng. Còn những chiếc đầu cá mối, cá liệt bị chém vát kia, phần tủy sống vẫn còn đỏ au, mùi tanh của chúng không phải mùi ươn thối rữa mục mà là mùi nồng ấm, thanh khiết của rong rêu và muối mặn nguyên thủy.
Đó tuyệt đối không phải là phế phẩm. Đó là tinh hoa, là sự tươi rói tinh khiết của một con nước vừa rút.
"Chú Năm ơi, chú cho cháu xin thêm mớ rong cát vướng ở mép lưới kia được không chú?" Nhiên chỉ tay vào những sợi rong xanh thẫm, thân mọng nước bám chặt vào sỏi vụn vừa được rũ ra từ mắt lưới.
Chú Năm xua tay hào phóng: "Mày lấy thì cứ hốt sạch đi, rong đó người ta rũ bỏ chứ ăn uống gì, dính cát dữ lắm, rửa mệt nghỉ đó con!"
Nhiên lấy tờ tiền một trăm ngàn đưa cho chú Năm bằng cả hai tay, nhận lại sáu mươi ngàn đồng tiền thừa gồm những tờ tiền lẻ nhăn nheo ướt nước biển.
Trên đường quẩy gánh quay lại mé chợ Cồn Rêu, Nhiên ghé sạp của bà cụ ban nãy. Cô dùng mười ngàn mua một củ gừng gió — loại gừng sẻ củ nhỏ khẳng khiu, da sần sùi bám đầy đất cát nhưng bẻ đôi ra thì thơm nồng cay gắt, mọc hoang dại trên các đồi cát cằn cỗi ven biển Vạn Gió. Sau đó, cô ghé một bà bán rau quê, bỏ ra hai mươi ngàn mua một túi gạo đỏ địa phương hạt ngắn, mẩy tròn cùng một vốc hành hoa tươi non.
Trong túi áo khoác của Nhiên lúc này vẫn còn dư đúng ba mươi ngàn đồng.
Đôi sọt tre trên vai cô giờ đây trĩu nặng, đè cong thanh đòn gánh: mười ký đầu xương cá tươi rói rỉ nước trong veo, ba ký cá đối nhỏ nhảy lách tách và một rổ rong cát xanh mướt ngậm đầy vị mặn của ngọn gió sớm đầu ngày.
Hoàng Phúc vừa rảo bước bên cạnh vừa cầm máy quay. Lần này, anh ta không còn dí sát ống kính vào mặt ai nữa, mà đứng cách xa một khoảng lịch sự, lia máy theo từng bước chân thoăn thoắt, vững chãi của Nhiên trên nền cát sủi bọt.
"Này, cô định làm món gì cho mười lăm ông thợ biển với đống xương xẩu đó?" Phúc tò mò hỏi, ngón tay thoăn thoắt vê vòng xoay tiêu cự trên thân ống kính. "Đầu cá thì nhiều xương răm, cá đối thì nhỏ tí xíu, rong biển dính cát lạo xạo... Tôi tưởng dân đầu bếp chuyên nghiệp phải làm phi-lê sốt bơ tỏi hay cá áp chảo gì chứ?"
"Cháo cá biển," Nhiên đáp gọn lỏn, ánh mắt cô không hề dao động, hướng thẳng về phía gian bếp dã chiến lợp mái tôn rách cạnh mép xưởng mắm đang dần hiện rõ trong làn sương sớm bảng lảng. "Người đi biển sáng sớm sau một đêm dầm sương lạnh ngắt cần một thứ gì đó làm ấm bụng, dễ nuốt, bổ sung lại lượng nước và muối khoáng đã mất. Cơm khô hay cá kho mặn chát lúc này đều không hợp, nuốt nghẹn cổ họng, lại hại dạ dày."
Năm giờ bốn mươi phút sáng.
Gian bếp dã chiến của xưởng mắm Tư Mặn nằm nép mình bên hông trại chượp, thực chất chỉ là một khoảng đất nện lổn nhổn vỏ ốc, được che chắn tạm bợ bằng mấy tấm tôn rỉ sét thủng lỗ chỗ. Bên trong, ba hòn đá tảng lớn kê chụm lại làm chiếc kiềng bếp khổng lồ, trên kiềng là một chiếc nồi gang đại đường kính gần một mét, thành nồi cáu bẩn lớp nhọ nồi đen kịt tích tụ qua hàng chục năm đun củi.
Nhiên đặt đôi sọt tre xuống đất, xắn cao tay áo khoác gió lên tận nách. Ánh mắt cô lập tức quét quanh không gian bếp, tính toán từng bước đi với tốc độ và sự chuẩn xác đáng kinh ngạc của một đầu bếp từng điều phối gian bếp phục vụ hàng trăm thực khách.
Cô không dùng chiếc thớt gỗ mùn mủn nước của xưởng mắm mà lật úp một chiếc rổ tre sạch làm điểm tựa phẳng. Bằng con dao bếp bản mỏng, lưỡi bén ngót mang theo từ thành phố, Nhiên thoăn thoắt chặt rời từng chiếc đầu cá mối, cá liệt. Đầu dao lia nhẹ một đường chính xác dọc sống lưng, bổ đôi hộp sọ cá, rồi cô dùng ngón tay cái miết mạnh dưới vòi nước giếng khơi trong vắt, rửa trôi sạch sẽ toàn bộ những cục máu đông bầm đen bám sát xương sống — nguyên nhân cốt tử tạo nên mùi tanh nồng nặc của cá biển khi ninh nước dùng.
Hoàng Phúc cẩn thận đặt chân máy xuống một góc khuất gió, đứng lặng người nhìn đôi bàn tay Nhiên chuyển động. Không còn vẻ căng thẳng, cãi cọ hay ngơ ngác ban nãy ngoài bãi cá, trước mắt anh lúc này là một người đầu bếp đang hoàn toàn làm chủ không gian và linh hồn của nguyên liệu. Động tác của cô dứt khoát, nhịp nhàng như một vũ điệu: dao gõ xuống mặt tre chan chát, nước giếng xối ào ào, từng chiếc đầu cá trắng sạch được xếp ngay ngắn vào rổ thưa chỉ trong vòng mười phút.
Nhiên ôm một ôm củi dương khô ném vào lòng kiềng đá, nhét thêm một nắm lá dương rụng khô giòn rồi châm lửa. Lửa bén vào lá dương khô bùng lên rừng rực, tiếng nổ lép bép vui tai tỏa ra mùi khói thơm dìu dịu, hăng hăng của tinh dầu gỗ biển — thứ mùi hương mộc mạc đặc trưng của những làng chài miền Trung.
Trên chiếc chảo gang nhỏ đặt tạm bên cạnh, Nhiên thả vào một muỗng mỡ lợn bản trắng tinh. Mỡ sôi tăm tắp, cô đập dập vài nhánh gừng gió sần sùi và một vốc gốc hành tím đập giập thả vào phi thơm lừng. Tiếng xèo xèo giòn giã vang lên xé toạc không gian tĩnh mịch, ngái ngủ của xưởng mắm. Mùi hăng nồng của gừng gió gặp mỡ nóng bốc lên ngào ngạt, át đi mùi nồng gắt của những vại chượp xung quanh.
Khi hành gừng vừa ngả sang màu vàng cánh gián, Nhiên trút toàn bộ mười ký đầu cá và xương cá đã ráo nước vào chảo, dùng đôi đũa cả lớn đảo nhanh tay trên ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt. Hơi nước bốc lên mù mịt mang theo mùi thơm ngầy ngậy của tủy cá quyện chặt với vị cay nồng của gừng gió, hoàn toàn bẻ gãy mọi phân tử mùi tanh của bùn cát đáy lạch.
Khi lớp thịt mỏng dính quanh đầu cá săn lại, chín vàng sém cạnh, phát ra tiếng reo lách tách, Nhiên múc trọn một gàu nước giếng lớn đổ ụp vào chảo.
*Xèo!*
Một tiếng nổ lớn vang lên, hơi nước bốc lên nghi ngút như một đám mây trắng. Nước giếng lạnh gặp nhiệt độ cực cao của chảo gang sôi bùng lên ùng ục trong chớp mắt. Dưới tác động của nhiệt độ và chất béo, nước dùng lập tức chuyển từ trong suốt sang màu trắng đục như sữa đậu nành — đó là dấu hiệu cho thấy chất béo chưa no và gelatin tự nhiên trong tủy cá đã tan chảy hoàn toàn, hòa quyện vào nước dùng tạo nên một dạng nhũ tương hoàn hảo.
Cô dùng hai miếng giẻ rách nhấc chảo gang, trút toàn bộ phần nước cốt cá trắng đục ấy qua chiếc rổ lọc mắt nhỏ vào chiếc nồi gang lớn đã vo sẵn gạo đỏ địa phương. Những chiếc xương cá và đầu cá trơ trọi được giữ lại trong rổ, ép kiệt từng giọt nước ngọt cuối cùng trước khi bỏ đi.
Nhiên rút bớt củi lớn, chỉ để lại những thanh than dương đỏ rực ninh liu riu dưới đáy nồi gang.
Ở chiếc chảo gang nhỏ vừa tráng sạch, Nhiên tiếp tục công đoạn xử lý cá đối. Bằng mũi dao sắc bén, cô khéo léo rạch hai đường chéo trên lườn từng con cá đối nhỏ bằng hai ngón tay. Thịt cá đối mùa nước kém tuy kích thước khiêm tốn nhưng nhờ kiếm ăn rong non nơi vùng nước lợ nên phần bụng cá tích một lớp mỡ béo ngậy, trắng phau. Cô cho chút mỡ lợn vào chảo, thả cá vào xào sơ với chút tiêu sọ giã giập.
Khi cá vừa chín tới, Nhiên lấy chiếc thìa tre nhỏ, lén múc đúng một muôi nước mắm nhĩ Vạn Gió mặn đót — thứ nước mắm màu cánh gián đậm đặc mà cô đã bí mật xin từ thùng ủ số 4 của bà Tư Mặn lúc sáng sớm — rưới một vòng quanh mép chảo gang đang nóng rực.
Nước mắm gặp kim loại nóng cháy bốc lên một mùi thơm ngào ngạt, đậm đà đến thắt ruột, thấm sâu vào từng thớ thịt cá đối săn chắc, biến chúng thành những miếng thịt vàng ruộm, óng ả.
Khâu cuối cùng là mớ rong cát — thứ nguyên liệu bị người đời chê bai là rác bẩn.
Nhiên đổ đầy một chậu nước giếng trong vắt, thả rong vào ngâm. Đôi bàn tay khéo léo của cô lướt nhẹ trên từng chùm rong, dùng các đầu ngón tay vò nhẹ nhàng, uyển chuyển để từng hạt cát li ti bám ở gốc rong tự động rơi rụng xuống đáy chậu, nhưng tuyệt đối không làm dập nát những nhánh rong giòn mọng nước. Cô rửa qua ba lần nước giếng, vớt rong ra chiếc rổ thưa để ráo. Những cọng rong xanh biếc, thân tròn mọng, ngậm trọn vị mặn mòi nguyên thủy của biển khơi rung rinh dưới ánh nắng mai vừa ló rạng.
Sáu giờ bốn mươi phút sáng.
Nồi cháo khổng lồ trong gian bếp dã chiến đã chín nhừ. Những hạt gạo đỏ địa phương sau hơn nửa tiếng ninh than đã nở bung xòe như những cánh hoa nhỏ li ti, lơ lửng bồng bềnh trong làn nước dùng trắng đục sánh mịn như sữa.
Nhiên dùng hai tay nắm chặt chiếc quai gỗ, mở tung nắp nồi gang.
Một luồng hơi nóng hổi, thơm ngát, ngọt lịm mùi tủy cá và nồng ấm hương gừng lập tức bốc lên cuồn cuộn thành một cột khói lớn. Luồng hơi ấy theo ngọn gió sớm bay là là qua khoảng sân xưởng đầy những lu mắm sành, lan tỏa qua hàng rào dâm bụt, bay ra tận con đường cát dẫn ra bến ghe Cồn Rêu.
Nhiên không hề nêm nếm một thìa bột ngọt hay hạt nêm công nghiệp nào — thứ gia vị nhân tạo mà cô từng phụ thuộc suốt nhiều năm trong các bảng định lượng cứng nhắc ở nhà hàng thành phố. Vị ngọt của nồi cháo này là vị ngọt tự nhiên, thuần khiết và sâu thẳm của hàng trăm chiếc đầu cá tươi rói vừa dứt khỏi ngọn sóng.
Để dằn lại vị ngọt béo ngậy ấy, Nhiên vốc một nắm muối hạt thô Vạn Gió — thứ muối hạt to bản, vuông vức kết tinh từ nắng gắt và gió mặn của vùng đất này — thả thẳng vào giữa lòng nồi đang sôi lục bục. Tiếp đó, cô trút toàn bộ mớ rong cát tươi xanh và phần thịt cá đối xào mắm vào, dùng đũa cả khuấy đều một vòng duy nhất rồi dứt khoát nhấc nồi gang khỏi kiềng đá, đặt xuống nền đất nện.
Kỳ diệu thay, những sợi rong cát vừa chạm vào làn cháo nóng sôi lập tức chuyển từ màu xanh thẫm sang màu xanh ngọc bích mướt mắt, trong veo như ngọc, giữ trọn vẹn độ giòn sần sật và vị mặn thanh khiết tựa như một ngụm gió biển đầu ngày.
"Mùi gì mà thơm điếc mũi vậy trời?"
Tiếng bước chân rậm rịch, nặng nề ngoài cổng xưởng mắm cắt ngang dòng suy nghĩ của Nhiên. Mười lăm người thợ chài của xưởng mắm Tư Mặn, mình khoác áo tơi tơi tả, chân đi ủng cao su lấm lem bùn cát xám xịt, lục tục kéo nhau bước vào sân. Đôi mắt họ trũng sâu, khuôn mặt tái nhợt vì một đêm thức trắng ngâm mình kéo lưới ngoài lạch, cả người run lên bần bật trong làn gió sớm buốt lạnh. Đằng sau họ, mấy người tiểu thương gánh cá từ mé chợ Cồn Rêu đi ngang qua cổng cũng bất giác dừng bước, hít hà làn khói mộc mạc, ngào ngạt đang tỏa ra từ gian bếp dã chiến.
"Mời các chú, các bác vào ăn cháo cho ấm bụng rồi hẵng xuống ghe kéo lưới!" Hoàng Phúc nhanh nhảu bước ra mé hiên, cất tiếng gọi lớn bằng chất giọng rổn rảng, tay vẫn không quên giữ chặt chiếc máy quay lia một vòng quanh những gương mặt mệt mỏi, phong sương của những người thợ biển.
Không ai bảo ai, những người đàn ông vạm vỡ nhưng đói lả lục tục kéo vào, ngồi xệp xuống những thanh gỗ kê tạm bợ quanh gian bếp.
Nhiên thoăn thoắt dùng muôi gỗ múc cháo ra từng chiếc bát sành sứt mẻ. Mỗi bát cháo đầy ắp, bốc khói nghi ngút, nổi bật với màu trắng đục sánh mịn của nước dùng gạo đỏ, sắc xanh ngọc bích của rong biển giòn, những miếng thịt cá đối vàng ruộm săn chắc và một chút hành hoa thái nhỏ rắc bên trên cùng nhúm tiêu sọ cay xè.
Bác thợ cả — một người đàn ông ngoài năm mươi có bộ râu quai nón rậm rạp và đôi bàn tay to bè như chiếc xẻng — đón lấy bát cháo nóng bỏng tay. Không cần thìa, bác ghé miệng vào vành bát sành sứt mẻ, húp một ngụm lớn đầy thèm thuồng.
Gian bếp dã chiến bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng kỳ lạ trong vài giây. Tiếng gió rít qua khe tôn và tiếng củi tàn lách tách trong kiềng đá như ngưng bặt.
Bỗng nhiên, bác thợ cả thở hắt ra một hơi dài đầy sảng khoái, đôi mắt trũng sâu ánh lên một tia sáng rực rỡ, khuôn mặt khắc khổ dãn ra hoàn toàn:
"Cha mẹ ơi... Ngọt! Ngọt thấu tận cuống họng mà không hề có cái vị lợ lợ của mì chính bột ngọt! Lại có cái vị giòn sần sật mằn mặn của rong cát với cái cay nồng ấm sực của gừng gió... Nuốt tới đâu, cái lạnh thấu xương ngâm bùn suốt đêm qua nó trôi tuột tới đó!"
"Cho tôi thêm bát nữa cô em ơi!" Một người thợ trẻ khác ngồi bên cạnh vừa húp cạn đáy bát chỉ trong ba hơi, chìa chiếc bát sành trống không ra phía trước, trán đã lấm tấm những giọt mồ hôi nóng hổi. "Ăn bát cháo này vô thấy ruột gan ấm sực, cái chân cái tay đang run cầm cập tự nhiên có lại sức lực để lát nữa lội đầm kéo lưới!"
"Cả đời tôi đi biển, toàn ăn cá đối kho quéo với cơm nguội, chưa từng nghĩ mớ đầu cá liệt xương xẩu với rong rác dạt bờ lại nấu ra được cái thứ nước cháo ngon ngọt béo ngậy như vầy!" Một bác thợ già vừa nhai giòn rụm nhánh rong cát vừa tấm tắc khen.
Tiếng xì xụp húp cháo, tiếng xuýt xoa vì vị cay của tiêu gừng, tiếng cười nói rôm rả nhanh chóng xua tan hoàn toàn vẻ ảm đạm, lạnh lẽo thường ngày của xưởng mắm. Cả mấy bà gánh cá đi ngang qua cổng xưởng cũng tạt vào, móc những đồng tiền lẻ nhăn nheo trong cạp quần ra xin đổi lấy một bát cháo nóng ăn vội để lấy sức gánh hàng đi bộ hàng chục cây số lên phố huyện.
Chiếc nồi gang khổng lồ đường kính gần một mét vơi đi trông thấy chỉ trong vòng chưa đầy mười lăm phút ngắn ngủi.
Đứng ở góc sân xưởng mắm, dưới bóng râm cằn cỗi của một cây dương liễu già trơ trụi lá, bà Tư Mặn đã xuất hiện từ lúc nào không hay.
Bà đứng lặng lẽ, hai cánh tay gầy guộc khoanh chặt trước ngực, đôi mắt sắc như dao cau không chớp, chăm chú quan sát toàn bộ cảnh tượng ồn ào, náo nhiệt quanh gian bếp dã chiến. Ánh mắt nghiêm khắc của bà dừng lại rất lâu ở chiếc nồi gang đã cạn trơ đáy, chỉ còn sót lại vài hạt gạo đỏ dính quanh thành nồi, rồi từ từ chuyển sang nhìn đôi bàn tay đỏ ửng vì bỏng hơi nóng và những vết xước muối rướm máu của Nhiên đang thoăn thoắt thu dọn chồng bát sành.
Bà Tư không bước lại gần. Bà cũng không buông ra một lời khen ngợi hay một câu cảm ơn sáo rỗng. Người đàn bà cả đời sống chết với nghề làm mắm chỉ khẽ nhếch khóe môi cằn cỗi, tạo thành một tia gợn sóng rất nhỏ nơi khóe miệng nhăn nheo, rồi quay lưng bước vào gian nhà chính, để lại cánh cửa gỗ lim đen bóng khép hờ.
Nhiên ngẩng đầu lên, nhìn theo bóng lưng còng gầy guộc nhưng thẳng thớm của bà khuất sau cánh cửa gỗ. Trong lồng ngực cô, một tảng đá ngàn cân vô hình như vừa được trút bỏ, để lại một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản lạ kỳ.
Cô đã vượt qua thử thách đầu tiên, sinh tử nhất. Không phải bằng những công thức cao siêu, bóng bẩy của các nhà hàng năm sao nơi phố thị, mà bằng sự khiêm nhường học cách lắng nghe nhịp điệu của biển khơi, hiểu được con nước kém, và biết nâng niu, tôn trọng giá trị của những thứ nguyên liệu bình dị nhất từng bị chối bỏ.
Hoàng Phúc bước lại gần Nhiên. Anh ta bấm nút dừng ghi hình trên máy quay, mệt mỏi ngồi thụp xuống bậc thềm gạch rêu phong của hiên bếp, vừa đưa tay quệt vội những giọt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán vừa mở màn hình lật của chiếc máy ảnh ra xem lại những đoạn phim vừa quay.
"Tôi phải công nhận, cô nấu ăn giỏi thật đấy," Phúc vừa cười vừa lướt ngón tay qua các khung hình, giọng anh ta lúc này đã hoàn toàn mất đi vẻ cợt nhả, trêu ngươi ban đầu, thay vào đó là sự nể phục chân thành. "Nhìn bát cháo của cô qua ống kính máy quay, tôi mới hiểu ra rằng ẩm thực không nhất thiết phải là sơn hào hải vị bóng bẩy, đắt tiền mới làm người ta lay động. Đoạn phim này mà dựng vào tập phim tài liệu về Vạn Gió, chắc chắn người xem sẽ hiểu được cái tình, cái nhọc nhằn và cái vị mặn mòi thực sự của người miền biển."
Nhiên cúi người, dùng chiếc giẻ lau sạch vệt nhọ nồi bám trên thành chảo gang, khẽ mỉm cười một cái thật nhẹ:
"Cảm ơn anh. Nếu ban nãy ngoài bãi cát anh không giải thích cho tôi về con nước kém và dẫn tôi gặp chú Năm, chắc chắn lúc này tôi đã phải xách vali rời khỏi Vạn Gió trong nhục nhã rồi."
Phúc cười lớn, ngón tay cái vẫn thoăn thoắt lướt trên phím điều hướng của máy ảnh. Những thước phim anh quay lúc bình minh hiện lên vô cùng sống động: cảnh chợ Cồn Rêu bảng lảng trong sương mù ẩm ướt, cảnh đôi bàn tay Nhiên thoăn thoắt thái gừng, chặt cá, cảnh ngọn lửa than dương bùng lên đỏ rực, và cảnh những người thợ biển lam lũ xì xụp húp từng ngụm cháo nóng với ánh mắt rạng rỡ...
Bỗng nhiên, ngón tay của Phúc khựng lại đột ngột trên phím bấm.
Trên màn hình nhỏ của máy ảnh, một khung hình tĩnh hiện lên rõ mồn một. Đó là đoạn phim anh vô tình ghi lại được vào chiều hôm qua — trong lúc đứng chờ ngoài sân xưởng mắm để tìm kiếm tư liệu:
Ống kính máy quay khi ấy đã vô tình bắt được một góc cận cảnh vô cùng sắc nét: cánh tay gầy guộc của bà Tư Mặn đang với chiếc gáo dừa múc nước chượp từ đáy một thùng gỗ lớn. Chiếc ống tay áo bà ba màu nâu sẫm kéo cao lên tận nách đã để lộ một vết sẹo bỏng mắm sâu hoắm, da thịt co rúm lại, thâm đen và sần sùi như vỏ cây đước già, kéo dài ngoằn ngoèo từ cổ tay lên tận khuỷu tay — dấu vết tàn khốc của một tai nạn lao động thảm khốc hoặc một biến cố kinh hoàng nào đó liên quan đến việc cứu những vại mắm trong quá khứ mà người đàn bà cô độc này chưa bao giờ hé răng nhắc tới với bất kỳ ai.
Nhiên liếc mắt qua màn hình máy ảnh, ánh mắt cô đóng đinh vào vết sẹo bỏng chượp ghê rợn ấy. Một cảm giác thắt nghẹn mơ hồ dâng lên nơi cuống họng cô, vừa xót xa, vừa lạnh buốt sống lưng.
Chưa kịp để cô mở lời hỏi thêm điều gì, một ngọn gió lạ từ ngoài đầm mặn bỗng thổi giật ngược vào đất liền.
Ngọn gió không còn hơi mặn mát lành của buổi sớm mai nữa, mà mang theo một sự oi bức, ngột ngạt và nặng trịch đến khó thở.
Bầu trời phía chân trời xa xôi, nơi doi cát Cồn Rêu vừa họp chợ ban nãy, bỗng chốc sập xuống một màu xám chì đặc quánh, tối sầm lại như một tấm màn tang lễ khổng lồ đang từ từ buông xuống nuốt chửng mặt biển.
*Lách tách.*
Những hạt mưa đầu tiên nặng trĩu rơi xuống nắp những chiếc lu mắm sành ngoài sân, mang theo mùi tanh nồng của biển sắp động.