Công Thức Của Những Nẻo ĐườngCh.12 / 20
Chapter 12

Cay không phải để che đắng

Khói bếp củi đỏ rực tỏa ra mùi hăng nồng của ớt rừng phơi khô khi hai chiếc bàn bếp dã chiến được kê sát hiên nhà sàn trước ánh mắt chăm chú của dân làng suối Kơ Nia.

Cơn gió đại ngàn từ hẻm núi sâu hun hút thổi thốc qua lòng thung lũng, cuốn theo tàn tro bay lả tả trên nền đất bazan đỏ quạch, thứ bụi mịn màu gạch non bám vào gấu quần, vào từng thớ gỗ xơ xác của những bậc cầu thang đẽo vội bằng thân cây rừng. Đỗ Khải Nam đã không lập tức sải bước rời đi qua cây cầu treo rung lắc dây cáp han rỉ. Hắn dừng bước ở mố cầu bê tông lở lở vết nứt thời gian, xoay nửa người lại và quăng ra một lời thách đấu không thể chối từ ngay trước sự chứng kiến của già làng H’Linh Niê cùng các bậc bô lão buôn Kơ Nia. Đó là lời thách đấu ngấm ngầm sự ngạo nghễ của một kẻ nắm giữ toàn bộ tư bản, kỹ thuật chuẩn xác và công nghệ ẩm thực hiện đại, nhắm thẳng vào cô học trò cũ vừa trút bỏ mặc cảm sau bao ngày chìm trong tự ti.

“Em cho rằng tôi chỉ biết dùng những bản hợp đồng công chứng và điều khoản bồi hoàn để ép người?” Khải Nam đứng tựa lưng vào cây cột nhà sàn bằng lõi gỗ cà chít đen nhánh, giọng điệu sắc lạnh như lưỡi dao gọt hoa quả, ngón tay đeo chiếc nhẫn bạch kim gõ nhịp đều đặn trên mặt va li dụng cụ bằng hợp kim sáng bóng. “Chúng ta cùng dùng cá suối Kơ Nia vừa vớt dưới ghềnh và chính những quả ớt hiểm Mây Đỏ mà em tôn thờ như bảo vật. Hai món ăn hoàn chỉnh, không gia vị công nghiệp giấu giếm, không phụ gia đóng hộp. Ban giám khảo là những người già nhất của vùng đất này, những người mà chiếc lưỡi đã nếm từng ngụm nước nguồn từ khi con suối còn chưa có tên trên bản đồ địa chính. Nếu tôi thắng, em tự nguyện ký vào biên bản chuyển giao thương hiệu, trở về Bếp Hạ làm việc dưới trướng Vị Việt Mới để trả món nợ sáu trăm triệu cho dì em. Nếu em thắng, tôi lập tức rút lui khỏi thung lũng này, không một lời kỳ kèo, để lại cho em trọn vẹn những ngày đếm ngược trước khi ngân hàng phát mãi căn nhà.”

Nhiên đứng sững bên mép hiên, lặng lẽ nhìn người đàn ông từng dìu dắt mình bước qua những bài học vỡ lòng về áp suất và nhiệt độ trong gian bếp trung tâm sáng choang ánh đèn halogen. Hai bàn tay cô trầy xước vì quai gùi tre cọ xát suốt những chặng lội ngược dốc đá, mười đầu ngón tay vẫn còn những vết nứt ứa máu vì sương giá sáng sớm trên đỉnh Mây Đỏ chưa kịp lên da non. Bên cạnh cô, già làng H’Linh đứng lặng, tà áo dệt thổ cẩm thẫm màu buông thẳng, ánh mắt bà phẳng lặng như hai đốm than ngầm vùi sâu dưới lớp tro nguội của rừng già đại ngàn. Bà không lên tiếng ngăn cản, cũng không quay sang phân bua với đám trai tráng đang đứng vây quanh bờ rào nứa. Bà chỉ khẽ nghiêng đầu, một cái gật thật chậm rãi nhưng dứt khoát như nhịp gõ của chiếc chày giã gạo ngàn đời. Đó là sự chấp thuận bất thành văn của nương rẫy: người làm bếp muốn nói chuyện phải nói bằng chính ngọn lửa, bằng tro than và bằng sự trung thực trên đầu lưỡi.

Hai chiếc bàn gỗ mộc xù xì nhanh chóng được trai bản khiêng ra, dựng song song giữa khoảng sân đất nện phẳng lỳ. Trên mỗi bàn, người ta đặt một chiếc giỏ đan bằng cật tre chứa những con cá suối vừa được kéo lên từ vùng nước xoáy dưới chân thác ghềnh. Lưng cá còn ánh lên sắc chì xanh biếc, thân thon dài, chắc nịch và quẫy đuôi bì bõm trong chậu nước suối mát lạnh; cạnh đó là những mẹt tre chất đầy những quả ớt hiểm Mây Đỏ tươi roi rói, cuống xanh đậm dính chút nhựa trong, vỏ đỏ mọng bóng nhẫy như sơn then và tỏa ra thứ mùi hăng nồng gay gắt, chỉ cần đứng cách mười bước chân trong chiều ngược gió cũng đủ khiến sống mũi cay xè, khóe mắt trào ra những giọt nước vô thức.

Khải Nam mở bung chiếc va li chuyên dụng hai ngăn bằng một cái búng tay chuẩn xác. Khóa hợp kim bật tách một tiếng khô khốc. Dưới ánh nắng trưa hanh hao của mùa khô cao nguyên, những món đồ nghề bằng thép không gỉ sáng loáng lóe lên những tia sáng lạnh lẽo, vô trùng: máy điều nhiệt cầm tay gắn màn hình tinh thể lỏng, que đo nhiệt độ điện tử cực nhạy với đầu kim mảnh như sợi chỉ, đầu đánh nhũ hóa siêu âm với lưỡi xoay kép, và chiếc chảo chống dính tráng men gốm công nghiệp màu xám tro. Tác phong của hắn nhanh nhẹn, dứt khoát và chuẩn xác đến từng mi-li-mét, hệt như một bác sĩ ngoại khoa đang chuẩn bị bước vào ca phẫu thuật tim mạch phức tạp.

Hắn dùng một chiếc kẹp y tế giữ chặt thân cá, đưa lưỡi dao phi lê mỏng như lá lúa lướt một đường ngọt lịm dọc xương sống. Từng dải thịt cá trắng phau, không dính một giọt máu thừa, tách rời khỏi khung xương chỉ sau hai nhát rạch sắc gọn. Khải Nam không hề đoái hoài đến đống củi rừng thơm mùi nhựa thông đang cháy đượm bên cạnh. Hắn rút ra từ ba lô một chiếc bếp ga du lịch mini có van kiểm soát áp suất tuyệt đối, bật lửa với ngọn lửa xanh lét không hề có khói. Tảng phi lê cá suối được đặt ngay ngắn vào túi hút chân không bằng chất liệu chịu nhiệt an toàn, nhỏ thêm vài giọt dầu hạt cải tinh luyện không mùi để giữ trọn vẹn vị mộc, rồi thả chìm vào nồi nước cách thủy đã cắm que điều nhiệt. Màn hình điện tử lập tức nhấp nháy, giữ nhiệt độ ở mức chuẩn xác năm mươi hai độ C—ngưỡng nhiệt độ hoàn hảo theo giáo trình hóa sinh ẩm thực để protein trong từng thớ thịt cá đông kết vừa vặn, giữ lại toàn bộ lượng nước ngọt nội bào mà không làm nát cấu trúc cơ thịt.

Trong khi phần thịt cá suối được làm chín chậm rãi bằng kỹ thuật sous-vide cách thủy, Khải Nam quay sang xử lý những trái ớt hiểm Mây Đỏ. Hắn dùng mũi dao bấm bỏ sạch cuống, tước đôi từng quả để trút bỏ hạt, rồi thả toàn bộ cùi ớt đỏ mọng vào chiếc cối thủy tinh của máy xay cầm tay. Một lượng giấm táo lên men công nghiệp có độ axit chuẩn xác bốn phần trăm được đong bằng ống hút định lượng nhỏ vào cối. Lưỡi dao kim loại quay với tốc độ hàng chục nghìn vòng mỗi phút nghiền nát cùi ớt thành một dung dịch đỏ sẫm. Khải Nam trút hỗn hợp qua chiếc rây kim loại có mắt lưới siêu nhỏ, miết thật mạnh bằng thìa silicon để loại bỏ hoàn toàn chút xơ thô ráp cuối cùng.

Tiếp đó, hắn đưa que đánh nhũ hóa siêu âm vào dung dịch ớt cay nồng, từ từ thả từng viên bơ lạt nhiệt độ thấp cắt hạt lựu vào giữa tâm xoáy. Dưới tác động cơ học mãnh liệt của lực ly tâm và sóng âm, chất béo từ bơ và sắc đỏ rực của tinh thể capsaicin bị bẻ gãy, kết hợp chặt chẽ với nhau thành một khối xốt óng ả, mịn màng như nhung, màu đỏ tươi như cánh hoa chuối rừng vừa bung nở giữa sương sớm.

Mùi ớt bốc lên nồng gắt, sực thẳng vào không khí, khiến mấy đứa trẻ buôn làng đứng xem bên mép rào phải bịt miệng hắt hơi liên hồi. Thứ hương thơm bốc lên từ chiếc bàn bếp của Khải Nam toát ra sự quyến rũ chết người của ẩm thực nhà hàng cao cấp gắn sao: ngậy béo, đỏ rực, kích thích thị giác tột cùng và mang theo một sự đe dọa trực diện của nhiệt lượng công nghiệp. Hắn lấy miếng phi lê cá ra khỏi túi chân không, thấm khô bề mặt bằng khăn giấy chuyên dụng, rồi dùng chiếc đèn khò mini áp ngọn lửa xanh lướt thật nhanh qua lớp da cá mỏng. Tiếng da cá nổ lách tách, mỡ cá suối sôi xèo xèo giòn rụm trong vài giây ngắn ngủi. Miếng cá được đặt nhẹ nhàng lên chiếc đĩa sứ trắng muốt phẳng lì do chính tay hắn mang theo. Một vệt xốt ớt đỏ thẫm được quệt dứt khoát thành hình bán nguyệt bên cạnh bằng chiếc cọ silicon, bên trên rắc lấm tấm vài nhánh ngò tây thái vụn bằng thước đo li ti đều tăm tắp.

Đĩa cá của Khải Nam là một tuyệt tác của kỹ nghệ trình bày: màu da cá nâu vàng giòn rụm, thớ thịt cá bên trong mọng nước và trắng trong như thạch, bao quanh bởi lớp xốt đỏ rực rỡ như một ngọn lửa cơ học được thuần hóa và giam cầm bên trong lòng đĩa sứ. Vị cay nồng chuẩn xác bốc lên ngùn ngụt, một luồng hỏa khí sắc nhọn, kiêu hãnh và gay gắt, lập tức lấn át toàn bộ hương cỏ dại và khói bếp tự nhiên của núi rừng chung quanh.

Nhiên đứng trước bàn bếp thô sơ của mình, nhìn đĩa thức ăn hoàn hảo đến từng mi-li-mét của người thầy cũ. Trái tim cô trong một khoảnh khắc đã khẽ thắt lại, chao đảo như nhịp bước trên cầu treo mùa nước lũ. Cô từng học dưới tay con người này, từng cúi đầu ngưỡng mộ những công thức định lượng chi tiết đến phần trăm gam, từng khao khát đến cháy lòng việc đạt được sự chuẩn xác lạnh lùng ấy để được giới chuyên môn thành thị thừa nhận và tung hô. Nhưng rồi, vết sẹo trầy da rớm máu trên mu bàn tay cô vô tình chạm vào mép chiếc cối đá xám xịt đặt cạnh chân bàn. Cảm giác đau nhói, nham nhở và thô ráp của đá núi kéo giật cô trở về với thực tại trần trụi.

Cô nhớ lại ánh mắt thâm trầm, sâu như đáy giếng khơi của bà Tư Mặn bên lu mắm chôn dưới đất cát trong đêm bão giật ở Vạn Gió, nơi muối mặn và thời gian đã bào mòn mọi sự nôn nóng của con người. Cô nhớ chảo rau rừng xào cháy cạnh của chị Diệp trên quán Ba Ngọn Đèn giữa con đèo sạt lở mù mịt sương, nơi ngọn lửa sinh tồn bốc lên từ những thanh gỗ mục vớt bên sườn vực. Và cô nhớ lời dạy nghẹn ngào của già làng H’Linh bên ngôi mộ gió cạnh bờ suối Kơ Nia, nơi những nắm đất bazan đắp lên nỗi đau câm lặng của người mẹ mất con: *“Đắng để nhớ mình từng gây đau thương, từng phạm sai lầm. Nhưng cay là ngọn lửa dẫn nhiệt, để mở lối cho sự sống trỗi dậy từ tro tàn.”*

Nhiên thở hắt ra một hơi dài, gạt phăng sự tự ti và nỗi sợ hãi vừa manh nha trong tiềm thức. Cô không với tay lấy chiếc chảo chống dính dự phòng mang theo trong ba lô, cũng không rút chiếc đồng hồ bấm giờ điện tử đang nhấp nháy.

Cô ngồi bệt xuống một khúc gỗ mục bên cạnh bếp than hồng, kéo chiếc cối đá xám xịt của nhà dài lại sát đầu gối. Nhiên nhặt từng trái ớt Mây Đỏ, lựa cả những quả xanh đanh thép lẫn những quả chín đỏ mọng nước. Đó là những quả ớt hiểm bé xíu chỉ bằng đầu đũa, mọc hoang dại trên các triền đá khô cằn, rễ cắm sâu vào sỏi son để chắt chiu từng giọt nước nguồn. Cô thả ớt vào cối cùng một nhúm hạt dổi rừng mà già H’Linh vừa nướng căng mọng trên tro than. Những hạt dổi nứt vỏ, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, nồng ấm, sâu thẳm như hương của đất mẹ sau một cơn mưa rào đầu mùa hạ.

Cánh tay Nhiên vung chiếc chày đá lên xuống đều đặn, nhịp nhàng. Tiếng giã cối thậm thịch vang lên trầm đục, hòa vào tiếng nước suối chảy rì rầm dưới chân thung lũng. Từng trái ớt dập nát dưới sức nặng của đá núi, tinh dầu cay nồng ứa ra quyện chặt lấy lớp bột hạt dổi màu nâu sẫm. Khối gia vị giã tay không hề mịn màng bóng bẩy như hỗn hợp nhũ hóa bằng máy của Khải Nam, nó lấm tấm những mảnh vỏ ớt xanh đỏ, những hạt dổi vỡ vụn xù xì, mộc mạc và chân chất.

Tiếp đó, Nhiên lấy ra một nắm lá rừng ủ men mà già H’Linh đã đích thân dắt cô lên đỉnh đồi hái từ lúc tờ mờ sáng, khi phấn trắng của sương đêm còn đọng dày trên mặt lá. Nhiên không dùng dao cắt. Cô dùng mười đầu ngón tay trần vò nát từng phiến lá. Nhựa lá đắng ngắt chảy ra, bám chặt vào những vết nứt nẻ trên da tay làm cô nhói buốt, nhưng cô không dừng lại. Vị đắng thanh khiết, ngai ngái của lá rừng ủ men men theo những thớ gân xanh rì rỉ ra, hòa lẫn vào khối ớt và hạt dổi trong lòng cối đá.

Nhiên sơ chế cá suối theo cách thức nguyên bản nhất mà phụ nữ buôn Kơ Nia đã truyền qua bao thế hệ: dùng mũi dao nhỏ khía những đường xéo nông hai bên thân cá, nhét thật chặt hỗn hợp ớt giã, hạt dổi và lá đắng vào khoang bụng, rồi kẹp chặt từng con cá vào giữa thanh nứa tươi vừa chẻ đôi từ bụi nứa sau nhà.

Bên dưới bếp, những thanh củi cây trơ-ngest khô đã cháy đượm thành một vỉ than hồng rực rỡ, không còn một ngọn lửa bốc cao, chỉ có hơi nóng hầm hập tỏa ra đều đặn. Nhiên không bao giờ đặt vỉ nứa sát vào mặt than để lấy màu cháy xém cấp tốc. Cô cắm hai chiếc cọc chạc ba bằng gỗ tươi xuống nền đất, gác thanh nứa lên cao, cách mặt than đúng hai gang tay. Làn khói trắng mỏng manh mang theo vị ngòn ngọt của vỏ cây trơ-ngest khô bắt đầu cuộn tròn, bao bọc lấy từng thân cá suối. Da cá se lại từ từ dưới sức nóng vừa phải, mỡ cá tích tụ dưới lớp vảy bắt đầu tan chảy, nhỏ từng giọt xèo xèo xuống than hồng, bốc lên mùi thơm ngậy lẫn trong vị khói nồng nàn và mộc mạc.

Nhiên không dùng vị cay của ớt để đốt cháy hay áp đảo giác quan người thưởng thức. Đôi mắt cô chăm chú dõi theo từng biến đổi của lớp da cá dưới làn khói mỏng. Đôi bàn tay khéo léo xoay trở thanh nứa từng chút một, để hơi nóng của than củi ép tinh dầu ớt rừng thẩm thấu từ từ vào từng thớ thịt trắng muốt, dùng cái cay xé lưỡi ban đầu làm chiếc chìa khóa mở tung các lỗ chân lông và đánh thức các gai vị giác đang ngủ quên, để rồi ngay sau đó, vị đắng dịu dàng của men lá rừng thẩm thấu sâu vào cấu trúc cơ thịt, trung hòa hoàn toàn tính hàn của loài cá sống dưới đáy nước lạnh, chuyển hóa toàn bộ vị tanh của bùn suối thành một hậu vị ngọt ngào sâu lắng, đọng lại nơi cuống họng.

Mười lăm phút sau, hai món ăn hoàn tất được đặt lên chiếc chiếu hoa dệt bằng cói rừng trải giữa gian nhà dài buôn Kơ Nia.

Già làng H’Linh cùng ba bô lão râu tóc bạc phơ của buôn làng chậm rãi bước vào chiếu, ngồi xếp bằng theo thứ bậc truyền thống. Không khí xung quanh im phăng phắc, đám đông nín thở, chỉ còn nghe tiếng suối reo từ xa vọng lại và tiếng gió xào xạc lùa qua những khe hở của liếp nứa bao quanh vách nhà.

Đỗ Khải Nam bước lên trước, phong thái đĩnh đạc tự tin. Hắn dùng chiếc thìa bạc múc từng phần cá phi lê phủ lớp xốt nhũ hóa đỏ rực vào những chiếc đĩa con bằng sứ trắng, mỉm cười nhã nhặn đưa tới trước mặt từng vị già làng:

“Xin kính mời các già dùng thử. Món cá suối Kơ Nia áp chảo xốt ớt Mây Đỏ nhũ hóa. Nhiệt độ được kiểm soát chính xác từng độ C để giữ trọn vẹn sự mềm mại của từng thớ thịt cá, xốt ớt bơ lạnh được tính toán nồng độ capsaicin tối ưu để làm bừng tỉnh mọi giác quan của người thưởng thức ngay tức thì.”

Già Y Krang—người đàn ông già nhất buôn Kơ Nia, đôi mắt đã đục mờ vì khói bếp của gần một thế kỷ và làn da nhăn nheo như vỏ cây rừng già—cầm chiếc thìa sứ lên, múc một miếng cá ngập xốt đưa vào miệng.

Chỉ sau hai giây nhai chậm rãi, đôi lông mày hoa râm rậm rạp của già Y Krang bỗng nhíu chặt lại. Một bô lão khác ngồi bên cạnh khẽ ho sặc sụa một tiếng, khuôn mặt đỏ gay, vội vàng với tay cầm lấy quả bầu khô đựng nước lã đặt cạnh cột nhà, tu một ngụm lớn rồi thở dốc. Già Y Krang đặt chiếc thìa sứ xuống mép đĩa, lắc đầu thật chậm, những nếp nhăn trên trán hằn sâu hơn:

“Màu đỏ này bắt mắt lắm, thịt cá mềm mọng như mỡ trăn nướng lùi tro. Nhưng cái cay này... nó hung hãn quá. Nó giống như mũi tên tẩm thuốc độc của thợ săn bắn thẳng vào cuống họng người ta. Nó đốt cháy cái lưỡi của ta ngay khi vừa chạm vào bờ môi. Lưỡi ta bị bỏng rát, ta chẳng còn thấy vị ngọt của con cá suối Kơ Nia đâu nữa, cũng chẳng thấy hồn cốt của dòng nước Mây Đỏ ở chỗ nào. Cái cay này khiến người ta nghẹt thở, người ta sợ hãi ngọn lửa của anh hơn là muốn ngồi lại bên bếp.”

Khải Nam khựng người lại, nụ cười lịch thiệp trên môi hắn đông cứng trong khoảnh khắc:

“Thưa già, đó là nồng độ capsaicin chuẩn mực trong ẩm thực đương đại, được cân chỉnh bằng tỷ lệ khoa học để tạo cảm giác bùng nổ giác quan ban đầu, sau đó chất béo từ bơ lạnh sẽ làm dịu đi...”

“Rừng Mây Đỏ này ngàn đời nay không ăn bơ của người thành phố,” Già H’Linh lạnh lùng cắt ngang lời giải thích của hắn, giọng bà trầm đục nhưng vang dội khắp gian nhà dài. “Người ăn món này chỉ nhìn thấy sự hung hãn của kỹ thuật và sự áp đặt của người cầm chảo. Anh dùng vị cay như một bức tường sắt sắc nhọn để bịt mắt, bịt tai người ăn, ép người ta phải chịu trận trước ngọn lửa của anh. Đằng sau cái cay cháy họng ấy, thớ thịt con cá suối trở nên vô hồn, nhạt nhẽo và trơ trọi chẳng khác nào con cá nuôi công nghiệp trong bể kính nơi thị thành.”

Khải Nam siết chặt nắm tay giấu sau lưng, quai hàm bạnh ra, những khớp ngón tay trắng bệch. Dù vậy, với bản lĩnh của một kẻ dạn dày thương trường, hắn vẫn cố giữ vẻ điềm tĩnh kiêu hãnh trên gương mặt không chút biểu cảm.

Đến lượt món cá của Nhiên. Không có đĩa sứ trắng muốt sang trọng hay thìa dĩa kim loại vô trùng, cá suối hun khói than củi được cô dọn ngay trên một tấm lá chuối rừng vừa hơ qua lửa cho mềm mại và ngát mùi thơm đồng nội. Thân cá suối teo lại săn chắc, khoác lên mình màu nâu cánh gián trầm mặc của khói than củi trơ-ngest, da cá hơi nhăn nheo nhưng giòn rụm, lấm tấm những mẩu ớt rừng xanh đỏ giã dập và vài sợi lá đắng sẫm màu dính trên thớ thịt.

Già Y Krang dùng những ngón tay khô gầy, gân guốc như rễ cây cổ thụ khẽ bẻ một miếng thịt cá nơi lườn bụng, chấm nhẹ vào chút muối hạt rang hạt dổi rồi đưa vào miệng.

Cả gian nhà dài chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối. Mọi ánh mắt của dân làng đều đổ dồn vào cơ hàm đang chuyển động chậm rãi của người già nhất buôn. Già Y Krang nhắm nghiền đôi mắt đục mờ lại. Một giây, hai giây... rồi ba giây dài đằng đẵng trôi qua. Từng nếp nhăn xô lệch trên gương mặt khắc khổ của già buôn rẫy bắt đầu giãn ra. Nét căng thẳng biến mất, nhường chỗ cho một sự thư thái kỳ lạ. Nơi khóe mắt đục mờ của già bỗng ánh lên một tia sáng ấm áp, rạng rỡ như ánh lửa sớm mai.

“Cay...” Già Y Krang khẽ thốt lên một tiếng trầm ấm, nhưng hai bàn tay già buông thõng trên đùi, không hề có ý định với lấy quả bầu nước. “Cái cay này không phải mũi tên độc. Nó như đốm lửa bập bùng trong bếp lửa nhà sàn giữa đêm đông giá buốt. Nó cắn nhẹ vào đầu lưỡi, làm người ta giật mình tỉnh táo sau cơn mê mệt. Rồi ngọn lửa ấm áp ấy mở đường, dẫn lối cho cái đắng ngai ngái của men lá rừng trôi qua cổ họng. Nhưng kìa... khi nuốt miếng cá xuống rồi, cái đắng tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại vị ngọt bùi béo ngậy của thịt cá suối, ngọt sâu lắng như ngụm nước nguồn tinh khiết nhất chảy ra từ vách đá mẹ sau cơn mưa ngâu.”

Bà H’Linh cũng chậm rãi bẻ một miếng cá, nhai thật kỹ từng thớ thịt ngấm khói rừng rồi ngẩng đầu nhìn sâu vào mắt Nhiên. Trong đôi mắt thâm trầm của người phụ nữ giữ gìn hạt giống đại ngàn, sự nghiêm khắc thường ngày đã hoàn toàn tan biến, thay vào đó là một niềm tin cậy tuyệt đối và niềm tự hào kín đáo:

“Món ăn của con gái mẹ Hạ đã giữ được trọn vẹn linh hồn của cánh rừng Kơ Nia này. Nó cay mà không ác, đắng mà không hận thù. Vị cay trong món ăn này biết khiêm nhường đứng lùi lại phía sau, làm ngọn lửa dẫn đường nâng đỡ cho vị đắng của lá rừng và vị ngọt nguyên bản của thịt cá suối. Đó mới chính là sự thấu hiểu và tôn trọng đối với đất mẹ bao dung.”

Tiếng xì xào bàn tán đồng tình lập tức râm ran khắp hàng hiên nhà dài. Những cái gật đầu dứt khoát của các bô lão buôn Kơ Nia như một bản án chung thẩm của tự nhiên, không một lý lẽ thị trường hay công nghệ tân tiến nào có thể đảo ngược được nữa.

Đỗ Khải Nam đứng trơ trọi giữa sàn gỗ nhà dài, bóng hắn đổ dài dưới ánh nắng xiên khoai qua mái nứa. Thất bại hiện rõ mồn một trước mắt hắn, không thể chối cãi. Nhưng người đàn ông này không hề để lộ ra một nét suy sụp hay bẽ bàng nào. Hắn nhếch mép cười nhạt, hít một hơi thật sâu để nén chặt sự tức tối vào đáy lòng, rồi chậm rãi cúi người, nhặt từng món đồ nghề bằng thép không gỉ bỏ lại vào chiếc va li hợp kim. Tiếng nắp kim loại đóng sập lại vang lên một tiếng cạch khô khốc giữa không gian im ắng.

Hắn cài chặt hai khóa bấm, xách va li lên tay, bước tới dừng lại trước mặt Nhiên. Đôi mắt sắc lẻm của một kẻ săn mồi sành sỏi trên thương trường nhìn xoáy vào gương mặt lấm lem tro bếp của cô. Hắn hạ giọng thật thấp, chỉ đủ để hai người nghe thấy, từng lời từng chữ róc rách và buốt lạnh như lưỡi dao lam cứa vào da thịt:

“Em thắng một trận đấu ở xó rừng hoang vu này, Nhiên ạ. Tôi giữ đúng lời hứa của một người đàn ông, tôi lập tức rút lui khỏi buôn Kơ Nia.” Hắn nghiêng đầu, nụ cười nửa miệng đầy vẻ mỉa mai hiện lên bên khóe môi: “Nhưng em hãy mở to mắt ra mà nhớ lấy lời tôi: các già làng ở cái buôn rẫy này không phải gánh khoản nợ ngân hàng đang nhảy lãi từng ngày. Họ không phải trả tiền thuê mặt bằng phố cổ, không phải trả lương cho hàng chục nhân viên mỗi tháng, và họ chỉ đang sống bằng ký ức hoài niệm về một thời đã chết. Thị trường khốc liệt ngoài kia không kiên nhẫn và nhân từ như những người già trong buôn rẫy này đâu. Hai mươi ngày nữa, khi đại diện ngân hàng kéo đến niêm phong siết nợ căn nhà Bếp Hạ, và dì Thu khốn khổ của em bị ép bồi thường sáu trăm triệu đồng tiền cọc hợp đồng, em sẽ hiểu ra một sự thật cay đắng: triết lý nấu ăn bằng tâm hồn không bao giờ có thể đem ra thanh toán trên quầy giao dịch tài chính.”

Nói dứt lời, Khải Nam quay ngoắt người, sải những bước chân dài dứt khoát rời khỏi nhà dài. Tiếng đế giày da nện cộp cộp khô khốc trên những thanh gỗ cầu treo, rồi bóng lưng thẳng tắp của hắn mất hút sau khúc quanh đầy sương mỏng của con đèo dẫn ra quốc lộ.

Khi tiếng bước chân của Khải Nam hoàn toàn chìm vào thinh lặng, khoảng sân nhà dài buôn Kơ Nia lại trở về với sự thanh bình vốn có của núi rừng nguyên sơ. Già làng H’Linh bước tới, khẽ đặt bàn tay chai sần lên bờ vai đang run lên vì kiệt sức của Nhiên. Bà không nói một lời, chỉ khẽ gật đầu rồi ra hiệu cho cô đi theo bà vào buồng trong của gian nhà dài.

Bên trong gian buồng tối thoang thoảng mùi khói bếp củi trơ-ngest và hương thơm ngai ngái của các bó thảo mộc khô treo lủng lẳng trên xà nhà, ánh sáng chỉ lọt qua vài khe hở liếp nứa mỏng. Bà H’Linh bước chầm chậm tới bên chiếc hòm gỗ cũ kỹ đặt sát vách nứa phía đông. Chiếc hòm bằng gỗ gõ đã mòn vẹt các góc, phủ một lớp bụi mịn của thời gian. Bà mở nắp hòm, đưa hai tay cẩn thận lấy ra một vật hình chữ nhật được bọc kỹ càng trong nhiều lớp vải thổ cẩm đã sờn rách và phai màu chỉ đỏ.

Bà gỡ từng lớp vải, để lộ ra một mảnh vỏ cây khô phẳng phiu, dài chừng một gang tay người lớn, bề mặt đã lên nước bóng màu hổ phách sẫm do hơi ấm bàn tay con người qua năm tháng truyền vào. Trên bề mặt phẳng lì của thớ gỗ rừng, những nét chữ khắc sâu bằng mũi dao nhọn hiện lên sắc sảo, ngay ngắn, ghi lại họ tên và địa chỉ của những con người từng kề vai sát cánh cùng bà Hạ suốt những năm tháng tuổi trẻ bôn ba tìm kiếm cội nguồn vị giác của dải đất hình chữ S.

Già H’Linh nâng niu mảnh vỏ cây khô đưa sang cho Nhiên. Ngón tay trỏ đen đúa, thô ráp của bà chỉ thẳng vào một dòng chữ khắc ở góc dưới cùng bên phải, nơi có ba nét gạch chân dứt khoát bằng mũi dao nhọn:

*“Vườn Cổ Mộc – Phạm Sáu Lành.”*

“Mẹ con năm xưa dứt áo rời khỏi dòng suối Kơ Nia này không phải để trốn chạy quá khứ hay chối bỏ nỗi đau,” giọng bà H’Linh trầm ấm, ngân vang trong gian buồng tối như tiếng chuông đồng vọng từ thung lũng xa xăm. “Bà ấy phải trở về xuôi để gánh vác nợ nần thay cho gia đình, nhưng trong từng hơi thở, mẹ con chưa bao giờ từ bỏ việc tìm kiếm một con đường chân chính cho Bếp Hạ. Mảnh vỏ cây này là danh sách những người bạn tri kỷ cũ cùng chung chí hướng gìn giữ hương vị cội nguồn mà mẹ con đã gom góp suốt nửa đời người. Người cuối cùng trên cõi đời này hiểu được trọn vẹn nỗi đau đớn, sự dang dở và khát vọng cháy bỏng trong lòng mẹ con... chính là ông Sáu Lành ở miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long. Con hãy đi về phương Nam, tìm đến Vườn Cổ Mộc. Ông ấy là người duy nhất đang cất giữ những trang sổ ghi chép cuối cùng mà mẹ con đã cố tình xé bỏ trước ngày nhắm mắt xuôi tay.”

Nhiên run rẩy đưa hai bàn tay đón lấy mảnh vỏ cây khô. Những thớ gỗ ram ráp áp chặt vào lòng bàn tay nứt nẻ vì sương gió của cô truyền đến một luồng hơi ấm kỳ lạ, ấm áp và thân thuộc như chính hơi thở của mẹ ngày nào. Dòng chữ khắc tên người giữ vườn Phạm Sáu Lành cùng ba nét gạch chân dứt khoát như một lời nhắn gửi vượt qua thời gian và cõi chết của mẹ Hạ, một mệnh lệnh không lời thôi thúc cô phải kiên cường bước tiếp trên chặng đường chông gai phía trước.

Đứng giữa gian buồng đượm mùi khói và thảo mộc khô, nhìn chăm chú vào từng thớ gỗ hổ phách trong lòng bàn tay và hồi tưởng lại từng khoảnh khắc nghẹt thở trong trận đối đầu vừa qua với Đỗ Khải Nam, một làn sóng nhận thức mãnh liệt bỗng chốc dâng trào, tràn ngập toàn bộ tâm trí Nhiên.

Cô đã hiểu. Cô đã thực sự giác ngộ được bài học lớn nhất, đắt giá nhất của chặng đường vượt đèo lên đỉnh Mây Đỏ này.

Vị cay... hóa ra từ ngàn đời nay chưa bao giờ là thứ vỏ bọc giả tạo sinh ra để người ta che đậy sự đắng đót của thất bại, hay lấp liếm đi sự trống rỗng, vô hồn trong tâm can người nấu nướng. Kẻ nấu ăn nông cạn và thực dụng chỉ biết dùng vị cay như một thứ vũ khí tàn nhẫn để đốt cháy lưỡi thực khách, biến nó thành một đòn tra tấn giác quan bạo liệt hòng khỏa lấp đi nguồn nguyên liệu tồi tàn, ươn hỏng hoặc một kỹ thuật máy móc rỗng tuếch không có linh hồn. Nhưng trong triết lý bất diệt của tự nhiên và trong ký ức lặng thầm của mẹ, vị cay chính là ngọn lửa bảo bọc, là tấm áo giáp chở che. Nó là chất dẫn nhiệt kiên cường nhất, dũng cảm đi trước đón đầu mọi giông bão giác quan, mở toang mọi ngõ ngách tâm hồn để bảo vệ, bao dung và tôn vinh chiều sâu của nỗi đau đắng đót, chuyển hóa những bi thương của quá khứ thành một hậu vị ngọt ngào, bền bỉ và bất diệt cho sự sống tiếp nối.

Bà Hạ năm xưa đã từng phải nếm trải trọn vẹn vị cay nghiệt của một cuộc hôn nhân tan vỡ, vị đắng ngắt đến xé lòng của đứa con thơ vắn số nằm lại bên bờ suối Kơ Nia lạnh lẽo, nhưng mẹ chưa từng dùng sự oán hận hay cay độc để đứng trước bếp lửa. Mẹ đã nương tựa vào chính ngọn lửa cay nồng ấm áp ấy để giữ cho gian Bếp Hạ luôn đỏ lửa, che chở cho Nhiên khôn lớn suốt ngần ấy năm trời cay đắng.

Nhiên cúi gập người tạ từ già làng H’Linh, cẩn thận cất mảnh vỏ cây khô vào ngăn sâu nhất của chiếc ba lô sờn cũ, rồi quay bước bước ra khỏi hàng hiên nhà sàn.

Nắng chiều tà đã ngả sang màu vàng vượi trên những triền đồi cà phê đang mùa trổ hoa trắng muốt. Gió cao nguyên thổi lồng lộng qua tán cây kơ-nia cổ thụ đầu buôn. Vừa bước chân xuống bậc thang gỗ cuối cùng chạm vào nền đất bazan, Nhiên giật mình nhìn thấy Hoàng Phúc đang đứng tựa lưng vào rặng tre đầu dốc. Bộ quần áo gió của anh lấm lem bùn đất khô khốc sau những chặng đường rừng, hai mắt trũng sâu với quầng thâm đen sì, và gương mặt hốc hác hiện rõ một vẻ tiều tụy, bồn chồn và bất an tột độ.

Thấy bóng Nhiên bước tới với chiếc ba lô khoác lệch trên vai, Phúc ngập ngừng chôn chân tại chỗ mất vài giây, hai bờ môi mím chặt. Rồi như thể hạ một quyết tâm vô cùng đau đớn, anh chủ động bước nhanh tới, đứng chắn ngang con đường mòn trước mặt cô. Phúc hít một hơi thật sâu, hai bàn tay thọc sâu vào túi áo khoác gió siết chặt lại đến mức run rẩy, giọng nói nghẹn lại vì cảm giác tội lỗi đè nặng:

“Nhiên... tôi phải nói thật với cô một chuyện. Tôi không thể tiếp tục giấu giếm cô thêm một phút nào nữa.”

Nhiên dừng bước, ngước đôi mắt trong veo nhưng kiên định nhìn thẳng vào gương mặt tái nhợt của anh:

“Chuyện gì đã xảy ra?”

“Trước khi chúng ta rời quán Ba Ngọn Đèn ở Dốc Sương để vượt đèo lên Mây Đỏ... ban biên tập nhóm truyền thông Đường Xa đã gọi điện ép tôi dữ dội.” Phúc cúi gằm mặt xuống đất, ánh mắt dán chặt vào mũi giày bám đầy bụi đỏ, không dám đối diện với ánh nhìn của cô. “Họ đe dọa sẽ hủy bỏ toàn bộ hợp đồng bảo trợ, khởi kiện tôi ra tòa và bắt tôi phải đền bù số tiền cọc khổng lồ nếu tôi không chịu cung cấp tư liệu độc quyền về hành trình này. Tôi... trong lúc hoảng loạn và túng quẫn, tôi đã nén một số đoạn phim thô quay lại cảnh cô đứng khóc khi cứu mắm ở xưởng bà Tư Mặn trong đêm bão Vạn Gió, những trang nhật ký ghi chép dang dở trong cuốn sổ tay của mẹ cô... và cả những đoạn ghi âm tranh cãi nảy lửa giữa cô với Khải Nam... gửi toàn bộ về máy chủ của tòa soạn trước khi xe chúng ta mất sóng trên đỉnh đèo. Tôi xin thề với cô, tôi không hề có ý định bán đứng cô để kiếm tiền, tôi chỉ định dùng những file đó làm bằng chứng lưu trữ nội bộ để trì hoãn bọn họ...”

Từng lời thú nhận run rẩy của Phúc rơi vào không gian tĩnh lặng của buổi chiều tà như một tảng đá ngàn cân ném thẳng xuống mặt hồ phẳng lặng.

Lồng ngực Nhiên thắt nghẹn lại. Một cảm giác hụt hẫng, bàng hoàng và cay đắng tột cùng từ từ dâng lên, chẹn ngang cổ họng khiến cô không thở nổi. Đôi bàn chân cô như hóa đá trên nền đất bazan. Người bạn đồng hành duy nhất từng cùng cô lội qua lớp bùn nhão nhoét để khiêng từng lu mắm trong đêm bão cuồng phong ở Vạn Gió, người từng bẻ đôi chiếc bánh mì khô khốc chia cho cô trên cabin chiếc xe tải chết máy giữa lưng chừng đèo sạt lở... hóa ra cũng đã từng có những giây phút dao động, mang chính câu chuyện đời cô, nỗi đau sâu kín nhất của mẹ cô và sinh mệnh của Bếp Hạ ra làm con bài mặc cả cho sự an toàn và sự nghiệp của riêng mình.

“Anh đã bấm nút gửi đi rồi?” Nhiên nghe thấy giọng nói của chính mình vang lên, bình thản đến rợn người, một sự bình thản lạnh lẽo của tro tàn sau cơn cháy lớn.

“Tôi đã gửi... nhưng tôi đã cài mã khóa dữ liệu, tôi nghĩ bọn họ chưa thể giải mã ngay...”

Phúc chưa kịp nói hết câu phân bua thì từ trong túi quần bò của anh, chiếc điện thoại thông minh bỗng rung lên bần bật từng hồi dồn dập. Tiếng chuông báo tin nhắn, email và các ứng dụng mạng xã hội vang lên liên tiếp không ngừng nghỉ, phá tan sự tĩnh lặng của buổi chiều tà trên nương rẫy Kơ Nia.

Phúc giật mình thảng thốt, bàn tay run rẩy rút chiếc điện thoại ra khỏi túi.

Màn hình điện thoại của Phúc sáng lên với thông báo video hành trình của họ vừa bị rò rỉ trên mạng xã hội.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories