Công Thức Của Những Nẻo ĐườngCh.10 / 20
Chapter 10

Vết thương bên suối Kơ Nia

Khói sương bảng lảng là đà trên mặt nước suối Kơ Nia lạnh buốt, nơi những phiến đá rêu phong nằm lặng lẽ dưới bóng cây cổ thụ sừng sững qua bao mùa mưa nắng.

Sau trận mưa dầm bất thường đêm qua, rừng già Mây Đỏ như vừa trút bỏ lớp vỏ ngột ngạt để khoác lên mình tấm áo ẩm ướt, mờ ảo của sương mai. Những vạt sương trắng đục dâng lên từ thung lũng, trườn qua vách nứa của ngôi Nhà dài, mang theo hơi thở buốt giá của đất bazan ngậm nước và mùi thối rữa ngai ngái của thảm lá mục. Gió sớm luồn qua từng kẽ liếp nứa, thổi lay lắt ngọn lửa tro tàn nơi đáy bếp, làm dấy lên những tàn tro mỏng tang bay lơ lửng rồi chìm nghỉm vào bóng tối nhờ nhờ của chái nhà.

Nhiên thức giấc khi các khớp xương trên cơ thể vẫn còn nhức buốt ê ẩm. Cơn sốt nhẹ từ những vết xước rách da trên bả vai và mười đầu ngón tay nứt toác chưa kịp tan đi, khiến từng chuyển động của cô đều nặng trĩu. Cảm giác da thịt căng rát vì bùn đất, gió lạnh và nước mưa ngấm vào từng lỗ chân lông từ hôm qua vẫn còn nguyên vẹn. Cô chống tay ngồi dậy, đầu óc váng vất một hồi lâu trước khi đôi mắt dần thích nghi với bóng tối âm u trong lòng ngôi nhà sàn cổ kính.

Không gian gian bếp chung vắng lặng đến rợn ngợp. Chiếc võng dù Hoàng Phúc mắc tạm ở góc xà nứa đã trống trơn; anh ta đã rời đi sau cuộc cãi vã xé nát đêm mưa, mang theo nỗi uất hận của một kẻ bị dồn vào chân tường và để lại khoảng trống lạnh tanh giữa ngôi nhà gỗ cổ kính. Dây dù buộc góc cột vẫn còn buông thõng đung đưa, đầu nút thắt bị giật mạnh tuột ra vội vã. Phúc đã đi thật, mang theo chiếc ba lô chứa đầy máy móc, ống kính, và có lẽ là cả nỗi căm giận không thể hóa giải dành cho cô. Năm vại cá ủ men bị mốc xám đêm qua đã được ai đó dọn sạch, chỉ còn lại những vệt nước nhờn nhợt loang trên mặt sàn nứa như dấu vết của một thất bại cay đắng không thể che giấu. Mùi men chua thiu thối sót lại nơi kẽ sàn như một lời nhắc nhở tàn nhẫn về sự bất lực của cô trước những quy luật khắt khe của rừng già.

Nhiên ngồi bất động, hai bàn tay run rẩy đan vào nhau. Các đầu ngón tay cô tím tái, rớm máu ở khóe móng vì đã phải đào bới rễ cây và bốc dỡ những mẻ đất bùn sũng nước suốt cả ngày hôm trước. Cái đau của da thịt chẳng thấm tháp gì so với sự trống rỗng đang đục khoét tâm can. Mọi thứ cô cố gắng níu giữ—từ niềm tin của buôn làng, cơ hội cứu lấy tiệm cơm Bếp Hạ, cho đến sự gắn kết mong manh với người bạn đồng hành—dường như đều đã vỡ vụn sau cơn cuồng nộ của đêm mưa.

Đột nhiên, tiếng gậy gỗ gõ lốc cốc trên cầu thang nứa vang lên chậm rãi, đều đặn. Âm thanh khô khốc, đanh gọn nện từng nhịp dứt khoát trên những bậc gỗ đẽo hình trăng khuyết, kéo Nhiên thoát khỏi cơn mê muội u uất.

Bà H’Linh Niê xuất hiện ở cửa vòm. Trên người bà vẫn là bộ váy thổ cẩm dệt thô màu vỏ cây rừng quen thuộc, tấm khăn choàng sẫm màu quấn chặt quanh đôi vai gầy guộc nhưng thẳng thớm. Ánh sáng mờ ảo của buổi sớm hắt lên gương mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rễ cây cổ thụ, làm nổi bật đôi gò má nhô cao và sống mũi gồ ghề. Ánh mắt già nua, sắc lạnh thường ngày của bà sáng nay dường như chìm vào một khoảng lặng mông lung, nhìn xoáy vào Nhiên không một chút gắt gỏng như hôm trước. Không có sự xua đuổi, không có những cái nhìn sắc lẹm nghi kỵ, chỉ có một nỗi u uất thăm thẳm như đáy vực Kơ Nia sau mùa lũ.

“Cầm lấy cái gùi nhỏ. Đi theo tao,” giọng H’Linh khàn đục buông lọt thỏm giữa gian nhà vắng.

Bà không giải thích thêm nửa lời, xoay người bước xuống những bậc thang gỗ đẽo hình trăng khuyết. Bước chân bà nhẹ tênh nhưng vững chãi lạ kỳ, tiếng gậy chống lún phầm phập xuống nền đất ẩm ướt dưới chân nhà sàn.

Nhiên vội vã xốc lại cổ áo khoác sờn chỉ, quấn vội chiếc khăn rằn lên cổ, xỏ đôi chân sưng tấy vào đôi giày vải ướt sũng rồi với lấy chiếc gùi tre nhỏ treo bên cột vách. Đôi chân cô lún sâu vào lớp đất thịt đỏ quánh nhão nhoét sau mưa, cái lạnh buốt của buổi sớm cao nguyên ngấm qua lớp vải bạt của đôi giày cũ, buốt thấu đến từng ngón chân. Gió thung lũng quất từng luồng rát rạt vào mặt, cuốn theo những giọt nước đọng trên tán lá mục tạt thẳng vào da thịt khiến cô khẽ rùng mình.

Họ không đi về phía nương rẫy hay cánh rừng le nơi phụ nữ trong buôn thường hái lá làm men. H’Linh dẫn Nhiên rẽ sang một lối mòn nhỏ hẹp men theo khúc quanh hiểm trở của dòng Kơ Nia. Con đường này dường như đã lâu không có người qua lại, cỏ dại mọc lút mắt cá chân, những cành le gai góc chìa ra cào xước cả ống quần ướt đẫm.

Dòng suối mùa này cuộn chảy đục ngầu phù sa đỏ, bọt nước tung trắng xóa va vào những gành đá hoa cương nhọn hoắt rít lên từng tràng trầm đục. Hơi nước bốc lên mù mịt mang theo mùi tanh nồng của bùn son và khoáng chất. Đi chừng non một cây số, xuyên qua một vạt lau lách ngập đầu gối với những bông lau bạc phơ rũ rượi vì trĩu nước, H’Linh dừng bước trước một gò đất thoai thoải nhô ra sát mép nước.

Nơi đây tách biệt hoàn toàn với buôn làng. Tiếng ồn ào của đời sống nương rẫy, tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa ran xa xa đều bị bức tường cây cối rậm rạp và tiếng thác gầm gào nuốt chửng. Trên gò đất nhỏ, hàng trăm bông hoa dại li ti màu tím nhạt và hoa xuyến chi cánh trắng xơ xác mọc phủ kín, đan xen cùng những bụi cỏ đuôi chồn đẫm sương đêm. Không gian hoang vắng đến lạnh người, chỉ có tiếng gió lùa qua vạt sậy xào xạc như lời thở dài của đất mẹ.

Ở chính giữa gò đất, tựa lưng vào một tảng đá xám phủ rêu xanh rì, là một ụ đá cuội suối được xếp tròn ngay ngắn, phẳng phiu. Những viên đá cuội đen nhánh, tròn nhẵn được lựa chọn tỉ mỉ, xếp chồng khít khao lên nhau theo hình mu rùa. Không có bia đá, không có bát hương, không một tấc gạch vôi, chỉ có một nhánh cây kơ nia khô cắm nghiêng nghiêng bên cạnh, vỏ cây đã tróc từng mảng vì thời gian và mưa nắng dập vùi.

Một ngôi mộ gió.

Nhiên đứng sững lại sau lưng H’Linh. Trái tim cô bất giác co thắt từng cơn, một linh cảm u ám và lạnh buốt bất ngờ siết chặt lấy lồng ngực. Ngôi mộ nằm trơ trọi giữa hoang vu, cô độc bên dòng suối gầm gào, như một chứng tích câm lặng của một vết thương không thể liền sẹo.

Bà H’Linh buông chiếc gậy gỗ tựa vào gờ đá, chậm rãi ngồi xổm xuống trước ụ đá cuội. Đôi bàn tay gân guốc, chai sạn vì nửa đời phát nương làm rẫy của bà vươn ra, nhẹ nhàng gạt bỏ những chiếc lá mục rụng úa trên mặt đá, cử chỉ cẩn trọng và dịu dàng đến mức Nhiên chưa từng thấy ở người đàn bà nghiêm khắc này. Từng ngón tay khẳng khiu của bà vuốt ve từng viên sỏi ướt lạnh, như thể bà đang chạm vào làn da non nớt của một đứa trẻ đang ngủ say.

“Mày có biết vì sao hôm qua tao đập vỡ cái quạt sấy của mày, đạp đổ cả mớ muối trắng của mày không?” H’Linh cất tiếng, mắt vẫn không rời những viên đá cuội suối nhẵn bóng. Giọng bà hòa vào tiếng nước chảy xiết dưới chân gò đất, trầm đục và run rẩy. “Người miền xuôi tụi mày hễ thấy hư hao là hoảng sợ. Tụi mày quen dùng tiền, dùng máy móc, dùng trăm thứ mánh lới để cưỡng ép sự sống phải sinh sôi theo ý mình. Thấy men chậm lên thì thổi quạt, thấy cá ươn thì đổ đống muối mặn chát vào để át mùi thối. Tụi mày sợ sự đổ vỡ. Nhưng ở đất Mây Đỏ này, cái chết và sự mất mát là thứ không ai được phép trốn tránh. Muốn học nốt đắng, mày phải nhìn thẳng vào nấm mồ này.”

Nhiên nín thở, giọng cô khô khốc giữa tiếng suối gầm réo: “Bà H’Linh... nơi này là...”

Bà H’Linh ngẩng đầu lên, mái tóc hoa râm bay lòa xòa trước trán trong làn gió sớm buốt rát. Ánh mắt bà trĩu nặng bóng tối của ký ức, một ký ức đã bị chôn chặt dưới đáy lòng suốt hai mươi năm ròng, mục ruỗng và rỉ máu trong câm lặng.

“Mẹ mày... con Hạ,” giọng H’Linh chùng xuống, nghẹn lại như có dằm xước ở cuống họng. “Hai mươi năm trước, nó vác cái bụng lùm lùm trốn chạy khỏi thành phố bò lên tận đây. Nó bảo hôn nhân của nó tan nát, lòng nó rách rưới không còn chỗ nào lành. Nó bị người ta ruồng rẫy, bị người ta giẫm đạp lên cả danh dự và nhân phẩm. Nó xin tao một chỗ ngả lưng dưới mái nhà dài, xin đi bẻ bắp, gùi củi kiếm củ sắn, hạt bo bo qua ngày. Tao thấy nó mắt buồn rười rượi nhưng tay chân không ngại việc dơ, tao nhận nó làm em gái kết nghĩa, chia cho nó nửa tấm chăn thổ cẩm.”

H’Linh dừng lại, hơi thở run rẩy phả ra làn khói trắng mong manh giữa sương núi. Bà với tay bứt một cọng cỏ dại dập nát, vò nát trong lòng bàn tay. Mùi cỏ ngai ngái, the nồng bốc lên cay xè. Ký ức như một con đập vỡ òa, cuốn phăng đi vẻ cứng rắn thường ngày của người phụ nữ già.

“Nhưng số trời nghiệt ngã. Năm ấy, mùa mưa lũ tháng Mười dữ dằn hơn mọi năm. Nước suối Kơ Nia dâng ngập tận chân cầu thang nhà dài, đường về xuôi sạt lở đứt gãy thành từng đoạn vực sâu. Con Hạ trở dạ non giữa một đêm mưa gầm chớp giật như muốn xé toạc đại ngàn. Buôn làng bị cô lập hoàn toàn, trạm xá huyện không tài nào tiếp cận được. Nước lũ đỏ lòm vây bọc tứ phía, sấm sét đánh trúng ngọn kơ nia cháy rực cả một góc trời. Suốt một ngày một đêm, chính đôi tay này của tao đã đỡ đẻ cho nó. Tao hứng từng gáo nước nóng, tao dùng dao nứa cắt rốn, tao nghe nó cắn chặt răng vào khúc gỗ nghiến đến bật máu miệng, gào thét tên từng đứa con nó để lại dưới phố...”

Mắt H’Linh đỏ hoe, những nếp nhăn nơi khóe mắt giật giật theo từng nhịp thở đau đớn. Bàn tay bà bấu chặt vào một góc đá cuội, gân xanh nổi cộm trên làn da mồi.

“Đứa trẻ chào đời khi chưa đủ tháng. Một đứa con gái nhỏ thó, yếu ớt như một con chim non rơi khỏi tổ giữa giông bão. Tiếng khóc của nó mỏng như sợi chỉ, bị tiếng sấm và tiếng gió rít át đi gần hết. Nó chỉ kịp thở thoi thóp được vài canh giờ trong lòng tao rồi lịm dần... Mẹ mày băng huyết nằm chết lịm trên sàn nứa, máu me đỏ lòm cả tấm đệm cỏ. Chính tao... chính đôi tay này đã dùng tấm thổ cẩm đẹp nhất của đời tao gói sinh linh bé bỏng ấy lại, cõng nó lội qua dòng nước lũ ngập đến ngang ngực ra gò đất này để đào hố chôn cất. Nước ngập lút đầu gối, tao vừa đào vừa khóc, đất đá cứ sạt xuống vùi lấp huyệt mộ. Ngôi mộ gió này, nắm đất này, bên dưới là máu thịt của mẹ mày, là đứa em gái yểu mệnh mà mày chưa từng được biết mặt.”

Từng lời nói của H’Linh như những nhát búa giáng thẳng vào tâm can Nhiên. Đất trời xung quanh cô dường như quay cuồng, nghiêng ngả. Tiếng gầm của dòng suối Kơ Nia như hóa thành tiếng khóc than xé ruột của người mẹ trong đêm mưa lũ hai mươi năm trước.

Nhiên bàng hoàng nhớ lại ánh mắt thảng thốt, xa xăm của mẹ mỗi lần ngắm nhìn những cơn mưa chiều đổ xuống mái tôn ẩm mốc ở hẻm nhỏ Minh Cảng. Cô nhớ những đêm mẹ ngồi bất động bên bếp củi tàn, bàn tay vô thức xoa lên vết sẹo dài mờ nhạt nơi bụng dưới, đôi môi mím chặt không thốt nên lời. Bí mật khủng khiếp ấy, nỗi đau đớn tột cùng của một người mẹ mất con giữa rừng thiêng nước độc, bà đã tự mình gặm nhấm, giấu kín suốt hai mươi năm, không hé răng với bất kỳ ai, kể cả với cô và Khang. Mẹ cô đã mang theo nỗi tang tóc câm lặng ấy lầm lũi đi qua nửa đời người, gánh gồng nuôi hai đứa con lớn bằng mồ hôi và nước mắt ở quán cơm bình dân nghèo nàn, trong khi một phần ruột thịt của bà vĩnh viễn nằm lại bên bờ con suối lạnh lẽo này.

H’Linh đứng dậy, thân hình gầy guộc run lên vì nỗi căm hờn và cay đắng dồn ứ bao năm bỗng bộc phát:

“Sau trận chết đi sống lại ấy, tao với con Hạ chăm sóc nhau như ruột thịt. Tao hái từng nắm lá thuốc rừng đắp cho nó cầm máu, tao nấu cháo hạt kê rừng bón cho nó từng thìa. Khi nó gượng dậy được, tao chỉ cho nó từng thứ lá rừng, dạy nó cách nếm vỏ cây trơ-ngest, cách dùng men lá đắng để giữ thịt cá qua mùa đói kém. Hai đứa tao từng thức trắng hàng trăm đêm bên bếp lửa, cùng ấp ủ một giấc mơ dựng nên một gian bếp chung ngay tại buôn Mây Đỏ này. Một gian bếp để phụ nữ Ê-đê không phải bán rẻ lúa rẫy, để giữ lại hạt giống của ông bà, để người dưới xuôi biết đến vị ngọt đằng sau nốt đắng của đại ngàn. Tao đã tin nó hơn cả bản thân mình!”

Giọng bà H’Linh đột ngột đanh lại, sắc lẻm như một vết chém xé rách không gian:

“Thế rồi sao? Một sớm mùa khô, khi con nước vừa rút, tao thức dậy thì gian bếp lạnh tanh. Nó đi rồi. Nó gom hết đồ đạc bỏ đi trong sương mù mà không một lời từ biệt trọn vẹn, không một lời giải thích đàng hoàng! Nó chỉ để lại một mảnh giấy nghệch ngoạc nói rằng dưới Minh Cảng người ta đòi siết nhà, hai đứa con thơ của nó đang bơ vơ sắp chết đói, nó phải về gánh nợ. Nó bảo nó nợ tao một món nợ máu thịt kiếp này không trả hết!”

Bà H’Linh chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào mặt Nhiên, lồng ngực phập phồng dữ dội:

“Nó vì trách nhiệm với tụi mày mà giẫm đạp lên lời hứa với tao! Nó bỏ lại ngôi mộ của đứa con bạc mệnh, bỏ lại gian bếp dang dở, bỏ lại cả buôn làng từng cứu mạng nó! Hai mươi năm qua, tao mang danh người đàn bà giữ hạt giống của Mây Đỏ, nhưng trong lòng tao mang một vết thương bị phản bội mưng mủ không bao giờ lành miệng! Giờ mày đến đây, mày muốn gì? Mày muốn xin công thức lá đắng để mang về thành phố bán lấy tiền cứu cái tiệm cơm Bếp Hạ của mẹ con tụi mày sao? Tụi mày coi tri thức của mảnh đất này, coi lòng tin của tao là thứ rẻ rúng đến thế ư?”

Không gian như ngưng đọng. Gió rừng thổi tạt những cánh hoa dại tả tơi rơi xuống mặt nước suối đỏ ngầu. Tiếng nước gầm gào va vào vách đá như muốn nuốt chửng sự im lặng ngột ngạt. Bầu trời trên cao xám xịt một màu chì u ám, những ngọn cây rừng đại ngàn lắc lư trong gió rít như đang lên án sự tráo trở của lòng người.

Nhiên không lùi lại. Đôi mắt cô hoe đỏ, ngập tràn nước mắt nhưng không hề trốn tránh. Cô không tìm bất kỳ một lời bao biện nào. Cô không nói về sự cơ cực của mẹ mình những năm tháng sau đó, không kể về những đêm mẹ thức trắng vo từng lon gạo mốc, không tô vẽ sự hy sinh của bà Hạ để biện minh cho sự bội ước tàn nhẫn ấy, cũng không đem món nợ ngân hàng đang đếm lùi từng ngày ra để cầu xin lòng trắc ẩn.

Bởi vì trước nấm mồ gió lạnh lẽo này, trước nỗi đau mất mát của một người mẹ và sự phản bội đối với một người bạn tri kỷ, mọi lời thanh minh đều là sự sỉ nhục trơ trẽn.

*Bộp.*

Nhiên quỳ sụp xuống mặt đất bazan ẩm ướt, ngay trước ụ đá cuội suối phủ rêu. Hai đầu gối cô ngập sâu vào bùn đất nhão nhoét và gai góc của hoa rừng. Bùn lạnh buốt thấm qua lớp vải quần bò mỏng, kim gai cỏ chọc vào da thịt buốt nhói, nhưng cô dường như không còn cảm giác. Cô cúi rạp người xuống, trán gần như chạm vào những viên sỏi ướt át, hai bàn tay trần rách da, tím tái vì lạnh áp chặt lên lớp đất ẩm lạnh ngắt bên mép mộ.

“Bà H’Linh...” Giọng Nhiên nghẹn ngào, từng giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua gò má gầy guộc rồi rơi tí tách xuống những viên đá cuội. “Cháu không biết... Cháu thật sự không hề biết mẹ cháu đã bỏ lại nơi này một đứa em... và một lời hứa nặng như núi đá.”

Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt chan chứa sự đau đớn tột cùng nhưng kiên định và thẳng thắn lạ thường. Đôi môi cô bầm tím vì lạnh, nhưng từng lời thốt ra đều rành rọt, dứt khoát:

“Mẹ cháu đã sai. Dù vì bất kỳ lý do gì, vì món nợ nào hay vì chúng cháu đi chăng nữa, việc bà dứt áo ra đi trong im lặng, bỏ dở gian bếp chung và phụ bạc lòng tin của bà là một tội lỗi không thể xóa nhòa. Mẹ cháu đã nợ bà, nợ buôn làng này một cuộc đời, một lời tạ lỗi bằng xương bằng thịt. Suốt đời mẹ cháu có lẽ chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi dằn vặt ấy. Hôm nay cháu đứng đây, cháu quỳ ở đây không phải với tư cách một người đầu bếp đi lùng sục công thức, mà là đứa con gái lớn của bà Hạ đến để nhìn thẳng vào món nợ của mẹ mình.”

Nhiên hít một hơi thật sâu, khí lạnh buốt giá tràn vào phế quản xoa dịu cơn bỏng rát trong lồng ngực:

“Cháu xin bà, cháu không xin công thức để mang về thành phố buôn bán kiếm lời nữa. Cháu cũng không dám cầu xin bà trao lại những trang sổ cũ của mẹ cháu. Cháu chỉ xin bà cho cháu ở lại đây những ngày tới. Cháu nghe già Y Krang nói buôn mình sắp bước vào tuần lễ trao đổi hạt giống nương rẫy sau mùa mưa lũ, các mẹ, các chị phải lo lương thực cho hàng trăm người từ các buôn xa kéo về. Cháu có sức lao động, cháu có kỹ năng làm bếp. Hãy để cháu phụ việc nương rẫy, gùi củi, chẻ lạt và nấu nướng phục vụ buôn làng trong suốt tuần lễ hội. Cháu xin dùng chính đôi bàn tay này để làm lụng, không lấy một đồng thù lao, không ghi chép một dòng công thức nào mang đi. Đó là cách duy nhất cháu có thể làm để chuộc lại một phần sự bội ước của mẹ cháu năm xưa.”

Dòng suối Kơ Nia vẫn chảy xiết dưới chân gò đất. Gió sớm lay động những cành lau xào xạc.

Bà H’Linh đứng trơ trơ như một bức tượng tạc giữa núi rừng. Ánh mắt già nua của bà dõi xuống cô gái trẻ đang quỳ gối dưới bùn đất. Bà nhìn thấy đôi vai gầy đang run lên vì lạnh nhưng sống lưng vẫn giữ thẳng tắp; bà nhìn thấy mười đầu ngón tay nứt toác rỉ máu vì cào xới đất đá và thu hái men rừng ngày hôm qua; và hơn hết, bà nhìn thấy sự thẳng thắn, không chút toan tính, không một lời xảo trá để trốn tránh trách nhiệm—thứ phẩm cách mà suốt hai mươi năm qua bà mỏi mắt tìm kiếm ở những kẻ dưới xuôi tìm lên Mây Đỏ.

Bà nhớ lại ánh mắt của cô gái này đêm qua. Khi Phúc lén lút quay phim nghi thức giã men thiêng liêng của buôn làng, chính Nhiên đã xông vào giằng lấy chiếc máy quay, ép cậu ta phải xóa sạch từng thước phim. Cô thà chịu tan vỡ mối quan hệ làm ăn, thà bị bỏ lại trơ trọi giữa đại ngàn còn hơn để ranh giới văn hóa của Mây Đỏ bị đem ra trục lợi. Một kẻ tham lam danh lợi sẽ không bao giờ làm điều đó.

Một tiếng thở dài thật khẽ thoát ra từ lồng ngực gầy guộc của người đàn bà Ê-đê. Tiếng thở dài trút bỏ gánh nặng của hai thập kỷ hận thù. Vẻ sắc lạnh như thép nguội nơi khóe mắt bà chầm chậm tan biến, nhường chỗ cho một nét thâm trầm, bao dung như đất mẹ bazan.

“Đứng dậy đi,” H’Linh buông một câu cụt ngủn, nhưng giọng bà không còn đanh thép như trước, thoảng qua một chút run rẩy xót xa. “Đất dưới suối lạnh lắm. Quỳ lâu hỏng hết khớp gối, sau này già rồi không đứng bếp được đâu.”

Nhiên ngỡ ngàng ngước lên. H’Linh đã quay lưng lại, nhặt chiếc gậy gỗ chống xuống đất. Dáng bà liêu xiêu bước đi trên cỏ ướt.

“Theo tao về bếp,” bà cất bước đi trước, giọng nói vọng lại qua màn sương bảng lảng. “Muốn nấu cơm cho cả buôn làng ăn trong tuần lễ đổi hạt giống, mày phải học cách chế ngự vị tanh của con cá suối. Nấu dở, tao đuổi mày ra khỏi buôn ngay lập tức.”

Nhiên lau vội dòng nước mắt còn đọng trên má, run rẩy đứng dậy. Dù hai đầu gối đau buốt vì ngâm bùn lạnh, trong lòng cô bỗng dâng lên một luồng sinh khí ấm áp chưa từng có. Cô cúi đầu chào nấm mồ đá một lần nữa rồi rảo bước theo bóng lưng còng của H’Linh.

***

Gian bếp hun khói của ngôi Nhà dài nằm ở chái sau, nơi khói củi quanh năm bao phủ trần nứa thành một lớp bồ hóng đen nhánh, bóng loáng như sừng trâu. Không khí trong bếp ấm sực, đượm mùi nhựa thông, mùi lá khô và mùi thơm mỡ màng lưu cữu của những xâu thịt gác bếp qua nhiều mùa rẫy. Trên giàn bếp đóng bằng gỗ căm xe chắc nịch, hàng trăm bó lạt nứa, những túm ớt khô, vỏ bầu nậm và những chùm hạt giống buộc túm lủng lẳng trong màn khói mỏng.

Bà H’Linh kéo chiếc ghế đòn gỗ thấp cho Nhiên ngồi cạnh một bệ đá kê quanh bếp than hồng rực. Trên chiếc nia tre đặt cạnh bếp là một mớ cá suối Kơ Nia thân dẹp, vảy ánh bạc pha sắc xanh lục, mang cá còn tươi rói vừa được thanh niên trong buôn cất vó sáng sớm. Những con cá suối dài chừng gang tay, thân chắc nịch, miệng tròn như mút lấy rêu đá. Bên cạnh nia cá là một rổ lá đắng rừng phiến dày, gân lá nổi rõ hình xương cá và một bó cành khô vỏ nứt nẻ sẫm màu.

“Nhìn kỹ đây,” H’Linh nhặt một nắm lá đắng rừng đưa lên mũi ngửi rồi chuyền sang tay Nhiên. “Lá đắng rừng không phải thứ hái bừa bãi rồi ném vào nồi như rau cải dưới xuôi. Mày nếm thử đi.”

Nhiên ngắt một góc lá xanh thẫm đưa vào miệng nhai chậm rãi.

Một vị đắng ngắt, chát chúa lập tức bùng nổ trên gai lưỡi. Nó không giống vị đắng của khổ qua hay búp trà non, mà là một thứ đắng sắc lẻm, khô rát, khiến toàn bộ khoang miệng cô tê buốt. Dịch vị ứa ra dồn dập, cổ họng thắt lại trong phản xạ tự nhiên muốn nhổ bỏ thứ lá độc hại này ra ngoài. Cơ mặt Nhiên giật mạnh, mồ hôi rịn ra trên trán vì cảm giác đắng nghét cào cấu nơi cuống họng.

Thế nhưng, nhớ lại lời dặn của mẹ trong trang sổ rách từng ghi bằng nét mực lem luốc (*“Đắng để nhớ mình từng gây đau thương”*), Nhiên cắn răng nuốt ngụm nước bọt chát chúa ấy xuống.

Và rồi, một sự chuyển hóa kỳ diệu xảy ra. Chỉ vài giây sau khi vị đắng gắt trôi qua thực quản, một làn hơi ấm nóng bất ngờ lan tỏa ngược từ lồng ngực lên vòm họng. Vị đắng chát tan biến hoàn toàn, thay thế vào đó là một hậu vị ngọt thanh, sâu lắng, vừa bùi bùi như hạt dẻ nướng, vừa thơm thoang thoảng mùi thảo mộc mát lành. Cảm giác khô rát nơi đầu lưỡi nhường chỗ cho sự thanh khiết, ngọt dịu kéo dài không dứt.

“Thấy chưa?” H’Linh khẽ nhếch khóe môi, trong mắt ánh lên một vẻ tự hào kín đáo của người gìn giữ sản vật đại ngàn. “Cái đắng của lá rừng Mây Đỏ là cái đắng có tính nết. Nó không làm hại ruột gan ai, nó chỉ thử thách lòng kiên nhẫn của kẻ ăn. Nếu mày đem luộc chín nhừ hay xay nhuyễn ra nấu nước cốt như tụi làm đồ hộp ở thành phố, mày sẽ chỉ thu được thứ nước đắng ngắt làm nghẹn họng người ta. Nhưng nếu biết cách chế ngự, cái đắng ấy sẽ kéo vị ngọt của thịt cá lên đỉnh điểm.”

H’Linh cầm lấy con dao bản mỏng, lưỡi dao bằng thép nhíp sáng loáng. Bà thoăn thoắt khía những đường chéo đều tăm tắp trên thân từng con cá suối. Đôi bàn tay già nua nhưng thao tác chuẩn xác đến từng mi-li-mét: mũi dao chỉ vừa chạm tới lớp thịt cá trắng ngần mà không hề làm đứt xương hay phạm vào túi mật bên trong. Kỹ thuật dùng dao ấy tinh tế và chuẩn mực không hề thua kém bất kỳ một bếp trưởng đẳng cấp nào mà Nhiên từng làm việc cùng ở các nhà hàng năm sao dưới phố.

“Cá suối ăn rêu đá, thịt ngọt nhưng ruột nhiều nhớt và tanh mùi bùn ngập. Muốn trị nó, không dùng chanh, không dùng giấm công nghiệp của mày. Mày phải vò nát lá đắng này ra, nhét vào bụng cá cùng một nhánh ớt rừng nướng sơ. Nhưng đó mới chỉ là nửa đường.”

Bà H’Linh gắp vài cành gỗ khô màu nâu sẫm ném vào giữa đống than hồng. Từng thớ gỗ khô lách tách nổ nhỏ, rồi ngay lập tức, một làn khói trắng dày đặc bốc lên, mang theo một mùi thơm hăng hăng của tinh dầu thảo mộc và nhựa cây rừng cổ thụ. Thứ khói ấy không hề gây cay mắt hay sặc sụa như khói rơm rạ dưới xuôi, mà ngạt ngào, ấm nồng như mùi trầm hương hòa lẫn sương sớm.

“Đây là củi cây trơ-ngest khô,” bà giải thích, tay thoăn thoắt kẹp những con cá vào thanh tre tươi rồi gác lên giàn hun khói cách mặt than chừng hai gang tay. “Hun khói lá đắng là mượn nhiệt của khói để thẩm thấu tinh dầu trơ-ngest vào từng thớ thịt cá. Khói ấm sẽ làm se bề mặt da cá, khóa chặt vị ngọt bên trong, trong khi vị đắng từ lá rừng ở ổ bụng sẽ từ từ ngấm ngược ra ngoài, trung hòa hoàn toàn mùi tanh của ruột cá. Đến khi da cá chuyển sang màu vàng cánh gián, vảy giòn rụm mà thịt bên trong vẫn mềm mọng, thì vị đắng ban đầu đã hóa thành vị ngọt hậu đậm đà.”

Nhiên chăm chú quan sát từng biến đổi của ngọn lửa và làn khói. Cô ghé sát mũi ngửi, lắng nghe từng âm thanh xèo xèo êm dịu khi mỡ cá bắt đầu rỉ ra, nhỏ giọt xuống than hồng bốc lên những cuộn khói thơm ngào ngạt. Mùi tanh nồng đặc trưng của bùn suối dần dần bị triệt tiêu hoàn toàn, thay thế bằng một tổ hợp hương thơm đầy mê hoặc—vị khói nồng ấm, mùi nhựa cây ngai ngái và nốt đắng thanh tao, dịu ngọt lan tỏa khắp gian bếp.

Đó không phải là một công thức toán học khô cứng với gam và mi-li-lít; đó không phải là thứ kỹ thuật đo nhiệt độ bằng đồng hồ hẹn giờ vô hồn. Đó là cuộc đối thoại giữa người nấu với tự nhiên, với thời gian và với sự kiên nhẫn tối thượng của lửa và khói. Người nấu phải dùng cả khứu giác, thính giác và sự nhạy cảm của trực giác để biết khi nào khói đã đủ ngấu, khi nào ngọn lửa cần được vùi bớt tro than.

Trong lúc cẩn thận xoay trở từng kẹp cá tre, H’Linh bỗng nhìn xa xăm ra màn sương ngoài cửa sổ, giọng bà trầm ngâm như nói với chính mình:

“Năm xưa, lúc mẹ mày trốn chạy lên đây, tâm hồn nó rách nát đến mức nấu cái gì cũng chát chúa. Nấu canh thì mặn đắng, kho thịt thì cháy khét vì lửa lòng nó đang sôi sùng sục. Chính ngọn lửa hun khói này đã dạy nó biết cách ghìm bớt nỗi đau để sống tiếp. Nó học được rằng, muốn món ăn ngọt hậu, người nấu phải biết chịu đựng vị đắng ban đầu.”

H’Linh ngừng tay, nhìn ngọn lửa le lói dưới đáy lò:

“Sau này nó rời đi, tao nghe nói nó có quen biết một người ở miệt vườn miền Tây... ông Sáu Lành ở Vườn Cổ Mộc. Lão Sáu đó tính tình gàn dở, cổ hủ y như tao, nhưng lão hiểu con Hạ hơn bất kỳ ai. Lão từng bảo tao rằng, con Hạ là người đàn bà gánh trên lưng quá nhiều món nợ của người khác, nên cả đời nó chẳng bao giờ dám nấu một món ăn trọn vẹn cho riêng mình. Cả đời nó chỉ đi trả nợ cho chồng, trả nợ cho con, rồi lại trốn chạy món nợ với đất rừng này.”

Nhiên khẽ giật mình khi nghe cái tên “Sáu Lành”. Lồng ngực cô thắt lại. Đó cũng chính là cái tên được ghi kín đáo ở những trang cuối bị xé dở trong cuốn sổ tay của mẹ mà cô chưa có lời giải. “Vườn Cổ Mộc”, “Sáu Lành”... những mảnh ghép rời rạc về cuộc đời ẩn dật của mẹ cô bắt đầu hiện ra rõ nét hơn.

“Bà H’Linh... ông Sáu Lành là ai ạ?” Nhiên cất giọng run rẩy.

H’Linh nhìn Nhiên, ánh mắt đượm vẻ xót xa và xa xăm: “Một ngày nào đó mày sẽ phải tự đi tìm lão. Nhưng trước hết, mày phải vượt qua được bài học ở vùng đất này đã. Bếp lửa này tao nhường lại cho mày. Tự tay mày làm đi.”

Nói đoạn, bà H’Linh buông kẹp tre, lẳng lặng bước ra đầu sàn nứa, để lại Nhiên một mình đối diện với giàn hun khói và đống than rực hồng.

Nhiên hít sâu một hơi. Cô xắn cao tay áo, gạt bỏ mọi sự mệt mỏi thể xác và những xao động trong tâm trí. Đứng trước bếp lửa đỏ rực, Nhiên cầm lấy từng con cá suối, dùng đôi bàn tay còn rướm máu cẩn thận khía từng đường dao. Cô tự tay vò nát từng phiến lá đắng rừng, nhét cẩn trọng vào khoang bụng từng con cá cùng nhánh ớt nướng thơm lừng, rồi điều chỉnh từng thanh củi trơ-ngest để khói tỏa đều đặn nhất.

Cô không nấu như một đầu bếp nhà hàng đang tìm kiếm sự hoàn hảo cơ học để làm vừa lòng những thực khách khó tính; cô nấu bằng tất cả sự thành tâm tạ lỗi, bằng nỗi nhớ thương một sinh linh bạc mệnh chưa từng được cất tiếng khóc chào đời, và bằng sự thấu cảm muộn mằn đối với vết thương rách nát của mẹ mình hai mươi năm trước. Từng làn khói quấn quýt lấy gương mặt cô, mang theo những giọt mồ hôi và nước mắt lặng lẽ rơi xuống sàn than.

***

Gần trưa, sương mù trên thung lũng Kơ Nia đã tan hẳn. Những tia nắng vàng như mật len qua vòm lá rậm rạp của rừng đại ngàn, rải từng vệt sáng lấp lánh xuống mặt nước suối. Không khí ấm dần lên, xua đi cái rét mướt cắt da của đêm mưa bão.

Nhiên mang theo một chiếc mẹt tre nhỏ, cẩn thận bước ra gò đất ven suối.

Trên mẹt tre lót một tàu lá chuối rừng hơ lửa mềm mại là mâm cơm thanh đạm do chính tay cô hoàn thành: một đĩa cá suối nướng hun khói lá đắng da vàng ruộm óng ánh, thơm lừng mùi khói thảo mộc và nhựa cây; một bát cơm gạo rẫy nương đỏ dẻo thơm còn bốc khói nghi ngút; và một chén muối hạt giã chung với ớt rừng xanh cay xé lưỡi. Mùi tanh của cá suối đã biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại mùi thơm nồng đượm, ấm áp của sự sống được nuôi dưỡng từ lòng đất mẹ. Vị đắng sâu xa của lá rừng đã quyện chặt vào vị ngọt béo của thịt cá, tạo nên một sự cân bằng hoàn mỹ, trầm mặc và thiêng liêng.

Nhiên đặt mâm cơm ngay ngắn trước ụ đá cuội phủ rêu. Cô chắp hai tay trước ngực, cúi đầu thật sâu trước nấm mồ gió. Gió từ mặt suối thổi lên làm bay những lọn tóc mai lòa xòa trước trán cô.

“Em... chị về muộn quá,” tiếng Nhiên thì thầm chìm vào tiếng suối reo róc rách. “Chị thay mặt mẹ dâng lên em mâm cơm cá suối này. Xin em và dòng suối Kơ Nia hãy tha thứ cho sự ra đi vội vã của mẹ năm xưa. Mẹ không bỏ rơi em... mẹ chỉ bất lực trước số phận nghiệt ngã. Từ nay, chị sẽ thay mẹ nhớ về em, thay mẹ hoàn thành những lời hứa còn dang dở với mảnh đất này.”

Bà H’Linh đứng cách đó vài bước chân, dựa lưng vào gốc cây kơ nia đại thụ. Người đàn bà giữ men khẽ nhắm mắt lại. Làn gió rừng thổi qua mang theo mùi thơm của cá nướng hun khói lá đắng lướt qua sống mũi bà—thứ hương vị của hai mươi năm trước tưởng chừng đã vĩnh viễn mục rữa cùng ký ức đau buồn, nay lại một lần nữa hồi sinh, tinh khiết và trọn vẹn dưới bàn tay của đứa con gái. Đó chính là mùi vị của sự hòa giải, mùi vị của lòng bao dung sau những năm tháng bão giông.

Khóe mắt H’Linh trào ra một giọt nước mắt hiếm hoi. Giọt nước mắt lăn dài qua những nếp nhăn già nua, lấp lánh dưới ánh nắng trưa rực rỡ. Nỗi oán hờn, cay đắng đè nặng lồng ngực bà suốt hai thập kỷ qua dường như đã theo làn khói ấm nồng kia bay vút lên bầu trời cao nguyên bao la, tan biến vào hư không.

Bà bước lại gần, đặt bàn tay gầy guộc, ấm áp lên vai Nhiên:

“Mẹ mày dưới suối vàng... hôm nay có thể nhắm mắt thanh thản rồi.”

Nhiên ngước lên, bắt gặp nụ cười hiền hậu, thanh thản lần đầu tiên xuất hiện trên gương mặt khắc khổ của già làng. Mối dây liên kết đứt gãy giữa thế hệ trước và thế hệ sau cuối cùng đã được hàn gắn bằng sự chân thành không toan tính. Không còn nghi kỵ, không còn khoảng cách giữa người Kinh dưới xuôi và người giữ hạt giống của đại ngàn.

Hai người cùng thu dọn mâm cơm, chậm rãi bước theo con đường mòn ven suối để trở về buôn làng chuẩn bị cho tuần lễ trao đổi hạt giống.

Thế nhưng, khi vừa đi đến bìa rừng le tiếp giáp với bãi đất trống ngoài buôn, bước chân Nhiên bỗng khựng lại. Ánh mắt cô va phải một vật thể lạ nằm lẫn trong đám cỏ gai dập nát bên vệ đường.

Đó là một tập tài liệu bọc bìa da màu xanh đậm, có vẻ như vừa bị ai đó đánh rơi vội vã trong đêm mưa. Nước mưa làm ướt sũng mép bìa da, nhưng trên góc bìa vẫn in nổi một logo kim loại mạ vàng hình chiếc thìa cách điệu vô cùng quen thuộc—biểu tượng của Tập đoàn Ẩm thực Vị Việt Mới.

Nhiên cúi xuống nhặt lên, lật nhanh trang đầu. Từng con chữ in đậm đập thẳng vào mắt cô: “HỢP ĐỒNG GHI NHỚ NGUYÊN TẮC: Chuyển nhượng độc quyền kỹ thuật chiết xuất tinh chất lá đắng và men thảo mộc vùng Mây Đỏ”. Bên dưới văn bản là hàng loạt điều khoản thu mua ép giá nương rẫy, cùng dòng chữ ký nháy sắc gọn bằng mực xanh đen mà cô có thể nhận ra ở bất kỳ đâu—chữ ký của gã bếp trưởng điều hành đầy quyền lực và tham vọng.

Máu trong người Nhiên như đông cứng lại. Hóa ra kẻ lạ đêm qua bẻ gãy cành cây ở hàng rào buôn làng không phải thú rừng. Những kẻ săn lùng tri thức bản địa để biến thành tiền bạc đã không bỏ qua mảnh đất này.

Đúng lúc đó, từ phía đầu chiếc cầu treo bằng gỗ bắc qua hẻm vực dẫn vào buôn Mây Đỏ, tiếng bước giày da nện cồm cộp trên thanh ván vang lên ráo riết giữa không gian vắng lặng.

Một giọng nói trầm ấm, lịch lãm nhưng mang theo vẻ tự tin áp chế quen thuộc cất lên từ đầu cầu treo:

“Lâu ngày không gặp em, An Nhiên. Em tìm được đến tận xó rừng này... quả nhiên không uổng công anh đích thân cất công lặn lội lên đây.”

Nhiên ngẩng phắt đầu lên. Ở phía bên kia cầu treo, đứng sừng sững giữa màn sương cao nguyên vừa tan biến, Đỗ Khải Nam trong chiếc áo măng tô sẫm màu đắt tiền đang mỉm cười nhìn thẳng vào cô, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories