Chợ Đêm Số HóaCh.7 / 35
Chapter 7

Cuộc họp không có nút tắt tiếng

Gian phòng họp chung của Ban điều phối Chợ Đèn Lồng chìm trong bầu không khí ngột ngạt, đặc quánh mùi nước chè xanh ủ quá lửa trong những chiếc bình tích bọc rơm và khói thuốc lào khét lẹt phả ra từ góc cửa sổ. Chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt sơn xanh đã tróc từng mảng vảy gỉ sét quay những vòng nặng nề, phát ra tiếng kêu cót két đều đặn như nhịp thở của một cỗ máy già nua trên trần vôi nứt rạn. Dưới luồng gió quẩn oi nồng, chiếc bàn dài bằng gỗ lim xước xát những vết dao rọc giấy và ngấn nước chè tích tụ qua hàng chục năm họp chợ đang bị vây kín bởi gần ba mươi tiểu thương lớn tuổi. Họ ngồi chen chúc trên những chiếc ghế đẩu gỗ và ghế gấp sắt, lưng áo đã thẫm đẫm mồ hôi sau một ngày dài bươn bả. Ánh mắt họ đổ dồn về phía đầu bàn, một sự hòa trộn phức tạp giữa tính hiếu kỳ của những người tò mò trước cái mới và sự ngờ vực, phòng thủ bản năng của những kẻ cả đời quen nắm chặt từng đồng tiền mặt trong tay.

Không khí buổi chiều đầu hè oi nồng như một chiếc lồng hấp. Hơi ẩm nặng trịch từ con sông Hoài cách đó chỉ một dãy nhà bốc lên hầm hập qua những khe nứt của nền gạch tàu, quyện chặt lấy mùi dầu cù là Sao Vàng, mùi vải thô mộc ngâm hồ, cùng hương quế, thảo quả khô bám chặt vào từng thớ vải áo quần của những con người lấy chợ làm nhà, lấy sạp làm chốn nương thân.

Trần Gia Hân đứng ở đầu bàn, hai bàn tay lạnh ngắt giấu chặt sau tà áo sơ mi trắng đã được là ủi phẳng phiu từ sáng sớm. Các khớp ngón tay cô bấu chặt vào gấu áo để ngăn một cơn run rẩy vô hình đang chực chờ truyền lên bả vai. Bên cạnh cô, Lê Minh Quân đang lúi húi cắm giắc chuyển đổi từ chiếc máy tính xách tay sang chiếc máy chiếu mini mượn vội từ quán cà phê Bờ Hiên. Đầu dây cắm lỏng lẻo khiến hình ảnh chập chờn mấy lượt, phát ra tiếng vo vo trầm đục. Đỗ Mỹ Linh ngồi khép nép ở góc chiếc bàn lim, hai tay ôm ghì lấy tập hồ sơ phân loại đơn hàng và những bản vẽ luân chuyển sản phẩm đóng gáy cẩn thận bằng bìa mica, các đầu ngón tay bấm chặt đến mức móng tay chuyển sang màu trắng bệch.

Ở vị trí trung tâm đối diện, ông Đặng Quốc Vinh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế bọc da màu mận chín đã nứt toác từng đường chỉ. Trên ngực chiếc áo sơ mi cộc tay màu cỏ úa của ông vẫn cài ngay ngắn chiếc huy hiệu đỏ viền vàng của Ban điều phối chợ. Trước mặt ông, một cuốn sổ công văn bìa da đen mở sẵn bên cạnh chiếc thước kẻ bằng gỗ lim bóng loáng, nhẵn thín vết mồ hôi tay sau mấy mươi năm giữ trật tự nội bộ khu chợ cổ.

Một tiếng “tách” khô khốc vang lên từ bóng đèn cao áp của máy chiếu. Luồng sáng trắng đục rọi xuyên qua lớp bụi mờ bay lơ lửng trong không khí, in một vệt sáng hình chữ nhật chênh chếch lên bức tường vôi vàng ố những mảng rêu phong xám xịt tích tụ qua bao mùa mưa lũ miền Trung.

“Dạ, cháu xin phép được bắt đầu,” Hân hít một hơi thật sâu, lồng ngực thắt lại trong nỗ lực đè nén nhịp tim đang dồn dập gõ từng hồi nơi cuống họng. Ngón tay trỏ run rẩy bấm phím cách trên bàn phím. Trên bức tường vôi lập tức hiện ra một biểu đồ hình phễu phức tạp, chia thành nhiều tầng màu sắc rực rỡ với chi chít những đường mũi tên chỉ dẫn đan chéo vào nhau.

“Kính thưa bác Vinh cùng các cô chú, các anh chị tiểu thương,” cô cất tiếng, cố giữ cho giọng mình không bị vỡ dù cổ họng khô khốc. “Đây là sơ đồ luân chuyển giá trị của nền tảng Chợ Nhà Mình. Trong mô hình này, mục tiêu cốt lõi của chúng ta là tối ưu hóa tỷ lệ chuyển đổi từ các kênh tiếp cận tự nhiên, giảm thiểu chi phí thu hút người dùng mới, và từng bước biến lượng truy cập trực tuyến thành các lượt mua lặp lại…”

Hân mới chỉ nói được nửa câu thì phía dưới mặt bàn gỗ lim đã bắt đầu rộ lên những đợt xì xào râm ran. Những cái lắc đầu khe khẽ, những cái nhíu mày đầy vẻ hoang mang xuất hiện trên những gương mặt sạm nắng. Chú Bảy, chủ sạp mây tre đan ở mé đình chợ, nhíu đôi lông mày bạc trắng đã rụng lơ thơ, đưa bàn tay nổi đầy gân guốc lên gãi mạnh vào vầng trán nhăn nheo, rồi nghiêng hẳn người sang phía thím Sáu bán bánh bèo thầm thì điều gì đó. Thím Sáu nghe xong liền lắc đầu quầy quậy, gương mặt tròn trịa vốn dĩ phúc hậu bỗng nhăn nhúm lại như vừa cắn phải một miếng khế chua chát.

“Khoan đã con bé Hân,” chú Bảy giơ bàn tay chai sần, những ngón tay gầy guộc ám màu khói thuốc lào khẽ ngoắc ngoắc trong không khí để ngắt lời cô. “Mày nói cái chi mà ‘chuyển đổi’ với ‘thu hút người dùng’ nghe xa lạ như tiếng Tây rứa con? Tao đan cái rổ, cái sịa, cái mẹt mấy chục năm nay ở cái góc chợ ni, chỉ biết sáng dọn hàng ra, có người đi ngang qua dòm ngó, ưng mắt, thuận mua vừa bán thì thối tiền rồi bỏ bạc cắc vô túi giắt lưng. Giờ mày vẽ ra mấy cái ống phễu ngoằn ngoèo, tầng trên tầng dưới rắc rối rứa, rốt cuộc là mày bảo tụi tao phải làm cái chi?”

“Dạ, ý cháu là…” Hân khựng lại một nhịp, lúng túng bấm chuyển vội sang trang trình chiếu tiếp theo. Màn hình hiện lên một biểu đồ cột chằng chịt các trục tọa độ thể hiện lưu lượng dữ liệu theo mốc thời gian thực. Mồ hôi bắt đầu tịn ra trên cánh mũi cô. “Dạ, nghĩa là khi chúng ta tổ chức các phiên phát trực tiếp — tức là livestream — hoặc đưa danh mục hình ảnh các sạp lên ứng dụng web, lượng người xem đổ về cùng một lúc — tức là lưu lượng người dùng truy cập cùng thời điểm — sẽ được hệ thống phân luồng…”

“Lại còn ‘lưu lượng’ với ‘phân luồng’ nữa!”

Tiếng quạt nan bất ngờ xé toạc bầu không khí oi nồng bằng một cú phẩy dứt khoát. Chị Trương Ngọc Diệp, chủ sạp đồ gia dụng và đồ gốm sứ ở dãy số ba, khoanh chặt hai tay trước ngực, cất giọng the thé cắt ngang lời Hân. Giọng chị mang cái sắc lạnh, chua chát của một người đàn bà buôn bán sắc sảo đã quen tranh từng tấc đất kê sạp ngoài lối đi bộ.

“Cháu học đại học ngoài Hà Nội về, bằng nọ bằng kia, chữ nghĩa đầy bụng tụi tui đây không dám bì,” Diệp nhếch mép, ánh mắt lướt qua màn hình máy chiếu đầy vẻ mỉa mai. “Nhưng tụi tui bỏ công bỏ việc, đóng cửa sạp ngồi đây từ hai giờ rưỡi chiều đến giờ không phải để nghe giảng bài khoa học máy tính hay nghe từ ngữ bác học của dân văn phòng. Tui hỏi thật cô Hân một câu: Mấy cái biểu đồ cột xanh đỏ này có mài ra mà đong được lon gạo, có trừ được tiền điện thắp sáng với tiền thuế chợ cuối tháng này không?”

Lời nói của Diệp như châm ngòi cho một thùng thuốc súng đã nén chặt bấy lâu. Dưới bàn, nhiều tiểu thương đồng loạt gật đầu phụ họa. Những tiếng cằn nhằn bắt đầu lan rộng ra khắp gian phòng họp: “Nói chi mà nghe lùng bùng lỗ tai, chẳng hiểu mô tê gì hết trơn.” “Cứ tưởng bọn trẻ bày cách chi tống khứ đống hàng ế ẩm mùa nắng, ai ngờ toàn nói chuyện trên mây trên gió.” “Bữa trước quậy tung cái sạp vải của cô Ba Mùa làm lối đi tắc nghẽn chưa đủ bài học hay răng mà giờ còn lên đây vẽ hươu vẽ vượn.”

Hân đứng chôn chân giữa luồng sáng trắng của máy chiếu mini rọi thẳng vào ngực áo, thấy toàn bộ phần lưng áo sơ mi của mình đã ướt đẫm mồ hôi, dính chặt vào da thịt lạnh buốt. Cảm giác nghẹn ứ nơi cổ họng ùa về dữ dội, một phản xạ sinh lý đau đớn mà cô tưởng chừng đã chôn vùi được. Nó y hệt như buổi chiều nghiệt ngã sáu tháng trước trong gian phòng họp vách kính trên tầng mười lăm một tòa nhà chọc trời ở Cầu Giấy. Khi ấy, dự án số hóa chuỗi cung ứng nông sản mà cô dồn hết tâm huyết, thức trắng bao đêm ròng rã viết mã nguồn đã tan thành mây khói chỉ sau một cái lắc đầu lạnh lùng của đại diện quỹ đầu tư ngoại quốc. Lúc ấy, cô cũng đứng trước những biểu đồ lộng lẫy, cũng thao thao bất tuyệt bằng những thuật ngữ chuyên ngành hào nhoáng cốt để che giấu đi sự bất an, cảm giác mất phương hướng và nỗi sợ hãi tột cùng trước thất bại đang cận kề.

Không để cho Hân có lấy một giây trấn tĩnh, chị Diệp đã dấn thêm một bước hiểm hóc. Chị đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế đẩu, hai bàn tay thô ráp đập mạnh xuống mặt bàn gỗ lim vang lên một tiếng “chát” khô khốc, toàn thân rướn về phía trước. Với tư cách là người có tiếng nói đại diện cho nhóm tiểu thương thận trọng và thực tế nhất trong chợ, Diệp không buồn úp mở mà tung ra hàng loạt câu hỏi đanh thép như từng mũi dùi chĩa thẳng vào sự non nớt của nhóm bạn trẻ:

“Tui hỏi thẳng cô Hân mấy chuyện sát sườn này, cô trả lời rành mạch, dứt khoát cho cả chợ cùng nghe, đừng có đem ba cái tiếng Tây tiếng u ra mà đánh lận con đen!” Diệp đảo mắt nhìn quanh một vòng, thấy ánh mắt của các cô bác tiểu thương đều đổ dồn về phía mình đầy vẻ tán đồng, chị càng đanh thép lên giọng:

“Thứ nhất, cái chuyện bán hàng qua mạng kiểu ni, lỡ mấy đứa giao hàng chở cái chảo chống dính, cái ấm đun nước bằng sứ của tui tới nơi mà khách dở chứng đổi ý không lấy, hoặc trên đường đi va quẹt làm trầy xước, móp méo, bể vụn rồi người ta trả ngược về, thì cái tiền hàng đó ai đền cho tui? Nền tảng của cô có móc tiền túi ra đền ngay tại chỗ cho tui không, hay là tui phải ngậm bồ hòn làm ngọt, tự nuốt cục tức vô bụng rồi nhìn đống đồ bể đó mà khóc ròng?”

Cả phòng họp im phăng phắc, chỉ còn tiếng quạt trần quay kẽo kẹt. Diệp chém tay vào không khí, giọng càng lúc càng gay gắt:

“Thứ hai, chuyện đóng gói hàng hóa! Hàng khô của bà Lành thì cần túi zip hút chân không cho khỏi ẩm mốc, hàng sành sứ nồi niêu của tui thì cần xốp nổ bọc ba bốn lớp, thùng carton dày, băng keo quấn chằng quấn chịt như đòn bánh tét. Tiền xốp, tiền thùng, tiền bao bì túi nilon đó ai trả? Đừng có bảo với tụi tui là lại trừ ngược vô giá bán nghen! Mấy năm ni chợ ế, bán một cái ấm nước lời được có mấy đồng bạc lẻ mua mớ rau con cá, giờ gánh thêm cái đống nợ bao bì đóng gói đó thì thà tui ngồi không lấy chổi lông gà đuổi ruồi còn sướng cái thân hơn!”

Tiếng xì xào trong phòng họp bỗng chốc vỡ òa thành những đợt sóng bất bình mới. Thím Sáu vỗ mạnh tay xuống đùi, mặt đỏ gay: “Đúng đó! Mấy khay bánh bèo, bánh nậm gói lá chuối của tui làm từ ba giờ sáng, mỡ hành chan lên còn nóng hổi, giờ đưa cho mấy đứa nhỏ chạy xe máy giao đi xa tít mù tắp, lỡ tới nơi nguội ngắt nguội ngơ, đổ vỡ nát bét khách họ chửi rủa rồi ai chịu trách nhiệm cho tui?”

“Chưa hết đâu!” Diệp giơ ngón tay trỏ khẳng khiu lên, chĩa thẳng mũi dùi về phía góc bàn nơi chiếc máy tính của Hân đang sáng đèn le lói. “Chuyện quan trọng nhất là dữ liệu khách hàng! Mấy bữa nay tui thấy con bé Linh cứ cầm cái điện thoại đi lăng xăng quanh các sạp, bảo quét mã này nhập số nọ, đòi ghi lại tên tuổi, số điện thoại, địa chỉ nhà của từng mối quen. Tui hỏi cô Hân một câu chí mạng: Cái danh sách khách ruột mà tui với cả cái chợ ni tích cóp, gây dựng bằng mồ hôi nước mắt mấy chục năm trời qua, giờ nhập hết vô cái máy tính của cô, rồi rốt cuộc nó sẽ rơi vào tay ai? Mai mốt cô đem bán cái danh sách đó cho người ta lấy tiền, hay là mấy đứa bên sàn thương mại điện tử lớn như sàn Vạn Mua nó lấy trộm được, rồi nó gọi điện tiếp cận, chèo kéo mối ruột của tụi tui sang mua hàng giảm giá, hàng đại hạ giá của tụi nó, cướp trắng tay chén cơm của tui thì sao? Ai là người đứng ra bảo đảm cho tụi tui cái chuyện sống còn này?”

Từng câu chất vấn sắc lẹm của chị Diệp giáng xuống gian phòng họp hệt như những nhát búa tạ nện thẳng vào tấm ván mục. Chúng không phải là những nghi vấn bâng quơ, mà đánh trúng tim đen những nỗi lo âu sâu kín nhất, nhức nhối nhất của những con người cả đời chỉ biết buôn tận gốc bán tận ngọn, lấy việc trao tiền tận tay, nhìn mặt gửi hàng làm lẽ sống. Họ không hẳn là những kẻ cổ hủ chống lại sự tiến bộ của công nghệ, mà họ sợ sự mập mờ. Họ sợ những khoản chi phí vô hình ẩn sau màn hình điện tử sẽ âm thầm nuốt trọn từng đồng tiền cắc chắt chiu, và trên hết, họ sợ mất đi cái gốc rễ buôn bán tự chủ vốn là chiếc phao cứu sinh duy nhất của gia đình họ giữa thời buổi khó khăn.

Linh ngồi co rúm lại sau tập tài liệu, hai vai rụt xuống, vội vã lật giở những trang giấy in sẵn các điều khoản kỹ thuật bằng tiếng Anh và tiếng Việt để tìm cách giải thích nhưng ngón tay cứ run lẩy bẩy. Quân khẽ nhíu mày, quai hàm bạnh ra đầy căng thẳng; anh chống tay lên mặt bàn định đứng bật dậy để đỡ lời cho Hân, nhưng cô đã kịp liếc nhìn sang, khẽ lắc đầu và đưa bàn tay ra hiệu ngăn anh lại.

Hân chậm rãi đưa mắt nhìn quanh gian phòng một lượt. Ở chiếc ghế bọc da cuối bàn, ông Đặng Quốc Vinh vẫn giữ nguyên tư thế ngồi nghiêm nghị của một người cầm trịch. Ngón trỏ tay phải của ông gõ nhịp đều đặn, chậm rãi từng tiếng “cạch, cạch” trên sống chiếc thước kẻ bằng gỗ lim, ánh mắt từng trải và sắc sảo giấu sau cặp kính lão chăm chú quan sát từng phản ứng, từng nét biến chuyển trên gương mặt cô gái trẻ.

Và rồi, ánh mắt Hân dừng lại ở góc phòng tối nhất, nằm khuất sau luồng gió hắt của chiếc quạt đảo treo tường. Mẹ cô — bà Lành — đang ngồi lặng lẽ trên một chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp. Bà mặc chiếc áo bà ba màu nâu sẫm đã bạc thếch ở hai bờ vai vì bao mùa gánh hàng rong, chiếc nón lá cũ mèm úp gọn gàng trên đùi, hai bàn tay thô ráp, gân guốc đan chặt vào nhau đến mức các đốt ngón tay tím tái. Suốt từ đầu buổi họp, giữa những tiếng cãi vã, mỉa mai và chất vấn ồn ào của bạn hàng chòm xóm, bà Lành không hề hé răng nói nửa lời. Nhưng đôi mắt mờ đục sau cặp kính lão dày cộp của bà chưa từng rời khỏi hình bóng con gái dù chỉ một giây. Trong ánh nhìn ấy có sự xót xa của một người mẹ thấy con mình bị dồn vào chân tường, nhưng cũng có cả sự kiên nhẫn thầm lặng, một sự chờ đợi xem đứa con gái mà bà dứt ruột đẻ ra sẽ vượt qua cơn bão táp đầu đời này như thế nào.

Một luồng nhiệt nóng rẫy bỗng chạy dọc sống lưng Hân, xua tan cái lạnh buốt nơi đầu ngón tay. Trong khoảnh khắc đối diện với ánh mắt của mẹ và những gương mặt khắc khổ hằn in vết chân chim quanh bàn, cô đột ngột nhận ra sai lầm tệ hại của chính mình. Cô đã mang cái tôi kiêu hãnh và ngạo mạn của một kỹ sư công nghệ từng làm việc tại Thủ đô về đây, cố tình áp đặt thứ ngôn ngữ trừu tượng, xa lạ lên những con người cả đời chỉ quen cân từng lạng hạt sen, đong từng bát gạo lứt và đếm từng đồng tiền lẻ thấm đẫm mồ hôi sau mỗi buổi chợ chiều. Họ không cần nghe về phễu chuyển đổi, không cần biết lưu lượng truy cập là cái quái gì; điều họ cần biết một cách sống còn là tối nay trở về nhà, họ có phải móc tiền túi ra bù lỗ cho một gói hàng bị ỉu, hay ngày mai sạp hàng của họ có còn giữ được khách quen hay không.

Hít một hơi thật sâu để định thần, Hân bước dứt khoát tới bên chiếc máy tính xách tay. Không một chút ngập ngừng, cô đưa tay gập mạnh nắp máy tính lại.

Một tiếng “tách” vang lên. Luồng sáng trắng đục của máy chiếu trên bức tường vôi vàng ố vụt tắt ngay tức khắc. Gian phòng họp lập tức chìm trở lại vào thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù của hai bóng đèn tuýp cũ kỹ, hòa lẫn với sắc hoàng hôn đỏ ối đang bảng lảng buông xuống qua những song gỗ cửa sổ.

Hân bước vòng ra phía trước bàn, đứng thẳng người giữa lối đi hẹp, đối diện trực tiếp với chị Diệp và toàn thể tiểu thương mà không còn bất kỳ màn hình hay biểu đồ nào che chắn. Đứng trước những con người đã từng bồng bế, từng cho cô củ khoai manh áo thuở ấu thơ, Hân từ từ cúi gập người xuống thật thấp, một góc chín mươi độ:

“Trước hết, con xin cúi đầu xin lỗi bác Vinh, xin lỗi chị Diệp, cô Ba, chú Bảy và toàn thể các cô chú, các anh chị trong chợ Đèn Lồng. Con xin nhận lỗi một cách thành tâm nhất vì sự cố hỗn loạn đêm hôm trước tại sạp của cô Ba Mùa. Đêm đó, vì sự bồng bột, non nớt, chỉ chăm chăm muốn chứng minh kết quả của riêng mình mà con đã tính toán thiếu sót, khiến cho lối đi chính của dãy ba bị tắc nghẽn hoàn toàn. Xe đẩy lấy hàng không qua được, khách bộ hành không vào được, nan mây của chú Bảy bị người ta dẫm đạp gãy vụn, sạp chén dĩa của chị Diệp cả buổi tối hôm đó ế ẩm không bán nổi một món nào. Lỗi lầm đó hoàn toàn là do sự thiếu kinh nghiệm và chủ quan của con, con xin nhận hết mọi trách nhiệm, không dám ngụy biện nửa lời.”

Lời xin lỗi chân thành, rành rọt và không một chút né tránh của Hân rơi vào gian phòng họp như một giọt nước mát tưới lên chảo lửa đang sôi sục. Bầu không khí ngột ngạt bỗng chốc chùng xuống một nhịp rõ rệt. Chị Diệp hơi sững người, bờ vai đang gồng cứng khẽ hạ xuống, chiếc quạt nan trên tay cũng ngừng ve vẩy giữa chừng. Chú Bảy ngước đôi mắt đùng đục lên nhìn cô gái trẻ, cái nhìn gay gắt ban nãy đã dịu đi vài phần, thay vào đó là sự trầm ngâm của một người lớn tuổi trước đứa cháu trong làng biết nhận sai.

Hân đứng thẳng người lại, quay sang khẽ gật đầu ra hiệu cho Linh. Linh hiểu ý, nhanh chóng mở cặp lấy ra một xấp giấy A4 dày dặn rồi chuyền sang cho cô. Hân nhận lấy, dùng những mẩu băng dính giấy dán tờ đầu tiên lên chiếc bảng gỗ treo tường — nơi vốn chỉ dùng để ông Vinh dán lịch phân công trực tự quản và thông báo phòng cháy chữa cháy của chợ.

Trên tờ giấy trắng tinh không hề có một thuật ngữ tiếng Anh nào, cũng không có những hình khối phễu kỳ dị. Ở đó chỉ có những nét chữ viết tay bằng bút dạ đen to bản, nắn nót, rõ ràng chia làm ba cột mục mạch lạc: *Tiền vốn*, *Chi phí phụ* và *Tiền thực cầm*.

“Chị Diệp và các cô chú đã chất vấn những câu hỏi rất xác đáng, đánh trúng vào cái ruột gan của người buôn bán,” Hân chỉ tay vào từng dòng kẻ đậm nét trên bảng giấy, giọng nói cô lúc này đã lấy lại sự bình tĩnh, rành rọt và mang đúng cái thanh âm, thổ ngữ mộc mạc của người con xứ Quảng: “Và đây là câu trả lời của con bằng tiền tươi thóc thật, tính toán sòng phẳng từng hào, không có bất kỳ thứ lý thuyết viển vông nào cả.”

Cô gõ nhẹ đầu ngón tay vào dòng đầu tiên:

“Thứ nhất, về chuyện bao bì và túi nilon đóng gói: Nền tảng Chợ Nhà Mình tuyệt đối không bao giờ ép tiểu thương phải tự bỏ tiền túi ra gánh khoản này. Với mỗi đơn hàng được đặt qua hệ thống, tiền bao bì đóng gói sẽ được tách riêng thành một khoản chi phí minh bạch, hiển thị rõ ràng trên hóa đơn cho người mua trả tiền. Người mua ở xa muốn giao tận nhà một chiếc ấm điện hay bộ chén đĩa sành sứ của chị Diệp thì chính họ phải trả thêm đúng năm ngàn đồng tiền thùng carton và màng xốp nổ bọc ba lớp. Khách muốn mua nửa ký nấm khô hay một gói hạt sen của sạp mẹ con thì người ta phải trả thêm hai ngàn đồng tiền túi zip hút chân không chống ẩm. Giá bán của tiểu thương tại sạp giữ nguyên một trăm phần trăm, các cô chú bán giá nào ở chợ thì thu về đúng giá đó, không mất toi dù chỉ một đồng tiền túi bóng hay tiền sợi dây thun.”

Hân chuyển ngón tay sang dòng thứ hai, ánh mắt nhìn thẳng vào từng tiểu thương đang chăm chú dõi theo:

“Thứ hai, về chuyện hàng hoàn, hàng bể vỡ dọc đường: Chúng con xây dựng hệ thống này không phải để đùn đẩy rủi ro cho những người dãi nắng dầm mưa ngoài chợ. Nếu đội giao vận của anh Lộc trên đường luồn lách qua ngõ hẹp làm rơi vỡ cái chén, cái chảo của chị Diệp, thì đội giao vận phải trích tiền từ quỹ bảo hiểm chuyến đi để đền bù đúng bằng giá vốn nhập hàng cho chị Diệp ngay trong ngày hôm đó, chị không phải chịu một xu thiệt hại. Nếu khách đổi ý vô cớ không nhận một gói nấm hay một cái rổ mây mà hàng hóa vẫn còn nguyên vẹn, món hàng đó sẽ được mang trả lại nguyên trạng về sạp, toàn bộ chi phí xăng xe vận chuyển hai chiều do quỹ vận hành của chúng con đứng ra chi trả, sạp hàng không mất một đồng phí hoàn. Riêng đối với các món ăn nóng, làm liền như khay bánh bèo của thím Sáu hay ổ bánh mì của cô Tư: Một khi khách hàng đã bấm xác nhận đơn qua điện thoại thì hệ thống khóa quyền hủy đơn. Nếu người ta bùng hàng, chúng con trích quỹ dự phòng đền bù một trăm phần trăm tiền mẻ bánh đó cho thím Sáu ngay tại chỗ, thím cứ yên tâm cầm tiền về lo bữa chợ.”

Thím Sáu nghe đến đó thì chớp chớp mắt, khóe miệng khẽ giãn ra một nụ cười ngượng nghịu.

“Còn cái vụ danh bạ, số điện thoại của mối ruột thì răng?” Chị Diệp nheo cặp mắt sắc sảo lại hỏi dồn, giọng điệu dù đã bớt đi vẻ gay gắt chua ngoa nhưng vẫn còn vương lại sự cảnh giác cao độ của một người buôn bán lọc lõi.

“Dạ, dữ liệu khách quen của các cô chú vĩnh viễn không phải là tài sản của con, và càng không đời nào thuộc về sàn Vạn Mua hay bất kỳ công ty ngoài kia!” Hân khẳng định bằng một giọng đanh thép, từng từ thốt ra đều có sức nặng của sự cam kết danh dự. “Ứng dụng web Chợ Nhà Mình được con lập trình theo nguyên tắc bảo mật khép kín hoàn toàn. Số điện thoại của những khách quen chỉ hiển thị duy nhất trên màn hình điện thoại của sạp chị Diệp mỗi khi người ta bấm nút đặt mua hàng từ sạp chị. Cả con, cả các sạp bên cạnh, hay bất kỳ ai từ bên ngoài đều không thể can thiệp hay nhìn thấy được những con số đó. Con tự tay viết mã nguồn này chạy độc lập trên một máy chủ mini đặt ngay tại mảnh đất Hội An ni, không hề kết nối, không bán và tuyệt đối không bao giờ chia sẻ dữ liệu cho các sàn thương mại điện tử lớn. Toàn bộ danh sách khách hàng của sạp nào thì vĩnh viễn thuộc quyền sở hữu của sạp đó. Nếu sau thời gian thử nghiệm, chị Diệp thấy không ưng, chị có quyền

yêu cầu xóa toàn bộ thông tin sạp và danh sách của chị khỏi hệ thống trong vòng mười lăm phút. Con cam kết bằng danh dự của con bé Hân con bà Lành, trước mặt toàn thể bà con ở đây!”

Lời vừa dứt, Hân buông thõng cánh tay đang giơ cao xuống mép quần, lồng ngực vẫn còn phập phồng sau một hơi dài dốc cạn ruột gan. Tiếng quạt trần ba cánh trên trần vôi loang lổ vẫn quay đều đều từng vòng nặng nhọc, phả xuống luồng gió hanh hao nhuốm mùi dầu gió và mùi ẩm mốc tích tụ qua bao mùa nước lụt. Một khoảng lặng ngắn ngủi phủ xuống căn phòng trước khi những thanh âm rì rầm bắt đầu cựa quậy, lan dần từ những chiếc ghế gỗ phía sau lên tận dãy bàn đầu.

Nhưng lần này, âm hưởng của những tiếng xì xào đã rẽ sang một lối khác hẳn. Không còn những cái tặc lưỡi mỉa mai, không còn tiếng gõ móng tay sốt ruột xuống mặt bàn gỗ tạp hay những ánh nhìn nghi ngại bắn về phía chiếc máy tính đang gập mép. Những cái đầu quấn khăn rằn, những mái tóc hoa râm búi trễ bắt đầu khẽ khàng gật gù. Từng ánh mắt lần lượt dời khỏi gương mặt căng thẳng của con bé Hân để nhìn chăm chú vào tờ giấy xi măng kẻ bút dạ xanh đỏ đang dán trên vách tường vôi. Ở nơi đó, từng đồng bạc cắc chi trả tiền xăng, từng cái túi nilon quai xách hai mươi lăm đồng, từng phương án bồi hoàn khi tô mì Quảng đổ vỡ hay mớ rau dập nát đều được con bé bóc tách rạch ròi, sòng phẳng và minh bạch y hệt như một buổi đối soát sổ nợ cuối tháng của những phường họ lâu năm. Người buôn bán ở cái chợ đất phố Hội này sợ nhất là sự mập mờ của mấy chữ nghĩa văn hoa từ miệng dân có học; một khi cái ăn cái mặc được quy ra bằng con số sờ nắm được, lòng người tự khắc chùng lại một bậc.

Đúng lúc cái không khí ngột ngạt vừa hé mở một khe hẹp để thở, một bóng người thanh mảnh từ tốn đứng dậy từ dãy ghế bên cánh phải.

Đó là cô Võ Thị Ba, chủ sạp vải Ba Mùa nức tiếng một thời ở dãy nhà ngang số hai. Chiều nay, cô Ba không mặc chiếc áo dài cách tân rực rỡ như những hôm đứng trước luồng quay phát sóng mà vận một bộ bà ba lụa dệt màu mỡ gà trang nhã, vạt áo ủi phẳng phiu, mái tóc đen dầy được búi gọn gàng sau gáy bằng chiếc kẹp đồi mồi sẫm màu. Gương mặt người đàn bà đã bước qua tuổi ngũ tuần đượm một vẻ trầm tư sâu lắng, khóe mắt hằn lên những nếp chân chim mệt mỏi, tước đi toàn bộ nét kiêu hãnh rạng ngời của người từng làm mưa làm gió trên mạng ảo suốt đêm hôm nọ.

Cô Ba đứng thẳng lưng, hai bàn tay đan nhẹ vào nhau đặt trước bụng, khẽ cúi đầu chào ban bệ rồi mới đưa mắt nhìn một vòng khắp gian phòng.

“Thưa bác Vinh, thưa cả chợ,” cô Ba cất giọng. Âm sắc của cô trầm buồn, không vang sảng như thói quen chào mời khách thập phương nhưng từng tiếng nhả ra đều rành rọt, thấm đẫm cái thổ âm mộc mạc của người đàn bà sinh ra và già đi bên bờ sông Hoài. “Mấy bữa ni tui nghĩ nhiều lắm, đêm nào nằm xuống cũng chỉ biết trằn trọc nhìn lên trần nhà nghe thạch sùng tặc lưỡi. Cái đêm tui livestream quấn lụa, thấy người ta vô xem đông như hội, thấy chuông báo đơn nổ rần rần rách cả tai áo, tui mừng hú vía. Bụng dạ tui lúc nớ tưởng đâu thời của mình tới rồi, cái sạp vải ngắc ngoải này sắp đổi đời thiệt rồi. Nhưng rồi đến sáng hôm sau bước chân ra chợ…”

Cô Ba khựng lại, ngực nghẹn ngào một nhịp, ánh mắt dời sang góc trái phòng họp:

“…nhìn qua thấy đống nan mây của anh Bảy gãy vụn dưới gót giày người ta, nhìn sang thấy sạp chén dĩa của em Diệp ế chỏng chơ cả buổi mai vì đám người lạ bu kín lối đi không ai chen vô mua nổi cái chén con, tui thẹn tím cả mặt. Tui về sạp, ngồi sụp xuống đống vải vụn mà thấy mình như đứa tham lam, ăn mảnh trên lưng của chòm xóm láng giềng. Mấy mươi năm tối lửa tắt đèn có nhau, bát canh chua con cá nục cũng bưng qua sớt lại, rốt cuộc vì mấy cái đơn hàng trên mạng mà tui làm xáo trộn cả cái trật tự của cái chợ ni. Tui sai, tui có lỗi với bà con dữ lắm.”

Cả gian phòng họp lặng ngắt như tờ, chỉ còn nghe tiếng gió luồn qua khe cửa gỗ sách kêu lạch cạch. Cô Ba khẽ đưa tay áo chấm nhẹ nơi khóe mắt, rồi hít một hơi thật sâu, ánh mắt lại kiên định quét qua từng khuôn mặt thân quen đã cùng cô trải qua bao trận lụt ngập tới nóc sạp:

“Nhưng các cô chú, anh chị ơi, tui nói thiệt một câu ruột gan: cái Chợ Đèn Lồng của tụi mình sắp chết mòn rồi! Cứ nhìn ra dãy hàng vải của tui mà coi, có ngày tui ngồi từ sáng bảnh mắt tới tối mịt mù chỉ bán được hai mét vải thô cho bà con lối xóm may cái bao gối, thu vô chưa nổi một trăm ngàn đồng bạc dằn túi. Khách du lịch họ nườm nượp ngoài kia, họ đi lướt qua cái cổng chợ ni, giơ cái máy ảnh lên bấm cạch một cái chụp tấm hình kỷ niệm rồi kéo nhau đi thẳng vô mấy tiệm may đo máy lạnh ngoài phố lớn. Còn người trẻ Hội An mình chừ thì răng? Tụi nó ngồi trong phòng, cầm cái điện thoại quẹt quẹt mấy cái là có người chở đồ tới bấm chuông tận cửa. Mấy đứa con nít bây chừ nó đâu có chịu xỏ dép lội bùn, ngửi mùi ẩm mốc, mùi cá tôm nồng nặc như thời chị em tụi mình ngày xưa nữa.”

Giọng cô Ba rung lên, một tay cô chỉ nhẹ về hướng cửa chợ:

“Cái sàn Vạn Mua nớ, mấy bữa trước người của tụi nó đã lén lút tới tận cửa sạp tui phát tờ rơi. Tụi nó vẽ ra đủ điều ngon ngọt, hứa rót tiền quảng cáo, hứa cho thuê kho bãi trung chuyển miễn phí, nhưng cái đuôi sam thò ra là bắt tui phải ký giấy bán hàng độc quyền cho tụi nó, cấm tiệt không cho bán lẻ cho khách quen ngoài chợ. Mai mốt nó nắm đằng chuôi rồi, nó nâng phần trăm chiết khấu lên, nó vắt kiệt mồ hôi nước mắt tụi mình thì biết chạy đi đâu mà kêu oan? Con Hân nó làm cái ứng dụng ni, tuy bước đầu có trầy da tróc vảy, có làm bà con bực bội vì ba cái vụ kẹt đường kẹt ngõ, nhưng ít ra nó là con cháu trong chợ, nguồn cơn gốc rễ ở đây, nó muốn giữ cái chợ này lại cho tụi mình làm chủ. Nếu tụi mình chỉ vì sợ khó, sợ dơ, sợ mất mấy đồng bạc lẻ tiền túi bóng mà thẳng tay xua đuổi nó, thì tui dám chắc với bà con, chỉ vài ba năm nữa thôi, cái chợ này chỉ còn là chỗ hoang tàn cho dơi làm tổ!”

Lời chia sẻ như xé gan xé ruột của cô Ba rơi vào thinh không, đọng lại thành một sức nặng nghìn cân ghì chặt lấy tâm can từng người ngồi đó. Ở dãy ghế giữa, chú Bảy thợ đan cúi gằm mặt xuống, đôi bàn tay thô ráp chai sần vì mấy mươi năm vót nan mây đang siết chặt vào nhau. Chú thở dài thườn thượt, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau làn áo bà ba nâu đã bạc màu vai áo. Không một ai cất lời bẻ lại, bởi từng câu chữ của cô Ba như chiếc kim nhọn chọc thẳng vào cái ung nhọt mà bấy lâu nay người ta cố tình lấy miếng giẻ rách che đậy lại để lừa mị chính mình.

Không để cho sự im lặng làm chùng chình không khí, bà Phạm Thị Tư ngồi ở đầu dãy bàn bên trái liền chống hai tay xuống mặt gỗ đứng dậy.

Bà chủ xe bánh mì nổi tiếng bậc nhất góc cổng chợ khẽ xoay xoay cổ tay phải—nơi vẫn còn dán một miếng cao dán giảm đau màu nâu nhạt bốc mùi long não ngai ngái. Bà Tư vốn là người có tiếng xởi lởi, ruột để ngoài da, ngày thường hễ cất tiếng cười là vang động cả một góc đình, thế nhưng chiều nay nét mặt bà chùng xuống, giọng nói đặc quánh những tâm sự trĩu nặng:

“Chị Ba nói trúng cái bụng tui rồi đó bà con. Tui bán bánh mì ở cái góc cổng chợ ni ngót nghét ba mươi năm ròng rã, từ cái thời còn gánh hai cái thúng đi bộ mòn gót chân. Nuôi thằng Quân ăn học tới nơi tới chốn, cũng từ cái lò than nướng thịt đỏ lửa thâu đêm mà ra. Nhưng mấy tháng ni, thú thiệt với bà con, mỗi sớm mai mở mắt ra là thấy sợ. Bánh mì lò giao ba trăm ổ, tui đứng nướng thịt, xắt dưa, chan nước sốt rã cả hai bờ vai mà tới chín giờ sáng ngó lại giỏ vẫn còn trơ trơ cả trăm ổ nằm nguội ngắt. Đến trưa trờ trưa trật lại phải ngậm ngùi xé vụn đem cho người ta nuôi cá tra dưới mương, xót ruột như có ai cầm dao cứa từng khúc ruột non của mình rứa.”

Bà Tư đưa mắt nhìn sang bàn của đội dự án, nơi con trai bà và con Hân đang ngồi ngay ngắn:

“Chiều hôm qua, con Hân với con Linh có qua sạp tui. Tụi nó ngồi bệt xuống cái ghế đẩu, lấy sổ tay ra tính toán kỹ càng từng đường đi nước bước. Tụi nó biểu tui từ rày mỗi sáng chỉ cần nhận đúng ba mươi ổ bánh mì của khách đặt trước qua trang web, làm túc tắc giao từ bảy giờ tới chín giờ sáng. Bán hết chừng nớ ổ là hệ thống tự động khóa sổ, ngưng nhận đơn để tui dưỡng cái khớp cổ tay đang thoái hóa ni. Tụi nó tính cho tui từng chút sức lực của người già, tính từng đồng tiền lời ròng sau khi trừ hết chi phí rau thịt, bơ đường. Tụi trẻ nó có học, nó nhìn ra cái đường đi mới cho cái chợ già cỗi này. Mình làm cha làm mẹ, buôn bán lăn lộn ngoài đời cả một đời người rồi, không lẽ thấy đường sáng mở ra trước mắt mà không dám bước tới, cứ ôm khư khư lấy cái lò than ế ẩm rồi dắt díu nhau chết chìm cả nút hay răng?”

Từng lời bà Tư thốt ra chất phác, thô ráp mà đầy tính thuyết phục. Gian phòng họp dường như lắng lại trong một thứ cảm xúc hỗn tạp kỳ lạ. Những cái trừng mắt nghi ngại ban đầu giờ đây dần nhường chỗ cho nỗi xót xa trước thực tại buôn bán bế tắc, và len lỏi đâu đó là một tia hy vọng mong manh vừa mới nhen nhóm. Những người đàn bà cả đời chỉ biết cân đong từng lạng thịt, mớ rau nhìn nhau dò hỏi, không còn ai buồn cất tiếng xoi mói hay phản đối gay gắt như nửa tiếng đồng hồ trước đó.

Hân đứng bên mép bàn, khẽ đưa mắt nhìn về phía góc tối sau cùng của gian phòng.

Ở nơi đó, bà Lành vẫn ngồi im phăng phắc như một pho tượng đá tạc vào bức tường rêu. Mái tóc hoa râm của mẹ lòa xòa vài sợi bạc phơ rủ xuống bên thái dương gầy guộc. Hân nhớ rõ mười phút trước, khi thấy mấy bà bạn già bên dãy hàng rau thì thầm rủ nhau đứng dậy toan bỏ về sớm vì sợ trễ giờ cơm chiều, chính bàn tay xương xẩu của mẹ đã lặng lẽ vươn ra, khẽ níu lấy vạt áo người bên cạnh giữ lại. Mẹ không nói một lời nào để bênh vực con gái ruột. Mẹ cũng không đứng lên thanh minh hay đỡ lời thay cho cô nửa câu. Nhưng sự hiện diện trầm mặc, kiên định của mẹ nơi góc phòng tựa như một chiếc mỏ neo sắt cắm sâu xuống đáy lòng sông, giữ cho tâm can Hân không bị chao đảo trước những đợt sóng chất vấn sắc lạnh của những bậc cha chú buôn bán sành sỏi. Mẹ ngồi đó để làm chứng, để nghe cho bằng hết, và để buộc con gái mình phải tự đứng vững trên chính đôi chân của nó trước sóng gió cuộc đời.

Bắt gặp ánh mắt trầm buồn nhưng sâu thẳm của mẹ, Hân cảm thấy một luồng sinh lực ấm nóng từ lồng ngực dâng ngược lên cuống họng. Nỗi e dè hoàn toàn biến mất. Cô gái trẻ bước dứt khoát lên phía trước thêm một bước, hai bàn tay buông mở hướng về phía hội đồng bô lão, giọng nói cất lên đanh gọn, dứt khoát và chứa chan sự tự tin:

“Thưa bác Vinh, thưa toàn thể các cô chú, các anh chị trong chợ! Thay mặt cho đội ngũ Chợ Nhà Mình, con xin cam kết bằng danh dự và trách nhiệm ba điều kiện tiên quyết nếu dự án được Ban điều phối cho phép vận hành:

Điều thứ nhất: Minh bạch tài chính tuyệt đối đến từng đồng cắc. Mỗi một sạp hàng khi tham gia sẽ được cấp một bảng đối soát doanh thu ròng bằng cả giấy in lẫn thông báo trên điện thoại vào đúng năm giờ chiều mỗi ngày. Bán được bao nhiêu phần bánh, bao nhiêu mét vải; tiền cước shipper trừ bao nhiêu; tiền bao bì túi bọc bóc tách bao nhiêu đều hiển thị rành mạch. Toàn bộ tiền hàng sau khi khấu trừ chi phí vận hành sẽ được chuyển khoản hoặc trao tận tay tiểu thương ngay trong ngày, tuyệt đối không giam giữ một đồng vốn nào của bà con để xoay vòng, để các cô chú có đủ tiền mặt nhập hàng mới cho buổi chợ sớm hôm sau.

Điều thứ hai: Thiết lập cơ chế giải quyết khiếu nại ba bên có bằng chứng xác thực trong vòng mười lăm phút. Nếu khách hàng nhận đồ ăn bị nguội ngắt, đổ vỡ, hay rau củ quả không đúng chất lượng cam kết, chúng con lập tức cử người chụp ảnh đối chứng và lập biên bản xử lý tại chỗ. Nếu lỗi thuộc về người bán sơ suất, sạp hàng đổi mẻ mới; nếu lỗi do đội shipper làm đổ dọc đường, đội vận chuyển tự chịu trách nhiệm; còn nếu do hệ thống máy móc trục trặc làm trễ nải đơn hàng, chính bản thân con sẽ trích tiền túi đền bù toàn bộ cho khách và cho sạp. Tuyệt đối không có chuyện đùn đẩy trách nhiệm qua lại làm sứt mẻ uy tín mấy chục năm của Chợ Đèn Lồng!

Điều thứ ba, cũng là điều cốt lõi nhất để bảo đảm trật tự chung: Tuyệt đối không lấn chiếm lối đi nội bộ của chợ! Chúng con đã làm việc và đạt được thỏa thuận nguyên tắc với anh Lộc cùng đội xe ôm tự quản ngoài bến: toàn bộ khâu tiếp nhận thông tin, phân loại hàng hóa và đóng gói thùng xốp sẽ được dời về một điểm gom hàng tập trung duy nhất ở khu vực kho bãi cuối chợ. Tất cả các tài xế giao hàng tuyệt đối không được phép chạy xe máy hay dựng chân chống trong các lối đi xương cá giữa các dãy sạp. Hàng hóa từ các sạp sẽ do đích thân con, bạn Linh và người của đội dùng hai chiếc xe kéo tay cỡ nhỏ chuyển dần về điểm gom theo khung giờ cố định. Toàn bộ các con hẻm, lối đi bộ sẽ được trả lại vẻ phong quang, thông thoáng ban đầu, bảo đảm cho người đi bộ mua sắm thoải mái và tuân thủ nghiêm ngặt mọi phương án an toàn phòng cháy chữa cháy của toàn khu chợ!”

Từng điều khoản vang lên dõng dạc, đanh thép xé toạc bầu không khí oi nồng của buổi chiều muộn. Hân nói xong, cúi gập người một góc chín mươi độ trước bàn chủ tọa rồi đứng thẳng người đón nhận phán quyết.

Cả căn phòng họp lại rơi vào một khoảng im lặng kéo dài đến nghẹt thở. Tiếng trục quạt trần kẽo kẹt rỉ sét bỗng chốc trở nên to rõ một cách bất thường, nghe như nhịp đập của một cỗ máy thời gian đang đếm ngược. Gần ba mươi cặp mắt của những tiểu thương kỳ cựu đều đồng loạt đổ dồn về phía đầu bàn gỗ lim.

Nơi đó, ông Đặng Quốc Vinh vẫn ngồi bất động.

Mái đầu bạc cắt ngắn như thời còn trong quân ngũ của ông khẽ nghiêng sang một bên. Người cựu chiến binh già chậm rãi nhấc chiếc bút máy kim loại lên, cẩn thận cài nắp bút lại phát ra một tiếng “tách” gọn gàng, rồi đặt nó nằm ngay ngắn trên cuốn sổ công văn bìa da đen. Đôi mắt sắc lẹm ẩn sau hàng chân mày rậm màu tro quét qua từng ngóc ngách căn phòng. Ông nhìn sâu vào mắt Hân, dừng lại một giây trước nét mặt bồn chồn lo âu của Quân, lướt qua cái gật đầu kín đáo của cô Ba, sự thấp thỏm của chị Diệp, và cuối cùng, ánh nhìn của ông dừng lại thật lâu nơi khóe mắt trĩu nặng của bà Lành đang ngồi thu mình dưới chân tường.

Bàn tay gân guốc, nổi rõ những vết sẹo chiến tranh của ông Vinh vươn ra, cầm lấy chiếc thước kẻ bằng gỗ lim dày bản đặt cạnh xấp tài liệu.

“Cạch!”

Tiếng thước gõ dứt khoát xuống mặt bàn gỗ vang lên đanh gọn, khô khốc như một phát súng hiệu giữa rừng sâu, đánh tan hoàn toàn sự ngột ngạt đang đè nặng lồng ngực mọi người.

Ông Vinh cất giọng trầm ấm, nhưng từng âm tiết phát ra đều mang theo cái uy lực khó lay chuyển của một người nắm quyền sinh sát cả khu chợ suốt hai thập kỷ qua:

“Tôi đã nghe đủ. Ban điều phối Chợ Đèn Lồng ghi nhận tinh thần trách nhiệm và sự cầu thị của cô Trần Gia Hân. Một người trẻ biết cúi đầu nhận lỗi về sự cố tắc nghẽn giao thông đêm trước, biết chủ động gập cái màn hình máy vi tính lại để nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc, sòng phẳng của người lao động chân tay, người đó mới có đủ tư cách ngồi đây bàn chuyện chấn hưng cái chợ này.”

Ông Vinh chậm rãi đứng dậy. Dáng người ông cao lớn, hai tay chắp ra sau lưng, lưng thẳng tắp như cây tùng trước gió. Ông hắng giọng một tiếng rồi đưa ra phán quyết cuối cùng:

“Căn cứ vào tâm tư, nguyện vọng chính đáng của bà con tiểu thương, đồng thời xét thấy tình hình buôn bán ế ẩm thực tế cần có hướng khai thông mới, Ban điều phối quyết định: Cho phép dự án ‘Chợ Nhà Mình’ được triển khai thí điểm có điều kiện trong vòng đúng bốn tuần lễ — tức là một tháng tròn!”

Một làn sóng xôn xao khẽ rộ lên khắp các dãy bàn. Hân thấy tim mình đập thắt lại một nhịp, hai bàn chân như dán chặt xuống sàn gạch bông cũ kỹ.

“Nhưng hãy nghe cho rõ ba điều kiện thép của tôi,” giọng ông Vinh bỗng đanh lại, ánh mắt sắc như dao cau nhìn thẳng vào nhóm bạn trẻ. “Thứ nhất: Thí điểm giới hạn nghiêm ngặt trong phạm vi đúng sáu sạp tiên phong đã nộp đơn đăng ký chiều nay, tuyệt đối không được tự ý lôi kéo hay mở rộng sang sạp thứ bảy khi chưa có sự chấp thuận bằng văn bản của Ban điều phối. Thứ hai: Tuyệt đối không được để tái diễn bất kỳ tình trạng tụ tập đám đông, cản trở lối đi chung hay câu móc điện đốm bừa bãi vi phạm an toàn phòng cháy chữa cháy. Lối đi dãy ba và trục đường chính xuyên chợ phải luôn luôn phong quang, sạch bóng. Thứ ba: Toàn bộ trách nhiệm pháp lý, nợ nần tài chính hay bù lỗ chi phí vận chuyển, các cô cậu phải tự gánh vác, Ban điều phối tuyệt đối không can thiệp và không đứng ra trả nợ thay cho bất kỳ ai. Và điều quan trọng nhất…”

Ông Vinh vung chiếc thước kẻ lim lên, chỉ thẳng đầu thước vào ngực Hân:

“…Nếu trong vòng một tháng thử nghiệm này, chỉ cần xảy ra một vụ việc gian lận thương mại, tuồn hàng giả hàng nhái, bán khống vượt quá số lượng tồn kho làm khách hàng bức xúc bóc phốt trên mạng, hoặc chỉ cần có một lá đơn khiếu nại của tiểu thương về việc bị chậm trễ, chiếm dụng tiền hàng mà tụi cô không giải quyết thỏa đáng trong ngày, tôi sẽ đích thân ký lệnh đình chỉ dự án ngay lập tức. Tịch thu toàn bộ bảng biển mã QR, và cấm vĩnh viễn mọi hoạt động số hóa buôn bán công nghệ tại khu chợ này. Cô Hân có dám đứng ra chấp nhận không?”

Trước uy thế ngút ngàn của vị cựu chiến binh già, Hân không hề chớp mắt. Cô siết chặt hai nắm đấm bên hông, lồng ngực căng tràn một niềm tin mãnh liệt, đáp lời rành rọt từng chữ:

“Dạ, cháu xin đại diện nhóm chấp nhận toàn bộ các điều kiện nghiêm ngặt của bác và Ban điều phối ạ!”

Lời cam kết vừa buông xuống, bầu không khí trong phòng họp lập tức vỡ òa ra trong sự nhẹ nhõm. Chị Diệp ngồi ở dãy ghế bên kia khẽ thở hắt ra một hơi dài thườn thượt, nheo nheo cặp mắt sắc sảo rồi lẩm bẩm xua xua tay: “Thôi thì… coi như bấm bụng thử nghiệm một tháng coi sao. Để coi tụi nhỏ múa may quay cuồng ra mần răng, nếu không xong là tui đòi lại danh bạ mối ruột liền đó nghen!”

Chú Bảy thợ đan khẽ mỉm cười hiền từ, giơ bàn tay gân guốc lên vỗ nhẹ vào đùi. Thím Sáu bán bánh bèo thì sướng rơn, vỗ hai bàn tay vào nhau cái bốp giòn giã: “Rứa là thông suốt rồi! Chiều mai tui làm thêm mẻ bánh nậm nóng hổi đầu tiên cho tụi bay chụp hình thử nghiệm nghe chưa con Hân!”

Tiểu thương các dãy bắt đầu lục tục đứng dậy, tiếng bàn tán râm ran, tiếng cười nói bắt đầu thay thế cho sự căng thẳng nghẹt thở lúc ban đầu. Tiếng chân ghế gỗ kéo lê sột soạt trên nền gạch bông tạo nên những âm thanh ồn ã quen thuộc của đời sống chợ búa. Mọi người túa ra cửa, ai nấy đều vội vã quay về sạp hàng để dọn dẹp cho buổi chợ chiều tà, vừa đi vừa rôm rả bàn tán về những chiếc mã quét vuông vức lạ lẫm.

Khi gian phòng họp đã vãn gần hết người, bà Lành mới chậm rãi chống tay lên đầu gối đứng lên. Chiếc áo bà ba vải ú màu lam của bà đã sờn chỉ ở nách, tấm lưng hơi còng xuống sau mấy mươi năm gánh vác việc gia đình. Bà không tiến lại gần bàn của con gái, cũng không buông một lời khen ngợi hay động viên nào. Người đàn bà lam lũ ấy chỉ đứng từ xa, gửi về phía Hân một ánh nhìn sâu thẳm, chất chứa biết bao âu lo, dằn vặt nhưng cũng thăm thẳm một niềm tin cậy lặng thầm. Rồi bà khẽ thở dài, đưa tay chỉnh lại chiếc quai nón lá cũ kỹ, đội lên đầu, lặng lẽ bước theo lối cửa ngách phía sau dẫn thẳng về con hẻm nhỏ của quầy tạp hóa An Lành.

Đứng nhìn theo bóng lưng gầy guộc, xiêu vẹo của mẹ khuất dần sau rèm lá hiên chợ, khóe mắt Hân bỗng thấy cay cay. Cô gái trẻ hít một hơi thật sâu để nén giọt nước mắt chực trào. Hân hiểu rất rõ, ải khó khăn nhất trước mặt những bậc bô lão chiều nay xem như đã tạm thời bước qua, nhưng cuộc chiến sinh tử thực sự để giữ lại linh hồn cho Chợ Đèn Lồng giờ đây mới chính thức điểm hồi trống lệnh.

Trong căn phòng họp thênh thang lúc này chỉ còn lại ba người của nhóm dự án và ông Vinh. Ánh hoàng hôn đỏ ối từ phía sông Hoài hắt qua khung cửa sổ chấn song gỗ, rải lên sàn nhà những vệt nắng dài mệt mỏi. Người cựu chiến binh già từ tốn gập mép cuốn sổ công văn lại, cài cẩn thận chiếc bút máy vào túi áo sơ mi bên trái. Ông đưa mắt nhìn lướt qua Hân, Quân và Linh đang đứng tựa vào nhau thở phào nhẹ nhõm bên chiếc máy tính xách tay đã tắt ngóm. Nơi khóe mắt chằng chịt những nếp nhăn thời gian của ông bỗng lướt qua một tia cười kín đáo, hiếm hoi đến mức nếu không nhìn kỹ sẽ chẳng thể nào nhận ra.

Ông Vinh thò bàn tay chai sạn vào chiếc túi áo ngực còn lại, từ từ rút ra một chùm chìa khóa sắt đặc to bản. Những chiếc chìa khóa cũ kỹ đã phủ một lớp rỉ sét màu nâu đỏ, xâu vào một vòng thép gai nặng trịch.

“Cạch!”

Chùm chìa khóa sắt được ông đặt dứt khoát xuống mặt bàn gỗ lim, phát ra một âm thanh khô khốc, vang dội giữa không gian tĩnh mịch của buổi chạng vạng. Ông ngước mắt lên nhìn thẳng vào Hân, giọng nói trầm tĩnh nhưng nghiêm cẩn lạ thường:

“Đây là chìa khóa gian kho cũ cuối chợ, chỗ sát mép vách tường phía bờ kè sông Hoài. Chỗ đó mấy năm ni Ban quản lý chỉ dùng để cất mấy cái bàn ghế gãy với đống bạt rách mục nát. Đúng sáu giờ sáng mai, mấy đứa có mặt ở cổng chợ, tôi dẫn ra nhận gian kho để dọn dẹp làm điểm gom hàng tập trung. Làm cho đàng hoàng, đừng để tôi phải thất vọng.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories