Câu Lạc Bộ Thiên VănCh.20 / 33
Chapter 20

Phản biện tại Trung tâm Khoa học

Hội trường phản biện của Trung tâm Khoa học Đà Nẵng vang vọng tiếng trao đổi chuyên môn sôi nổi dưới ánh đèn chiếu rực rỡ, nơi quy tụ các đề tài xuất sắc nhất thành phố trước thềm vòng thi sơ loại quốc gia.

Mùi điều hòa phả ra thứ không khí mát lạnh hơi khô khốc, hòa lẫn với tiếng vo ve khe khẽ từ dàn máy chiếu công suất lớn đang rọi thẳng luồng quang năng trắng lóa lên phông màn bạc trung tâm. Dưới khán phòng, gần năm mươi học sinh cùng các thầy cô hướng dẫn từ các trường trung học phổ thông trọng điểm ngồi kín các dãy ghế bọc nỉ đỏ sẫm. Những tập hồ sơ chuyên đề đóng gáy xoắn dày cộp nằm ngay ngắn trước mặt mỗi đoàn, xen lẫn tiếng ngòi bút lướt sột soạt ghi chép và những tiếng thì thầm trao đổi ngắt quãng đầy vẻ thận trọng. Ở hàng ghế đầu tiên, cách bục thuyết trình chưa đầy ba mét, là bàn làm việc trải khăn xanh thẫm của hội đồng thẩm định gồm các chuyên gia vật lý thiên văn, kỹ thuật đo lường và phương pháp giáo dục.

Tiến sĩ Đặng Hải Yến ngồi ở vị trí chính giữa. Cây bút bi vỏ kim loại kẹp giữa những ngón tay gầy guộc của cô thỉnh thoảng lại gõ nhịp nhẹ tênh xuống tập hồ sơ dày cộp, gương mặt điềm tĩnh đến mức lạnh lùng không để lộ một nét cảm xúc thừa thãi nào. Đôi mắt sắc sảo sau tròng kính không viền của vị nữ tiến sĩ đã kinh qua hàng chục hội đồng nghiệm thu quốc tế như một máy quét quang phổ thu nhỏ, soi xét từng đồ thị, từng thanh sai số và cả từng độ ngập ngừng trong ánh mắt của người đứng trên bục bảo vệ.

Đỗ Nhật Nam bước lên bục trong tiếng vỗ tay rào rào của cả hội trường.

Đội trưởng của Trường THPT Chuyên Nam Phương khoác trên mình bộ đồng phục vest xanh đen phẳng phiu, cà vạt thắt nút đôi cân xứng hoàn hảo, toát lên phong thái đĩnh đạc của một người đã quen làm chủ các sân khấu học thuật cấp cao. Cậu chỉnh lại micro cổ ngỗng bằng một cử chỉ tự nhiên, không hề liếc nhìn màn hình máy tính bảng cầm tay lấy một lần để tìm kiếm sự an tâm. Nam cất giọng mở đầu bài thuyết minh bằng âm vực trầm ấm, dõng dạc, từng phụ âm bật ra gãy gọn và khúc chiết như một phát thanh viên khoa học kỳ cựu. Phía sau lưng cậu, slide trình chiếu đầu tiên bừng sáng khiến không ít giáo viên vật lý ngồi bên dưới phải khẽ gật gù tán thưởng: một đồ thị phân tích đa biến sắc nét đến từng micromet, ghi lại chuỗi quan trắc quang học đồ sộ của hệ sao biến quang Cepheid trong chòm sao Tiên Vương.

“Kính thưa Hội đồng Thẩm định, thưa quý thầy cô và các bạn đồng môn,” Nam bắt đầu, nhịp điệu giọng nói vừa vặn, chuẩn xác. “Dự án nghiên cứu chu kỳ - độ sáng của hệ sao biến quang Cepheid do Trường THPT Chuyên Nam Phương thực hiện được vận hành dựa trên hệ thống kính thiên văn tổ hợp Schmidt-Cassegrain Celestron tám inch, khẩu độ hai trăm linh ba milimét, tiêu cự hai nghìn linh ba mươi hai milimét. Toàn bộ khối quang học này được lắp đặt trên chân đế GoTo tự động dẫn động hai trục bằng động cơ servo chuẩn công nghiệp, cho phép bù trừ chuyển động tự quay của Trái Đất với độ phân giải góc cực cao.”

Nam khẽ bấm nút chuyển slide trên thiết bị điều khiển từ xa. Màn hình lập tức chuyển đổi sang sơ đồ kỹ thuật chi tiết của buồng cảm biến.

“Hệ thống thu nhận hình ảnh là cảm biến CCD đơn sắc chuyên dụng ZWO ASI294MM Pro, được trang bị cơ cấu làm mát chủ động bằng sò nhiệt điện hai tầng Peltier. Hệ thống này cho phép duy trì nhiệt độ cảm biến ổn định ở mức âm mười lăm độ C so với nhiệt độ môi trường thực địa, nhằm triệt tiêu hoàn toàn dòng tối và nhiễu nhiệt do dao động mạng tinh thể bán dẫn sinh ra. Toàn bộ chuỗi dữ liệu gồm sáu trăm bốn mươi khung ảnh FITS thô được chụp qua bánh xe kính lọc chuẩn trắc quang Johnson-Cousins hệ V và B, với sai số định vị bám nhật động tuyệt đối không vượt quá không phẩy linh tám giây cung trong suốt chuỗi quan sát kéo dài ba tuần.”

Từng biểu đồ trắc quang hiện ra trên màn bạc như những tác phẩm mẫu mực bước ra từ các bài báo khoa học của Viện Hàn lâm. Các điểm đo thực nghiệm nằm thẳng tắp theo đường cong lý thuyết, đi kèm các thanh sai số cực nhỏ được tính toán tinh vi bằng phần mềm phân tích dữ liệu thiên văn chuyên dụng IRAF và MaxIm DL. Từng bước khử ảnh tối chuẩn, chia ảnh trường phẳng, hiệu chỉnh sắc ký khí quyển và ngoại suy thông lượng photon đều được Nam trình bày gãy gọn bằng một thứ ngôn ngữ học thuật chuẩn xác đến mức gần như vô trùng. Khán phòng hoàn toàn bị áp đảo. Không có một khoảng lặng lúng túng, không một từ đệm ngập ngừng, không một động tác thừa. Đó là bài thuyết trình của một cỗ máy học thuật vận hành hoàn hảo, được hậu thuẫn bởi trang thiết bị tiền tỷ, nguồn ngân sách nghiên cứu dồi dào và một nền tảng toán học vượt trội so với chuẩn mực thông thường của lứa tuổi trung học.

Ngồi ở hàng ghế thứ tư, Bảo nghe thấy tiếng nuốt nước bọt khe khẽ của Tùng bên cạnh. Cậu bạn kỹ thuật đang vô thức ôm chặt chiếc ba lô chứa khối nhôm hộp điều khiển vào lòng, các khớp ngón tay trắng bệch vì siết quá mạnh. Dưới ánh sáng phản quang xanh lét hắt ra từ màn chiếu, gương mặt Tùng lấm tấm mồ hôi dù máy lạnh trung tâm đang thổi vù vù từng luồng gió buốt giá. Hoàng Thư ngồi thẳng lưng bên cạnh, ánh mắt đăm đăm nhìn vào từng dòng lệnh xử lý ma trận sai số trên màn hình, cuốn sổ tay bìa cứng đặt trên đùi cô đã bị đầu ngón tay bấm lõm thành một vệt sâu hoắm. Ngay cả Khải, người vốn quen với áp lực nghẹt thở của những pha tranh chấp bóng nảy lửa trên sân cỏ, lúc này cũng ngồi im phăng phắc, đôi mày rậm nhíu chặt lại, hai cánh tay khoanh trước ngực căng cứng như dây đàn.

“Mẫu mực đến đáng sợ,” Khải lẩm bẩm bên tai Bảo, âm lượng ghìm xuống mức thấp nhất có thể. “Nhìn cái kính Celestron của bọn nó trên hình chiếu kìa. Trông bóng bẩy, cơ khí chuẩn xác cứ như đại bác tầm nhiệt dẫn đường bằng laser... so với cái ống tôn gò nhà mình, đúng là một trời một vực.”

“Thiết bị đắt tiền không phải là tất cả,” Mai Anh khẽ thì thầm đáp lại, giọng nhỏ nhẹ cố giữ vẻ bình thản, nhưng bàn tay cô đang đặt lên tập Cẩm nang ngắm sao bọc bìa mica trong suốt vẫn vô thức run run trên mặt vải quần đồng phục.

Bảo hít sâu một hơi. Lồng ngực cậu nhói lên một nhịp quen thuộc—cái cảm giác nghẹt thở mỗi khi đứng trước những bài kiểm tra hoàn hảo không một tì vết của anh trai Minh Quân ngày trước, cái cảm giác bị một tượng đài chuẩn mực đè bẹp ngay từ trước khi kịp bước ra vạch xuất phát. Nhưng lần này, Bảo không cúi đầu né tránh ánh mắt của những người xung quanh. Cậu đưa tay chạm nhẹ vào tập cẩm nang của Mai Anh, rồi liếc nhìn sang mép hộp kim loại thô ráp đang nhô ra khỏi miệng ba lô trong tay Tùng. Đội của cậu không có kính Schmidt-Cassegrain tám inch trị giá hàng trăm triệu, không có cảm biến làm mát âm mười lăm độ, không có những căn phòng lab gắn máy điều hòa vô trùng. Nhưng họ có những đêm cắn răng chịu gió buốt rát mặt trên triền đá Bãi Bắc, có vết muội than cháy xém trên bo mạch hàn tay lúc ba giờ sáng, có vị mặn mòi của sương muối ven biển thấm đẫm vào từng trang nhật ký quan trắc. Họ có một thứ khoa học nhọc nhằn, lấm lem bụi đất nhưng chứa đầy sự sống.

“Xin cảm ơn phần trình bày của Trường Chuyên Nam Phương,” tiếng Tiến sĩ Đặng Hải Yến vang lên qua hệ thống micro trung tâm, cắt đứt dòng suy nghĩ miên man của Bảo.

Vị nữ giám khảo cúi đầu ghi vài dòng ngắn gọn vào phiếu đánh giá đặt trên kẹp tài liệu kim loại. Bà không đưa ra những lời khen ngợi hoa mỹ, chỉ nhận xét với một sự tiết chế chuyên nghiệp: “Hồ sơ dữ liệu rất dày dặn, xử lý chuẩn quy trình thực nghiệm quốc tế. Mời đội tiếp theo bước lên bục bảo vệ: Câu lạc bộ Thiên văn Trường THPT Hải Vân.”

Thư khẽ thở hắt ra một hơi dài nhằm giải tỏa áp lực đè nặng trong lồng ngực. Cô quay sang nhìn bốn người còn lại, ánh mắt sắc sảo và kiên nghị: “Đến lượt chúng ta rồi. Nhớ lấy những gì chúng ta đã thống nhất ở quán Cô Hạnh. Ai làm việc nấy. Bình tĩnh, tuyệt đối không được rối.”

Bảo đứng dậy đầu tiên, nhận chiếc bút điều khiển trình chiếu từ tay Thư. Cậu vuốt lại mép áo sơ mi trắng, bước nhanh lên bậc tam cấp dẫn lên bục diễn thuyết gỗ bóng loáng. Dưới ánh đèn rọi chói chang tỏa nhiệt ấm nóng, cả hội trường gần năm mươi con người đang đồng loạt hướng mắt nhìn về phía cậu. Có những ánh mắt tò mò dõi theo một ngôi trường vốn không có thế mạnh về các môn chuyên tự nhiên, có những cái nhìn hoài nghi lộ liễu từ các thầy cô trường bạn, và từ dãy ghế đầu của Đội Chuyên Nam Phương, Đỗ Nhật Nam đang khoanh tay ngồi tựa lưng vào nệm ghế, chăm chú quan sát đối thủ bằng ánh nhìn tĩnh lặng, thăm dò.

Bảo cắm đầu thu USB vào cổng kết nối máy tính trung tâm. Màn hình lớn lập tức chuyển sang giao diện mở đầu của Trường Hải Vân. Đó không phải là một chuỗi thuật toán giải tích phức tạp hay bức ảnh chụp thiên hà xa xôi rực rỡ sắc màu được tải về từ kính viễn vọng không gian Hubble. Hiện lên giữa phông nền trắng tinh khôi là bức ký họa bằng nét mực đen mộc mạc nhưng giàu sức biểu cảm do chính tay Mai Anh vẽ: hình ảnh chiếc kính thiên văn phản xạ Newton tự chế đặt chênh vênh bên bờ đá Sơn Trà, vươn chiếc nòng kim loại mộc mạc hướng thẳng về phía chòm sao Anh Tiên trên nền trời đêm đầy sao lấp lánh.

“Kính thưa Hội đồng Giám khảo và toàn thể các bạn học sinh,” Bảo cất giọng.

Ban đầu, âm thanh phát ra từ loa thùng hơi run rẩy và khô khốc vì luồng gió máy lạnh thốc thẳng vào yết hầu, nhưng ngay khi ánh mắt cậu chạm phải cái gật đầu khích lệ đầy kiên định của cô Vũ Thanh Hà ở góc phòng, Bảo lấy lại được nhịp thở tự nhiên của mình. Phong cách sôi nổi, hoạt bát vốn có của một người kể chuyện giàu nhiệt huyết dần trở lại trong từng cử chỉ tay, từng nhịp điệu câu chữ.

“Nếu dự án của Trường Chuyên Nam Phương đưa chúng ta đến với sự vĩ đại và xa xôi của các thiên hà bằng những trang thiết bị tối tân hàng đầu, thì dự án của Câu lạc bộ Thiên văn Hải Vân lại bắt đầu từ một câu hỏi thực tế, khiêm nhường và gần gũi hơn rất nhiều: Làm thế nào một nhóm học sinh với kinh phí hạn hẹp, chỉ sở hữu một chiếc kính phản xạ cơ học tự chế đã cũ kỹ, lại có thể tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học thực thụ ngay tại vùng khí hậu duyên hải khắc nghiệt của miền Trung?”

Cả khán phòng bỗng trở nên yên ắng lạ thường. Lối mở đầu phi truyền thống, đậm chất tự sự của Bảo lập tức phá tan bầu không khí khô khan, nặng nề đang bao trùm hội trường suốt hai tiếng đồng hồ vừa qua. Cậu bấm nút chuyển slide, tự tin dẫn dắt người nghe vào câu chuyện về hệ sao đôi che khuất Algol—ngôi sao mang biệt danh ‘ngôi sao quỷ’ đầy bí ẩn trong chòm sao Anh Tiên.

“Để vượt qua rào cản ô nhiễm ánh sáng đô thị thuộc cấp độ Bortle sáu tại nội thành Đà Nẵng và độ ẩm không khí thường xuyên vượt ngưỡng tám mươi phần trăm tại các trạm quan sát ven biển, chúng em không lựa chọn con đường chụp ảnh phơi sáng sâu nghệ thuật. Thay vào đó, nhóm tập trung toàn bộ nguồn lực vào phương pháp trắc quang vi sai,” Bảo vung nhẹ tay, giọng điệu đầy hào hứng và cuốn hút. Cậu bắt đầu phân tích về việc so sánh độ sáng tương đối giữa Algol với hai ngôi sao chuẩn so sánh là Gamma Persei và Rho Persei nằm ngay trong cùng một trường nhìn một phẩy năm độ.

Mọi chuyện đang diễn ra vô cùng suôn sẻ, đúng như kịch bản tập dượt kỹ lưỡng tại phòng thiết bị trường Hải Vân. Ánh mắt của một vài thầy cô trong hội đồng thẩm định bắt đầu ánh lên vẻ thích thú trước cách diễn đạt giàu tính liên tưởng và khả năng làm chủ sân khấu tự nhiên của cậu học trò lớp mười.

Nhưng chính sự hưng phấn đang dâng trào cuồn cuộn trong huyết quản đã đẩy Bảo bước qua lằn ranh nguy hiểm của sự chủ quan.

Khi chuyển sang phần giải thích cơ sở vật lý của độ sáng biểu kiến và cách thức các nhà thiên văn học xác định khoảng cách cùng độ sáng thực của thiên thể trong không gian ba chiều, Bảo muốn bài thuyết minh của mình trở nên thật sống động, thật dễ hiểu cho những bạn học sinh không chuyên đang ngồi phía dưới. Cậu muốn chứng minh rằng thiên văn học không phải là một tòa tháp ngà xa rời thực tế. Cậu nhìn thẳng xuống khán phòng, nở một nụ cười tươi tắn và nói bằng tất cả sự tự tin bồng bột:

“Nhiều người trong chúng ta thường nghĩ rằng độ sáng biểu kiến của một ngôi sao trên bầu trời là một đại lượng vô cùng phức tạp, đòi hỏi những phương trình cao siêu mới có thể nắm bắt. Nhưng thực ra, chúng ta hoàn toàn có thể hình dung nó giống hệt như ánh đèn của một chiếc xe máy đang chạy trong đêm tối trên đèo Hải Vân vậy. Nếu một chiếc xe máy chạy lùi ra xa chúng ta gấp đôi khoảng cách ban đầu, thì mắt chúng ta sẽ thấy ánh sáng của nó tối đi đúng một nửa. Tương tự như vậy, nếu khoảng cách tăng lên ba lần, độ sáng chỉ còn lại một phần ba. Đó chính là mối liên hệ tuyến tính đơn giản giữa khoảng cách và độ sáng mà bất kỳ ai cầm một chiếc ống nhòm ngắm sao nghiệp dư cũng có thể cảm nhận được bằng trực giác!”

Lời vừa dứt, một tiếng “tách” khô khốc vang lên qua hệ thống khuếch đại âm thanh của hội trường.

Tiến sĩ Đặng Hải Yến đã nhấn nút bật công tắc micro trên bàn chủ tọa. Cô đặt mạnh cây bút kim loại xuống mặt bàn kính cường lực, tạo ra một âm thanh đanh gọn, sắc lạnh khiến cả hội trường lập tức nín bặt. Những tiếng xì xào dưới khán phòng tắt ngấm trong tích tắc. Nụ cười trên môi Bảo cứng đờ lại giữa chừng, cánh tay đang giơ lên diễn giải khựng lại trong không trung.

“Dừng lại ở đó, Lý Gia Bảo,” giọng Tiến sĩ Yến không hề gắt gỏng hay lên gân, nhưng sắc lạnh như một nhát dao phẫu thuật cắt ngang qua bầu không khí đang ấm lên của khán phòng. “Em vừa nói cái gì? Khoảng cách tăng gấp đôi thì độ sáng biểu kiến thu nhận được giảm đi một nửa?”

Bảo chớp mắt liên hồi, tim đập thình thịch lên tận cuống họng, hơi thở nghẹn lại nơi lồng ngực. Cậu nhìn thấy ánh mắt nghiêm khắc, lạnh lùng của vị tiến sĩ đang nhìn xoáy thẳng vào mình qua gọng kính không viền. “Dạ... ý em là... để cho các bạn khán giả dễ hình dung về sự suy giảm của quang năng...”

“Tôi không hỏi về ý muốn chủ quan hay thiện chí diễn giải của em!” Tiến sĩ Yến nghiêm khắc ngắt lời, sự điềm tĩnh thường ngày nhường chỗ cho vẻ uy nghiêm tuyệt đối của một nhà khoa học chân chính đang đối diện với một sự sai lệch học thuật. “Tôi đang hỏi về bản chất vật lý học của hiện tượng mà em vừa phát ngôn một cách dõng dạc trước toàn thể hội đồng và các học sinh ở đây. Khoa học tự nhiên không vận hành bằng những phép tương tự cảm tính, suy diễn bừa bãi và vô căn cứ! Em đang làm công tác truyền thông khoa học hay em đang bóp méo, hạ thấp những định luật vật lý cơ bản nhất của vũ trụ?”

Không khí trong hội trường đông cứng lại như thể nhiệt độ vừa tụt xuống dưới độ không tuyệt đối. Bảo đứng chôn chân trên bục gỗ, hai bên mang tai nóng bừng như bị lửa táp, máu dồn lên mặt đỏ gay gắt. Cậu cảm thấy mặt sàn dưới chân như đang sụt lún, từng ánh mắt dưới khán phòng giờ đây như những mũi kim châm thẳng vào da thịt. Cảm giác bất lực, xấu hổ và tội lỗi tràn ngập trong tâm trí—cậu đã làm hỏng tất cả. Cậu đã kéo sụp toàn bộ công sức chuẩn bị ròng rã suốt mấy tuần qua của cả nhóm chỉ vì sự bốc đồng, tự phụ, muốn biến mọi thứ trở nên ‘dễ hiểu’ một cách rẻ rúng.

“Hoàng Thư! Trần Minh Tùng!” Tiến sĩ Yến không để Bảo có cơ hội lúng túng thanh minh, cô hướng ánh mắt nghiêm nghị thẳng về phía dãy ghế của Trường Hải Vân. “Hai em bước lên đây. Lên bảng ghim ngay lập tức!”

Thư khẽ giật mình trước tiếng gọi bất ngờ, nhưng bản lĩnh của một học sinh chuyên toán cùng phản xạ chỉ huy đã kéo cô trở lại thực tại trong chớp mắt. Cô đứng bật dậy. Tùng bên cạnh hơi co rúm người lại vì nỗi sợ đám đông cố hữu, hai chân run rẩy không đứng vững, nhưng Khải đã kịp vươn bàn tay rắn rỏi huých mạnh vào vai cậu bạn: “Đi đi Tùng! Có Thư ở đó, bình tĩnh lại, lôi kiến thức mạch điện của ông ra mà nói, đừng sợ!”

Hai người bước nhanh lên bục diễn thuyết. Thư cầm lấy viên phấn trắng đặt cạnh bảng ghim phụ của hội trường. Ánh mắt cô không hề nhìn sang Bảo đang cúi gầm mặt xấu hổ cách đó hai bước chân, mà tập trung toàn bộ năng lượng vào những gì mình phải làm để cứu vãn danh dự và số phận của đề tài.

“Hoàng Thư, viết lại công thức xác định thông lượng ánh sáng theo định luật nghịch đảo bình phương,” Tiến sĩ Yến ra lệnh, từng lời rành rọt vang khắp các góc phòng. “Và Tùng, em hãy giải thích bằng ngôn ngữ của toán học và quang học thuần túy, tại sao đồng đội của em vừa phạm phải một sai lầm chết người trong vật lý thiên văn.”

Bàn tay Thư không hề run rẩy. Cô đặt mạnh đầu viên phấn lên mặt bảng nỉ màu xanh đậm, những nét chữ và ký hiệu toán học dứt khoát, nắn nót lập tức hiện ra dưới ánh đèn rọi:

$$F = \frac{L}{4\pi d^2}$$

Không dừng lại ở đó, bên cạnh công thức phân bố năng lượng cầu, Thư nhanh chóng viết tiếp hệ thức Pogson liên hệ giữa cấp sao biểu kiến và tỷ số thông lượng photon:

$$m_1 - m_2 = -2.5 \log_{10}\left(\frac{F_1}{F_2}\right)$$

Tiếng phấn miết ràn rạt, khô khốc trên mặt bảng là âm thanh duy nhất phá vỡ sự im lặng ngột ngạt của cả hội trường. Từng nét gạch ngang của phân số, từng chỉ số dưới đều được Thư nén chặt sự tập trung cao độ, chuẩn xác như một bản in thạch bản. Khi Thư hoàn thành nét viết cuối cùng và lùi lại một bước, Tùng run rẩy cầm lấy chiếc micro dự phòng được nhân viên kỹ thuật đưa tới.

Cậu bạn lắp bắp ở hai từ đầu tiên, hơi thở đứt quãng: “Dạ... thưa... thưa cô và hội đồng thẩm định...”

Thế nhưng, khi ánh mắt Tùng chạm vào các ký hiệu toán học quen thuộc do Thư vừa viết trên bảng, nỗi sợ hãi trước hàng chục ánh mắt người lạ trong cậu dần nhường chỗ cho phản xạ tự nhiên của một người làm kỹ thuật cơ điện tử—nơi mọi thông số đều phải được định lượng bằng hình học và giải tích:

“Dạ... bạn Bảo đã nhầm lẫn nghiêm trọng về bản chất hình học của sự lan truyền bức xạ điện từ trong không gian ba chiều. Ánh sáng phát ra từ một nguồn điểm đẳng hướng, như bề mặt của một ngôi sao, lan truyền đồng đều theo mọi hướng trong vũ trụ, tạo thành một mặt cầu sóng có diện tích tỷ lệ thuận với bình phương bán kính lan truyền, tức là diện tích mặt cầu $S$ bằng bốn pi nhân với bán kính $d$ bình phương. Do đó, mật độ thông lượng photon $F$ đi xuyên qua một đơn vị diện tích thu sáng—chẳng hạn như khẩu độ của gương phản xạ hoặc diện tích con ngươi mắt người—phải tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách, chứ tuyệt đối không thể là mối quan hệ tỷ lệ bậc nhất.”

Tùng hít một hơi sâu, sự tự tin cơ khí bắt đầu chiếm trọn giọng nói của cậu:

“Điều này có nghĩa là, nếu một ngôi sao hay một nguồn sáng di chuyển ra xa gấp đôi khoảng cách ban đầu, thông lượng photon rơi vào diện tích thu nhận sẽ giảm đi bốn lần, chứ không phải hai lần! Nếu khoảng cách tăng lên ba lần, độ sáng thu được sẽ giảm đi chín lần theo hàm mũ hai. Việc coi mối quan hệ này là tuyến tính như bạn Bảo vừa trình bày sẽ dẫn đến sai số mang tính cấp số nhân khi tính toán độ sáng tuyệt đối, sai lệch hoàn toàn khi tính môđun khoảng cách, và sẽ phá hủy toàn bộ cơ sở mô hình hóa đường cong ánh sáng của hệ sao đôi Algol.”

Tùng dứt lời, cả hội trường vẫn chìm trong im lặng tuyệt đối. Nhưng lần này, không còn là sự ngột ngạt của một vụ tai nạn học thuật, mà là sự im lặng đầy khâm phục trước phản xạ lý thuyết và khả năng hiệu chỉnh sắc bén, tức thì của hai thành viên đội Hải Vân.

Tiến sĩ Đặng Hải Yến thở dài một hơi nhẹ, đôi mắt nghiêm nghị lướt qua ba học sinh đang đứng trên bục, rồi dừng lại thật lâu trên gương mặt tái nhợt, ướt đẫm mồ hôi của Bảo:

“Các em đã thấy ranh giới giữa việc ‘đơn giản hóa cho đại chúng’ và việc ‘bóp méo chân lý khoa học’ mỏng manh đến mức nguy hiểm như thế nào chưa?” Tiến sĩ Yến nói chậm rãi, giọng cô không còn gay gắt nhưng chứa đựng sức nặng ngàn cân của một bài học nghề nghiệp xương máu. “Truyền thông khoa học là một sứ mệnh cao quý, đòi hỏi tài năng diễn đạt, nhưng nó đòi hỏi một sự khiêm nhường và cẩn trọng tột cùng trước tri thức tự nhiên. Một khi em vì muốn câu chuyện của mình nghe có vẻ hấp dẫn, dễ dãi, xuôi tai mà sẵn sàng gọt giũa, bẻ cong các quy luật vật lý nền tảng, thì đó không còn là giáo dục hay phổ biến khoa học nữa. Đó là sự ngụy biện và cẩu thả học thuật! Tôi trừ nặng điểm phần kiến thức lý thuyết nền tảng của người thuyết trình chính.”

Lời phán quyết của vị tiến sĩ như một khối đá tảng giáng thẳng xuống ngực Bảo. Cậu cắn chặt môi dưới đến rướm máu, hai bàn tay buông thõng siết chặt lại, cúi đầu lí nhí vào micro: “Em... em xin lỗi cô và hội đồng. Em xin hoàn toàn nhận khuyết điểm nghiêm trọng này ạ.”

Thư khẽ liếc nhìn Bảo, trong ánh mắt cô không có sự trách móc mà chỉ có sự tỉnh táo phi thường của một người chỉ huy không cho phép chiến thuyền bị chìm giữa cơn giông bão. Cô bước lên một bước, đĩnh đạc tiếp nhận micro từ tay Bảo:

“Thưa cô và Hội đồng Giám khảo, với tư cách là chủ nhiệm câu lạc bộ và người phụ trách nội dung chuyên môn, em xin nhận trách nhiệm cao nhất vì đã không kiểm duyệt chặt chẽ từng câu chữ ví von trong kịch bản thuyết minh mở đầu của bạn Bảo. Tuy nhiên, toàn bộ dữ liệu đo đạc thực nghiệm và giải pháp kỹ thuật của dự án hoàn toàn được xây dựng trên nền tảng của định luật nghịch đảo bình phương và hệ thức Pogson. Chúng em xin phép được trình bày phần sản phẩm thực nghiệm và giải pháp ứng dụng cộng đồng của dự án.”

Tiến sĩ Đặng Hải Yến gật đầu nhẹ, nét mặt thoáng giãn ra một chút: “Cho phép tiếp tục. Hãy cho chúng tôi thấy các em đã làm được những gì ngoài những lời diễn giải cảm tính ban đầu.”

Đó là khoảnh khắc mà sự gắn kết của năm thành viên Hải Vân phát huy toàn bộ sức mạnh tự vệ của một tập thể đã cùng nhau vượt qua bao đêm lạnh giá trên đỉnh núi.

Không để sự cố lý thuyết kéo sụp tinh thần chiến đấu, Khải lập tức từ hàng ghế khán giả bước nhanh lên bục. Bằng đôi tay rắn chắc quen nâng vác thiết bị nặng, cậu bê theo mô hình chân đế xích đạo gắn cụm cơ cấu bám trời tự chế đặt trang trọng lên bàn trưng bày bên cạnh máy chiếu. Cùng lúc đó, Mai Anh cầm tập Cẩm nang ngắm sao trực quan khổ A4 dày dặn, bước lên phía trước và trao tận tay từng bản in màu cho năm vị giám khảo trong hội đồng thẩm định.

“Thưa các thầy cô trong hội đồng,” Mai Anh cất tiếng, giọng cô trong trẻo nhưng đầy đặn và vững vàng, lập tức xóa tan hoàn toàn dư âm căng thẳng nặng nề vừa rồi. “Để bù đắp cho những hạn chế không thể tránh khỏi về mặt quang học cơ bản và giúp học sinh phổ thông có thể tiếp cận được phương pháp trắc quang vi sai mà không bị choáng ngợp trước những ma trận sai số phức tạp, chúng em đã dành hơn một tháng để xây dựng tập Cẩm nang ngắm sao trực quan này.”

Tiến sĩ Yến mở tập tài liệu trên bàn. Ngay lập tức, ánh mắt của bà và hai chuyên gia thẩm định ngồi bên cạnh bị hút chặt vào những trang giấy in màu sắc nét, chỉn chu đến từng chi tiết nhỏ.

Đó không phải là những bức tranh minh họa trang trí vô thưởng vô phạt hay những hình vẽ hoạt họa hời hợt. Từng trang cẩm nang là sự kết hợp chuẩn xác đến kinh ngạc giữa mỹ thuật đồ họa và cấu trúc quang hình học. Sơ đồ hệ sao đôi Algol được Mai Anh biểu diễn thành một mô hình hình học vô cùng thanh lịch: hai ngôi sao chuyển động quanh khối tâm chung được nhân cách hóa thành hai vũ công nhịp nhàng lướt qua nhau trên quỹ đạo elip. Mặt cắt hình học của từng pha che khuất chính—khi ngôi sao phụ mờ hơn đi qua phía trước ngôi sao chính sáng hơn—và pha che khuất phụ được gióng thẳng hàng tuyệt đối với từng điểm rơi thực nghiệm trên hệ tọa độ Descartes của đường cong ánh sáng. Người xem chỉ cần lướt mắt qua là hiểu ngay tại sao thông lượng ánh sáng lại sụt giảm theo một hình chữ U đáy rộng từ cấp hai phẩy một xuống cấp ba phẩy bốn.

Đặc biệt, ở trang mười lăm của cuốn cẩm nang, Mai Anh trình bày một chuyên đề nhỏ: quy trình xử lý lỗi thuật toán đo tâm centroid ở khung ảnh FITS số năm mươi tư bằng kỹ thuật thang xám đảo ngược phóng to bốn trăm phần trăm. Bằng việc so sánh trực quan giữa ảnh gốc bị nhiễu do một ngôi sao mờ ở hậu cảnh xen vào và ảnh sau khi đã thực hiện thao tác tách khẩu độ trắc quang thủ công với bán kính năm pixel, cẩm nang đã biến một khái niệm trắc quang vi sai cực kỳ trừu tượng thành một quy trình thao tác thị giác rõ ràng, trực quan như một bài hướng dẫn thực hành mỹ thuật đồ họa.

“Tập tài liệu hướng dẫn này...” Một chuyên gia thẩm định thuộc Viện Vật lý, người nãy giờ vẫn im lặng gõ máy tính xách tay với vẻ mặt khó tính, bất ngờ ngẩng đầu lên, ánh mắt lấp lánh sự kinh ngạc chân thành. “Toàn bộ đồ họa vector, sơ đồ phân tích quang học và cách xử lý lỗi hình ảnh này đều do học sinh lớp mười tự tay thiết kế?”

“Dạ vâng, hoàn toàn do bạn Mai Anh thiết kế và xây dựng dựa trên chính chuỗi một trăm hai mươi tệp dữ liệu FITS thực tế mà chúng em thu được trong đêm quan trắc tại Bãi Bắc,” Thư tự hào đáp lời, ánh mắt cô ánh lên niềm tin tưởng tuyệt đối vào người bạn đồng hành của mình.

Cùng lúc đó, Tùng tiến lại gần chiếc chân kính tự chế, hít một hơi sâu rồi bật công tắc nguồn điện mười hai vôn gắn bên hông. Chiếc hộp nhôm kín khí màu bạc phát ra một tiếng bíp ngắn trong trẻo. Màn hình tinh thể lỏng LCD mini gắn chìm trên thân hộp sáng bừng ánh đèn nền xanh lục, hiển thị các thông số vận hành theo thời gian thực: nhiệt độ bên trong khoang máy là hai mươi tám độ C và độ ẩm được duy trì ổn định ở mức bốn mươi lăm phần trăm.

“Thưa hội đồng,” Tùng bắt đầu trình bày, lần này giọng cậu hoàn toàn đĩnh đạc, trôi chảy khi được nói về chính đứa con tinh thần của mình. “Đây là hệ thống bám nhật động giá rẻ do câu lạc bộ tự nghiên cứu và chế tạo hoàn toàn từ các linh kiện cơ điện tử tái chế thu thập tại các tiệm phế liệu và xưởng tiện cơ khí Đà Nẵng. Cụm động cơ bước NEMA-17 được điều khiển bằng vi điều khiển vi bước một phần mười sáu, kết hợp với hộp giảm tốc trục vít - bánh vít tự gia công có tỉ số truyền một trên một trăm. Điểm mấu chốt để hệ thống này có thể hoạt động ổn định trong môi trường sương muối và độ ẩm bão hòa ven biển trên bán đảo Sơn Trà chính là cấu trúc bảo vệ đạt chuẩn IP65: vỏ nhôm phay kín khí, ron cao su quét keo silicone tàu biển, và một thanh điện trở nhiệt năm oát tự động kích hoạt để sưởi ấm khoang máy cao hơn môi trường ba độ C, ngăn chặn hoàn toàn hiện tượng ngưng tụ hơi ẩm trên các vi mạch điều khiển. Tổng chi phí gia công toàn bộ cơ cấu bám nhật động này chưa đến bốn trăm năm mươi nghìn đồng.”

Một làn sóng xì xào ngạc nhiên nổi lên khắp khán phòng. Một số giáo viên phụ trách các đội thi khác bắt đầu rướn người hẳn lên phía trước để nhìn rõ hơn cụm bánh răng trục vít tí hon đang quay êm ru, gần như không phát ra bất kỳ một tiếng rung động cơ học nào.

“Bốn trăm năm mươi nghìn đồng?” Tiến sĩ Đặng Hải Yến ngước nhìn lên, ngón tay bà lướt nhẹ qua lớp sơn cách điện ba lớp trên bề mặt bo mạch mà Tùng đã cẩn thận chừa một ô kính mica trong suốt để ban giám khảo có thể trực tiếp quan sát cấu trúc bên trong. “Và độ trôi dạt điểm ảnh thực tế các em giữ được là bao nhiêu?”

“Dạ, độ trôi dạt giữ được dưới không phẩy hai lăm pixel trong suốt hai tiếng phơi sáng liên tục,” Khải lập tức lên tiếng hỗ trợ bằng chất giọng vang, trầm ấm. Cậu giơ cao cuốn sổ nhật ký thực địa dày cộp, bìa bọc nylon chống thấm nước cẩn thận. “Dữ liệu kiểm chứng độ trôi dạt này đã được chúng em đo đạc và đối chiếu trực tiếp với nhật ký vi khí hậu ghi chép mười lăm phút một lần trong đêm thực địa ngày mười chín tháng Mười Hai tại trạm khí tượng cũ trên đỉnh Sơn Trà. Ngay cả khi độ ẩm môi trường bên ngoài chạm ngưỡng bảy mươi lăm phần trăm và gió giật cấp bốn, cơ cấu sưởi nhiệt và ổn định góc của Tùng vẫn bảo vệ an toàn tuyệt đối cho toàn bộ hệ thống điều khiển xung, không xảy ra hiện tượng mất bước.”

Sự kết hợp ăn ý, nhịp nhàng, bổ trợ hoàn hảo và đầy tính thực tiễn của bốn thành viên Hải Vân đã tạo nên một cú lội ngược dòng ngoạn mục, làm thay đổi hoàn toàn cục diện của buổi phản biện. Ban giám khảo chuyền tay nhau cuốn cẩm nang của Mai Anh, gật gù thảo luận sôi nổi bên cạnh mô hình chân đế cơ điện tử của Tùng. Những cái nhíu mày khó tính ban đầu đã biến mất, nhường chỗ cho sự trân trọng chân thành đối với những nỗ lực tự thân của nhóm học sinh.

“Một giải pháp cực kỳ thông minh và có tính thực tiễn rất cao,” vị chuyên gia của Viện Vật lý mỉm cười rạng rỡ, ngón tay ông gõ nhẹ lên trang bìa tập cẩm nang. “Các trường học ở vùng ven hay các tỉnh miền Trung nhiều khó khăn làm sao có đủ nguồn kinh phí hàng trăm triệu đồng để trang bị kính viễn vọng Celestron hay máy ảnh làm mát sâu như Trường Chuyên Nam Phương? Nhưng với một cuốn cẩm nang trực quan hóa phương pháp như thế này, và một mô hình cơ cấu bám trời chỉ có giá vài trăm nghìn đồng của các em, bất kỳ một trường cấp ba bình thường nào cũng có thể thành lập một câu lạc bộ thiên văn và thực hiện các phép đo trắc quang có giá trị khoa học thực sự. Đây mới chính là giá trị giáo dục cộng đồng cốt lõi mà phong trào nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong học sinh luôn tìm kiếm!”

Đứng nép mình bên cạnh bục thuyết trình, Bảo lặng lẽ quan sát các đồng đội của mình đang tự tin, đĩnh đạc trả lời từng câu hỏi chất vấn sâu về mặt kỹ thuật của hội đồng. Cậu cảm thấy một vị cay đắng nhẹ nơi khóe mắt, nhưng sâu thẳm trong lồng ngực lại là một niềm tự hào khôn xiết đang dâng trào. Đội của cậu không sụp đổ. Cậu đã vấp ngã ê chề ở phần lý thuyết do sự nông nổi của chính mình, nhưng chính bản sắc thực tiễn, sự bền bỉ không bỏ cuộc và tài năng độc lập của từng thành viên đã nâng cả tập thể đứng vững trước hội đồng thẩm định khắt khe nhất thành phố.

***

Khi hiệu lệnh tạm nghỉ giải lao ba mươi phút vang lên qua hệ thống loa phát thanh, hội trường lập tức vỡ òa trong tiếng trò chuyện, bàn tán ồn ào. Nhiều học sinh và giáo viên hướng dẫn từ các trường bạn bắt đầu vây quanh bàn trưng bày của Trường Hải Vân để tận mắt chạm tay vào mô hình hộp nhôm phay của Tùng và lật giở từng trang cẩm nang in màu của Mai Anh. Tùng, Thư và Khải nhanh chóng bị cuốn vào vòng vây của những câu hỏi chuyên môn dồn dập từ phía người xem.

Bảo lẳng lặng bước lùi ra phía sau rèm nhung đỏ, men theo hành lang vắng lặng dẫn ra khu vực ban công tầng hai của Trung tâm Khoa học.

Gió từ dòng sông Hàn thổi lồng lộng qua hàng lan can đá hoa cương, mang theo hơi nước mát rượi làm dịu đi cảm giác bỏng rát đang thiêu đốt trên hai gò má cậu. Bảo tựa lưng vào bức tường đá cẩm thạch mát lạnh, nhìn xuống mặt nước sông đang lấp loáng ánh nắng ban trưa rực rỡ của thành phố. Lời khiển trách đanh thép của Tiến sĩ Đặng Hải Yến vẫn còn văng vẳng bên tai cậu như một hồi chuông cảnh tỉnh: *“Ranh giới giữa việc đơn giản hóa cho đại chúng và bóp méo chân lý khoa học mỏng manh đến mức nguy hiểm...”*

Bảo siết chặt hai bàn tay lại, các đầu ngón tay bấm mạnh vào lòng bàn tay. Cậu nhận ra mình đã suýt chút nữa biến niềm đam mê thiên văn học thuần khiết thành một thứ trình diễn nông cạn, hoa mỹ và rỗng tuếch. Muốn trở thành một người truyền cảm hứng khoa học thực thụ, nhiệt huyết và khiếu ăn nói thôi chưa bao giờ là đủ; cậu cần một nền tảng tri thức vững chãi, một sự khiêm nhường sâu sắc và một sự cẩn trọng tuyệt đối trước sự thật khách quan của tự nhiên.

“Bị cô Yến ‘sạc’ cho một trận tơi bời nên phải trốn ra đây hóng gió một mình à?”

Một giọng nói điềm tĩnh, quen thuộc vang lên từ phía sau lưng. Bảo giật mình quay lại. Đỗ Nhật Nam đang bước tới, hai tay đút hờ vào túi quần vest đen, trên môi nở một nụ cười nhạt nhưng ánh mắt hoàn toàn không hề có vẻ chế giễu hay đắc thắng.

Bảo khẽ cười trừ, đưa tay lên gãi đầu trong sự ngượng ngùng: “Ừ... xấu hổ thật đấy. Tớ nói bậy một câu thiếu suy nghĩ làm cả đội bị trừ điểm oan mạng.”

Nam bước đến bên cạnh lan can, chống hai tay lên thanh sắt lạnh ngắt, phóng tầm mắt nhìn xa xăm về phía nhịp uốn lượn màu vàng của cầu Rồng: “Cô Yến nổi tiếng là ‘sát thủ lý thuyết’ ở tất cả các hội đồng thẩm định cấp quốc gia nhiều năm nay rồi. Hồi năm lớp mười, khi mới bước chân vào đội tuyển nghiên cứu khoa học, tớ cũng từng bị cô gạch thẳng tay một đề tài quang học vì nhầm lẫn tai hại giữa quang sai cầu và hiện tượng tán sắc qua hệ thấu kính tiêu sắc. Nhưng cô mắng đúng đấy. Đã dính đến khoa học chính xác thì sai một ly là đi một dặm, nhất là khi cậu lại là người cầm micro dẫn dắt nhận thức của cả một hội trường.”

Bảo ngạc nhiên nhìn đối thủ lớn nhất của mình. Cậu thực sự không ngờ một người luôn kiêu hãnh, xuất sắc và đứng ở đỉnh cao học thuật như Đỗ Nhật Nam lại chủ động chia sẻ về một thất bại cay đắng trong quá khứ để an ủi một người vừa mắc lỗi như cậu.

“Nhưng mà này,” Nam quay sang nhìn thẳng vào mắt Bảo, ánh mắt cậu bạn trường Chuyên lúc này hoàn toàn chân thành, không còn lớp vỏ bọc xa cách, lạnh lùng thường thấy trên các bục nhận giải. “Bài thuyết trình của đội Hải Vân hôm nay thực sự làm tớ bất ngờ. Thật sự rất bất ngờ.”

“Bất ngờ vì sự chắp vá, quê mùa của tụi tớ à?” Bảo buông một câu tự giễu, khóe môi khẽ nhếch lên chua chát.

“Không,” Nam lắc đầu dứt khoát, giọng cậu trầm xuống đầy suy tư. “Tớ nói hoàn toàn nghiêm túc đấy. Kho dữ liệu sáu trăm bốn mươi khung ảnh của Chuyên Nam Phương rất dày dặn, độ chính xác đo lường đạt đến từng phần nghìn cấp sao, nhưng khi đứng trên bục gỗ giảng giải về nó, tớ bỗng nhận ra một điều đáng sợ: cả đội tớ chỉ đang vận hành như một cỗ máy sao chép quy trình nghiên cứu của các viện hàn lâm. Bọn tớ có tiền tài trợ dồi dào, có kính thiên văn tiền tỷ, có máy tính hiệu năng cao tự động chạy các dòng lệnh phân tích... Bọn tớ cắm cúi nhìn chằm chằm vào các con số, các ma trận phương sai trên màn hình tinh thể lỏng, nhưng bọn tớ đã quên mất cảm giác ngước nhìn lên bầu trời thực sự bằng chính đôi mắt của mình nó tuyệt vời như thế nào.”

Nam dừng lại một chút, ngón tay khẽ gõ nhẹ theo nhịp lên thành lan can sắt:

“Khi nhìn cuốn Cẩm nang của bạn nữ bên đội cậu, nhìn hai ngôi sao biến quang được vẽ thành một cặp vũ công đang khiêu vũ nhịp nhàng trên nền trời đêm, và nhìn cái hộp nhôm tự chế thô ráp với thanh sưởi nhiệt của cậu bạn kỹ thuật... tớ bỗng nhớ lại cái đêm đầu tiên bố tớ mua cho chiếc ống nhòm nhỏ năm mười hai tuổi. Cái cảm giác kinh ngạc, háo hức đến nghẹt thở chỉ muốn chạy ngay sang nhà hàng xóm để chỉ cho người khác thấy ngôi sao kia kỳ diệu và đẹp đẽ ra sao. Đội của cậu, dù số liệu còn mỏng manh, thiết bị còn nhiều phần chắp vá, nhưng các cậu đã làm được một việc phi thường mà Chuyên Nam Phương đang dần đánh mất: các cậu biến những thứ công thức phức tạp, lạnh lùng thành những điều trực quan, sống động, và khơi gợi lại được ngọn lửa đam mê nguyên bản nhất của thiên văn học. Đó là thứ giá trị mà không có bất kỳ chiếc kính Celestron hay khoản tài trợ nào có thể mua được.”

Bảo sững sờ lắng nghe từng lời của Nam. Những lời nhận xét chân thành từ chính đối thủ lớn nhất không chỉ xoa dịu đi nỗi đau đớn vì bị trừ điểm vừa rồi, mà còn thắp sáng lên một niềm tin mãnh liệt, vững chắc trong tâm hồn cậu. Con đường mà cậu và các bạn lựa chọn—con đường kết nối khoa học với cộng đồng bằng sự chân thành, trực quan hóa và những nỗ lực tự thân vượt khó—hoàn toàn không phải là một sự bắt chước nghiệp dư vô nghĩa. Nó mang một bản sắc riêng biệt, một bản sắc kiêu hãnh và đầy giá trị nhân văn.

“Cảm ơn cậu, Nam,” Bảo mỉm cười, ánh mắt cậu giờ đây đã lấy lại được sự trong trẻo, rạng rỡ và tự tin vốn có. “Ở vòng thi sơ loại quốc gia sắp tới, chúng tớ nhất định sẽ không để cô Yến phải bắt bẻ bất kỳ một lỗi lý thuyết nào nữa đâu.”

“Tớ chờ xem đấy,” Nam khẽ nhếch môi cười, đưa nắm đấm ra phía trước khoảng không gian giữa hai người. “Đừng để bị loại sớm ở vòng hồ sơ. Sân khấu chung kết quốc gia ở Hà Nội cần những đối thủ thú vị và giàu sức sống như các cậu.”

Bảo đưa nắm đấm của mình chạm nhẹ vào nắm đấm của Nam. Một tiếng va chạm nhẹ vang lên giữa không gian lộng gió sông Hàn—một lời giao ước thầm lặng nhưng đầy danh dự giữa hai người đội trưởng, giữa hai trường phái thiên văn học tưởng chừng hoàn toàn đối lập nhưng lại chung một tình yêu thuần khiết, cháy bỏng với bầu trời đêm.

Nam quay lưng rảo bước vào sảnh lớn, để lại Bảo một mình bên khung lan can ngập tràn ánh nắng. Cậu hít một hơi thật sâu, cảm nhận luồng không khí trong lành tràn ngập buồng phổi, thấy những gánh nặng đè nén suốt cả buổi sáng dường như đã tan biến theo từng đợt sóng nước. Cậu quay người, bước nhanh về phía cánh cửa kính để cùng các đồng đội đón nhận bảng điểm tổng kết đợt phản biện thử nghiệm.

Thế nhưng, vừa bước qua cánh cửa kính dẫn vào hành lang trung tâm, bước chân Bảo bỗng khựng lại. Cậu thấy Thư và Mai Anh đang đứng đợi sẵn ở góc tường với vẻ mặt vô cùng căng thẳng, ánh mắt ngập tràn sự âu lo. Ở góc hành lang phía xa đối diện cửa sổ thông gió, Khải đang áp chặt chiếc điện thoại vào tai, gương mặt cậu bạn đội phó thể thao vốn luôn rạng rỡ giờ đây tái mét không còn một giọt máu, một bàn tay bóp chặt lấy quai ba lô đến mức nổi từng đường gân xanh chằng chịt.

“Có chuyện gì thế?” Bảo bước nhanh lại gần hai cô bạn, linh cảm mách bảo cậu rằng có một biến cố lớn vừa ập đến.

Thư cắn chặt môi dưới, ánh mắt phức tạp nhìn về phía bóng lưng Khải đang đứng bất động ở cuối hành lang, rồi hạ giọng thì thầm với Bảo: “Thầy Công... huấn luyện viên đội bóng đá vừa gọi điện khẩn cấp cho Khải. Lịch thi đấu vòng chung kết Cúp Hội khỏe Phù Đổng toàn thành phố bất ngờ bị đẩy lên sớm hơn hai tuần do trùng lịch thanh tra đột xuất của Sở Giáo dục. Trận bán kết mang tính quyết định của trường mình sẽ diễn ra đúng vào thứ Bảy tới.”

Mai Anh siết chặt tập cẩm nang trong tay, các đốt ngón tay run rẩy, giọng cô nghẹn lại: “Thầy Công vừa ra tối hậu thư cho Khải: hoặc là cậu ấy phải tập trung toàn bộ thời gian, túc trực tập luyện với cường độ hai buổi một ngày bắt đầu ngay từ sáng mai để giữ lại chiếc băng đội trưởng và suất đá chính, hoặc là... thầy sẽ gạch tên cậu ấy vĩnh viễn khỏi danh sách đội tuyển bóng đá của trường.”

Bảo chết lặng tại chỗ, đưa mắt nhìn về phía Khải. Cậu bạn vừa dập máy, bờ vai rộng lớn khẽ run lên bần bật trong một sự giằng xé nội tâm tột cùng giữa niềm đam mê thể thao cả đời và lời hứa với những người bạn thiên văn. Hạn chót nộp hồ sơ vòng một toàn quốc chỉ còn lại vỏn vẹn một tuần, nhưng Khải bất ngờ đứng trước nguy cơ phải rời đội.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories