Tấm áo dài dang dở
Làn hơi nước nghi ngút từ xửng hấp bằng tre bốc lên mang theo hương thơm thanh khiết của bột gạo chín tới, báo hiệu mẻ bánh bèo thứ hai đã đạt trọn vẹn độ mướt dẻo.
Gian bếp chái sau của căn nhà rường dường như bừng sáng trong làn khói mờ ảo, nơi ánh sáng ban trưa nhập nhoạng bên ngoài khung cửa chớp chỉ đủ hắt lên những vệt bồ hóng bám dày trên kèo gỗ. Khi My nhẹ tay dùng miếng vải xô lót ngón nhấc nắp xửng bằng nan tre đan khít, một luồng nhiệt ẩm sực nức tràn qua sống mũi, mang theo cái ngai ngái dịu lành của tre già quyện chặt vào mùi tinh bột đượm sương sớm. Cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến lồng ngực cô rung lên từng nhịp rộn rã, bao nỗi âu lo dồn ứ suốt mấy tiếng đồng hồ qua như lập tức tan biến. Mười chiếc chén sành men hoa cúc lam xếp tròn tăm tắp trên mặt phên, mặt bánh láng mịn, trắng ngần và trong suốt tựa ngọc thạch.
Quan trọng hơn cả, ở ngay giữa lòng mỗi chiếc chén, lớp bột gạo ngậm nước mưa đầu mùa đã co thắt lại tự nhiên dưới sức nóng đều đặn, tạo thành một vết trũng tròn trịa, sâu hoắm như mắt chim sẻ. Đó là lòng xoáy hoàn hảo mà bà Lành từng vẽ phác thảo bằng nét mực tím học trò trong cuốn sổ tay sờn gáy—dấu hiệu độc nhất vô nhị của mẻ bánh chín thấu tới tận tâm can hạt bột, không non nhiệt khiến lòng bánh sượng sùng, mà cũng chẳng thừa nước làm rìa bánh rữa nát. Mặt bánh bóng nhẹ một lớp màng hồ tinh bột mỏng tang, mép bánh khẽ co lại khỏi thành chén sành chừng nửa sợi chỉ, sẵn sàng đón nhận sự giao thoa của những phong vị mặn mòi xứ Huế.
Trần Minh Thiện đứng nép bên cạnh trụ gỗ lim lên nước bóng loáng, tay vẫn cầm chiếc giẻ khô lau sạch những vệt nước đọng trên bệ bếp xây bằng gạch thẻ. Ánh mắt anh dừng lại rất lâu trên những vòng xoáy trắng muốt, một nụ cười kín đáo và nhẹ nhõm nở ra nơi khóe môi:
“Nước mưa lu sành lắng đục đã hòa vào hạt gạo Khang Dân rồi đó, My. Chín từ trong chín ra, mướt mà dẻo dai, mặt bánh không một bọt khí. Người già xứ này nhìn lòng xoáy bánh bèo là biết ngay tâm tính người đứng bếp có an định hay không. Giờ thì đừng để nguội, bánh bèo chén kỵ nhất là để trơ trọi hứng gió bấc, mau tay hoàn thiện phần nhân đi em.”
My khẽ gật đầu, hít một hơi thật sâu để định thần. Cái lạnh sắt se của mùa đông xứ Huế dường như bị đẩy lùi hoàn toàn trước hơi ấm bập bùng từ lò than phi lao đượm đỏ. Không gian chái bếp chỉ còn lại tiếng than nổ lép bép vui tai và mùi thơm của thức ăn chín tới. Cô với lấy âu tôm chấy đã được sên tơi xốp từ sáng sớm, đặt cẩn trọng bên cạnh thớt gỗ nghiến.
Những con tôm đất vùng đầm phá Tam Giang tươi rói, lưng cong óng ánh sắc rêu, sau khi được hấp chín bằng chính hơi nước tự thân trong chiếc nồi đất nung dày dặn, đã được lột sạch vỏ, giã tơi bằng cối đá cuội rồi tao khô trên chảo gang đỏ lửa than tro. Dưới bàn tay đảo đều thoăn thoắt không ngừng nghỉ suốt gần một canh giờ, từng thớ thịt tôm ngọt lịm lúc này đã tơi xốp như những sợi bông mềm mại, ánh lên sắc đỏ cam rực rỡ tự nhiên mà không cần đến bất kỳ giọt phẩm màu hay dầu điều nào hỗ trợ.
Bằng đầu ngón tay khéo léo và thận trọng, My tỉ mỉ bốc từng nhúm tôm chấy đỏ cam rực rỡ, nhẹ nhàng rải đều vào lòng xoáy của từng chén bánh. Màu cam ấm áp phủ lên nền trắng muốt thanh tao của bột gạo, làm nổi bật lên vẻ dung dị mà đài các vốn có của thức quà dân dã chốn Cố đô. Tiếp đó, cô gắp những mẩu da heo chiên giòn rụm—thứ da heo được cạo sạch mỡ thừa, phơi qua ba con nắng hanh hao rồi mới đem chao trong mỡ nóng cho phồng rộp—thả nhẹ nhàng lên trên, thay thế hoàn toàn cho thứ tóp mỡ mỡ màng ngấy ngụa thường thấy ở những hàng quán xô bồ. Từng miếng da heo màu vàng ruộm, phồng xốp như cánh hoa mùa hạ, khi chạm vào bề mặt bánh ấm nóng còn khẽ phát ra tiếng lách tách nhỏ xíu vui tai. Một chút mỡ hành xanh mướt làm từ dầu đậu phụng nguyên chất thắng vừa tới với hành hoa tươi được điểm xuyết khẽ khàng, làm bừng lên một bảng màu hài hòa, sống động như một bức họa thu nhỏ.
Cuối cùng là phần hồn cốt định hình toàn bộ phong vị của món ăn: bát nước mắm ớt pha loãng. My dùng chiếc muỗng nhôm nhỏ cẩn thận múc từng muỗng nước luộc vỏ tôm đã được ninh kỹ cho ngọt lịm, hòa cùng nước mắm ruốc thượng hạng thơm nồng nàn góc biển, thêm chút đường phèn tán mịn cho dịu vị, rồi thả vào những lát ớt chỉ thiên cay xé đỏ tươi nổi lềnh bềnh trên mặt nước sóng sánh. Thứ nước mắm bánh bèo Huế không bao giờ dùng chanh tỏi nồng gắt, mà chỉ có vị ngọt thanh tao của tôm đồng quyện cùng vị mặn mòi, cay bỏng rát của ớt xứ này.
Cô nhẹ nhàng chan một muỗng nước mắm vừa vặn vào từng chén bánh mỏng tang. Nước mắm ngấm đều quanh rìa bánh, lấp lánh như lớp gương mỏng ôm trọn lấy phần nhân tôm chấy và da heo giòn tan, nhưng tuyệt nhiên không làm ỉu đi độ xốp của miếng da chiên.
Hương thơm thanh khiết của bột gạo mới, vị ngọt đậm đà của tôm phá Tam Giang quyện với mùi ớt cay nồng bốc lên ngào ngạt trong không gian kín của chái bếp. My cẩn thận xếp từng chiếc chén nóng hổi vào chiếc khay mây đan tròn đã ngả màu thời gian, phủ lên trên một lớp khăn xô trắng sạch bong để giữ trọn hơi nóng, rồi bọc thêm lớp nilon mỏng bên ngoài nhằm che chắn những giọt mưa bụi bay xiên khoai.
“Anh giữ than đỏ trong lò giúp em nhé, em mang sang cho bác Phúc ngay kẻo nguội mất ngon,” My quay sang nói với Thiện, giọng ánh lên sự hối hả nhưng ngập tràn niềm tin tưởng vững chãi.
“Đi cẩn thận, đường kiệt sau mưa trơn trượt lắm, bước ngắn thôi kẻo sánh nước mắm ra khay,” Thiện dặn dò, đưa tay với chiếc nón lá đưa cho cô, ánh mắt dõi theo bóng lưng thanh thoát của cô gái đang sải bước nhanh qua mảnh sân gạch rêu phong loang loáng nước.
***
Con kiệt nhỏ ngoằn ngoèo nối từ mé sông An Cựu sang tiệm may Phúc ướt đẫm bùn non và những vũng nước đọng phản chiếu bầu trời mùa đông xám bạc. Mưa dầm xứ Huế dường như chưa từng biết ngơi nghỉ, hạt mưa li ti đọng trên những ngọn chè tàu xanh thẫm ven lối đi, rơi lộp độp trên vành nón lá mà My đang đội sụp xuống trán. Gió từ bờ sông thổi thốc vào lòng kiệt mang theo hơi lạnh buốt giá luồn qua từng ngõ ngách, nhưng dưới lớp áo khoác gió mỏng, hơi ấm âm ỉ tỏa ra từ khay bánh bèo bốc lên lồng ngực cô, sưởi ấm từng nhịp thở và xua tan cái giá lạnh đang chực chờ bủa vây.
Tiệm may Phúc nằm nép mình khiêm nhường sau hàng rào dâm bụt già cỗi, hoa đỏ lập lòe trong màn mưa buốt giá. Chiếc biển hiệu bằng gỗ sơn then đặt trên mái hiên đã tróc lở nhiều mảng sơn, chỉ còn đọc rõ hai chữ “Phúc May” với nét vẽ chân phương bằng sơn trắng từ những thập niên cuối thế kỷ trước. Tiếng lách cách, rè rè quen thuộc của chiếc máy may đạp chân hiệu Singer vọng ra từ ô cửa sổ khép hờ, nhịp nhàng, kiên nhẫn và cô tịch tựa như nhịp gõ đều đặn của bánh xe thời gian giữa lòng phố cũ.
My bước vào hiên nhà, khẽ giũ những giọt mưa còn vương trên vành nón lá, đặt nón dựa vào góc tường rồi nhẹ nhàng bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng nhẵn:
“Bác Phúc ơi, cháu đưa bánh bèo mẻ mới sang cho bác đây ạ.”
Tiếng máy may cơ đột ngột ngừng bặt. Bác Phúc hạ chiếc kính lão trễ xuống sống mũi, ngẩng đầu lên từ tấm vải dạ sẫm màu đang chạy dở đường kim trần nẹp. Đôi mắt kèm nhem của người thợ may già thoáng vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy dáng hình My quay trở lại sớm hơn ông dự liệu. Gương mặt cô gái trẻ ửng hồng vì hơi nóng của lò củi phi lao và gió lạnh tạt dọc đường, đôi mắt long lanh vẻ kiên định rạng rỡ, hoàn toàn không còn nét hoang mang, hụt hẫng hay chùn bước như hồi sáng sớm khi chiếc bánh bèo đầu tiên bị ông chê là sượng sùng non lửa.
“Con làm lại rồi đó à?” Ông Phúc cất giọng trầm đục, đặt chiếc kéo bấm bằng thép sáng loáng xuống mặt bàn cắt may ngổn ngang phấn vẽ và thước gỗ.
“Dạ, cháu làm mẻ thứ hai rồi bác. Lần này cháu không dám nhìn đồng hồ hay đong đo máy móc nữa. Cháu canh bằng lửa củi phi lao và nước mưa lu sành như lời bà nội dặn trong sổ. Bác nếm thử giúp cháu xem đã chín thấu chưa ạ.”
My cẩn trọng đặt chiếc khay mây lên chiếc bàn trà nhỏ bằng gỗ mun kê sát góc tiệm, nơi có chiếc đĩa sứ đựng tàn thuốc và ống cắm bút lông đã mòn vẹt. Cô nhẹ tay lật tấm nilon rồi giở tiếp tấm khăn xô trắng, để lộ ra những chén bánh bèo còn nghi ngút khói, thơm lừng và rực rỡ sắc đỏ cam của tôm chấy, xanh mướt của mỡ hành, điểm xuyết miếng da heo giòn rụm lóng lánh nước mắm ớt.
Ông Phúc chậm rãi đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu bọc da sờn rách, bước từng bước nặng nề đến bên bàn trà. Đôi bàn tay gầy gò, nổi rõ những đường gân xanh và khớp xương to bè—chứng tích của hơn nửa thế kỷ cầm kéo, luồn kim—khẽ run rẩy khi ông rút chiếc que tre vót mỏng dẹt từ chiếc ống sứ men lam cắm trên bàn. Đó là thanh dao tre truyền thống mà người Huế xưa chuyên dùng để ăn bánh bèo chén, một vật dụng giản dị nhưng thanh nhã, giữ cho bột bánh không bị nhiễm mùi tanh nồng của kim loại.
Ông cúi xuống, nheo mắt chăm chú quan sát chiếc chén sành hoa cúc lam. Khi nhìn thấy lòng xoáy sâu hoắm, tròn vặn và đều đặn như mắt chim sẻ ngậm trọn nhúm tôm chấy, ánh mắt người thợ may già khẽ chớp động một tia xúc cảm mơ hồ.
Không một lời bình phẩm, ông đưa lưỡi dao tre sắc lẹm lướt nhẹ một đường tròn chuẩn xác sát mép chén sành. Chiếc bánh bèo mỏng tang ngoan ngoãn tách rời khỏi thành chén mà không hề để lại một vệt bột dính dớp nào, trọn vẹn, láng bóng và mướt mịn.
Ông khẽ khàng xắn miếng bánh làm tư theo hình chữ thập, rồi dùng đầu que tre khéo léo nâng một góc bánh ngập tràn tôm chấy và da heo giòn tan đưa vào miệng.
Căn phòng tiệm may chìm vào một khoảng lặng thiêng liêng và tĩnh mịch đến nao lòng. Chỉ còn tiếng mưa rơi lộp độp trên những hàng ngói âm dương rêu phong ngoài hiên và tiếng thở khe khẽ của hai con người thuộc hai thế hệ đang đứng đối diện nhau qua một thức quà mộc mạc.
Ông Phúc nhắm nghiền hai mắt lại, chậm rãi nhai từng chút một. Từng biểu cảm trên gương mặt già nua đầy những nếp nhăn hằn sâu của người thợ may được thu trọn vào tầm mắt My: từ sự nghiêm khắc dò xét ban đầu, dần chuyển sang ngỡ ngàng, rồi giãn nở ra thành một niềm xúc động vô bờ bến. Lớp bột dẻo dai chạm vào đầu lưỡi, mềm mượt như lụa nhưng lại có độ đàn hồi tự nhiên của hạt gạo Khang Dân xay ướt cẩn trọng, chín thấu từ ngoài rìa vào tận tâm can mà không hề có chút sượng sùng hay nhão nhoét. Vị ngọt mặn mòi, thơm thảo của tôm chấy đầm phá Tam Giang hòa quyện cùng cái béo giòn tan của da heo, cái cay nồng dịu ngọt của nước mắm ớt pha loãng... tất cả bùng nổ trong khoang miệng, tinh tế, thanh tao và tròn trịa đến từng dư vị cuối cùng.
Khi ông Phúc mở mắt ra, My nhận thấy nơi khóe mắt đầy nếp chân chim của ông đã hoe đỏ, ngấn lệ từ lúc nào không hay.
“Đúng rồi... Đúng phong vị của bà Lành ngày trước rồi con ơi,” giọng ông Phúc run lên, nghẹn ngào như muốn vỡ òa giữa không gian tiệm may tịch mịch. “Thanh tao mà đậm đà, hạt bột chín tới độ ngậm trọn cái tình của người nấu. Bánh bèo Huế là phải rứa, ăn một chén mà thấy cả nắng mưa đồng ruộng, thấy cả sự nhẫn nại của người đàn bà bên chái bếp củi than. Không lẫn đi mô được cả.”
Ông Phúc ăn hết chén bánh thứ nhất, rồi lại xắn tiếp chén thứ hai một cách trân trọng, chậm rãi như sợ làm tổn thương đến sự tinh khôi của món ăn. Đặt chiếc que tre xuống đĩa sứ, ông thở dài một tiếng thật sâu, ánh mắt trĩu nặng nhìn qua khung cửa sổ hướng ra màn mưa mờ mịt nơi con kiệt nhỏ:
“Con có biết vì răng bà nội con lại ghi tên lão thợ may già này vào trang thứ hai của cuốn sổ nợ nghĩa không?”
My khẽ lắc đầu, nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế đẩu gỗ đối diện, lắng tai nghe từng lời:
“Dạ, cháu chỉ đọc thấy dòng chữ nắn nót của bà dặn phải làm bánh bèo chén bằng nước mưa lu sành mang sang cho bác, nhưng cháu chưa hiểu được ngọn ngành ân nghĩa sâu xa giữa bà và bác năm xưa.”
Ánh mắt ông Phúc trôi dạt về một miền ký ức xa xôi thăm thẳm, giọng ông chùng xuống, mang theo nỗi niềm trĩu nặng của những năm tháng gian truân cơ hàn:
“Đó là mùa đông năm chín mươi bảy, cái năm mà trận lụt lịch sử khiến nước sông Hương dâng cao ngập trắng cả kinh thành, trời thì lạnh căm căm thấu xương thấu thịt. Vợ lão—bà Tú nhà này—bất ngờ phát cơn bạo bệnh, lên cơn suy thận cấp rồi biến chứng phù phổi, phải nằm cấp cứu ở Bệnh viện Trung ương Huế suốt mấy tháng ròng thập tử nhất sinh. Lúc đó tiệm may ế ẩm vì thiên tai bão bùng, tiền tích cóp bao năm trong nhà cứ đội nón ra đi sạch trơn, lão phải chạy vạy khắp xóm cùng ngõ hẹp vay mượn từng đồng bạc lẻ để mua từng liều thuốc kháng sinh cho vợ. Có những ngày, lão kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần, trong túi không còn nổi một ngàn đồng để mua ổ bánh mì khô lót dạ, người gầy rộc đi như một cái xác ve sầu rụng cánh.”
Ông Phúc khẽ đưa mu bàn tay khô ráp lau vội giọt nước mắt vừa ứa ra nơi gò má:
“Lão là đàn ông, lại mang cái thói tự trọng gàn dở của dân thợ may cố đô, nghèo thì cắn răng chịu đói chứ tuyệt đối không bao giờ chịu mở miệng ngửa tay xin ai một hào một cắc cứu tế. Bà nội con tinh tế lắm, bà nhìn thấu hết ruột gan của lão. Bà biết tính lão hay sĩ diện hão, nếu mang tiền bạc hay đồ ăn sang cho theo kiểu bố thí, cưu mang thì lão thà chịu chết đói chứ quyết không nhận. Thế là ròng rã suốt hai tháng trời ròng rã vợ lão nằm liệt giường trong viện, cứ đúng tầm mười một giờ trưa mỗi ngày, bà Lành lại đội chiếc nón lá rách tơi tả, quảy một khay bánh bèo chén nóng hổi sang đặt trước cửa tiệm này.”
My thấy sống mũi mình cay xè buốt nhói. Qua từng lời kể của ông lão, cô như mường tượng ra dáng hình nhỏ nhắn, lưng hơi còng của bà nội trong chiếc áo bà ba màu nâu bạc phếch, bước thấp bước cao giữa những vũng nước mưa mùa đông năm ấy, tay giữ chặt chiếc khay mây bọc vải xô ấm nồng.
“Bà con qua, bà nói chi với bác?” My thì thầm hỏi, giọng cô như nghẹn lại.
“Bà bước vào, mặt tỉnh bơ như không có chuyện chi to tát, vờ gắt gỏng với lão: *‘Này ông Phúc, sáng ni tui lỡ tay ngâm nhiều bột quá, hấp ra cả mấy chục chén bánh bèo ăn không hết. Để tới chiều thì bột lại chua vữa ra uổng của trời đất, ông với bầy thợ ăn giùm tui cho đỡ phí, chứ tui đổ cho heo thì tội chết!’*. Ngày nào bà cũng nói đúng một câu *‘nấu dư cho xóm’*, ngày nào cũng là khay bánh bèo đầy ắp nhân tôm chấy đỏ rực, nóng ran bỏng rát cả tay. Nhờ những chén bánh bèo ‘nấu dư’ ấy của bà nội con mà lão có sức túc trực bên giường bệnh của vợ suốt mùa đông năm đó, vượt qua những ngày cùng cực tăm tối nhất của kiếp người.”
Ông Phúc nghẹn ngào, bàn tay run rẩy chạm vào mép chiếc khay mây cũ kỹ:
“Mãi sau này khi bà Tú qua đời, lão mới biết, nhà bà con bận đó cũng túng thiếu trăm bề, nuôi đàn con dại ăn học trầy da tróc vảy, lấy đâu ra bột ngon với tôm phá mà ngày mô cũng ‘nấu dư’ cho thiên hạ? Bà Lành đã giấu lòng tốt mênh mông của mình sau sự cộc cằn vờ vĩnh, để giữ lại cho lão chút thể diện cuối cùng của một người đàn ông đang bước bên bờ vực cùng quẫn. Cái ơn cứu mạng, cái nghĩa tế nhị ấy... lão mang nặng cả một đời, chưa kịp báo đáp một phần thì bà đã vội buông tay xuôi về cõi Phật.”
My ngồi lặng đi giữa gian phòng may ngập tràn mùi vải thô và bụi chỉ vụn vặt. Từng lời kể mộc mạc của ông Phúc như những nhát búa gõ mạnh vào tâm can cô.
Hóa ra tô bún bò cay nồng của bà Năm Sương, chén bánh bèo mướt dẻo của ông Phúc... mỗi một món ăn được ghi chép cẩn thận trong cuốn sổ tay rách nát kia không đơn thuần là những chỉ dẫn ẩm thực cầu kỳ của một nghệ nhân nấu nướng, mà chính là những mắt xích vô hình kết nối tình người sâu nặng. Đó là cách mà bà nội đã âm thầm sống, âm thầm nâng đỡ và chở che cho những mảnh đời lận đận xung quanh bằng một sự tế nhị tột cùng. Một tình thương bao la không bao giờ đòi hỏi sự ghi công tạc tượng, luôn biết hạ mình xuống thật thấp để người đón nhận không bao giờ phải cúi đầu mặc cảm.
Ông Phúc đứng dậy, quay lưng về phía My. Ông bước chậm rãi về phía chiếc tủ gỗ gụ cũ kỹ đặt sát góc tường phía trong, nơi có hai cánh cửa chạm trổ hoa văn tùng cúc đã mờ nhạt theo năm tháng bụi bặm. Chiếc tủ phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc khi ông cắm chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu vào ổ, khẽ xoay nhẹ tay.
Từ trong ngăn tủ sâu thẳm thơm nồng mùi long não và gỗ mục, ông Phúc cẩn thận nâng ra một bọc vải lớn được gói ghém kỹ lưỡng bằng lớp giấy bản trắng tinh khiết. Đôi bàn tay người thợ may già run rẩy bóc từng nếp giấy đã ngả vàng ở mép, để lộ ra một dải lụa mềm mại, óng ả màu xanh thiên thanh—thứ màu xanh ngọc bích nhạt thanh tao tựa như sắc trời xứ Huế sau một cơn mưa rào mùa hạ vừa dứt.
Đó là một tấm áo dài may dở.
Tà áo được cắt theo phom dáng cổ điển thướt tha, phần cổ áo cao ba phân viền chỉ tơ thanh thoát, phần ngực áo đã được chiết eo tỉ mỉ bằng những đường kim khâu tay đều đặn tăm tắp như những hạt nếp cái hoa vàng. Thế nhưng, tấm áo vẫn chưa thể trở thành một y phục trọn vẹn: phần vạt trước tà áo vẫn còn thả lỏng những đường chỉ lược màu trắng thô ráp, mép vải lụa chưa kịp viền lai gấp nếp, hai bên nách áo vẫn còn ghim dở những chiếc kim may bằng thép sáng loáng nằm im lìm trong từng thớ lụa mềm.
“Bà Năm Sương dặn con không được nhắc tới chiếc áo dài xanh này trước mặt lão, phải không?” Ông Phúc khẽ cất tiếng hỏi, đôi mắt già nua ngắm nhìn tấm lụa với một nỗi đau đớn khôn nguôi hằn trên từng nếp nhăn.
My giật mình khẽ chớp mắt, rồi ngập ngừng gật đầu:
“Dạ... Bà Sương có dặn cháu, bà sợ cháu nhắc lại sẽ chạm vào vết thương lòng của bác.”
Ông Phúc đưa tay vuốt ve nhẹ nhàng lên bề mặt lụa mát rượi, thở dài một hơi dài thườn thượt như muốn trút cạn nỗi dằn vặt tích tụ bấy lâu:
“Bà Sương sợ lão đau lòng, nhưng lão thì suốt đời này chưa bao giờ dám quên. Mùa đông năm ngoái, bà nội con gom góp mang sấp lụa xanh thiên thanh này sang tiệm cho lão. Bà bảo cả một đời bà toàn mặc áo bà ba vá víu lam lũ, chỉ mong có một chiếc áo dài may đúng số đo để dành mặc vào dịp lễ mừng thọ tám mươi lăm tuổi vào mùa xuân tới, và sau này nếu có trăm tuổi già thì mặc tấm áo ấy để về với tổ tiên dòng họ. Lão mừng lắm, lão tự nhủ phải dồn hết tâm huyết cả đời làm nghề, ngày đêm đo đạc, cắt may từng đường tà, chắt chiu từng đường kim mũi chỉ đẹp nhất để tạ cái ơn bát bánh bèo năm nào.”
Giọng người thợ may già bỗng chốc lạc đi, nghẹn ứ nơi cuống họng:
“Nhưng lão may chậm quá... Mắt lão mờ, tay lão run, lão cứ nắn nót tháo ra sửa lại từng đường viền tà cho thật hoàn hảo, không chịu làm ẩu một ly một lai nào. Đến khi vạt áo chỉ còn thiếu một đường may lai cuối cùng... thì bà con đột ngột ngã xuống sau cơn đột quỵ định mệnh. Chiếc áo dài lụa xanh ni... vĩnh viễn không kịp giao cho người cần mặc.”
Ông Phúc ôm tấm lụa dang dở vào lòng, đôi vai gầy guộc rung lên bần bật trong nỗi ân hận muộn màng:
“Một lời hứa cả đời của một người thợ may... rốt cuộc lại thành một lời hẹn dang dở đến thiên thu. Suốt mấy tháng qua, cứ mỗi lần mở ngăn tủ nhìn thấy màu xanh thiên thanh này, tim lão lại nhói đau như có ngàn mũi kim châm vào da thịt. Lão nợ bà Lành một chiếc áo trọn vẹn, món nợ ân tình ni biết đến kiếp nào lão mới trả xong đây hở con?”
Nhìn người thợ may già đau đớn gục đầu trước tấm áo không bao giờ hoàn tất, My thấy lồng ngực mình quặn thắt lại từng cơn. Một lần nữa, nỗi ân hận về sự chậm trễ của kiếp người lại hiện hữu rõ mồn một trước mắt cô.
Chính cô cũng từng chậm trễ trước cuộc gọi cuối cùng của bà nội khi còn mải mê chạy theo những cuộc họp vô bổ ở chốn thị thành, và ông Phúc nơi đây cũng đã lỡ mất một nhịp kim sinh tử trước ngưỡng cửa vô thường. Con người ta thường hẹn nhau vào ngày mai, hẹn nhau ở những dịp tròn đầy viên mãn, mà quên mất rằng thời gian vốn dĩ là thứ tàn nhẫn và lạnh lùng nhất trên cõi đời này.
Ánh mắt My dừng lại trên dải lụa xanh thiên thanh mềm mại đang buông lơi trên tay ông Phúc. Dưới ánh sáng mờ nhạt hắt qua song cửa sổ, sắc xanh ấy vẫn toát lên một vẻ đẹp dịu dàng, ấm áp và thanh thoát lạ thường—y hệt như cốt cách thanh cao, nhẫn nại và thầm lặng của bà nội cô thuở sinh thời.
Một ý nghĩ bất chợt nảy ra trong tâm trí My, rõ ràng và mạch lạc như dòng nước suối nguồn. Nhẹ nhàng nhưng vô cùng quả quyết, cô bước tới gần chiếc bàn cắt may, khẽ khàng cất tiếng:
“Bác Phúc ơi... Bác có nghĩ rằng nếu bà nội ở trên cao nhìn xuống, bà sẽ không bao giờ muốn thấy bác phải dằn vặt và đau lòng vì tấm áo này mãi như vậy không?”
Ông Phúc ngơ ngác ngẩng đầu nhìn cô gái trẻ, giọt nước mắt còn đọng trên bờ mi xám:
“Ý con muốn nói răng?”
My lễ phép chắp hai tay trước ngực, nhìn thẳng vào mắt ông Phúc với tất cả sự chân thành và kính trọng sâu sắc:
“Tấm áo dài chưa kịp mặc lên người, nhưng tấm lòng và ân nghĩa của bác dành cho bà nội đã trọn vẹn từ nhát kéo đầu tiên rồi ạ. Thay vì để tấm lụa tuyệt đẹp này phải nằm im lìm, phủ bụi trong ngăn tủ khóa kín năm này qua tháng khác như một nỗi tiếc nuối xót xa không lối thoát, cháu xin phép bác một điều được không ạ?”
“Con cứ nói đi, lão nghe đây.”
“Cháu xin bác hãy dùng chính chiếc kéo này, cắt may phần thân và tà áo lụa dang dở thành những tấm khăn lót bàn trang nhã cho căn bếp nhỏ của bà nội,” My nói chậm rãi, từng lời từng chữ đều xuất phát từ tận đáy lòng cô. “Cháu đang dọn dẹp lại gian bếp cũ, cháu muốn căn bếp ấy đỏ lửa trở lại mỗi ngày, muốn nơi đó tiếp tục là chốn sẻ chia những bữa ăn ấm áp cho xóm giềng như ngày bà còn sống. Nếu có những tấm khăn lót màu xanh thiên thanh này trên chiếc bàn ăn bằng tre mộc, mỗi ngày dọn mâm cơm, cháu và mọi người đều sẽ cảm thấy như bà nội vẫn đang hiện diện nơi đó, mỉm cười chứng kiến. Ký ức về bà, và cả tấm lòng của bác, sẽ không bị khóa chặt trong bóng tối mục nát của thời gian, mà sẽ tiếp tục sống động trong từng nhịp thở của ngôi nhà rường.”
Căn phòng tiệm may bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Ông Phúc đứng chết lặng hồi lâu. Đôi mắt già nua của ông nhìn đăm đăm vào gương mặt kiên định của Kiều My, rồi lại nhìn xuống dải lụa xanh đang ôm trong tay mình. Đôi môi ông mấp máy không thốt nên lời, những ngón tay khô gầy khẽ run rẩy miết nhẹ lên thớ lụa dệt mịn màng. Một làn gió nhẹ thổi qua khung cửa khép hờ, lay động những dải thước dây ngũ sắc treo trên vách gỗ, tạo nên những thanh âm xào xạc mơ hồ.
Ý tưởng của My tựa như một tia nắng ấm áp rọi thẳng vào góc tối tăm, u uất nhất trong tâm hồn người thợ may già suốt bao tháng ngày dằn vặt. Biến một kỷ vật dang dở thành một vật dụng sống động trong đời thường, đem cái đẹp của sự dở dang hòa vào nhịp sống thực tại để tiếp nối tình yêu thương—đó là một cách ứng xử vừa nhân văn, vừa sâu sắc mà một người làm nghề khâu vá lâu năm như ông cũng chưa từng dám nghĩ tới.
“Cắt ra làm khăn lót bàn...” Ông Phúc lẩm bẩm nhắc lại từng từ, một nụ cười hiền hậu, nhẹ nhõm dần dần nở ra trên gương mặt đầy nếp nhăn. “Phải rồi... Cớ chi cứ phải giam cầm nó trong tủ gỗ mục nát? Bà Lành cả đời thích sự gọn gàng, ấm cúng nơi gian bếp. Để lụa mục đi mới là có tội với người đã khuất, làm cho nó sống lại mới thực là trọn nghĩa vẹn tình!”
Ông Phúc ngước nhìn My, ánh mắt ánh lên sự cảm phục và biết ơn sâu sắc:
“Con nói phải lắm, con gái. Con có một tấm lòng thơm thảo và sâu sắc y hệt như bà nội con rứa. Được, lão nhận lời con! Chiều ni lão sẽ tự tay đo đạc, dùng kéo vàng cắt lại phần tà áo ni, viền mép bằng những đường chỉ tơ đẹp nhất, khéo nhất của đời lão. Ngày mai con sang đây, lão sẽ trao lại cho con những tấm khăn lót bàn đẹp nhất trần đời để con mang về bày nơi chái bếp của bà.”
“Cháu cảm ơn bác Phúc nhiều lắm ạ!” My nghẹn ngào cúi đầu tạ ơn. Một tảng đá vô hình đè nặng trong lòng cô dường như vừa được nhấc bỏ nhẹ nhàng.
Món ăn thứ hai trong cuốn sổ di nguyện đã được đón nhận trọn vẹn, không chỉ bằng sự hài lòng về phong vị chuẩn xác của ẩm thực Huế xưa, mà còn bằng sự giải thoát thanh thản cho một nỗi ân hận kéo dài suốt bao tháng qua của một kiếp người già nua.
Ông Phúc với tay lấy chiếc ấm tích ủ trong giỏ bọc vải ấm đặt trên kệ, rót ra một chén nước chè xanh nghi ngút khói đưa cho My:
“Uống ngụm nước chè xanh cho ấm bụng đi con. Nghe bà Năm Sương kể chuyện nhà con dạo này, lão xót xa trong dạ lắm. Căn nhà rường bên kiệt An Cựu nớ là cả một gia tài ân tình của dòng họ Kiều, là cái nôi che chở cho biết bao số phận qua những mùa bão lụt cơ hàn. Chú Vinh con tánh tình thẳng thắn, nghĩ ngắn vì gánh nặng áo cơm đè nặng trên vai, nhưng con là đứa có học, lại thấu hiểu được cái tâm của bà nội, con phải ráng mà giữ lấy căn nhà nghe con. Đừng để người ta phân lô, xẻ thịt nó thành mấy cái quán xá bê tông vô hồn.”
“Dạ, cháu đang cố gắng hết sức bác ạ. Dù khó khăn thế nào, cháu cũng sẽ tìm mọi cách giữ lại mái nhà rường cho bà.”
Ông Phúc gật gù tán thành, ánh mắt lại nhìn ra xa xăm phía màn mưa, giọng trầm ngâm như chợt nhớ ra một điều gì hệ trọng:
“Mà này My, sau món bánh bèo ni, trong sổ của bà Lành còn ghi tên ai nữa không?”
“Dạ, cháu chưa kịp lật tiếp trang sau ạ.”
“Lão đoán... chắc thế nào cũng có tên thằng Lộc ở Cồn Hến,” ông Phúc khẽ thở dài, tay vân vê mép bàn gỗ đã mòn vẹt. “Thằng Lộc—Trần Hữu Lộc nớ, bạn học thuở nối khố của bố Quang con đó. Năm xưa nhà nó nghèo rớt mồng tơi, cha mẹ mất sớm, một mình nó bám lấy cái nghề cào hến trên sông Hương mà sống lắt lay qua ngày. Có đận lũ lớn cuốn trôi sạch lờ đơm bè mảng, nó sang mượn bà Lành một món tiền lớn để đóng thuyền mới mua cào hến. Nhưng không hiểu răng, sau bận đó nó chẳng bao giờ quay lại bước chân vào căn nhà rường nữa. Người ta cứ đồn ra tán vào bảo nó quỵt nợ bỏ đi, nhưng lão biết, dân cào hến Cồn Hến sống tự trọng và nghĩa khí lắm, chắc chắn bên trong có uẩn khúc chi đó mà chỉ có bà Lành với nó mới biết...”
Lời nói lấp lửng của ông Phúc gieo vào lòng My một mối tò mò và một thoáng băn khoăn trĩu nặng. Cồn Hến... người bạn cũ thuở thiếu thời của bố... món nợ tiền bạc và sự bặt vô âm tín suốt bao năm ròng... Những mảnh ghép ký ức mơ hồ về một quá khứ mà cô chưa từng được nghe kể bắt đầu chập chờn hiện lên trong tâm trí.
Đúng lúc My định mở lời hỏi thêm về ông Lộc thì bất chợt, từ trong túi áo khoác của cô, chiếc điện thoại thông minh rung lên bần bật từng hồi dữ dội.
Âm thanh kim loại réo rắt phá tan không gian tĩnh mịch, cổ kính của tiệm may. My giật mình, vội vàng rút điện thoại ra. Màn hình cảm ứng sáng lóa hiện lên một loạt thông báo dồn dập từ ứng dụng làm việc nội bộ của Công ty Truyền thông Sao Nam: năm cuộc gọi nhỡ và ba tin nhắn khẩn cấp gửi từ Nguyễn Hoàng Duy—cậu chuyên viên cấp dưới đang tạm thời thay cô phụ trách các dự án lớn.
Ngón tay My chạm vào màn hình, dòng tin nhắn hiện ra đầy vẻ gay gắt, hoảng loạn và hối thúc:
*“Chị My, chị đang ở đâu mà không nghe máy? Đối tác chuỗi bán lẻ bên chiến dịch bốn tỷ đang làm ầm ĩ lên tại văn phòng đây! Họ kiên quyết không chấp nhận bản đề xuất điều chỉnh thông điệp truyền thông mới của em, họ bảo kế hoạch này quá non nớt và thiếu hẳn tầm nhìn chiến lược của chị. Chị Lan Anh đang nổi trận lôi đình, yêu cầu chị phải mở laptop xử lý khủng hoảng này ngay lập tức trước năm giờ chiều nay, nếu không hợp đồng sẽ bị hủy toàn bộ!”*
Từng dòng chữ đập vào mắt My như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt, kéo phắt cô ra khỏi không gian ấm áp, trầm mặc của tiệm may Phúc để ném trở lại guồng quay tàn nhẫn, gấp gáp của chốn công sở Sài Gòn. Hơi ấm từ những chén bánh bèo dường như vừa tan biến trong chốc lát, thay vào đó là cảm giác nghẹt thở quen thuộc của những hạn chót, những chỉ số KPI khắt khe và áp lực ngàn cân đang chực chờ đè bẹp cô.
“Có chuyện chi gấp hả con?” Ông Phúc ân cần hỏi khi nhìn thấy sắc mặt My đột ngột tái nhợt đi.
My vội vàng khóa màn hình điện thoại, cố nén hơi thở gấp gáp để giữ nụ cười gượng gạo trấn an:
“Dạ không có chi to tát đâu bác... Công việc ở công ty cũ của cháu có chút trục trặc nhỏ thôi ạ. Bác cứ thong thả ăn bánh cho nóng, cháu xin phép bác cháu về lại gian bếp trước để chuẩn bị củi than cho ngày mai ạ.”
“Ừ, con về đi, coi chừng mưa ướt lạnh áo. Sáng mai cứ sang đây lấy khăn lót bàn nghe con!”
***
My bước ra khỏi tiệm may Phúc, bước chân cô vô thức rảo nhanh hơn trên con đường kiệt lầy lội nước mưa. Gió mùa đông thổi thốc vào mặt mang theo cái lạnh thấu xương của dòng sông An Cựu đang cuộn sóng đục ngầu. Trong túi áo khoác, chiếc điện thoại vẫn thỉnh thoảng rung lên từng chặp ngắt quãng như một lời nhắc nhở tàn nhẫn rằng kỳ nghỉ phép ba tháng của cô không hề là một ốc đảo bình yên tách biệt hoàn toàn khỏi thế giới kim tiền ngoài kia.
Về đến căn nhà rường, My bước thẳng vào gian bếp chái sau.
Thiện đã dọn dẹp sạch sẽ mớ vỏ tôm và thau bột, tro tàn trong lò than cũng đã được anh vun lại gọn gàng, ủ một lớp trấu mỏng bên trên để giữ lại đốm than hồng ấm áp. Không gian bếp ngăn nắp, thanh tịnh như chưa từng trải qua một buổi sáng hối hả. Thấy My trở về với vẻ mặt bần thần, Thiện không hỏi nhiều lời, chỉ lẳng lặng rót cho cô một bát nước vối nóng hổi đặt trên chiếc chạn gỗ mộc.
My ngồi xuống chiếc ghế đẩu mộc bên bệ bếp xây gạch. Hơi ấm từ lò trấu phả ra xoa dịu đôi bàn tay đang cóng lạnh của cô. Cô rút cuốn sổ tay di nguyện bọc vải hoa nhí từ trong chiếc túi vải đeo bên người ra, đặt trang trọng lên mặt bàn tre.
Trên trang thứ hai, dòng chữ ghi món *Bánh bèo chén cho ông thợ may Phúc* dường như đang ánh lên một vẻ ấm áp kỳ lạ dưới ánh lửa hồng. My cầm chiếc bút chì gỗ, nắn nót gạch một dấu tích tròn trịa bên cạnh tên ông Phúc. Món thứ hai đã hoàn thành trọn vẹn, vượt qua những thử thách khắt khe về sự kiên nhẫn và chín thấu của tâm can.
Nhưng niềm vui chưa kịp lắng đọng thì ánh mắt My đã chạm vào khoảng trống của trang giấy tiếp theo.
Đầu ngón tay cô khẽ lật giở tờ giấy dó ố vàng sang trang thứ ba. Dưới ánh sáng lắt lay của ngọn đèn dầu và hơi ấm than hồng, nét mực tím thân thương của bà nội Lành hiện ra, rõ ràng và đanh thép từng nét chữ:
*“Món thứ ba: Cơm hến Cồn Hến cho ông Trần Hữu Lộc. Nước luộc hến phải giữ độ đục màu nước vo gạo, ruốc sống phải đánh thật dậy mùi, ớt màu phải phi lửa than tro cho cay bỏng lưỡi. Người Cồn Hến ăn cay để nuốt trọn vị mặn mòi của sông nước cơ hàn. Mang sang cho bạn của thằng Quang, bảo bà Lành chưa bao giờ quên một lời hẹn năm xưa.”*
Bên ngoài hiên bếp, mưa mùa đông xứ Huế bắt đầu đổ xuống nặng hạt hơn, tiếng nước xối xả đập vào những phiến ngói âm dương cổ kính, mở ra một hành trình mới đầy nhọc nhằn và những bí mật gia đình còn chôn giấu nơi cồn đất giữa lòng sông Hương.