Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.6 / 35
Chapter 6

Chiếc bánh bèo và thước dây cũ

Tiếng mưa rỉ rả luồn qua từng kẽ nứt của hàng ngói âm dương nơi góc chái bếp nhỏ đã đánh thức Kiều My khi vệt sáng đầu ngày chỉ vừa mới nhóm lên le lói bên bờ giậu. Trong giấc ngủ chập chờn còn vương hơi ẩm buốt, tai cô đã ghi nhận từng chuỗi âm thanh quen thuộc đến nao lòng của một sớm mùa đông xứ Huế: tiếng nước luồn qua rãnh xối, tiếng gió thốc qua ngọn cau già ngoài vườn chuối, và dai dẳng nhất là tiếng từng giọt nước buông mình từ thanh rui mè mục rơi thẳng xuống chiếc thau nhôm méo mó kê dưới sàn gạch: *tỏng... tỏng... tỏng...* Nhịp điệu ấy chậm rãi, buồn bã và bền bỉ như chính nhịp thở của ngôi nhà rường cổ kính này, một nhịp điệu kéo cô rời khỏi cơn mơ màng để đối diện với dòng chữ mực tím đã ngả màu xám tro trong cuốn sổ tay bìa hoa nhí đặt đầu giường: món bánh bèo chén hấp bằng nước mưa đầu mùa.

My nằm im trên chiếc chõng tre thêm một lát, kéo cao mép chăn chiên viền chỉ đỏ sờn mép. Mưa xứ này kỳ lạ lắm, khác hẳn những cơn mưa rào bất chợt xối xả quét qua những hàng me trên đường phố Sài Gòn mà cô đã quen suốt mười hai năm bươn chải. Mưa phương Nam ào xuống ào ào như trút bỏ mọi hờn giận rồi tạnh ráo ngay tắp lự, trả lại nền trời xanh ngăn ngắt và cái nắng chang chang hầm hập phả lên từ mặt đường nhựa. Còn mưa Huế thì rây từng sợi mảnh, dầm dề, quấn quýt lấy cỏ cây, thấm sâu vào từng thớ gỗ mít, luồn lách qua lớp vôi vữa bong tróc của những bức tường hoa rêu phong, làm cho không gian ngập tràn một thứ hơi lạnh thấu xương, một vẻ u tịch khiến lòng người bất giác chùng xuống.

Nhớ lại lời dặn cẩn trọng của bà nội, My dứt khoát vén chăn ngồi dậy. Cô với tay lấy chiếc áo len màu rêu đã bắt đầu sực mùi khói bếp củi nỏ, mặc thêm vào người, rồi dùng chiếc cặp ba lá kẹp gọn mớ tóc dài sau gáy. Cô xỏ chân vào đôi guốc mộc, nhấc then cài bằng gỗ lim đã mòn nhẵn bước ra khoảng hiên sau.

Một luồng gió bấc mang theo hơi ẩm nồng nồng của đất bùn, của lá mục và mùi ngai ngái của rêu ướt ùa thẳng vào mặt làm My khẽ rùng mình. Nhưng trong cái rét căm căm ấy, khứu giác cô lại bắt được một phong vị rất riêng, thanh sạch và tinh khiết. Ở góc đầu hồi hiên sau, ngay dưới miệng máng xối bằng tôn rỉ sét nối từ mái ngói cổ xuống, chiếc lu sành da lươn màu nâu thẫm đã đứng sừng sững ở đó tự bao đời. Bề mặt lu đóng một lớp men rạn cổ kính, loang lổ những vệt rêu xanh mướt như nhung. Chiếc lu này hứng trọn dòng nước mưa chảy tràn qua những lớp ngói liệt đã nung già qua hàng thế kỷ. Trên miệng lu, một chiếc nẹp tre đan mắt cáo thưa có lót một mảnh vải màn kép màu trắng ngà được đậy cẩn thận, chằng bằng bốn viên sỏi cuội sạch để cản lá khô và bụi rác rụng từ cành khế bên trên.

Theo từng nét chữ chân phương mà bà Lành đã nắn nót ghi lại bằng thứ mực Cửu Long thời xưa: *"Muốn bánh bèo mướt mặt, dai giòn tự nhiên mà không tanh mùi vôi vữa, nhất định phải dùng nước mưa hứng vào cữ gió bấc đầu mùa. Nước mưa này ngọt ngào, tinh khiết nhưng phải để lắng trong lu sành qua vài ngày cho hả hết tính hàn, khi ấy nước trong vắt, không vẩn đục, hạt gạo ngậm vào mới chịu nở bung tròn đầy đặn, ruột bột mới mềm mượt mà không nhão."*

My cẩn thận nhấc từng hòn sỏi cuội, lật tấm vải màn ướt sũng đặt sang một bên. Cô cầm chiếc gáo dừa có tra cán tre dài mộc mạc, khẽ khàng múc từng gáo nước trong veo đổ vào chiếc xô tráng men màu cỏ úa. Làn nước mát lạnh ngấm qua da thịt làm tê rần các đầu ngón tay cô. Đưa chiếc gáo dừa lên ngang sống mũi, My nhắm mắt hít một hơi nhẹ. Nước mưa hứng từ ngói cổ không hề có mùi clo hắc nồng như nước máy thành phố; nó thoang thoảng mùi đất nung ngấu kỹ qua nắng mưa, phảng phất hương hoa bưởi cuối mùa rụng đâu đó nơi kẽ ngói, và dường như vương vất cả mùi khói trầm hương từ gian thờ trên nóc nhà rường tỏa ra.

Bưng xô nước vào lại chái bếp, My đặt nó bên cạnh chiếc chõng tre con. Ở đó, thau gạo Khang Dân hạt tròn lẳn, đục đục mà Trần Minh Thiện đã cẩn thận chọn giúp cô từ sạp gạo của bà Bảy bên chợ An Cựu sớm hôm kia đã được cô đãi sạch trấu và sạn, ngâm ngập trong nước mưa từ chập tối qua. Trải qua một đêm ngậm no nước mưa lạnh, từng hạt gạo đã trương nứt nhẹ, khi My dùng hai đầu ngón tay bóp thử thì hạt gạo lập tức vỡ vụn ra thành chất bột mịn màng, mềm tơi xốp.

Cô ngồi xuống chiếc đẩu gỗ, bắt đầu chuẩn bị chiếc cối đá xanh nguyên khối kê ở góc bếp sát vách đất. Chiếc cối này nặng trịch, bốn góc đế đã mòn vẹt, lòng cối nhẵn thín sau mấy mươi năm nghiền hạt nuôi sống gia đình. My lau sạch lòng cối bằng chiếc khăn vải xô mềm, đổ một gáo nước mưa tráng qua máng cối rồi đặt một chiếc vại sành nhỏ bên dưới vòi chảy.

Dù những khớp ngón tay còn hơi nhức mỏi vì mấy ngày qua phải nhóm bếp, khuấy cháo và rửa dọn không ngơi nghỉ, My vẫn kiên nhẫn dùng chiếc muôi gỗ mít múc từng muỗng gạo lẫn với nước mưa tra vào miệng cối. Tay phải cô nắm chặt cần gỗ, bắt đầu xoay đều từng vòng tròn chậm rãi, nhịp nhàng theo chiều kim đồng hồ. Tiếng đá nghiền vào đá phát ra những âm thanh ràn rạt, trầm đục và rền rĩ, vang vọng khắp gian bếp vắng. Sau vài vòng quay đầu tiên, từ kẽ rãnh của thớt cối trên, một dòng sữa bột màu trắng muốt, đặc sánh và mịn màng bắt đầu rỉ ra, chảy róc rách qua máng đá rồi rơi vào lòng vại sành.

Mùi bột gạo tươi mới xay bốc lên, thanh khiết và ngai ngái, tràn ngập không gian. My cặm cụi xay, vừa xay vừa châm thêm từng ngụm nước mưa nhỏ để bột không bị nghẹn hay khô khét vì ma sát đá. Từng vòng quay của cần cối cuốn My vào một trạng thái tĩnh lặng kỳ lạ. Ở Sài Gòn, vào giờ này, có lẽ cô đã hòa mình vào dòng xe cộ ken đặc trên đường Điện Biên Phủ, đầu óc căng như dây đàn để chuẩn bị bài thuyết trình chiến lược tiếp thị, hoặc đang hối hả gõ bàn phím bên ly cà phê mua vội ở chuỗi cửa hàng tiện lợi. Ở đó, mọi thứ đều tính bằng giây, bằng phút, bằng chỉ số đo lường hiệu suất và những biểu đồ tăng trưởng nhảy múa trên màn hình phẳng. Còn ở đây, dưới mái nhà dột nát này, thời gian dường như ngưng đọng lại trong từng vòng quay nặng trịch của chiếc cối đá cổ truyền, nơi giá trị chỉ được đo bằng độ mịn của dòng sữa gạo và sự kiên nhẫn của người cầm cần xoay.

Xay xong mẻ gạo cuối cùng, My buông cần cối, khẽ xoa nắn cổ tay đã mỏi nhừ. Cô ngồi thụp xuống chiếc đẩu gỗ, lật giở từng trang giấy ố vàng của cuốn sổ tay gia truyền, chăm chú đọc lại phần chữ viết về công đoạn pha bột:

*"Xay gạo xong thì hòa thêm chút bột lọc theo tỷ lệ ba phần gạo một phần lọc. Trộn đều rồi để bột nghỉ. Lắng nước là công đoạn quyết định sống chết của chiếc bánh. Khi bột chìm xuống đáy vại, gạn bỏ phần nước trong nổi lên trên, rồi đong lại đúng một lượng nước mưa sạch tương đương khuấy đều vào. Bột non nước thì bánh nhão nhoét, bột già nước thì bánh khô chai sượng đáy. Tỷ lệ vừa vặn thì khi rót vào chén gặp hơi nóng cực đại, bột mới tự rút ruột mà trũng xuống, tạo thành một lòng xoáy sâu hoắm như mắt chim sẻ."*

My cẩn thận đong bột lọc khô—loại bột sắn lọc mịn như hạt phấn mà người dân vùng đất cát Phong Điền phơi được nắng—rồi rây từ từ vào vại bột gạo ướt. Cô dùng bàn tay sạch khuấy nhẹ cho hai thứ bột hòa quyện vào nhau, không để sót lại một cục vón nào, rồi đậy chiếc mẹt tre con lên miệng vại, để bột bắt đầu quá trình lắng đọng tự nhiên.

Khoảng hai mươi phút trôi qua, lớp tinh bột nặng bắt đầu chìm xuống đáy, phân tách rõ rệt với lớp nước chua trong vắt hơi ngả màu hổ phách nổi lên phía trên. My ngồi bó gối bên chiếc vại sành, ánh mắt dán chặt vào từng ngấn nước đang lắng dần. Cảm giác hồi hộp, phấp phỏng xâm chiếm lấy cô, chẳng khác nào những giây phút cô ngồi trước màn hình máy tính đếm từng lượt tương tác của khách hàng trong một chiến dịch truyền thông bạc tỷ. Nhưng ở nơi đây, không có một con số điện tử nào hiển thị để báo trước sự thành bại. Mọi thứ chỉ phó mặc cho sự vận động âm thầm của hạt bột và trực giác cảm nhận mong manh của chính cô.

"Đừng có nhìn chằm chằm rứa, bột nó ngượng đấy," một giọng nói trầm ấm, rành rẽ và mang âm sắc mộc mạc của người xứ cồn bãi bất ngờ vang lên bên bậu cửa bếp.

My giật mình ngước lên, suýt chút nữa làm đổ chiếc muôi gỗ đang gác trên miệng vại.

Trần Minh Thiện đã đứng ở ngưỡng cửa tự lúc nào. Anh mặc một chiếc áo khoác gió sẫm màu đã bạc thếch ở hai bên cùi chỏ, mái tóc dày hơi ẩm ướt vì những hạt mưa bụi li ti bám vào, trên tay xách một chiếc rổ tre nhỏ đậy kín bằng một tấm lá chuối tươi còn đọng những giọt sương mai tròn xoe.

"Anh Thiện sang sớm rứa?" My đứng dậy, khẽ mỉm cười xoa hai bàn tay vào chiếc tạp dề vải thô đã lấm tấm vài vệt bột trắng.

"Nghe tiếng cối đá rền vang bên tường từ hồi gà gáy là biết cô học trò bắt đầu bài tập thứ hai rồi," Thiện bước vào hiên, dựng chiếc ô cán tre cũ vào góc tường rồi đặt chiếc rổ lên chiếc bàn gỗ sơ chế. "Tôi vừa ghé bến đò sớm bên kia sông lấy mớ tôm đất này. Tôm phá Tam Giang mùa này con chỉ nhỏ bằng ngón tay út thôi, nhưng vỏ mỏng dính, thịt chắc và ngọt đậm vô cùng. Đem làm tôm chấy mới lên được cái màu cam gạch tự nhiên, không cần chấm một giọt phẩm màu nào cả."

Thiện khẽ lật tấm lá chuối ra. Bên dưới lớp lá xanh mướt là những con tôm đất tươi rói, vỏ mỏng màu xanh trong ánh chút sắc hồng nhạt của rạng đông, râu tôm dài mảnh, mình tôm mẩy tròn và vài con vẫn còn búng tanh tách nhẹ nhàng vào thành rổ tre.

"Bột lắng đến đâu rồi?" Thiện cúi người xuống, ghé mắt nhìn vào chiếc vại sành, ánh mắt điềm tĩnh và tinh tường quan sát ngấn nước đang phân tầng.

"Em vừa gạn xong lớp nước trong thứ nhất, đang chuẩn bị châm lại nước mưa mới," My đáp, giọng không giấu được sự lo lắng thấp thỏm. "Em chỉ sợ mình căn lượng nước không chuẩn. Trong sổ bà nội viết 'đong bằng mắt, nhận bằng tay', nhưng em quen làm việc với ly đong có vạch chia mililit rồi, giờ không có dụng cụ đo lường chính xác, em thấy run quá."

Thiện khẽ bật cười, nụ cười hiền hậu làm gian bếp ẩm u dường như sáng bừng lên đôi chút: "Người Huế nấu ăn bằng cảm giác hiện diện, My à. Đừng để những con số máy móc trói buộc cái trực giác của mình. Cô cứ dùng chính cái tô sứ sứt mép kia kìa, múc bỏ bao nhiêu bát nước trong ra thì đong trả lại đúng bấy nhiêu bát nước mưa sạch trong lu vào. Đừng sợ sai. Bột cũng có tính khí như con người rứa, mình chăm sóc nó bằng tất cả sự chú tâm và tôn trọng thì tự khắc nó sẽ ngoan ngoãn nghe lời mình."

Dứt lời, Thiện xắn cao tay áo len, kéo chiếc đẩu gỗ lại gần chậu nước nhỏ kê bên vách. "Nào, qua đây tôi chỉ cho cô cách sơ chế tôm đất. Bà Lành làm tôm chấy công phu lắm, tỉ mỉ từng li từng tí chứ không làm ẩu tả như người ta đem tôm đi xay thịt bằng máy công nghiệp bây giờ đâu."

Thiện ngồi xuống, thoăn thoắt nhặt từng con tôm đất, dùng ngón tay bẻ nhẹ phần gai nhọn ở đầu và ngắt sạch râu tôm, giữ lại toàn bộ phần gạch béo ngậy ở đầu tôm. My ngồi xuống bên cạnh, chăm chú làm theo từng động tác của anh. Đôi bàn tay Thiện thô ráp, chai sạn vì công việc đồng áng và làm mộc, nhưng khi chạm vào con tôm nhỏ bé lại mềm mại, khéo léo lạ kỳ.

Sau khi rửa qua tôm bằng một chậu nước mưa pha chút muối hạt loãng cho sạch nhớt, Thiện cho toàn bộ tôm vào một chiếc nồi đất nung nhỏ có nắp đậy kín. Anh đặt nồi đất lên một bếp than nhỏ đã được khơi hoa than đỏ hồng.

"Tuyệt đối không châm thêm một giọt nước nào vào nồi tôm," Thiện dặn, mắt chăm chú nhìn ngọn lửa le lói. "Đun chín tôm bằng chính hơi nước và chất ngọt tự thân tiết ra từ thịt tôm trên bếp than liu riu. Như rứa thì tôm mới giữ trọn được vị ngọt nguyên bản của đầm phá."

Chỉ sau vài phút, tiếng lách tách nhè nhẹ vang lên từ lòng nồi đất. Hơi nước ngọt ngào bốc lên qua lỗ thông hơi nhỏ trên nắp nồi, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt của hải sản tươi chín tới. Khi vỏ tôm vừa cong tròn lại và chuyển sang một màu đỏ ửng tươi tắn, Thiện nhanh tay nhấc nồi đất xuống bếp, trút tôm ra một chiếc rổ tre cho nguội bớt rồi cùng My lột sạch vỏ tôm, chỉ giữ lại phần thịt tôm đỏ au và phần gạch vàng ươm.

"Giờ đến công đoạn cần sức bền và sự kiên nhẫn đây," Thiện chỉ vào chiếc cối đá nhỏ dùng riêng để giã gia vị kê trên chõng. "Cho tôm vào cối đá này, dùng chày gỗ ổi giã thật đều tay. Nhớ là giã dập, giã tơi cho từng thớ thịt tôm bung ra thành sợi nhỏ li ti, chứ không được quết mạnh tay như quết giò chả kẻo tôm bị nát bấy mất kết cấu sợi."

My đón lấy chiếc chày gỗ ổi nặng trịch, bắt đầu nện từng nhịp xuống lòng cối đá. Tiếng chày nện cùm cụp, cùm cụp vang lên nhịp nhàng. Từng thớ thịt tôm săn chắc dưới sức nén đều đặn dần dần tơi xốp, chuyển thành những cụm sợi màu hồng cam mịn màng.

Trong lúc My giã tôm, Thiện bắc một chiếc chảo gang đáy dày lên chiếc lò than lớn. Lò than đã được anh quạt cho đỏ rực, nhưng ngay lập tức Thiện dùng chiếc muôi sắt gạt bớt những hòn than củi lớn ra ngoài chiếc vỉ sắt, chỉ để lại một lớp than hồng êm ả dưới đáy lò rồi phủ lên trên một lớp tro bếp mỏng màu xám bạc.

"Lửa sên tôm chấy phải tuyệt đối là lửa than tro," Thiện giải thích, giọng nói trầm xuống đầy vẻ cẩn trọng của một người đã nằm lòng từng bí quyết cổ truyền. "Chảo gang dày giữ nhiệt rất sâu và đều. Đổ tôm đã giã tơi vào chảo gang khô cong, không được dùng dầu ăn hay mỡ lợn ở công đoạn này. Thêm vào một thìa nước mắm ngon loại một của làng cá Thuận An, nửa muỗng đường cát vàng và một xíu tiêu sọ đập dập thôi. Đôi tay phải đảo liên tục, dùng lưng muôi gỗ miết nhẹ từng thớ tôm vào đáy chảo ráp."

My tiếp nhận chiếc muôi gỗ từ tay Thiện, đứng trước chiếc chảo gang đang ấm dần lên. Dưới sức nóng êm dịu của lớp tro than, hơi ẩm còn sót lại trong thớ tôm bắt đầu bốc lên thành từng làn khói mỏng thơm phức. Mùi nước mắm cá cơm nguyên chất quyện với vị ngọt của thịt tôm và vị nồng ấm của tiêu sọ tạo nên một hương thơm nồng nàn, đánh thức mọi giác quan trong sớm lạnh.

My miết lưng muôi gỗ vào lòng chảo gang ráp ráp, kiên nhẫn đảo từng vốc tôm từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên. Những sợi thịt tôm dần dần khô ráo, bung xốp ra như những sợi bông gòn màu đỏ cam rực rỡ, lấp lánh như những hạt bụi vàng dưới ánh sáng le lói hắt qua khung cửa sổ chái bếp.

"Được rồi đó My, tôm chấy như rứa là đạt đỉnh rồi," Thiện khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ hài lòng thực sự. "Sợi tôm xốp mềm, thơm lựng, cắn vào thấy ngọt đậm đà tan dần trên đầu lưỡi mà không bị khô xác hay khét cạnh."

My trút mẻ tôm chấy ra một chiếc đĩa sứ sâu lòng màu trắng hoa lam. Màu cam gạch rực rỡ, ấm áp của tôm chấy nổi bật giữa không gian bếp cũ kỹ ám khói, làm lòng My dâng lên một cảm giác nhẹ nhõm, tự hào nho nhỏ.

"Bây giờ đến phần quan trọng nhất: hấp bánh," Thiện đứng thẳng dậy, bước sang chiếc lò than lớn nơi đặt xửng hấp nhôm ba tầng to bản của bà Lành. "Bánh bèo Huế thành hay bại, sống hay chín đều nằm ở cái miệng lò này đây. Nước trong xửng phải sôi sùng sục, nắp xửng phải kín mít để hơi nóng tích tụ bên trong cuồn cuộn như mây ngàn. Trước khi đổ bột, từng chiếc chén sành phải được xếp vào xửng hấp cho nóng ran lên đến tận đáy chén."

My mở chạn bát gỗ, cẩn thận lấy ra những chồng chén sành nhỏ xíu—loại chén tráng men hoa cúc lam mộc mạc, lòng chén hơi nông và dày dặn, chuyên dùng để đổ bánh bèo của người xứ Huế xưa mà cô đã nhặt nhạnh và lau rửa sạch sẽ từ hôm dọn dẹp. Cô xếp từng chiếc chén ngay ngắn vào khay xửng nhôm.

Hơi nước sôi từ đáy nồi bốc lên ngùn ngụt qua những lỗ thoát hơi, làm mờ mịt cả cặp mắt kính của My. Cô phải tháo kính ra, nheo mắt cảm nhận luồng nhiệt nóng rực phả vào mặt.

Khi từng chiếc chén sành đã hấp đủ độ nóng và bốc hơi nghi ngút, My dùng một chiếc muôi đồng nhỏ, khuấy đều lại thau bột vừa lắng xong lần cuối, rồi thoăn thoắt múc từng muôi bột rót vào lòng chén. Tiếng bột gạo tươi gặp đáy sành nóng ran phát ra những tiếng xèo xèo êm tai. Mỗi chiếc chén cô chỉ rót lưng chừng hai phần ba, vừa vặn một lớp bột mỏng manh, không quá đầy cũng không quá vơi.

"Đậy nắp lại ngay! Canh đúng sáu phút lửa cực đại, tuyệt đối không được hé nắp thăm chừng kẻo thoát mất hơi nóng quý giá," Thiện nhắc nhở nghiêm giọng. "Nếu nhiệt độ bên trong không đều hoặc lửa than bị yếu nửa chừng, mặt bánh sẽ bị phồng rộp sần sùi như da cóc, còn tâm bột dưới đáy chén thì sẽ sượng ngắt, không bao giờ chín thấu được."

My đứng chôn chân bên cạnh bếp lò, tim đập thình thịch theo từng làn khói trắng cuộn trào qua mép nắp xửng nhôm. Tiếng nước sôi ùng ục bên dưới đáy nồi dồn dập như thúc giục. Chiếc kim giây trên chiếc đồng hồ đeo tay của My nhích từng nấc chậm chạp đến nghẹt thở. Một phút... hai phút... năm phút... Đúng sáu phút sau, cô dùng hai miếng giẻ lót dày nhấc mạnh nắp xửng ra theo phương thẳng đứng dứt khoát, để những giọt nước đọng trên nắp không kịp rơi ngược vào bề mặt những chiếc bánh non nớt.

Làn hơi nước nóng hổi bung tỏa mù mịt cả gian bếp. Khi làn sương trắng tan dần đi trong không khí lạnh, hiện ra trước mắt My là những chén bánh bèo màu trắng đục mướt mát. Và điều kỳ diệu đã xuất hiện: ngay chính giữa mỗi chiếc chén, lớp bột trắng ngần đã co rút lại một cách tự nhiên, tạo thành một vệt trũng sâu hoắm, tròn trịa.

"Lòng xoáy sâu hoắm rồi này anh Thiện ơi!" My reo lên sung sướng, gương mặt ửng hồng vì hơi nóng và niềm vui sướng rạng ngời như một đứa trẻ vừa vượt qua một kỳ thi khó khăn.

Thiện bước lại gần, cúi đầu nhìn thật kỹ mâm bánh còn đang bốc khói nghi ngút. Khác với vẻ phấn khích của My, đôi lông mày rậm của anh khẽ nhíu lại một thoáng rất nhanh, ánh mắt thoáng qua một tia đắn đo nhưng anh không nỡ dập tắt niềm hân hoan của cô gái trẻ. Anh chỉ trầm ngâm bảo: "Để nguội một chút cho bột se mặt lại rồi mới rắc nhân lên. Đừng nóng vội, bánh bèo ăn nóng quá cũng mất ngon mà ăn nguội quá cũng hỏng."

Mười phút sau, khi mặt bánh đã se lại và chuyển sang màu trắng trong ngà ngà, My hào hứng dùng chiếc thìa con rắc một nhúm tôm chấy đỏ cam rực rỡ vào chính giữa lòng xoáy của từng chiếc chén bánh. Cô điểm xuyết thêm vài mẩu tóp mỡ chiên giòn rụm màu vàng hổ phách và rưới một thìa nhỏ mỡ hành xanh mướt bóng bẩy lên trên.

Mâm bánh bèo bày ra trông vô cùng bắt mắt: sắc trắng tinh khôi của bột gạo, sắc đỏ cam ấm áp của tôm chấy Tam Giang, sắc xanh thẫm mướt mát của hành hoa và sắc vàng rộm của tóp mỡ hòa quyện vào nhau như một bức họa thu nhỏ đậm đà phong vị cố đô.

Cô cẩn thận xếp từng chồng chén bánh bèo vào chiếc làn mây đã lót sẵn tấm khăn vải trắng tinh, kèm theo một chai nước mắm ớt chỉ thiên xắt lát mỏng pha loãng với nước mưa và đường phèn mà Thiện đã nếm thử và gật đầu chuẩn thuận.

"Em mang sang tiệm may cho ông Phúc đây anh Thiện!" My phấn khởi nói, tay xách chiếc làn mây nặng trĩu, lòng tràn đầy tự tin.

Thiện nhìn theo bóng lưng My, đôi mắt anh chùng xuống với vẻ âu lo khó giấu. Anh bước theo cô ra đến tận cổng rào râm bụt, dặn với theo một câu đầy ngụ ý: "Đi cẩn thận nghe My. Mưa ướt, đá kiệt trơn trượt lắm đó. Và nhớ... lời bà Năm Sương đã dặn hôm trước nghe cô."

"Em nhớ rồi mà, tuyệt đối không nhắc đến chiếc áo dài xanh thiên thanh đâu anh đừng lo!" My ngoái lại cười tươi tắn rồi rảo bước nhanh ra con ngõ nhỏ.

***

Cơn mưa dầm buổi sáng mùa đông xứ Huế vẫn chưa có dấu hiệu ngơi nghỉ. Từng hạt mưa bụi giăng mắc một màn sương trắng mờ ảo bao phủ khắp những mái ngói rêu phong và những rặng tre xanh ngắt ven bờ sông An Cựu. Con kiệt nhỏ dẫn sang tiệm may của ông Phúc ngoằn ngoèo, lát những phiến đá xanh đã mòn vẹt vì bước chân của bao thế hệ, hai bên bờ tường gạch phủ đầy những dải dây leo ướt đẫm, xanh rì.

Tiệm may Phúc nằm nép mình ở đoạn cuối con phố nhỏ giao cắt với đường Phan Đình Phùng, nép bóng dưới tán một cây hoàng lan cổ thụ cành lá xum xuê đang rụng những cánh hoa vàng úa xuống mặt đường ướt át.

Đó là một ngôi nhà phố cổ kính xây dựng từ thời Pháp thuộc, những mảng tường vôi màu vàng cổ điển đã bong tróc từng mảng lớn theo năm tháng, để lộ ra những hàng gạch thẻ màu đỏ au phong trần. Phía trên khung cửa ra vào bằng gỗ sơn nâu sẫm treo một tấm biển hiệu bằng gỗ dổi sơn đen đã nứt nẻ đôi đường, trên mặt biển khắc ba chữ thếp vàng đã phai mờ cùng thời gian: *Tiệm may Phúc*.

My đứng trước bậc thềm hiên lát gạch hoa xi măng cũ, khẽ giũ sạch những hạt nước mưa đọng trên vạt áo len, hít một hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh rồi đưa tay gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ. Cánh cửa mở hờ phát ra một tiếng cót két khô khốc, nặng nề phá vỡ không gian yên tĩnh của buổi sớm mưa.

"Dạ, cháu chào bác Phúc ạ."

Bên trong tiệm may, một không gian u trầm, tĩnh lặng và phảng phất vẻ hoài cổ mở ra trước mắt My. Mùi vải vóc mới cũ ẩm ướt trộn lẫn với mùi sáp nến dùng để vuốt chỉ, mùi dầu máy khâu ngai ngái và mùi khói thuốc lá thơm thoang thoảng tạo nên một bầu không khí trầm mặc, tách biệt hoàn toàn với thế giới ồn ào ngoài kia. Trên chiếc bàn cắt may bằng gỗ lim to bản kê ngay giữa gian phòng khách, những cuộn vải lụa Hà Đông, gấm vân và lụa tơ tằm đủ màu sắc được xếp đặt ngăn nắp, bọc cẩn thận trong các lớp nilon bảo quản. Chiếc máy may đạp chân hiệu Singer đen bóng với bàn đạp bằng gang đúc uốn lượn hình hoa văn tinh xảo được đặt sát bên khung cửa sổ mở hé, nơi có luồng ánh sáng mờ đục rọi vào.

Một người đàn ông luống tuổi, dáng người gầy guộc nhưng thẳng thắn, mái tóc đã bạc phơ được chải ngược ra sau một cách nề nếp, đang cặm cụi dùng một viên phấn may hình tam giác vạch những đường cong mềm mại, chuẩn xác lên một tấm vải màu tím than. Chiếc thước dây bằng vải màu vàng đã sờn rách mép vắt hờ hững qua bờ vai gầy của ông.

Nghe tiếng cất giọng chào của My, ông Phúc khẽ dừng tay kéo, tháo chiếc kính lão gọng đồi mồi xuống, đặt lên bàn rồi ngước mắt nhìn My qua làn khói thuốc mỏng manh. Ánh mắt ông sâu thẳm, sắc sảo như muốn soi thấu tâm can người đối diện, nhưng lại đượm một vẻ xa cách, dè dặt và lạnh lùng đặc trưng của những người thợ thủ công cựu trào xứ Huế.

"Cháu là... con gái anh Quang?" Ông Phúc cất giọng trầm trầm, âm sắc chuẩn xác đến từng dấu nhấn, nhưng giọng điệu phẳng lặng như mặt nước hồ mùa đông không một gợn sóng.

"Dạ, cháu là Kiều My, cháu nội của bà Lành ở bên xóm trong ạ," My khẽ cúi đầu, hai tay giữ chặt quai chiếc làn mây lót khăn trắng. "Bố cháu có dặn cháu gửi lời kính thăm sức khỏe của bác. Dạo này bác có được khỏe không ạ?"

Ông Phúc đặt viên phấn may xuống mặt bàn gỗ, ánh mắt lướt qua gương mặt My một thoáng rồi dừng lại trên chiếc khăn tang nhỏ bằng vải xô màu trắng cô vẫn còn cài trang trọng bên ngực áo len. Một nét xót xa mờ nhạt, một thoáng bùi ngùi thoáng lay động trong đáy mắt già nua của ông, nhưng rồi vẻ nghiêm cẩn, khép kín nhanh chóng kéo lại như một tấm màn nhung buông xuống.

"Tôi vẫn thế thôi. Người già như tấm vải vụn bỏ đi, sống qua ngày đoạn tháng bên cái máy khâu này," ông Phúc chậm rãi đáp, rồi đưa mắt nhìn về phía chiếc làn mây trên tay cô. "Hôm nay cháu lặn lội mưa gió sang tìm tôi có việc chi rứa? Nhà tôi dạo này ít nhận may đồ mới rồi, mắt mũi kém, đường kim mũi chỉ không còn ngay ngắn như xưa nữa."

"Dạ thưa bác, cháu không đến may đồ ạ," My vội vàng xua tay, cẩn thận đặt chiếc làn mây lên một góc chiếc bàn cắt may rộng lớn. "Cháu... cháu sang đây là để thực hiện một trong những di nguyện mà bà nội cháu đã ghi lại trong cuốn sổ tay trước lúc lâm chung. Bà dặn cháu phải tự tay vào bếp, nấu món bánh bèo chén mang sang kính biếu bác dùng điểm tâm. Bánh này cháu vừa mới vớt ra khỏi xửng hấp trong bếp nhà, còn nóng hổi lắm ạ."

Nghe nhắc đến hai chữ "bà Lành" cùng món "bánh bèo chén", đôi lông mày bạc như cước của ông Phúc khẽ giật nhẹ một cái. Đôi bàn tay gầy guộc với những khớp xương gồ ghề của ông bất giác run rẩy khẽ, rồi ông đứng lặng im như một pho tượng, nhìn chằm chằm vào chiếc làn mây phủ khăn trắng như thể bên trong đó đang chứa đựng một mảnh ký ức vừa thân thương vừa nhức nhối của quá khứ.

"Bà Lành dặn cháu rứa à?" Ông Phúc lẩm bẩm trong cổ họng, rồi khẽ buông một tiếng thở dài thườn thượt, nghe xót xa như tiếng lá rụng. "Thôi được rồi, cháu đã có lòng lặn lội mưa gió mang sang thì cứ mở ra để đó."

My mừng thầm trong bụng, vội vàng vén tấm khăn lót màu trắng, bưng hai chiếc chén bánh bèo xinh xắn đặt lên chiếc đĩa lót bằng sứ trên mặt bàn cắt may. Cô nhanh nhẹn mở nắp chai nước mắm, cẩn thận rót một thìa nước mắm ớt chỉ thiên màu hổ phách vào chính giữa lòng xoáy của từng chiếc chén bánh, rồi dùng cả hai tay kính cẩn dâng chiếc thìa nhôm nhỏ cho ông Phúc:

"Cháu mời bác dùng thử ạ. Cháu đã làm đúng theo từng lời bà nội căn dặn trong sổ: nước mưa đầu mùa hứng trong lu sành, gạo Khang Dân ngâm qua đêm xay cối đá, tôm đất phá Tam Giang giã tay sên trên chảo gang với lửa than tro..."

Ông Phúc đón lấy chiếc thìa nhôm từ tay My bằng một cử chỉ miễn cưỡng, chậm rãi. Ông không vội vàng đưa bánh vào miệng thưởng thức ngay như những người khách thông thường, mà hơi cúi đầu xuống, nheo mắt quan sát từng chi tiết của chiếc chén bánh bèo dưới ánh sáng ngọn đèn dầu nhỏ đặt trên bàn may. Đôi mắt tinh tường của một người thợ may cả đời gắn bó với từng đường tà, từng nếp gấp tơ lụa dường như không bỏ qua bất kỳ một khuyết tật nhỏ nhặt nào dù là mờ nhạt nhất.

Ông khẽ dùng đầu mũi thìa nhôm ấn nhẹ vào mép ngoài của chiếc bánh. Mặt bánh không hề có độ đàn hồi dẻo dai lún xuống rồi lập tức bật nảy trở lại như ông mong đợi, mà hơi lún sâu một cách nhão nhoét, yếu ớt. Ông Phúc xắn một miếng bánh nhỏ ở phần rìa ngoài, đưa vào miệng nhai chầm chậm, nét mặt đăm chiêu. Sau đó, ông đưa mũi thìa xắn tiếp một miếng ngay chính giữa phần lòng xoáy sâu hoắm—nơi lớp bột tích tụ dày nhất của chiếc bánh bèo.

My nín thở đứng nhìn, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo len, tim đập thình thịch trong lồng ngực chờ đợi một lời khen ngợi hay ít nhất là một cái gật đầu công nhận.

Sau một lúc nhai rất lâu, rất kỹ trong sự im lặng nặng nề bao trùm cả căn phòng, ông Phúc buông chiếc thìa nhôm xuống chiếc đĩa lót. Tiếng kim loại va chạm vào bề mặt gốm sứ phát ra một âm thanh *leng keng* khô khốc, sắc lạnh làm My giật thót mình.

Ông lắc đầu chầm chậm. Trên gương mặt già nua đầy những nếp nhăn thời gian không hề lộ ra một nét giận dữ nào, nhưng sự nghiêm khắc, thất vọng thì hiện rõ mồn một trong từng ánh nhìn.

"Bột chưa tới nơi tới chốn, cháu gái à," ông Phúc cất giọng, âm sắc nhẹ tênh nhưng từng lời buông ra như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự háo hức, tự tin của My.

"Dạ... sao cơ ạ bác?" My lắp bắp, lồng ngực thắt lại nghẹn ngào. "Cháu... cháu thấy bánh đã nổi lòng xoáy sâu lắm rồi mà bác..."

"Về mặt hình thức bên ngoài, cái lòng xoáy này nhìn qua thì giống hệt bánh của bà nội cháu làm năm xưa thật đấy. Nhưng cháu mới chỉ học được cái mã bên ngoài mà chưa thấu được cái cốt lõi bên trong," ông Phúc điềm tĩnh chỉ ngón tay trỏ gầy guộc vào phần bột vừa bị xắn dở trong lòng chén. "Cháu quá vội vàng, thúc ép ngọn lửa quá sớm trong khi bột chưa ngậm đủ hơi nóng một cách từ từ để chín nục từ tâm. Rìa ngoài của chiếc bánh thì bị nhão vì cháu hòa bột non tay, thừa nước lọc; nhưng ngay chính giữa lòng chén—chỗ bột dày nhất—thì bột vẫn còn sượng sống, cắn vào miệng thấy lợn cợn hạt tinh bột chưa kịp nở bung hết. Bánh bèo Huế chuẩn mực phải dai mướt từ ngoài vào trong, đưa vào miệng là trơn tuột, dẻo quánh mà tuyệt đối không dính răng. Cái chén bánh này của cháu... còn sống đáy."

Ông Phúc khẽ đẩy chiếc đĩa lót đựng hai chén bánh ra xa một chút, giọng nói chùng xuống đầy vẻ nghiêm cẩn: "Quy tắc của ẩm thực xứ này cũng giống hệt như nghề may áo dài truyền thống rứa thôi cháu à. Một đường chỉ may ẩu tả, một đường tà bị vặn có thể dùng chiếc bàn là than ủi cho phẳng phiu để người ta nhìn tạm vừa mắt lúc ban đầu, nhưng khi mặc lên người thì lập tức cộm ngứa, xô lệch cả tà áo ngay. Món bánh chưa chín thấu tới tâm can này, tôi không thể nhận được. Cháu mang về đi."

Từng lời từ chối thẳng thừng, đanh thép của người thợ may già như những nhát búa nện thẳng vào lòng kiêu hãnh và sự tự tin vừa mới nhen nhóm của My. Cô đứng chết lặng giữa căn phòng may cổ kính, hai gò má nóng bừng lên vì xấu hổ, bẽ bàng và thất vọng tràn trề. Lời cảnh báo nghiêm khắc của Thiện lúc sáng và quy tắc bất di bất dịch trong cuốn sổ tay di nguyện của bà nội lại dội về trong tâm trí cô: *Món nấu hỏng không được tính, bắt buộc phải đổ bỏ làm lại từ đầu.*

"Cháu... cháu xin lỗi bác," My cúi gằm mặt xuống sàn gạch, hai hốc mắt cay xè, giọng cô nghẹn ứ lại trong cổ họng. "Cháu nông nổi quá... Cháu cứ ngỡ nhìn thấy bánh nổi lòng xoáy tròn trịa là mình đã thành công rồi..."

"Nấu ăn không phải là việc làm cho xong một món nợ nghĩa vụ, lại càng không phải để chụp một tấm hình cho bắt mắt người đời," ông Phúc chậm rãi nói, ánh mắt xa xăm nhìn ra khung cửa sổ mịt mùng mưa trắng xóa. Đột nhiên, ông ngập ngừng một lát, như thể vừa chạm vào một miền ký ức xa xôi, rồi cất giọng hỏi bâng quơ: "Bố cháu... anh Quang dạo này còn giữ thói quen hút thuốc lá thơm hiệu Bastos vỏ xanh nữa không?"

My ngẩn người trước câu hỏi đột ngột và dường như chẳng hề liên quan gì đến chuyện chiếc bánh của ông, cô vội lau vội khóe mắt, lễ phép đáp: "Dạ thưa bác... bố cháu đã bỏ thuốc lá hoàn toàn mấy năm nay rồi ạ, từ đợt bố bị một trận ho dai dẳng kéo dài cả mùa đông ở trĩu ngực. Giờ bố cháu chỉ thỉnh thoảng uống trà sen vào mỗi sớm thôi ạ."

Ông Phúc khẽ gật đầu, khóe môi thoáng hiện một nụ cười kín đáo, u buồn và khó đoán: "Ừ, bỏ được thứ khói độc ấy là tốt. Hồi còn trai trẻ, anh ấy hay ngồi hút thuốc lá ngoài bậc hiên này đợi bà Lành gói bánh mang sang đây..."

Nói đến đó, ông Phúc đột ngột dừng lại, không nói thêm một lời nào nữa. Ông lẳng lặng quay người bước về phía chiếc máy may đạp chân cũ kỹ đặt bên cửa sổ.

Trong khoảnh khắc ấy, ánh mắt My vô tình nhìn theo và nhận thấy ở góc bên phải của chiếc máy may đạp chân có một ngăn kéo nhỏ bằng gỗ sơn then đen bóng. Chiếc then cài bằng đồng đã hoen rỉ xanh rì vì thời gian, nhưng lại được khóa chặt bằng một chiếc ổ khóa kim loại nhỏ sáng loáng—dường như người chủ của nó luôn muốn niêm phong một bí mật sâu kín nào đó, không bao giờ muốn hé mở cho bất kỳ ai nhìn thấy. Nhớ lại lời dặn dò tha thiết của bà Năm Sương hôm trước—tuyệt đối không được tò mò hay khơi gợi chuyện chiếc áo dài lụa màu xanh thiên thanh trước mặt ông Phúc—My cắn chặt môi, nuốt ngược mọi thắc mắc vào trong lòng.

"Cháu xin phép bác thu dọn để bác tiếp tục làm việc ạ," My lí nhí nói, cố kìm nén những giọt nước mắt tủi thân đang chực trào ra mi mắt.

Cô run rẩy đưa tay thu dọn hai chiếc chén bánh bèo còn dở dang đặt trở lại vào chiếc làn mây. Vì đôi tay còn run rẩy vì xúc động và xấu hổ, chiếc đĩa lót bằng sứ đã va mạnh vào mép bàn cắt may bằng gỗ lim, làm xô lệch một tập bìa rập áo cũ kỹ phủ đầy bụi bặm đang nằm ở góc bàn.

Tập giấy rập bằng bìa các-tông ngả màu nâu sẫm rơi xuống đất, làm lộ ra một góc mặt bàn gỗ vốn được che chắn dưới một tấm kính dày cáu bẩn vì thời gian và bụi vải. My vội vàng cúi xuống nhặt tập giấy rập lên để lau bụi và tạ lỗi với người thợ may già.

Nhưng đúng vào giây phút ấy, ánh mắt của My bỗng nhiên khựng lại, chạm vào một vật nằm ép chặt ngay dưới lớp kính dày của mặt bàn cắt may.

Đó là một mảnh vải gấm hoa đào màu hồng phấn đã sờn rách mép, chất vải lụa tơ tằm cổ truyền đã phai nhạt sắc thắm qua mấy mươi năm mưa nắng của thời gian. Mảnh vải chỉ to bằng bàn tay người lớn, được vuốt phẳng phiu, ép chặt ngay dưới tấm kính trong suốt, nằm kề bên chiếc kéo cắt vải bằng thép đen bóng đã mòn chuôi.

Và trên nền tấm vải gấm hoa đào phai màu ấy, đập vào mắt My là những dòng chữ viết tay vô cùng nắn nót, quen thuộc đến thắt nghẽn lồng ngực—những nét chữ mực tím nghiêng nghiêng, thanh thoát nhưng run rẩy của bà nội Lành:

*Kiều My — Ba tuổi: Cao 92 phân, ngực 50, eo 48. (Bé hay hờn dỗi, lúc may áo nhớ chừa nẹp cổ rộng ra một chút kẻo cháu khó thở).* *Kiều My — Năm tuổi: Cao 108 phân. Bắt đầu biết vòi bà nội nấu chè hạt sen bọc long nhãn mỗi độ vào hè.* *Kiều My — Mười tuổi (theo bố về quê ăn giỗ ông nội): Cao 135 phân. Người gầy nhẳng như nhánh củi khô, tay chân dài, tính nết hiếu động, thích mặc áo rộng rãi để chạy nhảy hái hoa ngoài bờ sông An Cựu.* *Kiều My — Mười tám tuổi (mùa hè trước ngày vào Sài Gòn nhập học đại học): Cao 162 phân, eo 62. Dặn ông Phúc lựa tấm gấm hoa đào đẹp nhất, dệt khéo nhất, để dành đó mai mốt cháu My lấy chồng thì cắt may cho cháu chiếc áo dài cưới cổ truyền xứ Huế...*

Dòng chữ viết tay cuối cùng ấy bị ngắt quãng đột ngột bởi một vết ố tròn màu nâu nhạt, loang lổ trên mặt vải gấm—dường như là dấu vết của một giọt nước mắt đã rơi xuống từ rất lâu, thấm sâu vào từng sợi tơ rồi khô cạn theo năm tháng.

My đứng chết sững giữa gian phòng. Toàn thân cô run rẩy bần bật như vừa bị một dòng điện cực mạnh chạy dọc sống lưng.

Ký ức ngủ quên suốt mười hai năm bỗng chốc vỡ òa, ùa về cuồn cuộn như thác lũ trong tâm trí My.

Cô nhớ lại rồi. Mùa hè năm mười tám tuổi rực rỡ nắng vàng, ngày cô nhận được giấy báo trúng tuyển vào một trường đại học danh tiếng ở Sài Gòn, cả gia đình nội ngoại hân hoan mở tiệc ăn mừng. Buổi chiều hôm ấy, bà Lành đã âu yếm nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của cô, dắt cô băng qua con kiệt đá ngập hoa hoàng lan để sang tiệm may của ông Phúc. Bà kéo cô đứng trước tấm gương lớn, vuốt ve mái tóc cô và bảo với cô bằng chất giọng Huế ngọt ngào: *"Sang đây cho bác Phúc đo lại số đo nghe con, mai mốt cháu gái cưng của bà làm cô dâu, bà sẽ may cho con chiếc áo dài cưới bằng gấm hoa đào đẹp nhất xứ Huế này."*

Thế nhưng khi ấy, tâm trí của một thiếu nữ mười tám tuổi ngây ngô, nông nổi và đầy ảo vọng chỉ hướng về mảnh đất Sài Gòn hoa lệ, về những tòa nhà cao tầng chọc trời rực rỡ ánh đèn màu, về những bộ vest công sở thời thượng và nhịp sống sôi động, hào nhoáng của phương Nam. Cô đã vùng vằng rút tay ra khỏi tay bà, nhăn nhó mặt mày mà nói những lời vô tâm, cạn nghĩ: *"Bây giờ thời buổi nào rồi mà còn mặc áo dài lụa cưới cổ lỗ sĩ, rườm rà như thời phong kiến nữa hả bà? Bạn bè con sau này cưới nhau người ta toàn thuê váy cưới đuôi cá trắng tinh xòe bồng nhập khẩu từ Tây hết rồi!"*

Sau lần vùng vằng nông nổi ấy, My bước chân vào giảng đường đại học, rồi bị cuốn phăng vào guồng quay khốc liệt, nghiệt ngã của những chiến dịch truyền thông tiếp thị tại công ty Sao Nam. Cô mải miết chạy theo những bản kế hoạch dự án trị giá bốn tỷ đồng, những cuộc họp thâu đêm suốt sáng bên màn hình máy tính xanh lét, những buổi tiệc tùng tiếp đãi đối tác sực mùi rượu tây và danh vọng phù hoa.

Mười hai năm đằng đẵng trôi qua, cô chưa từng một lần mở miệng hỏi bà nội về tấm vải gấm hoa đào hay chiếc áo dài cưới năm xưa. Cô thậm chí đã hoàn toàn lãng quên rằng mình từng có một người bà già nua, lưng còng tóc bạc, vẫn âm thầm đều đặn mỗi năm một lần chống gậy đi bộ sang tiệm may cũ kỹ này, tỉ mẩn nhờ người thợ may già ghi chép lại từng cột mốc lớn lên, từng thay đổi về vóc dáng của đứa cháu gái vô tâm trôi dạt nơi đất khách quê người.

Ngay cả khi cô đi xa biền biệt hàng năm trời không về thăm quê, những cuộc gọi điện thoại hiếm hoi chỉ kéo dài chớp nhoáng vài ba phút với những câu hỏi han chiếu lệ vội vã, thì ở nơi góc phố ẩm ướt, mịt mùng mưa gió này, từng chỉ số chiều cao, từng vòng eo của cô vẫn được người bà già nua nâng niu, gìn giữ và trân trọng như báu vật thiêng liêng nhất của cuộc đời mình.

Một giọt nước mắt nóng hổi, mặn chát lăn dài trên má My, buông mình rơi xuống mặt kính bàn cắt may, làm nhòe đi dòng chữ tím *Kiều My — Mười tám tuổi*.

Lồng ngực My quặn thắt lại trong một cơn đau xé ruột xé gan. Trong khoảnh khắc ấy, ký ức về cuộc gọi định mệnh kéo dài vỏn vẹn mười bảy giây bốn ngày trước tang lễ bỗng hiện về như một vết dao cứa vào tim cô. Hôm ấy, giữa phòng họp máy lạnh sang trọng, khi cô đang hào hứng thuyết trình về một chiến dịch tiếp thị mang lại lợi nhuận kếch xù, chuông điện thoại từ quê nhà reo lên. Nhìn thấy tên bà nội hiển thị trên màn hình, cô đã không ngần ngại nhấn nút từ chối, lạnh lùng dập máy để không làm gián đoạn bài phát biểu hào nhoáng của mình.

Bà Lành gọi cho cô lúc ấy để làm gì? Để hỏi han đứa cháu gái bận rộn xem có ăn uống đầy đủ không, hay chỉ đơn giản là muốn nghe lại một tiếng "dạ thưa bà" thân thương trước khi trút hơi thở cuối cùng rời xa cõi tạm?

Tiếng bước chân chậm rãi của ông Phúc vang lên từ phía sau lưng. Nhìn thấy My đứng chết lặng bên tấm kính bàn cắt may, hai vai rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn, ánh mắt người thợ may già dịu hẳn lại. Vẻ xa cách, nghiêm khắc ban nãy hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự bao dung, trắc ẩn của một người lớn tuổi đã thấu suốt mọi nỗi thăng trầm của nhân thế.

Ông bước lại gần, rút chiếc khăn tay bằng vải xô màu trắng sạch sẽ từ trong túi áo đưa cho cô, cất giọng trầm buồn, ấm áp:

"Bà nội cháu thương cháu nhiều lắm, My à. Tình thương của người già xứ này sâu nặng như dòng sông Hương mùa lũ rứa, không ồn ào gợn sóng nhưng cuồn cuộn ở tầng đáy sâu. Mỗi lần nghe tin cháu sắp sửa về quê nghỉ phép, bà đều chống gậy ghé qua tiệm may này cả tuần trước đó. Bà hỏi tôi xem dạo này có mẫu vải lụa tơ tằm nào mới về từ trong phố không, dặn tôi chuẩn bị sẵn chiếc thước dây để đo lại xem cháu gái của bà dạo này có bị gầy ốm đi không. Mảnh gấm hoa đào đó là mảnh vải thượng hạng mà bà đã đích thân nhờ người mua tận làng lụa Vạn Phúc từ cái năm cháu thi đỗ đại học. Bà bảo để dành ở đây, khi nào con bé My nó dẫn bạn trai về ra mắt gia đình thì bắt đầu hạ kéo cắt may..."

My nắm chặt chiếc khăn tay trong lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi và nước mắt, cô quỳ sụp xuống bên cạnh chiếc bàn cắt may, bật khóc nức nở như một đứa trẻ thơ lạc lõng. Những giọt nước mắt của sự ân hận muộn màng, của nỗi day dứt khôn nguôi tuôn rơi lã chã, ướt đầm cả cổ áo len.

"Cháu... cháu tệ bạc quá bác Phúc ơi..." My nghẹn ngào, từng lời thốt ra trong tiếng nấc xé lòng. "Cháu đã bỏ mặc bà suốt bao nhiêu năm trời đằng đẵng... Khi nhận cuốn sổ di nguyện trở về đây, cháu cứ ngỡ mình đang làm một việc cao thượng, đang ban ơn, đang hy sinh thời gian vàng ngọc để hoàn thành chữ hiếu cho xong chuyện... Nhưng hóa ra cháu chẳng hiểu gì về bà cả... Cháu chẳng hiểu một chút gì về tình thương bao la mà bà đã dành cho cháu..."

Ông Phúc đặt bàn tay gầy guộc, ấm áp của mình lên bờ vai đang run rẩy của My, khẽ vỗ về như một người ông ruột thịt trong gia đình:

"Biết mình chưa hiểu tức là con đã bắt đầu hiểu rồi đó, con gái à. Người già ở đất thần kinh này thương con thương cháu kín đáo lắm, chẳng bao giờ chịu thốt ra thành lời ngọt ngào đâu. Tình thương của họ gửi gắm cả vào từng chén bánh, từng đường kim mũi chỉ, từng ngấn nước mưa chắt chiu trong lu sành. Bà Lành để lại cuốn sổ tay đó cho con, không phải là để bắt con phải trả một món nợ đồng lần cho bà, mà là để con tìm lại chính cái tâm hồn thuần hậu của mình trước khi quá muộn giữa chốn thị thành xô bồ."

My đưa chiếc khăn tay lên quẹt vội những giọt nước mắt giàn giụa trên mặt, hít một hơi thật sâu để nén chặt nỗi xúc động đang trào dâng. Cô đứng thẳng dậy, nhìn thẳng vào đôi mắt già nua của người thợ may, ánh mắt cô giờ đây không còn vẻ hoang mang, tự ti hay nóng vội của một người làm tiếp thị nữa, mà đã trở nên kiên định, sáng trong và tĩnh tại lạ kỳ:

"Bác Phúc, mẻ bánh bèo này cháu làm dở, bột non nước và sống tâm, cháu xin nhận toàn bộ lỗi lầm trước bác và trước vong linh của bà nội. Cháu xin phép bác cho cháu được mang mẻ bánh hỏng này về."

"Thế con định buông xuôi, bỏ cuộc sao?" Ông Phúc khẽ mỉm cười, ánh mắt ánh lên một tia dò xét hiền từ.

"Dạ không bao giờ!" My lắc đầu dứt khoát, giọng nói dõng dạc và đanh thép. "Cháu xin phép bác được trở về gian bếp của bà nội để làm lại mẻ bánh thứ hai ngay bây giờ. Lần này cháu sẽ không canh giờ bằng chiếc đồng hồ điện tử vô tri nữa, cháu sẽ canh bằng độ sôi của nước mưa, bằng nhịp thở của ngọn lửa than tro và bằng sự nhẫn nại, tĩnh tâm mà bà nội đã dạy. Trưa nay, cháu nhất định sẽ mang sang biếu bác một mẻ bánh bèo chín thấu tới tận tâm bột, dai mướt và tròn vị nhất để tạ lỗi với bác và để vong linh bà nội được thanh thản mỉm cười."

Những nếp nhăn khắc khổ trên gương mặt nghiêm nghị của ông Phúc từ từ giãn ra, trong đáy mắt ông ánh lên một tia ấm áp, hài lòng hiếm hoi mà suốt bao năm qua hiếm người khách nào nhìn thấy được:

"Được lắm. Tôi sẽ ở tiệm may này cả ngày hôm nay để đợi con. Khi nào chiếc bánh thực sự chín thấu từ ngoài vào tận tâm can hạt bột, hãy mang sang đây cho tôi."

***

My xách chiếc làn mây chạy như bay qua những con kiệt nhỏ lát đá ướt đẫm nước mưa. Gió bấc mùa đông quất từng luồng lạnh buốt vào mặt, vào cổ làm rát da rát thịt, nhưng trong lồng ngực của cô gái trẻ lúc này, một ngọn lửa ấm áp, rực rỡ và tràn đầy quyết tâm đang bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết.

Về đến căn nhà rường cổ kính bên bờ sông An Cựu, My lao thẳng xuống gian bếp chái sau.

Trần Minh Thiện vẫn đang ngồi lặng lẽ bên chiếc bàn tre nhỏ, trên tay cầm chiếc khăn mềm kiên nhẫn lau chùi từng kẽ đá của chiếc cối xay giúp cô. Nhìn thấy My trở về với chiếc làn mây còn nguyên vẹn hai chén bánh dở dang và đôi mắt đỏ hoe nhưng ánh lên những tia sáng quắc kiên cường, Thiện không hề cất tiếng hỏi han nửa lời. Anh chỉ khẽ mỉm cười, một cái gật đầu đầy thấu hiểu và tin cậy.

"Chúng ta làm lại từ đầu, anh Thiện," My nói, giọng dứt khoát, điềm tĩnh và tràn đầy một nguồn năng lượng mới.

Không một chút do dự, My mang toàn bộ thau bột đã pha hỏng trút ra góc vườn ẩm ướt, cạnh gốc cây khế già đang đung đưa trong gió mưa. Cô dùng nước mưa lạnh trong lu sành cọ rửa sạch sẽ từng chiếc chén tráng men hoa cúc lam, lau khô từng chiếc bằng vải xô sạch.

Lần này, My hoàn toàn dẹp bỏ chiếc cốc đong nhựa có vạch chia mililit sang một bên. Cô dùng chiếc tô sứ sứt mép múc từng bát nước mưa trong vắt từ trong lu da lươn đổ vào vại bột gạo Khang Dân mới xay. Cô cởi bỏ đôi găng tay nilon, dùng chính bàn tay trần của mình khuấy nhẹ dòng bột lỏng. Đôi bàn tay cô tiếp xúc trực tiếp với cái lạnh buốt của nước mưa đầu mùa, cảm nhận rõ rệt từng hạt bột gạo ngậm nước đang chuyển động, cảm nhận độ nặng, độ sánh và độ trơn mịn của dòng tinh bột đang hòa quyện vào nhau.

Cô bước sang lò than, gạt bỏ toàn bộ những thanh củi ướt sũng khói mù, nhóm lại ngọn lửa bằng những thanh củi phi lao khô nỏ mà Thiện đã chẻ sẵn từ sớm. Ngọn lửa than bùng lên đỏ rực, liếm quanh đáy xửng hấp nhôm ba tầng. Tiếng nước mưa sôi sục bên dưới đáy nồi reo lên ùng ục, rộn rã như một khúc ca ấm áp xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương của gian bếp cổ.

Hơi nước trắng xóa cuồn cuộn bốc lên nghi ngút qua từng lỗ thông hơi, mang theo mùi thơm dịu ngọt của nước mưa hứng từ ngói cổ, mùi đất nung ngấu kỹ và hơi ấm nồng nàn của củi lửa quê nhà.

My cẩn thận xếp từng chiếc chén sành hoa cúc vào khay xửng hấp, kiên nhẫn đứng đợi cho đến khi hơi nóng làm từng đáy chén nóng ran lên. Đôi tay cô thoăn thoắt nhưng vô cùng điềm tĩnh, múc từng muôi bột đồng đều rót vào lòng chén. Khi nắp xửng nhôm được đậy kín mít lại, My không hề liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay một lần nào nữa. Cô đứng sát bên cạnh lò than, nhắm mắt lại, lắng nghe từng nhịp sôi sùng sục của làn nước đáy nồi, cảm nhận từng hơi thở ấm áp của ngọn lửa than tro đang tỏa nhiệt đều đặn qua lớp vỏ nhôm.

Năm phút... sáu phút... rồi bảy phút trôi qua trong sự tĩnh lặng thiêng liêng của sự chú tâm trọn vẹn.

Khi trực giác mách bảo hạt bột trong chén đã ngậm đủ hơi nóng để chín nục tới tận tâm can, My hít một hơi thật sâu, dùng hai miếng giẻ lót nhấc dứt khoát nắp xửng hấp lên theo phương thẳng đứng.

Một luồng hơi nóng nghi ngút, trắng xóa như mây trời bùng tỏa ra khắp gian bếp nhỏ, xua tan hoàn toàn cái lạnh ẩm u ám của buổi sớm mùa đông.

Làn hơi nước tan dần đi trong không gian, để lộ ra trước mắt My và Thiện những chiếc chén sành hoa cúc lam trắng muốt. Bề mặt từng chiếc bánh bèo trong vắt, láng mịn và mướt mát như một mặt gương soi, tuyệt nhiên không hề có một vệt phồng rộp hay lợn cợn nào.

Và kỳ diệu thay, ngay chính giữa mỗi chiếc chén bánh, lớp bột gạo trắng ngần đã tự động rút ruột, co lại một cách hoàn hảo, tạo thành những vòng xoáy tròn trịa, sâu hoắm, đều đặn tăm tắp như mắt chim sẻ—y hệt như nét vẽ phác thảo bằng mực tím trong cuốn sổ tay di nguyện của bà nội Lành.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories